Họa Tân trai vận

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
Họa Tân trai vận - 和新齋韻
của Nguyễn Trãi


Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

風流郡守文章伯
喬木能憐我故家
信美江山詩易就
無情歲月眼將花
干戈十載親朋少
宇宙千年變故多
客舍香塵春晝永
騰騰清夢繞烟波

Phong lưu quận thú[1] văn chương bá,
Kiều mộc[2] năng lân ngã cố gia[3].
Tín mỹ giang sơn thi dị tựu ;
Vô tình tuế nguyệt nhãn tương hoa.
Can qua thập tải thân bằng thiểu ;
Vũ trụ thiên niên biến cố đa.
Khách xá hương trần[4] xuân trú vĩnh ;
Đằng đằng thanh mộng nhiễu yên ba[5].

Quận thú người phong lưu, đàn anh trong chốn văn chương.
Lượng như cây cao thương ta là con nhà cũ.
Non sông vẫn đẹp lắm, hứng thơ dễ đến ;
Năm tháng luống vô tình, khiến mắt sắp lòa.
Mười năm can qua bà con bạn bè đều ít ;
Nghìn năm trong vũ trụ biến cố xảy nhiều,
Giữa hương trầm nơi quán khách, ngày xuân dài mãi;
Mộng nhẹ vượt xa quanh quất chỗ sóng mây (chỗ ẩn dật).

   




Chú thích cuối trang[sửa]

  1. Quận thú: chức thái thú một quận, chức tri phủ
  2. Kiều mộc: cây cao bóng cả, chỉ người lớn, người trên bảo hộ người dưới
  3. Cố gia: nhà cũ, nhà xưa, chỉ con nhà danh vọng đời trước
  4. Hương trần: Từ nhà Phật, một trong sáu cảnh « lục trần »; chỉ các hương vị thơm tho, từ mùi hương đốt hay xông cho thơm, mùi bách, mùi trầm, mùi xạ, mùi lan, hương đàn ông đàn bà xức mình và ướp quần áo, cho đến hương vị đồ ăn uống, xem như bụi bặm làm nhơ lòng thanh tĩnh
  5. Yên ba: khói và sóng. Trương Chí Hòa người Trung Quốc đời Đường từ quan về ẩn, ở trong khoảng giang hồ, tự hiệu là Yên ba điếu đồ