Nghị quyết của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về báo cáo của Chính phủ 1960

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
Nghị quyết của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về báo cáo của Chính phủ  (năm 1960) 
của Quốc hội Việt Nam
Nghị quyết được ban hành ngày 13 tháng 7 năm 1960.


Sau khi nghe báo cáo của Chính phủ,

QUYẾT NGHỊ:

1- Quốc hội nhất trí tán thành và thông qua báo cáo của Chính phủ về tình hình và hoạt động sáu tháng đầu năm 1960.

Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đã được đẩy mạnh và có những bước tiến mới, chứng tỏ trong năm nay nhân dân ta có khả năng căn bản hoàn thành hợp tác hoá nông nghiệp bậc thấp, hợp tác hoá nghề cá, căn bản hoàn thành hợp tác hoá thợ thủ công và tổ chức lại người buôn bán nhỏ, căn bản hoàn thành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh theo hình thức công tư hợp doanh.

Việc thực hiện kế hoạch Nhà nước phát triển kinh tế và văn hoá đã thu được những thành tích quan trọng : về công nghiệp đã đạt tren 50% kế hoạch cả năm, về nông nghiệp mặc dầu bị thiên tai liên tiếp nhưng nhờ sức phấn đấu của nhân dân đã hạn chế thiệt hại và đảm bảo thu hoạch không kém vụ chiêm nhiều năm trước đây, về xây dựng cơ bản đã có nhiều tiến bộ, về văn hoá đã vượt mức kế hoạch. Những thành tích ấy tạo điều kiện để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch năm nay.

2- Quốc hội nhiệt liệt biểu dương lòng yêu nước, ý chí bất khuất, tinh thần anh dũng và bền bỉ của đồng bào miền Nam, từ sáu năm nay đã giữ vững và phát triển phong trào yêu nước, phong trào đấu tranh chống Mỹ Diệm ở miền Nam.

Quốc hội tán thành Chính phủ ta luôn luôn có thái độ cộng tác với Uỷ ban quốc tế để thi hành đúng đắn Hiệp định Giờ-ne-vơ.

Quốc hội nhiệt liệt hoan nghênh công cuộc đấu tranh của nhân dân ta đòi Hiệp định Giơ-ne-vơ được thi hành nghiêm chỉnh, phản đối luật 10/59, phản đối sự tồn tại trái phép của phái đoàn quân sự Mỹ ở miền Nam và việc tăng thêm nhân viên cho phái đoàn ấy.

Đế quốc Mỹ và tay sai của chúng càng chồng chất tội ác đối với nhân dân ta ở miền Nam, thì nhân dân ta càng tăng cường đoàn kết, kiên quyết và bền bỉ đấu tranh chống lại chúng, không một lực lượng phản động nào có thể ngăn cản được.

Quốc hội tỏ lỏng tin tưởng sắt đá rằng, dựa vào lực lượng của nhân dân cả nước ta, dựa vào sự thi hành đúng đắn Hiệp định Giơ-ne-vơ, dựa vào sự đồng tình và ủng hộ của mọi lực lược hoà bình và tiến bộ trên thế giới, cuộc đấu tranh của nhân dân ta để hoà bình thống nhất Tổ quốc nhất định sẽ thu được thắng lợi cuối cùng.

3- Quốc hội nhất trí tán thành đường lối và hoạt động ngoại giao của Chính phủ nhằm góp phần tăng cường sự đoàn kết nhất trí của phe xã hội chủ nghĩa do Liên-Xô vĩ đại đứng đầu, mở rộng quan hệ hữu nghị với các nước á Phi và kiến lập quan hệ với tất cả nước nước dựa trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hoà bình, nhiệt liệt ủng hộ phong trào độc lập dân tộc chống chủ nghĩa thực dân cảu các nước Châu á, Châu Phi và Châu Mỹ La-tinh.

Nhân dân Việt Nam ta nguyện sát cánh với nhân dân thế giới, kiên quyết tiến hành cuộc dấu tranh vĩ đại chống chủ nghĩa đế quốc, nhất là đế quốc Mỹ, vì sự nghiệp củng cố hoà bình, độc lập dân tộc, tự do dân chủ và tiến bộ xã hội.

4- Quốc hội kêu gọi các tầng lớp nhân dân miền Bắc tăng cường đoàn kết, nêu cao tinh thần phấn đấu vượt mọi khó khăn, phấn khởi lao động để xây dựng xã hội mới và đời sống mới, tích cực đẩy mạnh mọi hoạt động, đặc biệt cố gắng trong sản xuất nông nghiệp toàn điện, quyết giành thắng lợi to lớn trong vụ mùa để lấy vụ mùa bù chiêm, thúc đẩy phong trào thi đua ở cá ngành các cấp, quyết thu những thành tích tốt đẹp nhất để mừng ngày kỷ niệm 15 năm thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và mừng Đại hội lần thứ ba của Đảng lao động Việt Nam.

Nhân dân ta quyết hoàn thành thắng lợi kế hoạch Nhà nước năm 1960 và kế hoạch Nhà nước 3 năm để tạo điều kiện thuận lợi chuyển sang kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, tăng cường cùng cố miền Bắc làm cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.


Nghị quyết này đã được Quốc hội nhất trí thông qua ngày 13 tháng 7 năm 1960.


PD-icon.svg Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì theo Điều 15, Khoản 2, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam thì "Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó" không phải là đối tượng bảo hộ bản quyền. Còn theo Nghị định số 100/2006/NĐ-CP, Điều 21, khoản 2 của Chính phủ Việt Nam, văn bản hành chính bao gồm "văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật". Coat of arms of Vietnam.svg