Luật Quyền tác giả Hợp chúng quốc Hoa Kỳ/Chương 2/Điều 201

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Luật Quyền tác giả Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
của Chính phủ Hoa Kỳ, người dịch: Cục Bản quyền tác giả
Điều 201. Chủ sở hữu quyền tác giả


Điều 201: Chủ sở hữu quyền tác giả

(a). Chủ sở hữu gốc: Quyền tác giả đối với tác phẩm được bảo hộ theo Điều luật này trước hết thuộc về tác giả hoặc những tác giả của tác phẩm. Các tác giả của một tác phẩm đồng tác giả là những đồng sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm.

(b). Tác phẩm được tạo ra do thuê mướn: đối với tác phẩm được tạo ra do thuê mướn, người sử dụng lao động hoặc những người khác mà đối với những người này tác phẩm được sáng tạo cho họ thì được coi là tác giả trong phạm vi Điều luật này, và, trừ phi các bên có thoả thuận rõ ràng khác bằng văn bản đã được ký, những người đó sở hữu tất cả các quyền thuộc quyền tác giả tác phẩm.

(c). Tác phẩm trong một tác phẩm hợp tuyển: quyền tác giả tác phẩm của từng tác phẩm riêng biệt trong một tác phẩm hợp tuyển là độc lập với quyền tác giả tác phẩm hợp tuyển như một tổng thể, và trước hết thuộc về các tác giả của các tác phẩm riêng biệt đó. Nếu không có sự chuyển nhượng rõ ràng quyền tác giả tác phẩm hoặc bất kỳ quyền nào thuộc quyền tác giả tác phẩm, thì chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm hợp tuyển chỉ giành được quyền nhân bản và phân phối tác phẩm riêng biệt trong hợp tuyển như là một phần của tác phẩm hợp tuyển đó, bất kỳ sự sửa đổi nào tác phẩm hợp tuyển đó, và bất kỳ sự tuyển tập nào tiếp theo trong cùng một chủng loại.

(d). Chuyển nhượng sở hữu:

(1). Chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm có thể chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần quyền tác giả thông qua bất kỳ một phương thức chuyển nhượng nào hoặc thông qua pháp luật hiện hành và có thể được di chúc lại theo ý chí hoặc được để lại như tài sản cá nhân theo luật áp dụng đối với việc hưởng di sản thừa kế không theo di chúc.
(2). Bất kỳ quyền độc quyền nào thuộc quyền tác giả tác phẩm, bao hàm bất kỳ phần chia nhỏ nào thuộc bất kỳ quyền nào quy định tại Điều 106, có thể được chuyển nhượng như theo quy định tại Điểm (1) và sở hữu chúng một cách độc lập. Chủ sở hữu bất kỳ quyền riêng biệt cụ thể nào được hưởng trong phạm vi quyền đó tất cả sự bảo hộ và các biện pháp thi hành dành cho chủ sở hữu quyền tác giả theo Điều này.

(e). Chuyển nhượng ngoài ý muốn: Khi quyền sở hữu quyền tác giả tác phẩm của cá nhân tác giả hoặc bất kỳ quyền riêng biệt nào thuộc quyền tác giả tác phẩm, đã không được tự nguyện chuyển nhượng trước đây bởi cá nhân tác giả đó, thì không một hành vi nào của bất kỳ cơ quan nhà nước hoặc các cơ quan Chính Phủ khác nào hoặc các tổ chức nhằm mục đích giành được hoặc chiếm đoạt, chuyển nhượng, hoặc thực hiện bất kỳ quyền nào của chủ sở hữu đối với quyền tác giả tác phẩm hoặc bất kỳ quyền độc quyền nào thuộc quyền tác giả tác phẩm, sẽ có hiệu lực theo Điều luật này, ngoại trừ theo quy định tại Điều luật số 11.