Bước tới nội dung

Ư trị thông giám trường biên

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tư trị thông giám trường biên
của Lý Đào, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
〔Triều Tống〕 Lý Đào soạn. (Lý Đào từng soạn "Thuyết Văn Giải Tự Ngũ Âm Vận Phổ" đã được ghi trong mục lục sách). Đào học rộng khắp các sách vở, đặc biệt chuyên tâm nghiên cứu điển chương cố sự. Vì các học sĩ đại phu đương thời đều tin theo truyền thuyết riêng, không khảo cứu thực lục, chính sử, nhà nào cũng tự lập thuyết riêng, nên ông noi theo thể lệ của Tư Mã Quang trong "Tư Trị Thông Giám", thu thập đầy đủ sự tích của một vị Thái Tổ và tám vị Tông, tập hợp bàn luận, soạn thành bộ sách này. Vì khi Tư Mã Quang biên soạn "Tư Trị Thông Giám", trước tiên đã làm thành bản "Trường Biên" (biên soạn dài), Đào khiêm tốn không dám nói là tiếp nối "Thông Giám", nên chỉ gọi là "Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên". "Văn Hiến Thông Khảo" chép bốn bài biểu dâng sách của ông: một là vào năm Long Hưng thứ nhất, khi đang làm Tri vinh châu, trước tiên dâng lên 17 quyển ghi chép sự việc từ niên hiệu Kiến Long đến Khai Bảo; một là vào năm Càn Đạo thứ tư, khi đang làm Lang trung bộ Lễ, dâng lên 108 quyển chỉnh lý sự tích của năm triều từ năm Kiến Long thứ nhất đến tháng 3 nhuận năm Trị Bình thứ tư; một là vào năm Thuần Hy nguyên niên, khi đang làm Tri lô châu, dâng lên 280 quyển ghi chép sự việc từ sau năm Trị Bình đến Tĩnh Khang; một cũng vào năm Thuần Hy nguyên niên, khi đang làm Tri toại ninh phủ, viết lại và dâng lên, bao gồm cả "Cử Yếu", "Mục Lục", tổng cộng 1063 quyển, 687 tập. Vì thế, Chu Mật trong "Quý Tân Tạp Thức" nói rằng Hàn Ngạn Cổ đã ăn cắp chép bộ sách này đến đầy hai tủ. Tuy nhiên, số liệu ghi trong "Văn Hiến Thông Khảo" chỉ là "Trường Biên" 168 quyển, "Cử Yếu" 68 quyển, khác xa so với số liệu trong biểu dâng sách. Khảo cứu "Thư Lục Giải Đề" của Trần Chấn Tôn, có ghi: "Số quyển tuy như vậy, nhưng số tập lên đến hơn ba trăm, vì mỗi quyển lại chia thành tiểu quyển, có quyển đến hơn mười tiểu quyển". Như vậy, con số 1063 quyển được nói đến là tính tổng cả các tiểu quyển, nên số lượng nhiều hơn. Lại căn cứ theo biểu dâng sách của Lý Đào, bộ sách thực tế chỉ chép đến đời Tống Khâm Tông, nhưng Vương Minh Thanh trong "Ngọc Chiếu Tân Chí" nói rằng sớ của Hồ Ngạn Tu năm Thiệu Hưng nguyên niên được ghi sau chú thích ở quyển 159 của "Trường Biên", thì dường như có liên quan cả đến Cao Tông. Có lẽ vì sự việc liên quan với nhau, nên ghi chép kết cục, phụ thêm ở cuối chú thích, giống như lệ "hậu kinh chung sự" trong "Tả Truyện" chăng? "Quý Tân Tạp Thức" lại chép: Lý Đào làm "Trường Biên", dùng mười tủ gỗ, mỗi tủ hai mươi ngăn kéo, mỗi ngăn ghi chí bằng can chi, phàm những sự việc nghe được trong năm ấy đều xếp vào ngăn này, phân chia theo thứ tự trước sau của ngày tháng, rất có trật tự. Điều đó cho thấy công sức và sự kiên trì lâu dài của ông. Bộ sách này số quyển rất nhiều, đương thời khó khăn trong việc sao chép, bản khắc của thư phường và bản cũ ở Thục đã có sự khác biệt giữa tường lược. Hơn nữa, sách về bốn triều Thần Tông, Triết Tông, Huy Tông, Khâm Tông, vào những năm Càn Đạo chỉ được giao xuống cho tỉ Thư tỉnh, theo mẫu giấy của "Tư Trị Thông Giám" sao chép một bộ, chưa được khắc in, ngày càng ít lưu truyền. Từ đời Nguyên trở đi, trong thiên hạ rất hiếm bản lưu truyền. Đến đầu niên hiệu Khang Hy triều ta (nhà Thanh), Từ Càn Học người Côn Sơn mới có được bản sách từ gia tộc họ Quý ở Thái Hưng, tổng cộng 175 quyển, từng dâng biểu tiến lên triều đình, bản phó bản lưu truyền, mọi người đều trân quý xem như sách quý hiếm. Tuy nhiên, sách chỉ chép đến đời Anh Tông năm Trị Bình là hết, từ Thần Tông trở về sau vẫn còn thiếu. Tra cứu phần vận "Tống" trong "Vĩnh Lạc Đại Điển", thấy có chép đầy đủ bộ sách này. So sánh với bản của họ Từ, năm triều đầu tuy đại khái trùng khớp, nhưng phần chú thích, khảo dị thường được ghi chi tiết hơn. Còn sự tích hơn 30 năm từ niên hiệu Hi Ninh đến Nguyên Phù, phần mà bản họ Từ thiếu và Chu Di Tôn cho là đã thất truyền, thì nay đều thấy rõ ràng đầy đủ, đầu đuôi hoàn chỉnh, thực là điều chưa từng có trong thiên hạ. Chỉ có hai kỷ về Huy Tông, Khâm Tông, bản gốc không chép, lại mất sự việc trong bảy năm giữa các niên hiệu Hi Ninh và Thiệu Thánh, thật đáng tiếc. Tuy nhiên, từ Triết Tông trở về trước, xuyên suốt theo năm tháng, đã đầy đủ chi tiết không thiếu sót. Những gì mà các danh nho học giả mấy trăm năm nay muốn xem mà không được, bỗng nhiên một sớm một chiều trở lại nguyên trạng, so với các bản hiện hành, tăng thêm gấp bốn năm lần, thực cũng là cảnh tượng hùng vĩ trong giới học thuật vậy! Xưa, vào niên hiệu Thành Hóa triều Minh, có chiếu chỉ cho Thương Lộc tiếp tục tu sửa "Tư Trị Thông Giám Cương Mục", lúc đó "Vĩnh Lạc Đại Điển" được cất giữ trong nội phủ, bên ngoài không thể xem được, rốt cuộc không biết rằng văn cũ của Lý Đào hoàn toàn được chép trong đó, bèn trăm phương ngàn kế tìm mua riêng, cuối cùng vẫn không được, người bàn luận lấy làm tiếc. Nay, kính gặp thánh thượng ta (Hoàng đế Càn Long) tôn sùng văn hóa cổ, biên soạn Tứ Khố Toàn Thư, mới được trùng kiến trong đời, há chẳng phải sáng tối có thời, chờ đợi thánh thế mới tỏa sáng hay sao! Mục lục gốc của Lý Đào không còn, thứ tự hơn nghìn quyển ông chia đã không thể khảo cứu được, cẩn thận tham khảo hiệu chính lẫn nhau, cân nhắc sự tường lược của văn, chia tách lại, định thành 520 quyển. Lý Đào làm bộ sách này, trải qua bốn mươi năm mới thành, từ thực lục, chính sử, văn thư quan phủ, cho đến gia lục, dã kỷ, không gì là không kiểm tra xem xét kế tiếp nhau, đối chiếu so sánh sự khác biệt. Tuy thu thập rộng rãi, hoặc không tránh khỏi hư thực cùng tồn tại, nghi ngờ và tin tưởng xen lẫn, chưa hẳn từng điều đều hợp với chuẩn mực tối thượng. Chẳng những việc "phủ thanh chúc ảnh" đời Thái Tông, do khảo cứu trong "Tương Sơn Dã Lục" chưa rõ ràng, đã trở thành điểm nghi ngờ ngàn đời. Ngay như việc tháng 3 năm Cảnh Hựu thứ hai ban tặng vải lụa gạo cho gia đình Mao Tuân, tiết độ thôi quan của quân Trấn Đông, đem so với bài minh trên mộ do Dư Tĩnh soạn, hoàn toàn không phù hợp, như từng bị Tăng Mẫn Hành trong "Độc Tỉnh Tạp Chí" chỉ trích, cũng thường có. Tuy nhiên, trong biểu dâng sách, Lý Đào tự nói: thà sai vì nhiều, chứ không sai vì ít. Có lẽ ông thu thập rộng rãi, ghi chép đầy đủ là để chờ đợi người biên soạn đời sau. Sự uyên bác, thông suốt và chi tiết, phong phú của bộ sách, thực là khu rừng cung cấp tư liệu khảo chứng cho người đọc sử.
Trích dẫn từ Ư trị thông giám trường biên của Wikipedia, bách khoa toàn thư mở.

Tống Thái Tổ (960 - 976)

[sửa]
  • Quyển 1: Từ tháng Giêng đến tháng Chạp Canh Thân (960)