Báo cáo tình hình buôn người năm 2011

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
Báo cáo tình hình buôn người năm 2011  (năm 2011) 
của Văn phòng Giám sát và Chống buôn người, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, người dịch: Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

Báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình buôn người năm 2011, được công bố ngày 27 tháng 6 năm 2011.


Văn phòng Giám sát và Chống Buôn người

Thư của Ngoại trưởng

Kính thưa độc giả,

Năm ngoái, tôi tới thăm một khu tạm trú dành cho những nạn nhân buôn người còn sống sót. Bọn trẻ quấn lấy tôi. Lẽ ra ở tuổi ấy chúng đang đi học thay vì đang hồi phục sau khi làm nô lệ ở một nhà thổ. Chúng ta biết rõ buôn người xảy ra ở mọi khu vực và mọi quốc gia trên thế giới. Thế nhưng khi nhìn vào đôi mắt của những bé gái đó và nghe câu chuyện của các em sau khi trở về nhà, một lần nữa tôi nhận thức rõ thảm họa thực sự của hình thức nô lệ thời hiện đại này. Do vậy, trong suốt thập kỷ qua Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế cam kết đấu tranh chống buôn người dù chúng ở bất cứ đâu. Những bé gái đó và hàng triệu người dân trên thế giới mà các em đại diện, là động lực thôi thúc chúng ta hành động để thực hiện những cam kết đã đưa ra trong thập kỷ qua.

Báo cáo tình hình buôn người năm 2011 tổng hợp hơn 180 báo cáo tình hình các quốc gia nhằm đánh giá nỗ lực chống buôn người của các chính phủ. Phù hợp với thông điệp và những giá trị ghi nhận trong Nghị định thư chống buôn người của Liên Hợp Quốc nhằm ngăn chặn, truy tố và bảo vệ tối đa số nạn nhân, Hoa Kỳ định nghĩa việc buôn người là gồm tất cả những hành vi từ cưỡng ép lao động đến buôn bán người lớn và trẻ em nhằm bóc lột tình dục. Khi đánh giá hoạt động chống buôn người của Hoa Kỳ và của các chính phủ khác trên thế giới, chúng tôi không chỉ xác định chính phủ đó có ban hành các đạo luật mạnh mẽ phù hợp với cách tiếp cận đó không, mà còn xem xét liệu những luật này có đang được thực hiện trên phạm vi rộng và có hiệu quả hay không. Nói ngắn gọn là những luật này có hiệu lực hay không.

Trong thập kỷ hành động này, chúng ta phải tiếp tục nỗ lực chống mọi hình thức buôn người, dù vì mục đích bóc lột tình dục hay cưỡng ép lao động, dù ở trong nước hay xuyên biên giới, và ảnh hưởng tới bất kỳ ai dù đó là đàn ông, phụ nữ, hay trẻ em. Chúng ta phải ngăn chặn loại hình tội phạm này thông qua việc tăng cường các mối quan hệ đối tác, buộc những nước xuất phát điểm phải chịu trách nhiệm vì tuyển dụng người để bóc lột và đảm bảo rằng các nước tiếp nhận có các biện pháp mạnh mẽ nhằm xác định nạn nhân và truy tố những kẻ buôn người. Chúng ta phải hợp tác với lãnh đạo các ngành công nghiệp để khách hàng của họ có thể biết rằng những sản phẩm và dịch vụ mà họ mua có nguồn gốc xuất xứ đáng tin cậy. Đồng thời, chúng ta phải nâng cao năng lực cho các chính phủ nhằm bảo vệ nạn nhân và buộc những kẻ buôn người phải có trách nhiệm. Những quốc gia được biết là có nền pháp trị vững mạnh không nên chỉ ngủ quên trên những thành tựu đã đạt được mà cần phải nỗ lực đem lại công lý và các dịch vụ cho các nạn nhân buôn người mà họ xứng đáng được hưởng.

Thông qua Báo cáo thường niên này Hoa Kỳ khẳng định rõ quyết tâm đấu tranh chống những kẻ buôn người, dù chúng ở bất cứ đâu, bởi đấu tranh chống lại tình trạng nô lệ và bảo vệ nhân quyền là một phần của bản sắc dân tộc chúng ta. Đối với những bé gái tại khu tạm trú và với tất cả những ai là nạn nhân của loại hình tội phạm này, chúng ta kiên trì nỗ lực bảo vệ và trung thực trong cách đánh giá của mình. Chúng ta phải thực hiện những cam kết bảo vệ nạn nhân, trừng phạt những kẻ lạm dụng, vực dậy cuộc sống của những người còn sống sót trở về, để một ngày nào đó họ sẽ có cơ hội thực hiện những quyền mà Tạo hoá đã ban cho.

Trân trọng,

Hillary Rodham Clinton

Xếp loại, hướng dẫn và hình phạt đối với các nước xếp loại 3

Theo quy định của Đạo luật Bảo vệ nạn nhân của nạn buôn người (TVPA), trong Báo cáo Tình hình Buôn người năm 2011 Bộ Ngoại giao xếp các nước vào một trong ba loại. Việc xếp loại này chủ yếu dựa vào mức độ chính phủ nước đó hành động chống buôn người hơn là phạm vi của vấn đề, mặc dù đây cũng là một nhân tố quan trọng. Việc phân tích dựa trên nỗ lực của các chính phủ nhằm đáp ứng những tiêu chuẩn tối thiểu về xoá bỏ nạn buôn người như TVPA đã quy định.

Mặc dù Loại 1 là hình thức xếp loại cao nhất, nhưng không có nghĩa là nước được xếp loại 1 không có tình trạng buôn người. Trên thực tế, xếp loại 1 có nghĩa là chính phủ nước đó thừa nhận có hoạt động buôn người, có cố gắng giải quyết vấn đề và đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu của TVPA. Mỗi năm, chính phủ các nước phải cho thấy những tiến bộ đáng ghi nhận về chống buôn người để được duy trì ở danh sách loại 1. Do vậy, xếp loại 1 thể hiện một trách nhiệm hơn là sự gỡ bỏ trách nhiệm.

Việc xếp loại và báo cáo tình hình từng nước trong Báo cáo 2011 phản ánh những điểm sau:

  • thực thi các bộ luật cấm các hình thức buôn người nghiêm trọng, như định nghĩa của TVAP và xử lý hình sự đối với tội danh buôn người;
  • Việc xử lý hình sự đối với các tội danh buôn người tối thiểu là bốn năm tù giam hoặc nghiêm khắc hơn;
  • thực hiện các luật về chống buôn người bằng việc truy tố mạnh mẽ những hình thức buôn người phổ biến ở trong nước;
  • các biện pháp tích cực nhằm xác định nạn nhân với các quy trình có hệ thống về hướng dẫn thi hành luật và các lực lượng tiếp nhận và xử lý thông tin đầu tiên được chính phủ hỗ trợ trong quá trình xác định nạn nhân;
  • hỗ trợ từ chính phủ và các mối quan hệ đối tác với các tổ chức phi chính phủ (NGO) giúp nạn nhân tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế cơ bản, tư vấn, cung cấp chỗ ở và cho phép họ kể những kinh nghiệm của bản thân với các tư vấn viên đã qua đào tạo và người thực thi luật trong một môi trường ít áp lực nhất;
  • nỗ lực bảo vệ nạn nhân bao gồm tiếp cận các dịch vụ và chỗ ở mà không bị giam giữ và tiếp cận những dịch vụ pháp lý khác khi di chuyển sang những nước mà ở đó nạn nhân có thể phải đối mặt với khó khăn hoặc bị trả thù;
  • mức độ một chính phủ đảm bảo nạn nhân được hỗ trợ pháp lý hoặc các hình thức hỗ trợ khác, đồng thời đảm bảo rằng các trình tự tiến hành phù hợp với nội luật và không làm tổn hại đến các quyền, phẩm giá, và tâm lý của nạn nhân;
  • mức độ chính phủ đảm bảo sự an toàn, nhân đạo và ở một mức độ có thể, cho phép nạn nhân tự hồi hương và tái hoà nhập;
  • các biện pháp của chính phủ nhằm ngăn chặn buôn người, trong đó có nỗ lực ngăn chặn các hành vi được xác định là những nhân tố góp phần dẫn đến buôn người trong đó có lao động cưỡng bức, ví dụ như chủ lao động tịch thu hộ chiếu của công nhân nước ngoài, và cho phép người tuyển dụng lao động được thu các loại phí quá mức đối với những lao động di cư.

Xếp loại và báo cáo tình hình từng nước không bị tác động bởi những nhân tố dưới đây:

  • nỗ lực của các nhân tố phi chính phủ ở trong nước, dù đó là những nỗ lực mạnh mẽ đến đâu;
  • những hoạt động nhằm nâng cao nhận thức của công chúng - do chính phủ hỗ trợ hoặc không - không liên quan mật thiết đến việc truy tố kẻ buôn người, bảo vệ nạn nhân, hoặc ngăn chặn buôn người; và
  • các sáng kiến xây dựng hay thực thi luật pháp trên diện rộng mà không có trọng tâm cụ thể về chống buôn người.

Hướng dẫn xếp loại

Loại 1

Những nước mà chính phủ tuân thủ đầy đủ những tiêu chuẩn tối thiểu của TVPA về xoá bỏ nạn buôn người.

Loại 2

Những nước mà chính phủ không tuân thủ đầy đủ những tiêu chuẩn của TVPA nhưng có nỗ lực đáng kể nhằm tuân thủ những tiêu chuẩn đó.

Loại 2 cần theo dõi

Những nước mà chính phủ không tuân thủ những tiêu chuẩn tối thiểu của TVPA nhưng có nỗ lực đáng kể để tuân thủ những tiêu chuẩn đó VÀ:

a) số lượng nạn nhân của các hình thức buôn người nghiêm trọng là đáng kể hoặc đang gia tăng đáng kể;
b) không cho thấy bằng chứng gia tăng nỗ lực chống các hình thức buôn người nghiêm trọng từ năm ngoái, trong đó có tăng cường điều tra, truy tố và kết án các tội danh buôn người, tăng cường giúp đỡ các nạn nhân, và ngày càng ít chứng cứ cho thấy các quan chức chính phủ có dính líu đến các hình thức buôn người nghiêm trọng, hoặc
c) việc xác định một nước đang có những nỗ lực đáng kể để tuân thủ các tiêu chuẩn tối thiểu dựa trên các cam kết của nước đó sẽ tiến hành thêm các biện pháp trong năm tới.

Loại 3

Những nước mà chính phủ không tuân thủ đầy đủ những tiêu chuẩn tối thiểu và không cho thấy nỗ lực đáng kể nhằm tuân thủ các tiêu chuẩn đó.

TVPA liệt kê thêm các nhân tố dựa vào đó để quyết định xếp một nước vào Loại 2 (hoặc Loại 2 cần theo dõi) hay Loại 3. Thứ nhất là mức độ nước đó là xuất phát điểm, nước trung chuyển hay điểm đến của các hình thức buôn người nghiêm trọng. Thứ hai, mức độ chính phủ một nước không tuân thủ các tiêu chuẩn tối thiểu của TVPA và cụ thể là mức độ các quan chức hoặc nhân viên chính phủ tiếp tay cho các hình thức buôn người nghiêm trọng. Và thứ ba là những biện pháp để chính phủ tuân thủ các tiêu chuẩn tối thiểu phù hợp với các nguồn lực của chính phủ đó và phù hợp với năng lực giải quyết hoặc xoá bỏ các hình thức buôn người nghiêm trọng.

Năm 2008, Đạo luật William Wilberforce về Bảo vệ Nạn nhân Buôn người có điều khoản quy định rằng nước nào bị xếp Loại 2 cần theo dõi trong hai năm liền và sẽ được xếp Loại 2 cần theo dõi năm tiếp theo thì năm sau sẽ bị xếp Loại 3. Quy định này bắt đầu có hiệu lực từ báo cáo năm nay. Ngoại trưởng, thông qua phái đoàn của mình, có thể miễn áp dụng điều khoản tự động hạ bậc này đối với chính phủ một nước nếu có bằng chứng đáng tin cậy cho thấy chính phủ đó đã đưa ra một kế hoạch mà nếu được thực hiện sẽ đóng góp vào nỗ lực đáng kể để tuân thủ các tiêu chuẩn tối thiểu của TVPA về xoá bỏ buôn người và đầu tư đủ nguồn lực thực hiện kế hoạch. Những chính phủ nào là đối tượng áp dụng quy định tự động hạ bậc này sẽ được ghi như vậy trong các báo cáo tình hình nước đó.

Hình phạt đối với những nước xếp loại 3

Theo quy định của TVPA, chính phủ các nước bị xếp loại 3 có thể bị trừng phạt, theo đó Chính phủ Hoa Kỳ có thể ngừng hoặc rút các chương trình hỗ trợ nước ngoài không vì mục đích nhân đạo hoặc không liên quan đến thương mại. Bên cạnh đó, các nước bị xếp Loại 3 có thể không được nhận hỗ trợ cho nhân viên của họ tham gia các chương trình trao đổi giáo dục và văn hoá. Phù hợp với các quy định của TVPA, các chính phủ phải đối mặt với lệnh trừng phạt cũng sẽ phải đối diện với việc Hoa Kỳ phản đối các khoản hỗ trợ từ các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (ngoại trừ hỗ trợ vì mục đích nhân đạo, có liên quan đến thương mại và các khoản hỗ trợ liên quan đến phát triển nhất định).

Các lệnh trừng phạt sẽ có hiệu lực ngày 1/10/2011. Tuy nhiên, toàn bộ hoặc một phần các lệnh trừng phạt theo quy định của TVPA có thể được miễn nếu Tổng thống cho rằng việc cung cấp các khoản hỗ trợ cho một chính phủ nào đó sẽ giúp tăng cường vị thế của Hoa Kỳ hoặc phù hợp với lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ. TVPA cũng quy định miễn trừng phạt nếu cần thiết để tránh những tác động tiêu cực đối với những nhóm người dễ bị ảnh hưởng, trong đó có phụ nữ và trẻ em.

Không có hình thức xếp loại vĩnh viễn. Nước nào cũng có thể làm tốt hơn, kể cả Hoa Kỳ. Mọi quốc gia đều phải duy trì và tăng cường nỗ lực chống buôn người.

VIỆT NAM (Danh sách loại 2 cần theo dõi)

Việt Nam vừa là xuất phát điểm, và ở mức độ thấp hơn là điểm đến của nam giới, phụ nữ và trẻ em bị buôn bán để kinh doanh mại dâm và cưỡng ép lao động. Việt Nam là nước xuất khẩu lao động. Nam giới và phụ nữ đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài thông qua các công ty xuất khẩu lao động nhà nước hoặc tư nhân. Họ làm việc trong các ngành xây dựng, đánh bắt thuỷ sản, nông nghiệp, khai thác mỏ, khai thác gỗ và chế tạo chủ yếu ở Đài Loan, Ma-lai-xi-a, Hàn Quốc, Lào, Các tiểu vương quốc Ả-rập Thống nhất, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Ả-rập Xê-út, Li-bi, In-đô-nê-xi-a, Anh, Cộng hoà Séc, Cyprus, Thuỵ Điển, Trinidad và Tô-ba-gô, Cốt-xta Rica, Nga, và Trung Đông. Một số công nhân này sau đó rơi vào tình trạng bị cưỡng ép lao động. Những phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị ép phải bán dâm ở khắp châu Á, thường bị lừa là có cơ hội làm ăn nhưng sau đó bị bán cho các nhà thổ trên biên giới Căm-pu-chia, Trung Quốc và Lào, và rồi một số cuối cùng bị đưa sang các nước thứ ba, trong đó có Thái Lan và Ma-lai-xi-a. Một số phụ nữ Việt Nam bị cưỡng ép hành nghề mại dâm ở Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Sing-ga-po và châu Âu.

Các công ty xuất khẩu lao động Việt Nam, hầu hết là các công ty nhà nước, cũng như các công ty môi giới lao động không có giấy phép hoạt động, có thể bắt người lao động phải đóng những khoản phí vượt quá quy định của pháp luật, đôi khi lên đến 10.000 đô-la để được đi xuất khẩu lao động. Do vậy, trong số những lao động là người châu Á, người lao động Việt Nam phải gánh chịu những khoản nợ cao nhất, và rất dễ rơi vào hoàn cảnh phải làm công trừ nợ hoặc bị cưỡng ép lao động. Ngay khi đến nước tiếp nhận lao động, một số lao động nhận ra rằng họ bị bắt phải làm việc trong điều kiện dưới mức tối thiểu, được trả công rất ít hay thậm chí không công, bất chấp những khoản nợ đang đè lên vai và không được tiếp cận với kênh trợ giúp pháp lý đáng tin cậy nào. Có tin là một số công ty tuyển dụng lao động Việt Nam không cho người lao động được xem hợp đồng cho đến tận ngày cuối cùng trước khi họ được sắp xếp để khởi hành, và sau khi người lao động đã phải trả các khoản phí tuyển dụng khá lớn, mà thường là phải vay nợ. Một số lao động còn cho biết hợp đồng được soạn thảo bằng thứ tiếng mà họ không biết. Cũng có những trường hợp được ghi nhận là các công ty tuyển dụng không hề đáp ứng yêu cầu trợ giúp của người lao động khi họ bị bóc lột.

Các nhóm tội phạm có tổ chức Việt Nam và Trung Quốc có dính líu đến việc ép trẻ em Việt Nam làm việc tại các trang trại trồng cần sa ở Anh, nơi các em phải đối mặt với những khoản nợ lên tới 32.000 đô-la. Theo báo cáo của Chính phủ Anh đưa ra trong năm, rất nhiều trong số những nạn nhân là người Việt Nam này được một đại lý đưa sang Nga, sau đó được chuyên chở bằng xe tải qua U-krai-na, Ba Lan, Cộng hoà Séc, Đức, Pháp rồi đến Anh. Cũng trong năm nay có 15 nam giới Việt Nam là nạn nhân bị buộc phải làm việc trên một chiếc tàu đánh cá của Đài Loan đã được trả tự do ở Cốt-xta Rica và có tin là phụ nữ Việt Nam ở Thái Lan bị bắt đẻ thuê cho người nước ngoài. Cũng có nhiều báo cáo cho biết một số trẻ em Việt Nam bị buôn bán cả ở trong nước lẫn nước ngoài để cưỡng ép lao động. Trong hoạt động buôn người nhằm bóc lột tình dục và buôn bán lao động, các biện pháp thường được sử dụng để đe dọa nạn nhân bao gồm khép nợ, tịch thu giấy tờ tuỳ thân, giấy thông hành và đe dọa trục xuất. Một số phụ nữ Việt Nam sang Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao và ngày càng có nhiều người sang Hàn Quốc theo hình thức môi giới hôn nhân với người nước ngoài sau đó thường rơi vào hoàn cảnh bị cưỡng ép lao động (kể cả làm phục vụ trong gia đình), bị ép làm mại dâm, hoặc cả hai. Cụ thể, có những báo cáo về việc buôn bán phụ nữ và trẻ em gái từ các tỉnh nghèo, từ nông thôn ra các đô thị như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh hoặc các khu vực mới phát triển như Bình Dương. Mặc dù một số cá nhân tự nguyện di cư nhưng sau đó họ có thể bị bán làm lao động hoặc để bóc lột tình dục. Trẻ em từ các vùng nông thôn dễ bị bóc lột tình dục. Chúng cũng có thể bị bắt phải đi bán hàng rong hoặc ăn xin trên đường phố ở các thành phố lớn, mặc dù một số nguồn tin cho biết hiện tượng này không còn nghiêm trọng như những năm trước. Một số trẻ em Việt Nam là nạn nhân bị cưỡng ép lao động hoặc phải làm công trừ nợ trong các công ty gia đình hoặc ở các mỏ vàng. Tiếp tục có bằng chứng cho thấy tình trạng cưỡng ép lao động xảy ra tại các trung tâm cai nghiện trong đó những người nghiện bị xử phạt hành chính buộc phải lao động, mặc dù có tin là tình trạng này đã giảm bớt. Mặc dù số người bị đưa đến các trung tâm đó chỉ bằng khoảng 1/3 so với ba năm trước đây, nhưng vẫn có những báo cáo cho thấy những ai không hoàn thành khối lượng công việc được giao sẽ bị đánh đập hoặc phải chịu các hình thức lạm dụng khác. Việt Nam là điểm đến của du lịch mại dâm trẻ em. Được biết những kẻ mua dâm là những người đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Anh, Úc, châu Âu và Hoa Kỳ, mặc dù hoạt động này không được cho là phổ biến.

Chính phủ Việt Nam chưa tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu về xoá bỏ nạn buôn người. Tuy nhiên, Chính phủ đang có những nỗ lực đáng kể để tuân thủ những tiêu chuẩn này. Trong năm, Chính phủ đã ban hành luật mới về chống mua bán người và một kế hoạch hành động quốc gia mới trong năm năm về chống mua bán người. Tuy nhiên, trong khi thực hiện một số cải cách thể chế, chính phủ vẫn chưa đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc truy tố những kẻ buôn người và bảo vệ nạn nhân trong khi thực hiện bản báo cáo này. Tháng 3/2011, Chính phủ đã thông qua Luật Phòng chống mua bán người quy định một loạt các hành vi bị cấm trong đó có một số hình thức buôn người trước đây chưa bị cấm theo quy định của các luật khác, đồng thời quy định những nỗ lực phòng chống mua bán người. Mặc dù chính phủ khẳng định hầu hết các hành vi mua bán người, kể cả mua bán lao động, đã được quy định trong Bộ luật Hình sự, nhưng đối với các hành vi mua bán người khác đòi hỏi phải bổ sung thêm luật và các quy định về việc thực hiện trước khi các luật Việt Nam quy định mức phạt hình sự đối với tất cả các hình thức mua bán người. Chính phủ không cung cấp thông tin để chứng minh các báo cáo về việc các nhà chức trách đã truy tố và xử lý hình sự những kẻ buôn bán lao động. Do vậy, Việt Nam bị xếp vào danh sách loại 2 cần theo dõi năm thứ hai liên tiếp. Việt Nam tiếp tục tăng cường xuất khẩu lao động nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp và giảm đói nghèo, thu về kiều hối, nhưng lại thiếu các biện pháp bảo vệ các quyền của người lao động di cư và ngăn chặn các vụ buôn bán lao động mới, chẳng hạn như thực thi đầy đủ các quy định của luật pháp đối với các công ty tuyển dụng lao động. Chính phủ cũng chưa tích cực nỗ lực giải quyết tình trạng buôn người ở trong nước.

Khuyến nghị đối với Việt Nam: Ban hành các luật liên quan, các quy định thi hành và các cơ chế phù hợp khác bổ sung cho Luật phòng chống mua bán người để đảm bảo Bộ luật hình sự nghiêm cấm mọi hình thức buôn người và quy định các chế tài hình sự nghiêm khắc đối với những hành vi bị cấm này; xử lý hình sự những đối tượng tham gia vào cưỡng ép lao động; tuyển dụng người nhằm mục đích cưỡng ép lao động; hoặc lừa đảo trong tuyển dụng lao động; xác định lao động Việt Nam di cư bị cưỡng ép lao động và bảo đảm rằng họ được tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ nạn nhân; xây dựng quy trình xác định nạn nhân chính thức, và đào tạo cán bộ liên quan trong việc áp dụng các quy trình này, bao gồm các dấu hiệu bị cưỡng ép lao động đã được quốc tế công nhận như việc các chủ lao động hoặc môi giới lao động tịch thu giấy thông hành của người lao động; tăng cường bảo vệ người lao động Việt Nam ở nước ngoài thông qua quy định các biện pháp bảo vệ lao động Việt Nam trong các biên bản ghi nhớ hoặc các thoả thuận với các nước tiếp nhận lao động; xử lý hình sự và trừng phạt các công ty tuyển dụng lao động được nhà nước cấp phép hay những công ty môi giới lao động chui tham gia vào việc lừa đảo hoặc thu những khoản hoa hồng bất hợp pháp để đưa người lao động ra nước ngoài; thực hiện các biện pháp bảo vệ nạn nhân buôn bán lao động, đảm bảo rằng người lao động không bị đe dọa hoặc bị phạt khi phản đối điều kiện làm việc hoặc rời bỏ nơi làm việc; tăng cường hỗ trợ nạn nhân buôn người là nam giới và những nạn nhân buôn bán lao động; nâng cao nhận thức cho người lao động để họ có thể giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến buôn bán lao động một cách hiểu quả;; báo cáo về nỗ lực tăng cường hợp tác chặt chẽ với chính phủ các nước tiếp nhận nhằm điều tra và truy tố các trường hợp buôn người, đặc biệt là các trường hợp buôn bán lao động; tăng cường hợp tác liên ngành trong các nỗ lực chống buôn người; cải thiện việc thu thập và chia sẻ số liệu về các vụ truy tố buôn người, đặc biệt là các vụ truy tố liên quan đến buôn bán lao động; thực hiện và hỗ trợ chiến dịch nâng cao nhận thức phòng chống buôn bán người, trực tiếp hướng tới các đối tượng mua dâm.

Truy tố

Mặc dù chính phủ Việt Nam đã thể hiện một số nỗ lực trong việc giải quyết tình trạng buôn bán người vì mục đích tình dục xuyên quốc gia, nhưng trong giai đoạn thực hiện bản báo cáo này, chính phủ Việt Nam nhìn chung chưa thể hiện nỗ lực thực thi pháp luật chống mọi hình thức buôn bán người, đặc biệt là buôn bán lao động. Các nhà chức trách không báo cáo về bất kỳ vụ điều tra hoặc truy tố nào đối với các trường hợp buôn người trong nước và không cung cấp thông tin để chứng minh các báo cáo là họ đã truy tố 14 trường hợp buôn bán lao động. Tháng 3, 2011 Quốc hội thông qua Luật phòng chống mua bán người, quy định rõ hơn về các hành vi mua bán người, cũng như việc chăm sóc nạn nhân và biện pháp ngăn chặn, nhưng lại không quy định các chế tài hình sự đối với các hành vi vi phạm được bổ sung thêm trong luật. Chính phủ thừa nhận là cần phải có thêm các quy định thi hành, hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung luật hình sự để đảm bảo tất cả các loại tội phạm buôn bán người đều bị xử lý hình sự. Trong năm, chính phủ cho biết đa số bọn buôn người đã bị truy tố theo điều 119 và 120 của Bộ luật Hình sự. Các điều khoản này có thể được áp dụng để truy tố một số tội danh buôn người và các tội liên quan khác. Các nhà chức trách cho biết Điều 119 có thể được viện dẫn để truy tố một số hình thức buôn người, trong đó có buôn bán lao động và quy định hình phạt từ 2 đến 7 năm tù, được cho là khá nghiêm khắc và phù hợp với các hình phạt quy định đối với các tội danh nghiêm trọng khác, chẳng hạn như hiếp dâm. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự không điều chỉnh tất cả các hình thức buôn người, trong đó có một số được quy định tại Luật mới về chống mua bán người. Luật Việt Nam vẫn chưa có các điều khoản cụ thể nhằm trừng phạt những hành vi cố ý phạm tội buôn người. Trong năm, chính phủ báo cáo là đã truy tố hầu hết các trường hợp buôn bán lao động, không phải theo điều 119 mà là theo các quy định về hành vi lừa đảo theo luật hình sự hoặc theo luật lao động. Luật Lao động không quy định chế tài hình sự đối với buôn bán lao động.

Những tranh chấp về hợp đồng giữa lao động Việt Nam và các công ty xuất khẩu lao động có trụ sở ở Việt Nam hoặc các công ty ở nước ngoài – kể cả lừa đảo trong tuyển dụng và những điều kiện khác có dấu hiệu của cưỡng ép lao động- hầu như được giao hoàn toàn cho công ty tuyển dụng lao động giải quyết. Mặc dù người lao động có quyền hợp pháp để đưa các vụ việc ra toà, nhưng trên thực tế ít ai có đủ lực để theo kiện. Cũng không có trường hợp nào ghi nhận nạn nhân buôn bán lao động đã đòi được bồi thường. Do vậy, trên thực tế người lao động không thể trông cậy vào pháp luật. Toà án Nhân dân tối cao Việt Nam cho biết từ giữa tháng 1 đến tháng 12 năm 2010, các cơ quan có thẩm quyền đã truy tố 153 vụ buôn người để hành nghề mại dâm và kết án 274 cá nhân phạm tội này. Tuy nhiên, số liệu này dựa trên các điều 119 và 120 của Bộ luật Hình sự, trong đó bao gồm cả các tội danh khác không phải buôn người, chẳng hạn như bắt cóc và bán trẻ em làm con nuôi, và do vậy không phân loại được tổng số vụ buôn người. Hầu hết các cá nhân phạm tội bị phạt tù từ 7 đến 15 năm. Chính phủ không có báo cáo nào về việc truy tố hay kết án những trường hợp buôn người xảy ra trong nước. Chính phủ tiếp tục hợp tác với các tổ chức quốc tế đào tạo các cán bộ thực thi pháp luật, cán bộ biên phòng, và những người làm công tác xã hội trong lĩnh vực chống buôn người.

Nhiều tổ chức phi chính phủ cho biết tình trạng tham nhũng liên quan đến buôn người tiếp tục xảy ra ở các địa phương, nơi các cán bộ tại các cửa khẩu biên giới nhận hối lộ để làm ngơ cho các vụ đưa người qua biên giới. Trong giai đoạn thực hiện bản báo cáo này, công an đã bắt giữ một cán bộ ở Cần Thơ vì nhận hối lộ giúp đăng ký kết hôn cho các phụ nữ Việt Nam với đàn ông nước ngoài, mặc dù không rõ liệu những người phụ nữ này đã bị buôn bán hay không. Trong năm, chính phủ không báo cáo bất cứ vụ truy tố hình sự hoặc kết án cán bộ nào có dính líu tới buôn người. Nguồn tin của chính phủ và các tổ chức phi chính phủ khác cho biết việc thiếu các nguồn lực tài chính, nhân viên không được đào tạo bài bản, cơ chế hợp tác liên ngành bất cập, yếu kém trong phối hợp thực hiện các công cụ pháp lý hiện có trên cả nước, và bộ máy luật pháp hiện hành không phù hợp trong việc hỗ trợ xác định và truy tố các trường hợp buôn người vẫn là những trở ngại chính đối với tiến bộ hơn nữa đối với những nỗ lực chống buôn người.

Bảo vệ nạn nhân

Năm vừa qua, chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục một số nỗ lực bảo vệ nạn nhân của nạn buôn bán người xuyên biên giới nhằm bóc lột tình dục và bổ sung thêm các kế hoạch bảo vệ nạn nhân trong Luật Phòng chống mua bán người mới đây mặc dù chính phủ vẫn chưa nỗ lực hết mức trong việc xác định hay bảo vệ nạn nhân của buôn bán lao động hay buôn bán trong nước. Chính phủ cũng chưa thực hiện các quy trình một cách có hệ thống trên cả nước để xác định một cách chủ động và hiệu quả những nạn nhân của những nhóm người dễ bị tổn thương như phụ nữ bị bắt vì hành nghề mại dâm, hoặc lao động di cư hồi hương. Chính phủ cũng chưa có nhiều nỗ lực trong việc xác định nạn nhân từ tất cả các luồng di cư và buôn người. Việc đào tạo các cán bộ biên phòng và công an cấp tỉnh và cấp huyện trong việc xác định nạn nhân và giải quyết các vụ việc còn hạn chế. Trong một số trường hợp, khả năng theo dõi và điều tra các vụ buôn bán người của cán bộ được cải thiện, nhưng việc thiếu đào tạo đến nơi đến chốn được cho là nguyên nhân dẫn đến nhiều cuộc điều tra chưa tốt và các biện pháp nghiệp vụ có thể làm hại cho nạn nhân. Ban Chỉ đạo Quốc gia về phòng chống mua bán người cho biết công an Việt Nam và nước ngoài đã xác định được 250 nạn nhân là người Việt Nam, 500 nạn nhân khác do chính phủ nước ngoài xác định và đã được hồi hương, 100 người trong số đó đã bị bán sang Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a và Sing-ga-po. Tuy nhiên, số liệu thống kê của Việt Nam bao gồm cả một số trường hợp trẻ em bị bắt cóc và bán làm con nuôi; không xác định được trường hợp nào trong số này là buôn người. Mặc dù các nhà chức trách có các quy trình chính thức tiếp nhận nạn nhân và chuyển họ đi chăm sóc nhưng nhận thức chung là hệ thống này có rất nhiều bất cập và không toàn diện, trong đó có nguyên nhân là những khó khăn trong việc xác định nạn nhân không trở về qua các cửa khẩu biên giới chính thức và những nạn nhân không muốn bị các nhà chức trách nhận diện do sợ dư luận xã hội hoặc vì các lý do khác.

Chính phủ không bảo vệ và hỗ trợ đầy đủ về mặt pháp lý cho người lao động ở trong nước hoặc ở nước ngoài trong tình trạng bị cưỡng ép lao động. Trong năm, có hơn 85.000 lao động Việt Nam đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, và tổng số người Việt Nam lao động ở nước ngoài ở 40 quốc gia và vùng lãnh thổ ước tính khoảng 500.000. Mặc dù trong giai đoạn báo cáo này tường trình không có thêm hiệp định nào mới được ký kết, chính phủ vẫn tiếp tục tìm kiếm ký kết hiệp định với các nước để thúc đẩy đưa người lao động ra nước ngoài. Không rõ là trong những hiệp định với các chính phủ có nhu cầu lao động có các điều khoản ngăn chặn và bảo vệ nạn nhân buôn người không. Việt Nam vẫn duy trì vị trí tuỳ viên lao động ở 9 quốc gia tiếp nhận lao động Việt Nam nhiều nhất, nhưng lại không có sứ quán ở một số nước nơi có những báo cáo về buôn người và trong một số trường hợp họ còn phản ứng yếu ớt trong việc bảo vệ người lao động di cư. Được biết trong một số trường hợp các nhà ngoại giao còn không có phản ứng gì trước những khiếu nại của người lao động về tình trạng bóc lột, lạm dụng và buôn người. Có báo cáo cho biết trong một trường hợp được xác định là buôn bán lao động, một sứ quán Việt Nam đã can thiệp để bảo vệ công ty xuất khẩu lao động Việt Nam có liên quan đến buôn bán lao động Việt Nam. Các quy định của chính phủ không cấm các công ty xuất khẩu lao động giữ hộ chiếu của người lao động ở nước tiếp nhận và các công ty công khai giữ giấy tờ thông hành của người lao động, đây là một hành vi tiếp tay cho nạn buôn người. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Ngoại giao thông báo họ đã tăng cường nỗ lực giám sát các điều kiện lao động của người lao động Việt Nam ở các nước tiếp nhận lao động và tìm kiếm dấu hiệu buôn người. Tuy nhiên, chính phủ không công bố số liệu về các trường hợp được xác định hoặc hỗ trợ người lao động di cư rơi vào hoàn cảnh bị cưỡng ép lao động. Người lao động Việt Nam không được tiếp cận dịch vụ pháp lý đầy đủ để kiện ra các toà những công ty tuyển dụng lao động trong những trường hợp mà họ có thể đã là nạn nhân buôn người. Mặc dù về mặt pháp lý người lao động có thể kiện các công ty xuất khẩu lao động, nhưng trong những vụ dân sự chi phí cho việc theo kiện rất lớn, và chưa hề có dấu hiệu cho thấy nạn nhân nào đòi được công lý ở các toà án Việt Nam.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp với các tổ chức phi chính phủ tiếp tục điều hành ba nhà tạm trú cho nạn nhân buôn người ở các khu đô thị lớn nhất đất nước, cung cấp tư vấn và đào tạo nghề cho các nạn nhân nữ bị buôn bán để bóc lột tình dục. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và cán bộ biên phòng cũng thành lập các nhà tạm trú nhỏ hơn để hỗ trợ tạm thời cho những lao động di cư cần giúp đỡ tại một số cửa khẩu lớn. Tuy nhiên, chính phủ thiếu các nguồn lực và chuyên môn kỹ thuật để hỗ trợ đầy đủ cho các nhà tạm trú này, và do vậy kết quả là ở nhiều nơi các nhà tạm trú rất thiếu thốn, thiếu kinh phí hoạt động và thiếu cán bộ được đào tạo cơ bản. Nạn nhân của nạn buôn người đôi khi bị sắp xếp một cách không phù hợp tại các nhà tạm trú của Bộ Lao động, thương binh và xã hội cùng chỗ với nhà dành cho các đối tượng cai nghiện đang tái hoà nhập cộng đồng và đối tượng đã bỏ hành nghề mại dâm đang phục hồi nhân phẩm. Không có nhà tạm trú hay dịch vụ nào dành riêng cho nạn nhân buôn người là nam giới hoặc nạn nhân buôn bán lao động. Được biết là chính phủ khuyến khích các nạn nhân hỗ trợ quá trình truy tố những kẻ buôn người, nhưng chính phủ nhìn chung không có chương trình bảo vệ nhân chứng với sự hỗ trợ của công an. Trong thời gian thực hiện bản báo cáo, không có số liệu về số nạn nhân tham gia vào việc truy tố. Nạn nhân thường miễn cưỡng tham gia các vụ điều tra hoặc xét xử do mặc cảm xã hội, đặc biệt khi liên quan tới mại dâm, lo sợ khi về địa phương bị trả thù, và do thiếu động lực để tham gia các hoạt động này. Pháp luật Việt Nam có quy định bảo vệ nạn nhân buôn người khỏi những cáo buộc hình sự về những hành vi là hậu quả trực tiếp của việc bị buôn bán. Không có lựa chọn pháp lý nào khác cho việc đưa các các nạn nhân nước ngoài tới những nước mà họ phải đối mặt với việc bị trả thù hay tình trạng cùng quẫn.

Ngăn chặn việc buôn bán người

Với sự hỗ trợ và hợp tác từ các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và các nhà tài trợ nước ngoài, chính phủ Việt Nam tiếp tục nỗ lực ngăn chặn tình trạng buôn bán người. Tháng 4/2011 chính phủ thông qua Kế hoạch Hành động Quốc gia 5 năm về phòng chống mua bán người Tại thời điểm công bố báo cáo này, kế hoạch này vẫn đang chờ thủ tướng chính phủ phê duyệt. Tuy nhiên, khi chính phủ tiếp tục gia tăng xuất khẩu lao động, trong đó có xuất khẩu sang các nước có tình trạng lạm dụng người lao động di cư diễn ra phổ biến, chính phủ chưa nỗ lực đầy đủ nhằm ngăn chặn buôn bán lao động thông qua việc yêu cầu các chính phủ tiếp nhận lao động phải có các biện pháp bảo vệ phù hợp để người lao động Việt Nam không rơi vào tình trạng bị ép phải lao động. Các quy định của chính phủ đối với hoạt động môi giới lao động và hôn nhân không được thực thi nghiêm túc. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội báo cáo trong năm 2010 chính phủ đã điều tra 34 công ty tuyển dụng lao động, phạt 9 công ty vì không tổ chức đào tạo cho người lao động trước khi khởi hành, thu phí tuyển dụng quá mức, không đăng ký các hợp đồng lao động theo đúng quy định, và đưa nhiều lao động ra nước ngoài hơn con số được báo cáo chính thức cho Bộ, và buộc hai công ty phải ngừng hoạt động trong 6 tháng vì không báo cáo đầy đủ số lao động đưa ra nước ngoài và không tuân thủ các quy định điều chỉnh hợp đồng lao động. Hai công ty này lần lượt bị phạt 1.250 và 4.750 đô-la nhưng không bị truy tố hình sự.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Đoàn Thanh niên tiếp tục thực hiện các chiến dịch tuyên truyền giáo dục về buôn người, cả ở các vùng biên giới, về hiểm họa của buôn người. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam bắt đầu nỗ lực nâng cao nhận thức của người dân về việc di cư an toàn. Hội cũng tiếp tục hợp tác với các đối tác Hàn Quốc thực hiện tư vấn tiền hôn nhân để phòng ngừa buôn bán phụ nữ thông qua kết hôn với người nước ngoài. Chính phủ phân phát tờ rơi nhằm vào đối tượng là khách du lịch nước ngoài và khách du lịch trong nước nhằm chống du lịch mại dâm trẻ em. Các nhà chức trách không cho biết họ có nỗ lực nào nhằm giảm nhu cầu kinh doanh mại dâm hay cưỡng ép lao động. Trong năm, chính phủ ký bản ghi nhớ về hợp tác chống buôn người với Lào và Trung Quốc. Tháng 7/2010 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành bộ quy tắc ứng xử dành cho các công ty xuất khẩu lao động, cùng với hỗ trợ của một tổ chức quốc tế và cho biết 96/171 công ty tuyển dụng lao động được cấp phép đã ký vào bộ quy tắc này. Cũng trong năm các nhà chức trách đã giải cứu hơn 10.000 lao động Việt Nam khỏi cuộc xung đột ở Li-bi, một số trong đó có thể đã là nạn nhân buôn người. Họ đã trở về nhà an toàn và mỗi người được nhận 95 đô-la để ổn định cuộc sống. Chính phủ cũng đang tìm kiếm cơ hội việc làm mới cả ở Việt Nam và nước ngoài cho những người trở về. Tuy nhiên, chính phủ chưa đạt được các hiệp định đầy đủ với chính phủ của tất cả các nước tiếp nhận lao động về những điều khoản bảo vệ lao động trước tình trạng bị cưỡng ép lao động. Việt Nam chưa tham gia Nghị định thư Chống buôn người của Liên Hợp Quốc năm 2000.

Bản dịch này có thông tin cấp phép khác với văn kiện gốc. Tình trạng bản dịch áp dụng cho phiên bản này.
Bản gốc:
PD-icon.svg Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì nó là một tác phẩm của chính quyền liên bang Hoa Kỳ (xem 17 U.S.C. 105). Great Seal of the United States (obverse).svg
Bản dịch:
PD-icon.svg Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì nó là một tác phẩm của chính quyền liên bang Hoa Kỳ (xem 17 U.S.C. 105). Great Seal of the United States (obverse).svg