Báo cáo năm 2008 về nạn buôn người

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
Báo cáo năm 2008 về nạn buôn người  (năm 2008) 
của Văn phòng Giám sát và Chống buôn người, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, người dịch: Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

Báo cáo được công bố ngày 5 tháng 6 năm 2008.


Thư của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice

Bạn đọc thân mến,

Năm nay, cuộc sống của hàng triệu đàn ông, phụ nữ và trẻ em trên khắp thế giới đang bị hủy hoại bởi những kẻ buôn người. Hình thức nô lệ của xã hội hiện đại này đã khiến cho tất cả các quốc gia văn minh trên thế giới phải phẫn nộ, và Hoa Kỳ đã cam kết tập hợp thế giới trong cuộc chiến chống lại nạn buôn người ấy.

Xem xét thực trạng của 170 quốc gia trên thế giới, cho tới nay, báo cáo thường niên lần thứ tám về nạn buôn người của Hoa Kỳ là tài liệu tổng hợp nhất, trong đó nhấn mạnh nỗ lực của từng quốc gia trong việc tìm ra thủ phạm, khởi tố bọn tội phạm, bảo vệ nạn nhân và cuối cùng là tìm cách loại bỏ tệ nạn buôn người này.

Chúng tôi vui mừng khi thấy trong bảy năm kể từ khi thành lập Văn phòng Giám sát và Đấu tranh chống nạn buôn người thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, nước Mỹ, bạn bè và các đồng minh của chúng tôi đã có những bước tiến quan trọng trong cuộc chiến chống lại thực tế rằng con người vẫn đang tiếp tục bị mua bán ở thế kỷ XXI. Thật vui mừng khi thấy sự góp mặt của các chính phủ, các nhóm phụ nữ và nhân quyền, các tổ chức tôn giáo và nhiều cá nhân dũng cảm khác - những người đóng góp tận tâm cho cuộc chiến đấu bảo vệ nhân phẩm con người trên phạm vi toàn thế giới. Nạn buôn người và khai thác trái phép sức lao động của con người xuất hiện ở tất cả các quốc gia, và không quốc gia nào, kể cả nước Mỹ, nằm ngoài thực tế đó.

Mục tiêu của Báo cáo này là nêu lên những thành tựu đã đạt được và khích lệ các chính phủ trong cuộc chiến bảo vệ những nhóm người được coi là yếu đuối nhất và dễ tổn thương nhất tại chính đất nước của họ. Chúng ta hãy cùng nhau tin tưởng rằng động thái mới mẻ và chống lại mọi hình thức nô lệ này sẽ tiếp tục hồi phục, lớn mạnh và bảo vệ cho cuộc sống của những người vốn đã phải chịu quá nhiều đau khổ.

Trân trọng,

Condoleezza Rice

Thư của Đại sứ Mark P. Lagon

Bạn đọc thân mến,

Năm nay, Hoa Kỳ kỷ niệm hai thế kỷ bãi bỏ chế độ buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương. Trong những thập kỷ sau đó, quốc gia này đã lâm vào cuộc nội chiến đẫm máu nhằm hòa hợp những lý tưởng và quan điểm khai sinh ra nước Mỹ và thực tế tàn khốc về một xã hội được bôi trơn từ mồ hôi và máu của những người nô lệ.

Ngụy biện đã từng là chỗ dựa cho hoạt động buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương vào thế kỷ XVIII và XIX cho rằng một số người sinh ra đã thấp kém hơn những người khác, thì nay chính nguỵ biện ấy vẫn đang làm hoạt động buôn người bùng nổ trong thời hiện đại.

Những người gây ra loại tội phạm này - những kẻ buôn người, những kẻ tuyển dụng, những chủ nhà máy, những khách du lịch tình dục trẻ em và những quan chức nhà nước tham nhũng - cần phải bị trừng trị. Những người bị khống chế và khai thác - đàn ông, phụ nữ, trẻ em, người nhập cư và người tị nạn - phải được hưởng những quyền lợi đầy đủ của con người. Nhân phẩm của họ phải được bảo vệ và tôn trọng. Một trong những mục tiêu trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ - thúc đẩy dân chủ và cai trị công bằng - phụ thuộc vào việc giải quyết được chính những nhiệm vụ cấp bách này.

Kể từ khi nhậm chức gần tám năm trước đây, Tổng thống Bush đã đảm bảo vai trò lãnh đạo thế giới của nước Mỹ trong các vấn đề nhân quyền, từ việc thúc đẩy hợp tác với các quốc gia khác nhằm cung cấp 528 triệu đô-la Mỹ trong các chương trình viện trợ ở nước ngoài kể từ năm tài khóa 2001 đến năm tài khóa 2007. Từ đó, các nước trên thế giới đều biết rằng họ có một người bạn ở Hoa Kỳ đang giúp họ hạn chế, quản lý và xóa bỏ nạn buôn người. Báo cáo này đã nêu lên một cách tường tận những nỗ lực của các nước trên toàn thế giới trong cuộc đối đầu với tệ nạn này.

Chúng tôi vẫn cam kết lên tiếng bảo vệ những người không vai vế - bảo vệ những phụ nữ và trẻ em bị khai thác tình dục, bảo vệ những người lao động bản địa bị bóc lột sức lao động và cho những lao động nông nghiệp đang bị đối xử bất công. Tệ nạn buôn người đó đòi hỏi chúng ta phải quan tâm và bỏ công sức xứng đáng của mình.

Chúng tôi là một đối tác trong liên minh toàn cầu đang ngày càng lớn mạnh và cũng đang hưởng ứng lời kêu gọi xóa bỏ tệ nạn này.

Trân trọng,

Đại sứ Mark P. Lagon

Giới thiệu

Khái quát

Lời chứng của các nạn nhân trong báo cáo này chỉ mang tính đại diện và không bao quát được tất cả các hình thức buôn người đang tồn tại khắp nơi trên thế giới. Đáng tiếc là bất kỳ câu chuyện nào trong số này cũng đang diễn ra ở gần như mọi nơi trên toàn thế giới. Chúng được trình bày để minh họa cho các hình thức buôn người và cho phạm vi địa lý rộng lớn mà các hình thức này xuất hiện. Không có quốc gia nào là ngoại lệ. Tất cả các tên gọi xuất hiện trong báo cáo này là tên giả. Các bức ảnh trong báo cáo này không hoàn toàn là những bức ảnh minh họa không có chú thích cho nạn buôn người cụ thể, tuy vậy chúng được cung cấp để vạch trần vô số hình thức khai thác giúp xác định những hoạt động buôn người và về tính đa dạng văn hóa trong đó nạn nhân của tệ buôn người được phát hiện. Các bức ảnh trên bìa của báo cáo này và hầu hết các bức ảnh không có chú thích trong báo cáo này không phải là ảnh của các nạn nhân buôn người đã được xác nhận, nhưng chúng được cung cấp để cho thấy vô số loại hình bóc lột đã giúp định rõ hoạt động buôn người và cho thấy tính đa dạng của các nền văn hóa nơi tìm thấy nạn nhân buôn người.

Mục đích

Rumani/Anh Quốc
Lila, một cô gái Rumani 19 tuổi từ lâu đã phải chịu đựng sự lạm dụng thân thể và tình dục từ chính người cha nghiện rượu của mình, đã được người quen giới thiệu cho một người đàn ông khác - người đã hứa hẹn với cô cơ hội tìm được công việc quản gia/bán hàng ở nước Anh. Khi cô đến nước Anh, người đàn ông này đã bán cô cho một tên ma cô và Lila bị ép buộc trở thành gái điếm. Cô đã rất sợ hãi việc có thể bị đuổi về quê hương nếu cô không chịu làm theo mọi mệnh lệnh của chủ chứa. Sau một lần thử chạy trốn, cô đã bị lấy hết tiền và bị đánh đập ngày một thường xuyên hơn và tàn nhẫn hơn. Nhiều tháng sau, sau khi đã bị bán thêm nhiều lần nữa, Lila đã được tự do trong một cuộc tấn công của cảnh sát. Hiện cô đã được hồi hương về Rumani, ở đây, sau hai tháng, cô đã trốn khỏi nơi ở tạm và hiện nay không ai biết cô đang ở đâu.

Luật pháp Hoa Kỳ yêu cầu Bộ Ngoại giao phải đệ trình báo cáo thường niên trước Quốc hội Hoa Kỳ về những nỗ lực đối ngoại của chính phủ nhằm xóa bỏ những thể thức của nạn buôn người. Báo cáo này là Báo cáo thường niên lần thứ tám. Mục đích của nó là tăng cường nhận thức toàn cầu, nhấn mạnh nỗ lực của cộng đồng quốc tế và khuyến khích các chính phủ nước ngoài triển khai hành động hiệu quả để chống lại tất cả các hình thức của nạn buôn người.

Luật pháp Hoa Kỳ là định hướng cho các nỗ lực chống nạn buôn người, Luật sửa đổi về Bảo vệ nạn nhân của nạn buôn người năm 2000 đã quy định rằng mục đích của cuộc chiến chống nạn buôn người là trừng phạt những kẻ buôn người, bảo vệ nạn nhân, và ngăn ngừa nạn buôn người không cho nó xảy ra. Giải phóng những người lâm vào tình trạng giống như nô lệ là mục đích tối thượng của báo cáo này và của chính sách chống nạn buôn người của Chính phủ Hoa Kỳ.

Nạn buôn người là một mối đe dọa đa chiều. Nó cướp đi của con người quyền lợi và tự do của họ, nó làm tăng nguy cơ suy thoái sức khỏe của con người và tiếp tay cho sự gia tăng tội phạm có tổ chức.

Nạn buôn người có ảnh hưởng rất lớn đối với các nạn nhân, những người thường phải chịu đựng sự xâm hại về thể chất và tinh thần, những người phải chịu sự cưỡng đoạt, sự đe dọa đối với bản thân và gia đình, thậm chí phải chịu đựng cả cái chết. Nhưng ảnh hưởng của nạn buôn người không chỉ nằm trong phạm vi các cá nhân nạn nhân mà còn hủy hoại sức khoẻ, sự an toàn và an ninh của tất cả các quốc gia có liên quan.

Hiện đang có một cộng đồng rộng lớn các quốc gia đang triển khai nhiều nỗ lực để xóa bỏ loại hình tội phạm dã man này. Những quốc gia thất bại trong việc thực thi nỗ lực và không đạt được những tiêu chuẩn tối thiểu nhằm xóa bỏ nạn buôn người được báo cáo này đánh giá là đứng trong nhóm thứ ba - như Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân buôn người (TVPA) đã nêu. Những quốc gia bị đánh giá là thuộc nhóm thứ ba sẽ không nhận được viện trợ nước ngoài phi thương mại và viện trợ nhân đạo của Chính phủ Hoa Kỳ. Trong khi đánh giá nỗ lực của các chính phủ nước ngoài, Báo cáo về nạn buôn người đã nhấn mạnh ba nội dung - truy tố, bảo vệ và ngăn ngừa. Nhưng cách tiếp cận lấy các nạn nhân làm trung tâm cũng đòi hỏi phải chú trọng đến ba nội dung khác là: giải thoát, hồi phục và tái hòa nhập - đồng thời khuyến khích học hỏi và chia sẻ những thực tiễn tốt nhất trong các lĩnh vực này. Chúng ta không chỉ có nhiệm vụ giải thoát các nạn nhân mà còn phải phục hồi danh dự cho họ và mang lại cho họ niềm hy vọng được tái hòa nhập vào cuộc sống hữu ích.

Định nghĩa về nạn buôn người

Mêhicô/Hoa Kỳ
Người đàn ông 32 tuổi Sandro từ Mêhicô đến và đang trú thân tại một trại tị nạn cho người nhập cư ở Tijuana. Một người tuyển dụng đã tiếp cận anh và thuyết phục anh đi cùng tới biên giới Mỹ-Mêxicô để “xem thế nào”. Khi họ tới gần biên giới, người tuyển dụng này (đã biết rõ về thời điểm thay ca tuần tra ở biên giới) đã đẩy Sandro sang phía bên kia đường biên giới và giục anh chạy đi. Sandro đã được những kẻ buôn người Mêhicô hướng dẫn đi tới một “ngôi nhà an toàn” nơi anh đã buộc phải làm thuê để có chỗ ngủ và bị buộc quan hệ tình dục khoảng 20 lần. Sau đó, anh bị chuyển tới một ngôi nhà an toàn khác ở San Diego, với họng súng sau lưng, và bị buộc làm nô lệ tại gia. Cuối cùng, anh bị buộc phải làm việc ở công trường xây dựng suốt cả ngày và phải cống nộp tiền lương của mình cho những kẻ buôn người. Anh cảm thấy không an toàn khi không có những giấy tờ tùy thân cơ bản nhất. Anh tiếp tục bị lạm dụng khi một trong những kẻ buôn người buộc anh phải thực hiện hành vi tình dục với họng súng chĩa thẳng vào người. Sau này, anh đã được cứu thoát và đã được cấp phép lưu trú tạm thời tại Hoa Kỳ.

TVPA định nghĩa về các “hình thức nghiêm trọng của nạn buôn người” như sau:

(a) buôn người nhằm mục đích tình dục, trong đó hoạt động tình dục vì mục đích thương mại là kết quả của việc sử dụng vũ lực, lừa gạt hoặc cưỡng ép hay trong trường hợp người bị ép buộc thực hiện hành vi đó chưa đủ 18 tuổi; hoặc
(b) việc tuyển dụng, chứa chấp, vận chuyển, cung cấp hay quản chế một người bắt phải lao động hoặc phục vụ bằng thủ đoạn sử dụng vũ lực, lừa gạt hoặc cưỡng ép với mục đích bắt họ phải làm nô lệ miễn cưỡng, làm người giúp việc, làm công trừ nợ hoặc làm nô lệ.

Việc nạn nhân có bị đưa từ nơi này tới nơi khác hay không không phải là điều kiện để xác định liệu tội danh có nằm trong phạm vi các định nghĩa này hay không.

Phạm vi và tính chất của tình trạng nô lệ thời hiện đại

Đặc điểm chung của các kịch bản buôn người là việc sử dụng vũ lực, gian lận và cưỡng bức để khai thác con người vì mục đích kiếm lợi. Nạn nhân phải là đối tượng bị khai thác sức lao động, tình dục hoặc cả hai. Khai thác sức lao động bao gồm các loại hình nô lệ truyền thống, lao động cưỡng bức và lao động trừ nợ. Khai thác tình dục thường bao gồm những hành vi lạm dụng tình dục trong ngành công nghiệp thương mại tình dục. Trong những trường hợp khác, các nạn nhân bị khai thác tại tư gia bởi những cá nhân có nhu cầu về lao động hoặc tình dục. Việc sử dụng vũ lực hoặc cưỡng bức có thể là trực tiếp thông qua bạo lực hoặc các hành vi cưỡng bức tâm lý.

Hiện có nhiều ước tính về phạm vi và mức độ của hình thức nô lệ hiện đại này. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) - một cơ quan của Liên Hợp Quốc có trách nhiệm giải quyết các vấn đề liên quan đến lao động chuẩn mực, người lao động và các vấn đề bảo trợ xã hội - đã ước tính rằng có 12,3 triệu người bị lao động cưỡng ép, bị mua bán sức lao động, là lao động trẻ em bị cưỡng bức và là lao động tình dục tại bất kỳ thời điểm nào; các ước tính khác dao động từ 4 triệu đến 27 triệu nạn nhân.

Theo một nghiên cứu do Chính phủ Mỹ tài trợ trong năm 2006, hang năm có gần 800.000 người bị buôn bán qua biên giới các quốc gia, chưa kể tới hàng triệu người bị buôn bán bên trong phạm vi đất nước của họ. Gần 80% nạn nhân bị buôn bán xuyên quốc gia là phụ nữ và các bé gái, gần 50% trong số đó là chưa đến tuổi trưởng thành. Đa số nạn nhân bị buôn bán xuyên quốc gia là phụ nữ bị buôn bán vì mục đích khai thác tình dục. Những con số này vẫn chưa bao gồm hàng triệu phụ nữ và nam giới là nạn nhân trên khắp thế giới - những người bị buôn bán ngay bên trong quốc gia họ - phần lớn là lao động cưỡng bức hoặc lao động trừ nợ.

Những kẻ buôn người thường tập trung vào đối tượng dễ bị tổn thương. Mục tiêu của chúng là trẻ em và những phụ nữ trẻ, thủ đoạn của chúng luôn thay đổi và hiểm ác, được thiết kế nhằm lừa dối, cưỡng bức và giành được sự tin tưởng của những nạn nhân tiềm năng. Những thủ đoạn này thường là những lời hứa hẹn về một cuộc sống tốt hơn thông qua việc làm mới, cơ hội giáo dục hoặc kết hôn.

Quốc tịch của những nạn nhân của nạn buôn người thường thuộc tất cả các nền văn hóa khác nhau trên thế giới. Một số từ những nước đang phát triển, tìm cách cải thiện cuộc sống thông qua những công việc đòi hỏi kỹ năng thấp tại những nước phát triển. Số khác thì là những nạn nhân bị cưỡng bức lao động tại chính đất nước của họ. Phụ nữ, mong muốn có một tương lai tốt đẹp hơn, đã bị lôi kéo bởi những hứa hẹn về công ăn việc làm ở nước ngoài như người trông trẻ, người giữ nhà hay người mẫu - những nghề nghiệp mà những kẻ buôn người thường biến chúng thành những cơn ác mộng khi những người phụ nữ này buộc phải làm gái mại dâm không có lối thoát. Một số gia đình đã giao con cái của họ cho người khác, đôi khi là họ hàng - những người hứa mang lại cho chúng nhiều cơ hội và nền tảng giáo dục tốt hơn - song chính họ lại đẩy chúng vào tình trạng bị khai thác để đổi lấy một khoản tiền. Nhưng nghèo đói chỉ là một cách giải thích cho thảm kịch này - thảm kịch được dựng nên bởi chính những kẻ tuyển dụng, những ông chủ, những quan chức nhà nước tham nhũng - những người tìm cách thu được lợi nhuận phi pháp từ nỗi đau và sự tuyệt vọng của kẻ khác.

Tiêu điểm của Báo cáo TIP 2008

Trung Quốc
Một người đàn ông ở ga tàu đã hứa hẹn với cậu bé Shen 16 tuổi đến từ một làng nông nghiệp nhỏ ở Trung Quốc về cơ hội tìm được việc làm tốt ở ngoại ô thành phố, và cậu bé đã hăm hở chấp nhận. Trong vài giờ, cậu và 12 người khác đã bị nhồi nhét vào một chiếc xe tải nhỏ và trở đến một lò gạch - nơi cậu bị đánh đập, phải ăn uống tồi tệ và buộc phải lao động nặng nhọc 20 tiếng mỗi ngày. Những người canh gác lò gạch đánh đập họ bằng những thanh sắt và gậy gỗ khi họ làm việc quá chậm, thậm chí ném gạch vào người hoặc vào đầu họ. Lũ chó giữ nhà thì khiến Shen và những nô lệ khác luôn sống trong sợ hãi. Shen thường trông thấy những quan chức cảnh sát địa phương mặc đồng phục đến thăm lò gạch này. “Họ được chủ lò gạch cho tiền, cả làng đều là của ông ta. Điều đó thật đen tối”, Shen nói.

Báo cáo TIP này là báo cáo tổng hợp nhất trên phạm vi thế giới về những nỗ lực của các chính phủ nhằm đấu tranh chống lại mọi hình thức của nạn buôn người. Báo cáo này bao quát tình hình trong giai đoạn từ tháng 4 năm 2007 đến tháng 3 năm 2008. Nó đề cập đến những quốc gia được xác định là điểm xuất phát, trung chuyển hoặc là đích đến của một số lượng lớn những nạn nhân của mọi hình thức buôn người. Báo cáo TIP 2008 trình bày về tính chất và phạm vi được cập nhật mới nhất trên phạm vi toàn cầu về tình trạng nô lệ trong xã hội hiện đại ngày nay và hàng loạt động thái được tiến hành bởi các chính phủ trên khắp thế giới nhằm chống lại và xóa bỏ hiện tượng này.

Vì nạn buôn người xuất hiện ở khắp các quốc gia trên thế giới nên nếu Báo cáo này bỏ sót một trường hợp quốc gia nào đó thì cũng chỉ là vì chưa có đủ thông tin. Các quốc gia còn lại đều được báo cáo này nhắc đến với những mô tả tường tận về tính chất và phạm vi của nạn buôn người, lý do đề cập đến nạn buôn người tại quốc gia đó và nỗ lực của chính phủ nhằm đấu tranh chống nạn buôn người. Với mỗi quốc gia được nhắc đến, báo cáo này cũng đưa ra các đánh giá về mức độ tuân thủ của chính phủ đối với những chuẩn mực tối thiểu để bài trừ nạn buôn người - những chuẩn mực này đã được nêu rất rõ trong Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân buôn người (TVPA). Đồng thời, báo cáo này cũng đưa ra những kiến nghị về các hành động bổ sung về phía chính phủ của quốc gia đó, nhằm mục đích tăng cường đấu tranh chống nạn buôn người. Phần còn lại về tình hình ở mỗi quốc gia đề cập đến nỗ lực của mỗi chính phủ nhằm tăng cường cưỡng chế thực thi luật pháp chống nạn buôn người, bảo vệ nạn nhân và ngăn chặn hành vi buôn người tại quốc gia đó. Báo cáo cũng giải thích lý do và cơ sở để xếp loại quốc gia ở hạng 1, hạng 2 hay hạng 3. Việc xếp hạng này được đưa ra cùng với cơ sở xếp hạng, đặc biệt là khi quốc gia được xếp vào danh sách theo dõi hạng 2 thì việc xếp loại này được lý giải kèm với một bản báo cáo đánh giá có sử dụng các tiêu chí đặc biệt được quy định trong TVPA.

TVPA đưa ra ba nhân tố để xem xét và quyết định xem một quốc gia phải được đứng ở thứ hạng nào: ở hạng 2 (hoặc hạng hai cần được theo dõi) hay hạng 3. Ba nhân tố này là: (1) phạm vi trong đó quốc gia này là điểm xuất phát, trung chuyển hay đích đến của các hình thức buôn người; (2) mức độ mà chính phủ của quốc gia đó không tuân thủ các chuẩn mực tối thiểu của TVPA, đặc biệt là mức độ tham nhũng có liên quan đến nạn buôn người; (3) nguồn lực và năng lực của chính phủ trong việc đối phó và bài trừ các hình thức nghiêm trọng của nạn buôn người.

Một vài quốc gia đã tổ chức hội nghị và thành lập các lực lượng chuyên biệt hay xây dựng kế hoạch hành động quốc gia để đặt mục tiêu cụ thể cho những nỗ lực chống lại nạn buôn người. Mặc dù những hoạt động này là rất hữu dụng và có thể giúp thực thi luật pháp, tăng cường hoạt động bảo vệ và ngăn ngừa trong tương lai, song chỉ riêng những hội nghị, những kế hoạch hành động và các lực lượng chuyên biệt này sẽ là không đủ để triển khai nỗ lực một cách có hiệu quả. Ngoài ra, Báo cáo cũng tập trung vào các hành động cụ thể của chính phủ trong cuộc chiến chống nạn buôn người, đặc biệt là hoạt động truy tố, buộc tội và bỏ tù những kẻ buôn người, các biện pháp bảo vệ nạn nhân và các nỗ lực ngăn chặn khác. Báo cáo này không quá coi trọng các dự thảo luật chưa được ban hành. Cuối cùng, Báo cáo cũng không tập trung vào những nỗ lực của chính phủ không đóng góp trực tiếp vào việc hạn chế các hành vi buôn người, ví dụ như các chương trình giáo dục, hỗ trợ phát triển kinh tế, hay các chương trình có mục đích tăng cường bình đẳng giới, mặc dù đây đều là những nỗ lực đang được triển khai trên phạm vi toàn thế giới.

Phương pháp luận

Ấn Độ
Cô bé Shanti 10 tuổi đến từ Ajmer, Rajasthan, đã bị bán tới New Delhi cùng với 7 bé gái khác cùng làng, từ khi cô mới lên 7 tuổi. Cô buộc phải đi ăn xin từ khi 8 tuổi từ sáng cho đến 11 giờ tối. Để làm việc đó, cô buộc phải xé rách áo quần và không được tắm trong nhiều tháng. Cô chỉ được ăn một bữa trong ngày để trở nên gày gò ốm yếu và gợi lòng thương hại nhiều hơn từ phía người qua đường. Cô và một đứa trẻ 12 tuổi khác đã có dấu hiệu bị lạm dụng tình dục khi được cứu thoát sau một cuộc tấn công của cảnh sát. Những đứa trẻ này đã bị đánh đập và bị buộc phải hút một loại thuốc lá có tên là “gul” để các giác quan của chúng bị tê liệt khi chúng bị xâm hại.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã chuẩn bị Báo cáo này nhờ vào thông tin từ các Đại sứ quán Hoa Kỳ trên khắp thế giới, từ các quan chức ngoại giao thuộc chính phủ, từ các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế, các báo cáo được công bố, các nhóm nghiên cứu tại khu vực, và từ thông tin được gửi tới cho hộp thư điện tử tipreport@state.gov. Hộp thư điện tử này được xây dựng dành cho các tổ chức phi chính phủ và các cá nhân để chia sẻ thông tin về những tiến bộ mà chính phủ các nước đã đạt được trong việc đối phó với nạn buôn người. Các cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ đã gửi báo cáo về thực trạng của nạn buôn người và những động thái của các chính phủ dựa trên các nghiên cứu, kể cả qua các cuộc họp với nhiều quan chức chính phủ, các đại diện địa phương và các đại diện của các tổ chức phi chính phủ, quan chức của các tổ chức quốc tế, các nhà báo, các học giả và các nhà quan sát. Để hoàn thành Báo cáo này, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã phải liên tục cập nhật nguồn thông tin về tất cả các quốc gia nhằm thực hiện đánh giá của mình. Việc đánh giá nỗ lực chống nạn buôn người của mỗi chính phủ được tiến hành theo hai bước sau đây:

Bước 1: Xác định số lượng lớn các nạn nhân

Đầu tiên, Bộ Ngoại giao xác định quốc gia đó có phải là điểm xuất phát, trung chuyển hoặc đích đến của một số lượng lớn nạn nhân của các hình thức buôn người nghiêm trọng hay không - thông thường là từ 100 nạn nhân trở lên - ngưỡng so sánh đã từng được áp dụng trong các báo cáo thường niên trước đó. Một vài quốc gia không có đủ thông tin thì không được xếp hạng nhưng được đưa vào phần Các trường hợp đặc biệt vì những quốc gia này vẫn có biểu hiện tồn tại nạn buôn người.

Bước 2: Xếp hạng

Bộ Ngoại giao xếp mỗi quốc gia được đánh giá trong báo cáo TIP 2008 vào ba danh sách xếp hạng do TVPA quy định. Sự xếp hạng này dựa trên quy mô hành động của chính phủ nhằm chống lại nạn buôn người hơn là dựa trên mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Đầu tiên, Bộ Ngoại giao đánh giá xem chính phủ có tuân thủ đúng những tiêu chuẩn tối thiểu để bài trừ nạn buôn người được quy định trong TVPA hay không (xem chi tiết ở trang 284). Những chính phủ tuân thủ đầy đủ được xếp vào danh sách thứ nhất. Với những chính phủ khác, Bộ Ngoại giao cân nhắc xem họ có thực thi nhiều nỗ lực để đáp ứng những tiêu chuẩn tối thiểu hay không; nếu có thì chính phủ đó được đưa vào danh sách xếp hạng thứ hai. Những chính phủ không tuân thủ đầy đủ những chuẩn mực tối thiểu này và không thực thi nỗ lực để đáp ứng các chuẩn mực đó thì được đưa vào danh sách xếp hạng thứ ba. Cuối cùng, tiêu chí để đưa vào danh sách theo dõi đặc biệt sẽ được cân nhắc và sau khi đã thông qua, các nước xếp hạng 2 được đưa vào danh sách hạng 2 cần theo dõi.

Danh sách theo dõi đặc biệt - danh sách hạng 2 cần theo dõi

Inđônêxia
Dường như tôi vừa mới thoát khỏi địa ngục
— một lao động người Inđônêxia, Arum, đã nói như vậy sau khi anh ta ở Malaixia trở về. Anh đã trải qua 7 tháng làm việc ở đồn điền cao su, nơi anh phải lao động 13 tiếng mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần mà không được trả công cho đến khi anh trốn thoát khỏi tình cảnh bị bắt, bỏ tù, đánh đập và đày ải.

TVPA đã xây dựng danh sách theo dõi đặc biệt bao gồm các quốc gia được Báo cáo TIP cho rằng cần phải được theo dõi đặc biệt. Danh sách này bao gồm: 1) các quốc gia xếp hạng 1 trong Báo cáo này nhưng đã từng xếp hạng 2 trong Báo cáo năm 2007; 2) các quốc gia được xếp hạng 2 trong báo cáo này nhưng đã từng xếp hạng 3 trong báo cáo năm 2007; và 3) các quốc gia xếp hạng 2 trong báo cáo này, nhưng tại quốc gia đó:

a) số lượng nạn nhân của các hình thức buôn người là rất lớn và đang tăng lên nhanh chóng;
b) không có các nỗ lực tích cực đấu tranh với các hình thức buôn người từ các năm trước, gồm các hoạt động điều tra, truy tố và kết tội những kẻ buôn người, tăng cường hỗ trợ nạn nhân, và giảm đáng kể mức độ đồng lõa của các quan chức chính phủ với nạn buôn người;
c) việc xác định những quốc gia này có thực hiện nhiều nỗ lực để thỏa mãn những chuẩn mực tối thiểu được đưa ra dựa trên các cam kết của quốc gia đó trong việc tiếp tục triển khai các bước tiếp theo để kiên quyết đấu tranh chống nạn buôn người trong những năm tới hay không.

Nhóm thức ba này (bao gồm cả a, b, và c) được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ xếp vào “Danh sách hạng hai cần theo dõi”. Có 32 quốc gia được đưa vào danh sách này trong báo cáo tháng 6 năm 2007. Cùng với đó là hai quốc gia đã được đưa ra khỏi danh sách theo dõi hạng hai vào tháng 10 năm 2007 và 7 quốc gia đã đáp ứng được hai tiêu chí trên đây (và đã được lên hạng trong báo cáo TIP năm 2008), 41 quốc gia vẫn đang nằm trong danh sách đánh giá tạm thời do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thực hiện ngày 28 tháng 2 năm 2008.

Trong số 34 quốc gia thuộc danh sách theo dõi hạng 2 hiện đang được đánh giá tạm thời, có 11 quốc gia đã được nâng bậc xếp hạng từ bậc 3 lên bậc 2 trong báo cáo này; trong khi đó có 4 quốc gia tụt xuống hạng 3 và 19 quốc gia vẫn giữ nguyên hạng. Các quốc gia được đưa vào danh sách theo dõi đặc biệt trong báo cáo này sẽ được xem xét lại trong một đánh giá tạm thời và sẽ được đệ trình lên Quốc hội Mỹ vào ngày 1 tháng 2 năm 2009.

Hình thức trừng phạt có thể áp dụng đối với những quốc gia xếp hạng 3

Inđônêxia/Hoa Kỳ
Mala và Kamala đã đến Hoa Kỳ để làm giúp việc cho một gia đình người Mỹ ở Long Island, New York. Họ đã chấp nhận công việc này từ khi họ ở Inđônêxia, với hy vọng là sẽ cải thiện thu nhập và cuộc sống của gia đình sau khi họ từ Mỹ trở về. Thế nhưng những gì mà họ nhận được tại cộng đồng giàu có ở ngoại ô New York chính là một hình thức nô lệ thời hiện đại. Hai người giúp việc gia đình này là đối tượng bị đánh đập, đe dọa và giam cầm trong nhiều năm. Sau đó, họ đã yêu cầu được giúp đỡ từ phía chính quyền địa phương. Những kẻ khai thác sức lao động của họ đã bị xét xử và kết án vì đã có hành vi phạm tội, trong đó có tội cưỡng bức lao động và “nô lệ trong gia đình” (giữ giấy tờ tùy thân của người lao động để buộc họ phải làm việc và phục vụ mình). Tuy nhiên, hình phạt đối với những người này hiện vẫn chưa được tòa án quyết định.

Chính phủ của các quốc gia xếp hạng 3 có thể là đối tượng phải chịu một số biện pháp trừng phạt. Chính phủ Hoa Kỳ có thể không cấp viện trợ phi thương mại và viện trợ nhân đạo cho những quốc gia này. Các quốc gia không nhận được viện trợ cũng có thể là đối tượng của các hình phạt bổ sung khác như: công chức và người lao động nước họ không được tham gia vào bất kỳ chương trình trao đổi giáo dục và văn hóa nào giữa chính phủ nước đó với Chính phủ Hoa Kỳ. Theo quy định của TVPA, các chính phủ bị phạt cũng không nhận được sự ủng hộ của Chính phủ Hoa Kỳ trong việc thông qua các khoản viện trợ (trừ trường hợp viện trợ nhân đạo, phi thương mại hoặc viện trợ phát triển) từ các thể chế tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới. Nếu được áp dụng, các biện pháp trừng phạt này sẽ bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 10 năm 2008.

Tất cả hoặc một phần các quy định trong TVPA có thể được quyết định bởi Tổng thống Hoa Kỳ vì việc cung cấp những loại hình viện trợ này có thể có các mục đích khác nhau và có liên quan mật thiết đến lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ. TVPA cũng đưa ra một số hình phạt có thể được loại trừ khi cần thiết nhằm tránh các tác động ngược đối với nhóm dân cư dễ bị tổn thương, bao gồm phụ nữ và trẻ em. Các hình phạt có thể không được áp dụng khi Tổng thống thấy rằng sau khi báo cáo được công bố, nhưng trước khi xác định hình phạt, chính phủ nước này đã bắt đầu tuân thủ các chuẩn mực tối thiểu hoặc đã triển khai nỗ lực để đáp ứng tốt hơn những chuẩn mực đó.

Dù được xếp ở thứ hạng nào, các quốc gia vẫn phải liên tục thực thi nỗ lực, kể cả Hoa Kỳ. Không có thứ hạng nào là vĩnh viễn. Tất cả các quốc gia đều phải duy trì và tăng cường hơn nữa nỗ lực của mình trong cuộc chiến chống nạn buôn người.

Báo cáo này được sử dụng như thế nào?

Báo cáo này là một công cụ ngoại giao được Chính phủ Hoa Kỳ sử dụng như một công cụ để tiếp tục duy trì đối thoại và khuyến khích các nước nỗ lực hơn nữa. Nó cũng được sử dụng để giúp tập trung nguồn lực vào các chương trình và chính sách điều tra, khởi tố, bảo vệ và ngăn ngừa. Các khuyến nghị cụ thể được nêu rõ trong từng trường hợp của mỗi quốc gia được xếp hạng đã giúp cho những quốc gia này đạt được nhiều tiến bộ hơn trong tương lai. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ sẽ tiếp tục thu hút sự chú ý của các chính phủ đến nội dung của báo cáo này nhằm tăng cường nỗ lực hợp tác để xóa bỏ hoàn toàn nạn buôn người. Trong những năm tới, và đặc biệt là trong những tháng trước khi quyết định về những hình phạt sẽ được áp dụng đối với các quốc gia được xếp hạng 3, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ sẽ sử dụng thông tin trong báo cáo này để quyết định về các chương trình viện trợ và để làm việc với các quốc gia cần sự giúp đỡ trong cuộc chiến chống nạn buôn người. Bộ Ngoại giao hy vọng rằng Báo cáo này sẽ là chất xúc tác để phối hợp những nỗ lực của chính phủ và những nỗ lực phi chính phủ trong cuộc chiến chống nạn buôn người trên phạm vi toàn thế giới.

Tình hình các nước

VIỆT NAM (xếp loại 2)

Trước hết, Việt Nam là nguồn cung cấp phụ nữ và trẻ em bị buôn bán để bóc lột tình dục và cưỡng ép lao động. Phụ nữ và trẻ em bị bán sang Trung Quốc, Căm-pu-chia, Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan và Ma-cao để bóc lột tình dục. Phụ nữ Việt Nam bị bán sang Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc thông qua kết hôn giả để bóc lột hoặc cưỡng ép lao động. Việt Nam còn là nguồn cung cấp lao động sẵn sàng di cư hợp pháp để làm việc trong các ngành xây dựng, đánh bắt cá hoặc chế tạo ở Malaysia, Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan và Trung Đông, nhưng sau đó họ lâm vào tình trạng làm công trả nợ hoặc bị cưỡng ép lao động. Việt Nam là điểm đến của trẻ em Căm-pu-chia bị bán sang các trung tâm đô thị để cưỡng ép lao động và bóc lột tình dục. Trong nước cũng có tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em từ nông thôn ra thành thị để cưỡng ép lao động và bóc lột tình dục. Ngày càng có nhiều người Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Anh, Úc, châu Âu và Mỹ đến Việt Nam thông qua con đường du lịch nhằm mục đích quan hệ tình dục với trẻ em. Năm 2007, riêng ở Sapa - một trung tâm du lịch của Việt Nam - một tổ chức phi chính phủ của Úc đã phát hiện ra 80 vụ bóc lột tình dục trẻ em của khách du lịch nước ngoài.

Tuy chưa tuân thủ đầy đủ những tiêu chuẩn tối thiểu về xóa bỏ nạn buôn người, nhưng Chính phủ Việt Nam đang có những nỗ lực đáng kể nhằm đáp ứng những tiêu chuẩn này. Chính phủ đã tăng cường truy tố các vụ buôn bán người và củng cố hợp tác với Căm-pu-chia, Trung Quốc và Thái Lan nhằm ngăn chặn việc đưa người qua biên giới để hành nghề mại dâm, giải cứu nạn nhân và bắt giữ các đối tượng buôn người. Đồng thời, trong một số trường hợp người lao động Việt Nam bị bóc lột – những người này đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động ký với các công ty tuyển dụng được nhà nước cấp phép - Chính phủ lại xử lý theo hướng chú trọng duy trì hình ảnh Việt Nam là một nguồn cung cấp lao động hấp dẫn, khiến cho việc điều tra các cáo buộc về buôn người gặp khó khăn. Việt Nam đã hợp tác với các cơ quan bảo vệ pháp luật của Căm-pu-chia, Trung Quốc và Lào để giải cứu nạn nhân và bắt giữ những đối tượng bị nghi là buôn người vì mục đích mại dâm.

Những khuyến nghị đối với Việt Nam: Thực hiện Luật Xuất khẩu Lao động năm 2006 và các Quyết định ban hành năm 2007 nhằm áp dụng các hình phạt hình sự nghiêm khắc đối với những đối tượng có dính líu đến hoạt động tuyển dụng lao động lừa đảo hoặc bóc lột sức lao động; cần có những biện pháp được quy định trong các hợp đồng mà người lao động ký với các công ty tuyển dụng được nhà nước cấp phép nhằm giúp họ tránh rơi vào các tình huống dẫn đến bị cưỡng ép lao động, ví dụ như bị giữ giấy tờ đi lại; cần đảm bảo các công ty tuyển dụng lao động được nhà nước cấp phép không không có hành vi lừa đảo hoặc thu các khoản phí bất hợp pháp; mở rộng quy trình xác định nạn nhân bị bán làm lao động trong các nhóm dễ trở thành đối tượng bị buôn bán, chẳng hạn như những người lao động trở về nước; thực hiện các biện pháp đảm bảo nạn nhân bị bán làm lao động không bị đe doạ hoặc trừng phạt vì đã biểu tình hoặc rời khỏi nơi bị bóc lột sức lao động ở cả trong nước lẫn nước ngoài; thực hiện và hỗ trợ một chiến dịch cụ thể nhằm nâng cao nhận thức về phòng chống buôn người nhằm vào đối tượng là mua dâm.

Truy tố

Chính phủ Việt Nam đã thể hiện những nỗ lực trong việc tăng cường công tác thực thi pháp luật nhằm ngăn chặn việc buôn người để bóc lột tình dục và một số nỗ lực khác nhằm ngăn chặn việc buôn bán người để đưa đi lao động. Các bộ luật hiện có không xử lý vấn đề buôn người một cách toàn diện. Tuy nhiên, các điều khoản khác nhau quy định trong Bộ luật Hình sự cho phép truy tố mọi hình thức buôn người. Chỉ thị 16 ban hành tháng 7/2007 của Thủ tướng Chính phủ có nội dung chỉ đạo Bộ Tư pháp xây dựng dự thảo luật chống buôn người mới và toàn diện để trình Quốc hội và mở rộng khái niệm buôn người ở Việt Nam, theo đó các đối tượng bị buôn bán không chỉ có phụ nữ và trẻ em mà cả nam giới. Chỉ thị này cũng quy định mức độ trách nhiệm của chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh trong công tác phòng, chống buôn người.

Tội buôn người để bóc lột tình dục và bóc lột lao động phải chịu các hình phạt nặng. Các hình phạt áp dụng đối với tội bóc lột tình dục tương đương với các hình phạt dành cho các tội nghiêm trọng khác, ví dụ như tội hiếp dâm. Đa số tội phạm buôn người bị truy tố theo các Điều 119, 120 và 275 của Bộ luật Hình sự. Các điều khoản này quy định việc xử lý tội danh buôn người nhằm mục đích bóc lột tình dục kiếm lời. Chính phủ không có báo cáo nào đề cập đến các vụ truy tố và kết án đối với tội danh buôn bán lao động, chẳng hạn như cưỡng ép lao động hoặc làm công trả nợ. Theo Văn phòng Thường trực Ban chỉ đạo Quốc gia phòng, chống buôn bán người, trong năm 2007 công an đã điều tra 369 vụ buôn người vì mục đích mại dâm, với số nạn nhân là 930 phụ nữ và trẻ em. Công an đã bắt 606 nghi can, truy tố 178 vụ, kết án 339 đối tượng với tội danh buôn người - trong đó 19 đối tượng đã bị kết án từ 15-20 năm tù giam. 320 đối tượng còn lại nhận mức án tù dưới 15 năm. Mức độ cán bộ viên chức nhà nước dính líu đến việc hỗ trợ buôn bán người dường như là thấp. Đôi khi cũng có báo cáo cho rằng một số bộ đội biên phòng đã nhận tiền hối lộ của các đối tượng buôn người để làm ngơ.

Tháng 4/2007 tại Thành phố Hồ Chí Minh, công an đã triệt phá một đường dây buôn người sang Hàn Quốc thông qua con đường môi giới kết hôn giả mạo, giải cứu 118 phụ nữ. 3 bị cáo đã bị kết án từ 6-12 năm tù giam cho tội danh đưa phụ nữ sang Ma-cao, nói là để hành nghề mát-xa nhưng sau đó bị ép làm gái mại dâm. Công an Việt Nam và công an Lào đã phối hợp giải cứu 11 phụ nữ và triệt phá một đường dây chuyên đưa phụ nữ và các bé gái sang Malaysia, Phi-líp-pin và In-đô-nê-xi-a làm mại dâm. Hồi tháng 7, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã kết án 6 người Việt Nam với mức án từ 5-12 năm tù giam cho tội danh bán 126 phụ nữ sang Malaysia dưới vỏ bọc một công ty mai mối hôn nhân.

Bảo vệ

Trong năm 2007, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện ngày càng nhiều nỗ lực trong việc bảo vệ nạn nhân, đặc biệt là nạn nhân bị buôn bán để bóc lột tình dục. Một số trung tâm hỗ trợ và đánh giá nạn nhân đã được thành lập ở một số khu vực biên giới. Những nạn nhân bị bán làm mại dâm được khuyến khích để họ có thể hỗ trợ quá trình điều tra và truy tố cũng như kiện những đối tượng đã bán họ. Chưa có báo cáo nào cho thấy các nạn nhân bị bán làm mại dâm bị phạt hoặc bị trừng phạt do những hành vi mà họ mắc phải – hệ luỵ trực tiếp từ việc bị buôn bán. Chính phủ vẫn chưa có hệ thống chính thức phục vụ cho công tác xác định nạn nhân bị buôn bán. Tuy nhiên, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các tổ chức quốc tế, trong đó có Tổ chức Di cư Quốc tế và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc, tiếp tục tổ chức các khoá đào tạo cho Bộ tư lệnh bộ đội biên phòng và chính quyền địa phương nhằm xác định, xử lý và hỗ trợ nạn nhân. Năm 2007, Chính phủ đã có Quyết định số 17 về việc tiếp nhận và hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán làm mại dâm khi họ hồi hương.

Tháng 2/2008 đã có những báo cáo về việc một nhóm lao động Việt Nam khoảng hơn 200 nam và nữ - do các công ty tuyển dụng nhà nước đưa sang Gioóc-đa-ni làm việc trong các nhà máy may – bị cho là đã rơi vào trong tình trạng bị lừa đảo, làm công trả nợ, bị tịch thu giấy tờ đi lại một cách bất hợp pháp, bị giam giữ, và hợp đồng lao động của họ bị thay đổi các điều khoản nhằm mục đích bóc lột sức lao động tại nơi họ làm việc. Tình trạng này đã dẫn đến việc đình công và hậu quả là xảy ra ẩu đả giữa những lao động này và cảnh sát Gioóc-đa-ni. Một số báo cáo cho rằng những lao động này đã bị cán bộ chính quyền Việt Nam và đại diện công ty tuyển dụng doạ sẽ trừng phạt nếu họ không quay trở lại làm việc. Chính quyền Việt Nam đã cho hồi hương nhóm lao động này, sau khi thay mặt họ đàm phán với chủ lao động Đài Loan và nhà chức trách Gioóc-đa-ni. Không ai trong số những lao động này bị giam giữ sau khi trở về. Chính quyền khẳng định rằng họ sẽ không bị truy tố hình sự, tuy nhiên có thể phải chịu những khoản tiền phạt từ phía các công ty tuyển dụng vì đã vi phạm hợp đồng. Chính quyền cũng không nỗ lực xem xét liệu có lao động nào trong số những người trở về là nạn nhân của việc buôn bán người hay không.

Tháng 3/2007, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã khánh thành Trung tâm Phụ nữ và Phát triển tại Hà Nội nhằm cung cấp chỗ tạm lánh, tư vấn, hỗ trợ tài chính và đào tạo nghề cho nạn nhân bị buôn bán làm mại dâm và nạn nhân bạo lực gia đình. Theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có 422 nạn nhân bị buôn bán làm mại dâm đã được hồi hương. Cán bộ chính quyền cũng đã được cử tới Đài Loan và Hàn Quốc để tiếp nhận báo cáo sơ bộ về việc hỗ trợ các cô dâu Việt Nam.

Theo Nghị định số 69 của Thủ tướng Chính phủ, các biện pháp nhằm bảo vệ phụ nữ Việt Nam không bị lừa đảo hoặc rơi vào tình trạng bị buôn bán - hậu quả của các vụ hôn nhân thông qua môi giới – bao gồm cẩn trọng hơn trong khâu xét duyệt cấp giấy chứng nhận kết hôn và các biện pháp đảm bảo rằng hôn nhân là tự nguyện. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp với đối tác Hàn Quốc thực hiện chương trình xây dựng các trung tâm tư vấn tiền hôn nhân và thiết lập các đường dây nóng ở các khu vực trọng điểm ở Việt Nam.

Ngăn chặn

Chính phủ Việt Nam tiếp tục thể hiện những tiến bộ trong các nỗ lực ngăn chặn hoạt động buôn bán người thông qua việc nâng cao nhận thức cho người dân.

Các tổ chức quốc tế và phi chính phủ tiếp tục cộng tác với chính phủ trong việc đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho chuyên viên các bộ, ngành đồng thời hợp tác thực hiện các chiến dịch nâng cao nhận thức cho người dân. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Trung ương Đoàn đã tổ chức nhiều sự kiện trong đó có quảng cáo, các chiến dịch trên phương tiện phát thanh, truyền hình và các sự kiện tập trung vào các trường học ở những khu vực có nguy cơ cao.Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp với đối tác Hàn Quốc thực hiện các chiến dịch nâng cao nhận thức và thiết lập đường một dây nóng dành cho các cô dâu Việt Nam. Hội Liên hiệp đã tài trợ xây dựng một bộ phim tài liệu dành cho phụ nữ chuẩn bị kết hôn với người nước ngoài trong đó phân tích hệ quả tích cực và tiêu cực. Đài Truyền hình Việt Nam đôi khi cũng đề cập đến nạn buôn người trong một chương trình kinh tế gia đình được người dân trong nước quan tâm, nêu điển hình những người bị buôn bán trở về trao đổi kinh nghiệm của bản thân và cách tránh nạn buôn người. Năm 2007, Đài Truyền hình Việt Nam đã hợp tác với MTV phát một bộ phim tài liệu về buôn bán người và chiến dịch nâng cao nhận thức do Chính phủ Mỹ tài trợ. Tuy nhiên, chính phủ không có biện pháp rõ ràng nhằm giảm nhu cầu đối với hoạt động mại dâm vì mục đích kiếm lời.

Cuối năm 2007, Việt Nam đã thành lập đơn vị điều tra chống tội phạm lạm dụng tình dục trẻ em thông qua con đường du lịch trực thuộc Bộ Công an. Việt Nam đã phối hợp tích cực với Chính phủ Mỹ trong việc truy tố một công dân Mỹ chuyên tổ chức các hoạt động lạm dụng tình dục trẻ em thông qua con đường du lịch ở Việt Nam. Quy định tất cả các khách du lịch phải gửi lại hộ chiếu ở khách sạn có thể phần nào ngăn chặn họ vào Việt Nam nhằm tìm kiếm quan hệ tình dục với trẻ em.. Tuy nhiên, nhiều khách sạn cho thuê theo giờ cho phép hoạt động mại dâm thì không yêu cầu khách phải đăng ký. Việt Nam vẫn chưa phê chuẩn Nghị định thư chống buôn người của Liên Hợp Quốc.

Bản dịch này có thông tin cấp phép khác với văn kiện gốc. Tình trạng bản dịch áp dụng cho phiên bản này.
Bản gốc:
PD-icon.svg Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì nó là một tác phẩm của chính quyền liên bang Hoa Kỳ (xem 17 U.S.C. 105). Great Seal of the United States (obverse).svg
Bản dịch:
PD-icon.svg Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì nó là một tác phẩm của chính quyền liên bang Hoa Kỳ (xem 17 U.S.C. 105). Great Seal of the United States (obverse).svg