Bước tới nội dung

Bài hịch Lê Duy Mật đánh Trịnh

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bài hịch Lê Duy Mật đánh Trịnh
của Lê Duy Mật

(Ông là con thứ mười một vua Lê-dụ-Tôn. Ông thấy chúa Trịnh chuyên-quyền, ông mới làm bài này, định khởi nghĩa, chẳng may việc tiết-tộ không xong, ông phải trốn vào Thanh-Hóa, chiếm-cứ Thạch-Thành đánh Trịnh. Sau bị bọn Hoàng-Ngũ-Phúc làm mưu phản-gián, ông bị thua, đem vợ con lên đàn tự-tử),

Hịch rằng:

Đấng văn-tôn văn-tử, thù cha ông chi để đội giời; Người vương-thổ vương-thần, lòng trung nghĩa phải toan vì nước.

Nhớ từ thuở:

Đất Lam-Sơn khởi nghĩa; Vua Thái-Tổ ra uy.

Rút gươm thiêng chém quách Liễu-Thăng; Lên ngôi báu dựng đồ Nam-Việt.

Trọc tóc lại nên dài tóc, đầu đội ơn công-đức vô cùng: Trắng răng đổi được đen răng, miệng đọc chữ thái-bình hữu tượng.

Ca Lê-Luyện chắp tay hớn-hở; Khúc Nghiêu-cù múa bụng nhởn-nhơ.

Trần-Tung giở mặt mặc Trần-Tung, nào chuyển nhân tâm tư Hán; Mạc-thị mống lòng dầu Mạc-thị, khôn ngăn thiên-hạ quy Châu.

Giữa giời Nam vận mở trung-hưng; Trong đất Tống mượn tay Nguyễn-tướng.

Nguyễn, công ấy giạ-tràng xe cát; Trịnh, việc chi tu-hú đẻ nhờ.

Trước ra tuồng chùm cửi loạn ngành, đã hũng-hĩnh như chuột xa chĩnh gạo; Sau quen thói bồ câu tranh tổ, lại hung-hăng như châu húc nhà thần.

Mặt Mãng-xà nhắm vạc Tây-kinh; Nhờm Tháo-quỷ thèm ngôi Đông-Hán.

Vẽ chân rắn những loài xiểm-nịnh, anh-hùng miệng ngậm bồ hòn; Thêm lòng lươn sinh sự nề-hà, thiên-hạ đầu vo quả ké.

Thảm-khắc mấy rán xành ra mỡ; Oan-khốc chi gắp lửa bỏ tay.

Nhân dân thổ địa cõi bờ xưa, chi để xa hang tặc-tử; Xã-tắc sơn-hà nền-nếp cũ, sao cho vào túi gian-phu.

Này dầu mà chẳng sớm liệu toan; oan-gia ấy biết bao giờ giả? Vậy phải liều mình vượt bể, gắng sức chèo non.

Chữ khâm-sai xương nhuộm lá cờ; Đàn quy nghĩa gió lay con mác.

Lúp-túp một thành một lữ, tro tàn bếp Hạ thổi phù-phù; Mở-mang tấc đất tấc dân, thanh gươm cũ Lưu mài sáng sáng.

Chín thu giời mơ-tưởng; năm canh nguyệt mơ-màng.

Lội nội Tần[đính chính 1], hươu chửa bẻ sừng, vào lưới vắng người hào-kiệt; Tắm sông Sở, khi còn đội mão, ra tay thiếu kẻ anh hùng.

Tổ-công tông-đức phụ chi ai; Trung-nghĩa thần-dân sao lánh mặt.

Kẻ chịu Hoàng ân khi sáng nghiệp, có giời, có đất, có nhi tôn; Người nhờ hồng-phúc thuở trung-hưng, còn nước còn non, còn tước lộc,

Người vẫn là người cõi Việt; Đất nào chẳng đất nhà Lê. Ngôi thiên-vương chim phượng ngắn lông, trông thấy cũng nên sa nước mắt, Tặc-quân chắc miệng tầm ăn lá, xem vào sao chẳng ngứa buồng gan?

Xác liu-điu nào phải con rồng, Lửa lém-đém chen gần bóng ác.

Cấy lúa chớ dung loài má khác; — Ăn quả nên nhớ kẻ giồng cây.

Gà Lữ kia cứng cổ được ai, máu Lữ-Sả làm như chợ Hán; Chó Hồ nọ nhăn nanh cắn chủ, bụng Lộc-Sơn thêm nhóp gươm Đường.

Xin đừng ỷ thế băng-sơn; Phải liệu cùng lòng tả-đản.

Nhà Đại-Hạ mái nghiêng nghiêng xuống, dương sức chống cột giường; Ròng Trung-Lưu đương quẩn-quẩn chôi, ra tay cầm bánh lái.

Buộc yên ngựa chớ tham của Tháo; Hội vườn đào đừng phụ nghĩa Lưu.

Thu gio nước Cối, nước Tần, gặp thuở khi khu bền dạ sắt; Lướm bếp ngươi Phùng ngươi Đặng, trong khi thảng-thốt cháy gan vàng.

Hoặc tới quân môn; Hoặc thông tín-sử.

Bạn-trạng chỏ sông Hoàng, non Thái, ai phụ ai mặc quỷ thần soi: Bình-định sao khoán sắt thơ son, đức báo đức, duy giời đất biết.

Mấy sự thủy-trung cậy yết. Xin người quy nghĩa nghe cùng.

  1. Gốc: Tầu được sửa thành Tần: chi tiết

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.