Bài hịch Lê Duy Mật đánh Trịnh
(Ông là con thứ mười một vua Lê-dụ-Tôn. Ông thấy chúa Trịnh chuyên-quyền, ông mới làm bài này, định khởi nghĩa, chẳng may việc tiết-tộ không xong, ông phải trốn vào Thanh-Hóa, chiếm-cứ Thạch-Thành đánh Trịnh. Sau bị bọn Hoàng-Ngũ-Phúc làm mưu phản-gián, ông bị thua, đem vợ con lên đàn tự-tử),
Hịch rằng:
Đấng văn-tôn văn-tử, thù cha ông chi để đội giời; Người vương-thổ vương-thần, lòng trung nghĩa phải toan vì nước.
Nhớ từ thuở:
Đất Lam-Sơn khởi nghĩa; Vua Thái-Tổ ra uy.
Rút gươm thiêng chém quách Liễu-Thăng; Lên ngôi báu dựng đồ Nam-Việt.
Trọc tóc lại nên dài tóc, đầu đội ơn công-đức vô cùng: Trắng răng đổi được đen răng, miệng đọc chữ thái-bình hữu tượng.
Ca Lê-Luyện chắp tay hớn-hở; Khúc Nghiêu-cù múa bụng nhởn-nhơ.
Trần-Tung giở mặt mặc Trần-Tung, nào chuyển nhân tâm tư Hán; Mạc-thị mống lòng dầu Mạc-thị, khôn ngăn thiên-hạ quy Châu.
Giữa giời Nam vận mở trung-hưng; Trong đất Tống mượn tay Nguyễn-tướng.
Nguyễn, công ấy giạ-tràng xe cát; Trịnh, việc chi tu-hú đẻ nhờ.
Trước ra tuồng chùm cửi loạn ngành, đã hũng-hĩnh như chuột xa chĩnh gạo; Sau quen thói bồ câu tranh tổ, lại hung-hăng như châu húc nhà thần.
Mặt Mãng-xà nhắm vạc Tây-kinh; Nhờm Tháo-quỷ thèm ngôi Đông-Hán.
Vẽ chân rắn những loài xiểm-nịnh, anh-hùng miệng ngậm bồ hòn; Thêm lòng lươn sinh sự nề-hà, thiên-hạ đầu vo quả ké.
Thảm-khắc mấy rán xành ra mỡ; Oan-khốc chi gắp lửa bỏ tay.
Nhân dân thổ địa cõi bờ xưa, chi để xa hang tặc-tử; Xã-tắc sơn-hà nền-nếp cũ, sao cho vào túi gian-phu.
Này dầu mà chẳng sớm liệu toan; oan-gia ấy biết bao giờ giả? Vậy phải liều mình vượt bể, gắng sức chèo non.
Chữ khâm-sai xương nhuộm lá cờ; Đàn quy nghĩa gió lay con mác.
Lúp-túp một thành một lữ, tro tàn bếp Hạ thổi phù-phù; Mở-mang tấc đất tấc dân, thanh gươm cũ Lưu mài sáng sáng.
Chín thu giời mơ-tưởng; năm canh nguyệt mơ-màng.
Lội nội Tần[đính chính 1], hươu chửa bẻ sừng, vào lưới vắng người hào-kiệt; Tắm sông Sở, khi còn đội mão, ra tay thiếu kẻ anh hùng.
Tổ-công tông-đức phụ chi ai; Trung-nghĩa thần-dân sao lánh mặt.
Kẻ chịu Hoàng ân khi sáng nghiệp, có giời, có đất, có nhi tôn; Người nhờ hồng-phúc thuở trung-hưng, còn nước còn non, còn tước lộc,
Người vẫn là người cõi Việt; Đất nào chẳng đất nhà Lê. Ngôi thiên-vương chim phượng ngắn lông, trông thấy cũng nên sa nước mắt, Tặc-quân chắc miệng tầm ăn lá, xem vào sao chẳng ngứa buồng gan?
Xác liu-điu nào phải con rồng, Lửa lém-đém chen gần bóng ác.
Cấy lúa chớ dung loài má khác; — Ăn quả nên nhớ kẻ giồng cây.
Gà Lữ kia cứng cổ được ai, máu Lữ-Sả làm như chợ Hán; Chó Hồ nọ nhăn nanh cắn chủ, bụng Lộc-Sơn thêm nhóp gươm Đường.
Xin đừng ỷ thế băng-sơn; Phải liệu cùng lòng tả-đản.
Nhà Đại-Hạ mái nghiêng nghiêng xuống, dương sức chống cột giường; Ròng Trung-Lưu đương quẩn-quẩn chôi, ra tay cầm bánh lái.
Buộc yên ngựa chớ tham của Tháo; Hội vườn đào đừng phụ nghĩa Lưu.
Thu gio nước Cối, nước Tần, gặp thuở khi khu bền dạ sắt; Lướm bếp ngươi Phùng ngươi Đặng, trong khi thảng-thốt cháy gan vàng.
Hoặc tới quân môn; Hoặc thông tín-sử.
Bạn-trạng chỏ sông Hoàng, non Thái, ai phụ ai mặc quỷ thần soi: Bình-định sao khoán sắt thơ son, đức báo đức, duy giời đất biết.
Mấy sự thủy-trung cậy yết. Xin người quy nghĩa nghe cùng.
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.