Bộ luật Hình sự Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2009/Chương IX

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm


Điều 63. Xóa án tích[sửa]

Người bị kết án được xóa án tích theo quy định tại các điều từ Điều 64 đến Điều 67 của Bộ luật này.

Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và được Tòa án cấp giấy chứng nhận.

Điều 64. Đương nhiên được xóa án tích[sửa]

Những người sau đây đương nhiên được xóa án tích:

  1. Người được miễn hình phạt.
  2. Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIChương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
    a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
    b) Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;
    c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;
    d) Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên mười lăm năm.

Điều 65. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án[sửa]

  1. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với những người đã bị kết án về các tội được quy định tại Chương XIChương XXIV của Bộ luật này, căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án, trong các trường hợp sau đây:
    a) Đã bị phạt tù đến ba năm mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;
    b) Đã bị phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn bảy năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;
    c) Đã bị phạt tù trên mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn mười năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.
  2. Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu phải chờ một năm sau mới được xin xóa án tích. Nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi thì phải sau hai năm mới được xin xóa án tích.

Điều 66. Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt[sửa]

Trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú đề nghị, thì có thể được Tòa án xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định.

Điều 67. Cách tính thời hạn để xóa án tích[sửa]

  1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 64Điều 65 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.
  2. Nếu chưa được xóa án tích mà phạm tội mới, thì thời hạn để xóa án tích cũ tính từ ngày chấp hành xong bản án mới.
  3. Việc chấp hành xong bản án bao gồm việc chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án.
  4. Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt.