Báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình nhân quyền năm 2015/Việt Nam

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
Báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình nhân quyền năm 2015
của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, người dịch: Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam
Việt Nam


Việt Nam

Bản tiếng Anh

Mục lục

TÓM TẮT[sửa]

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc tài do một đảng duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam - thống trị, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Cuộc bầu cử Quốc hội gần đây nhất được tổ chức năm 2011 đã diễn ra không tự do và không công bằng cho dù có sự cạnh tranh hạn chế giữa các ứng viên do Đảng Cộng sản Việt Nam xem xét kỹ lưỡng. Chính quyền vẫn duy trì sự kiểm soát có hiệu quả đối với các lực lượng an ninh.

Chính phủ đã bắt đầu thực thi pháp luật theo các sửa đổi trong hiến pháp, bao gồm các điều liên quan đến nhân quyền, được ban hành tháng 1 năm 2014. Vào tháng 11, Quốc hội đã thông qua một số luật có ảnh hưởng đến quyền công dân, bao gồm Bộ luật hình sự mới, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam, Bộ luật dân sự, và Bộ luật tố tụng dân sự. Bộ luật tố tụng hình sự và Luật thi hành tạm giữ, tạm giam đã pháp điển hóa việc suy đoán vô tội, quy định nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự thuộc về nhà nước, công nhận một số ít quyền im lặng trong những trường hợp nhất định, và nới lỏng các quy định về quyền được tư vấn. Bộ luật hình sự vẫn giữ lại các quy định mơ hồ về an ninh quốc gia và quy định thêm việc hình sự hóa các hành vi chuẩn bị phạm tội trong một số lĩnh vực.

Những vấn đề nổi bật nhất về quyền con người tại Việt Nam là sự hạn chế nghiêm ngặt của chính quyền đối với quyền chính trị của công dân, đặc biệt là quyền của công dân trong việc thay đổi chính quyền thông qua các cuộc bầu cử tự do và công bằng; hạn chế quyền tự do của công dân bao gồm tự do hội họp, tự do lập hội và tự do ngôn luận; chưa có sự bảo vệ đầy đủ đối với các quyền về quy trình tố tụng hợp pháp của công dân, bao gồm sự bảo vệ chống bắt giam tùy tiện.

Những vi phạm quyền con người khác bao gồm việc tước đoạt sinh mạng tùy tiện và trái luật; công an tấn công và dùng nhục hình; bắt giữ người và giam cầm tùy tiện do các hoạt động chính trị; công an tiếp tục ngược đãi nghi can trong quá trình bắt giữ và tạm giam, kể cả việc sử dụng vũ lực làm chết người, cũng như các điều kiện khắc khổ của trại giam, và từ chối quyền được xét xử nhanh chóng và công bằng. Chính quyền hạn chế các quyền tự do ngôn luận và trấn áp những người bất đồng quan điểm; thực hiện kiểm soát và kiểm duyệt báo chí; hạn chế quyền tự do sử dụng Internet và tự do tôn giáo; duy trì việc theo dõi chặt chẽ thường xuyên các nhà hoạt động; và tiếp tục hạn chế quyền riêng tư và quyền tự do hội họp, tự do lập hội, và tự do đi lại. Chính quyền tiếp tục kiểm soát chặt chẽ việc đăng ký của các tổ chức phi chính phủ (NGO), trong đó có các tổ chức nhân quyền. Nhà chức trách hạn chế sự thăm viếng của các tổ chức phi chính phủ về nhân quyền vốn không đồng tình với sự giám sát của chính quyền. Nhà chức trách và các tổ chức phi chính phủ ghi nhận số nạn nhân của nạn buôn người tăng cao, có thể là do nhu cầu ngày càng lớn giữa các quốc gia láng giềng cũng như quyết định của Việt Nam năm 2012 trong việc tăng cường nỗ lực theo dõi và điều tra vụ việc. Chính quyền tiếp tục hạn chế quyền của người lao động trong việc thành lập và gia nhập các tổ chức công đoàn độc lập và đã thực thi không đầy đủ các điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh. Lao động trẻ em vẫn còn tiếp diễn, nhất là các công việc trong lĩnh vực nông nghiệp.

Đôi khi chính quyền đã có hành động khắc phục, bao gồm việc truy tố đối với các quan chức vi phạm pháp luật; công an đôi khi vi phạm mà không bị trừng phạt. Tham nhũng trong ngành công an vẫn diễn ra.

Phần 1. Tôn trọng sự toàn vẹn của con người, kể cả quyền không bị:[sửa]

a. Tước đoạt sinh mạng tùy tiện hoặc trái luật[sửa]

Các báo cáo cho biết các quan chức hoặc nhân viên khác dưới sự chỉ huy của Bộ Công an đã giết người tùy tiện hoặc trái pháp luật, trong đó có ít nhất 14 người chết khi đang bị tạm giam, và một số cáo buộc đáng chú ý về việc cán bộ sử dụng vũ lực làm chết người. Trong hầu hết các trường hợp chính quyền hoặc cung cấp ít thông tin liên quan đến cuộc điều tra về những cái chết này, hoặc thông báo những cái chết đó là do tự tử hoặc các vấn đề về sức khỏe. Trong một số ít trường hợp, chính quyền đã truy cứu trách nhiệm đối với các cán bộ công an.

Theo tin tức báo chí, ngày 28 tháng 2, Nguyễn Văn Tình đã chết do xuất huyết não, phù não sau khi cảnh sát địa phương ở tỉnh Hà Tĩnh bắt giam ông mà không có lệnh với cáo buộc đánh bài ăn tiền và giam giữ ông này trong năm giờ. Chính quyền địa phương đã tiến hành điều tra ba công an xã do hành vi tạm giữ người trái luật.

Ngày 8 tháng 4, chính quyền địa phương tại tỉnh Hưng Yên đã thông báo cho gia đình Nguyễn Đức Duân rằng Duân đã chết sau vài tuần bị cảnh sát giam giữ. Theo báo chí, toàn bộ cơ thể Duân có nhiều vết bầm tím.

Ngày 10 tháng 10, Đỗ Đăng Dư, 17 tuổi, được thông báo đã chết do bị tra tấn trong khi đang bị giam giữ. Cảnh sát đã bắt Dư hai tháng trước vì tội trộm cắp và không cho gia đình anh này liên lạc khi Dư đang bị tạm giam. Ngày 4 tháng 10, cơ quan cảnh sát đã triệu tập gia đình anh này tới Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội nơi Dư đang trong tình trạng hôn mê và cơ quan nội tạng bị tổn thương và có các vết bầm tím trên cơ thể. Sau cái chết của Dư, nhà chức trách đã ép gia đình mai táng anh này ngay lập tức, và gia đình anh này cáo buộc báo cáo khám nghiệm tử thi không ghi đầy đủ mức độ chấn thương. Ngày 30 tháng 12, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố bạn tù của Dư về tội “cố ý gây thương tích” và cho biết họ sẽ chuyển việc điều tra trách nhiệm của các cán bộ lãnh đạo và quản giáo trong vụ việc của Dư lên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Ngày 9 tháng 4, Toà án nhân dân tỉnh Đăk Nông đã xử án treo đối với các cán bộ công an Lê Mạnh Nam và Trần Đăng Tùng về tội bắt giữ trái pháp luật Hoàng Văn Ngài – đã chết trong khi đang bị giam giữ vào năm 2013. Tòa án đã không truy cứu trách nhiệm về cái chết của ông Ngài đối với các cán bộ công an này.

Ngày 7 tháng 10, sau phiên xét xử kéo dài ba ngày, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã kết án các điều tra viên tỉnh Sóc Trăng bao gồm Nguyễn Hoàng Quân và Triệu Tuấn Hưng lần lượt 1,5 năm và hai năm tù giam do đã đánh đập và ép buộc bảy người đàn ông nhận tội trong vụ án giết người năm 2013. Bảy người này khẳng định công an tỉnh Sóc Trăng đã tra tấn khi thẩm vấn họ.

b. Mất tích[sửa]

Không có báo cáo nào về người mất tích do động cơ chính trị.

c. Tra tấn và đối xử hoặc trừng phạt dã man, vô nhân đạo hay đê hèn khác[sửa]

Luật pháp nghiêm cấm hành hạ thân thể, nhưng công an và các cán bộ tại các trung tâm cai nghiện vẫn thường ngược đãi các nghi can trong quá trình bắt giữ hoặc tạm giam.

Vào đầu tháng 6, Quốc hội đã ban hành báo cáo về nhiều trường hợp ép cung hoặc dùng nhục hình trong các cuộc điều tra từ năm 2011 đến năm 2014. Bộ Công an cho biết họ đã nhận được 46 khiếu nại về ép cung hoặc dùng nhục hình; trong số này, nhà chức trách thừa nhận chỉ có ba trường hợp là đúng và sáu trường hợp vẫn đang được điều tra.

Tháng 11, Quốc hội đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi trong đó quy định công an phải ghi hình hoặc ghi âm các cuộc thẩm vấn tại các cơ sở điều tra chính thức. Đối với các cuộc thẩm vấn diễn ra tại các địa điểm khác, phải thực hiện ghi âm nếu nhà chức trách hoặc bị cáo có yêu cầu. Bộ luật này sẽ có hiệu lực vào tháng 7 năm 2016 và dự kiến quy định trên sẽ được thực hiện thí điểm đầu tiên vào năm 2017, và triển khai trên toàn quốc vào năm 2019.

Tháng 10, Bộ trưởng Bộ Công an cho biết chính phủ đã quy trách nhiệm đối với 26 cán bộ công an về “hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra”. Trong số này có hai cán bộ bị truy tố do dùng nhục hình, và hai “thủ trưởng cơ quan điều tra” bị khiển trách do để xảy ra việc dùng nhục hình.

Các nhà hoạt động chính trị và tôn giáo và gia đình của họ cho biết họ bị các đơn vị và cán bộ công an sách nhiễu nhiều và nhiều khi nghiêm trọng, từ việc hăm dọa và xúc phạm tới các vụ ngược đãi lớn hơn, chẳng hạn như các vụ cảnh sát mặc thường phục ném đá vào nhà của họ. Các nhà hoạt động cũng cho biết các cuộc tấn công đó đã làm họ và gia đình bị thương tích và sang chấn tâm lý phải nhập viện.

Ngày 1 tháng 1, một số người mặc trang phục cảnh sát và thường phục đã ngăn cản giáo dân tham dự các hoạt động lễ thánh tại gia mừng Năm mới của Mục sư Hội thánh Mennonite Nguyễn Hồng Quang. Giáo dân khẳng định chính quyền địa phương đã đưa họ đến đồn cảnh sát và đánh vào người và mặt họ bằng nắm đấm. Ông Quang cũng khẳng định chính quyền địa phương đã hành hung ông sau khi ông đến đồn cảnh sát để hỏi về vụ việc. Ông Quang và giáo dân cho biết trong năm qua họ nhiều lần bị hành hung.

Ngày 1 tháng 1, những người phản đối về quyền sử dụng đất tại tỉnh Tiền Giang cho biết Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã giam giữ họ trong khoảng tám giờ sau khi họ cố gắng tiến hành biểu tình. Nhà hoạt động Lư Thị Thu Vân cho biết công an đã đánh bà khi đang bị giam giữ, dẫn đến các vết thương trên mặt.

Ngày 21 tháng 1, hàng chục cảnh sát mặc thường phục đã hành hung 12 nhà hoạt động sau khi họ đến thăm cựu tù nhân chính trị Trần Anh Kim ở tỉnh Thái Bình. Hai trong số những người bị hành hung bao gồm Nguyễn Thanh Giang và Nguyễn Thị Kim Chi đã hơn 70 tuổi. Các nhà hoạt động khẳng định các cán bộ công an đã giam giữ họ trong gần bảy giờ tại một đồn cảnh sát địa phương và liên tục hành hung và dùng lời đe dọa họ.

Ngày 17 tháng 2, năm người khiếu kiện về quyền sử dụng đất ở tỉnh Bắc Giang cho biết nhà chức trách đã đưa họ đến một đồn cảnh sát địa phương sau khi họ mang đơn kiện đến nhà của chủ tịch tỉnh. Những người này khẳng định bốn người đàn ông mặc áo mưa và đeo mặt nạ đã tấn công bà Nguyễn Thị Luyến và bà Suốt bằng gậy sau khi họ rời khỏi đồn cảnh sát, gây ra các vết thương trên cơ thể. Trong một diễn biến khác, hàng chục cảnh sát mặc thường phục đã truy đuổi và sau đó hành hung bà Phạm Thị Nhượng sau khi bà rời khỏi đồn cảnh sát.

Ngày 13 tháng 3, một số người mặc thường phục đã hành hung các nhà hoạt động về quyền sử dụng đất bao gồm Lại Tiến Sơn và Nguyễn Thanh Hà bằng gậy và mũ bảo hiểm xe máy tại Hà Nội sau khi họ đến thăm và trao quà cho những người biểu tình về quyền sử dụng đất ở làng Dương Nội. Khi hành hung, những kẻ phạm tội đó liên tục hét to “Đánh chết chúng đi”.

Ngày 22 tháng 4, ba người mặc thường phục tại Hà Nội đã hành hung blogger Trịnh Anh Tuấn (còn gọi là Gió Lang Thang). Ông Tuấn khẳng định những người đó đã lôi ông khỏi chiếc xe máy và dùng gạch đánh vào đầu và tay ông. Ông Tuấn là thành viên chủ chốt của nhóm “Vì một Hà Nội xanh”, một phong trào bảo vệ môi trường phản đối chính quyền thành phố Hà Nội chặt hạ các cây cổ thụ trên các tuyến phố chính hồi đầu năm.

Ngày 11 tháng 5, năm người mặc thường phục tại Hà Nội đã hành hung đến bất tỉnh blogger Nguyễn Chí Tuyến (tức Anh Chí), một thành viên chủ chốt khác của nhóm “Vì một Hà Nội xanh”. Anh Chí cho biết cảnh sát mặc thường phục đã theo dõi chặt chẽ và sách nhiễu ông và những người cùng biểu tình, nhiều người trong số này là sinh viên.

Ngày 19 tháng 5, công an quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh đã hành hung blogger chính trị và nhà hoạt động Đinh Quang Tuyến, lôi ông này ra khỏi xe máy và dùng mũ bảo hiểm đánh vào mặt, khiến ông Tuyến phải nhập viện.

Ngày 25 tháng 6, những người mặc thường phục đã hành hung hơn 40 nhà hoạt động và người dân làng Dương Nội khi họ đang chờ đón Trịnh Bá Khiêm, một người cùng làng đã chấp hành xong án tù. Trong số những người bị hành hung có con trai ông Khiêm là Trịnh Bá Tư, Trịnh Bá Phương, và các nhà hoạt động Mai Thanh, Trương Văn Dũng, Nguyễn Tường Thụy.

Ngày 27 tháng 7, công an thành phố Nha Trang đã hành hung các nhà hoạt động Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Huy Tâm và Võ Trường Thiện khi họ cố gắng tổ chức tuyệt thực để ủng hộ tự do ngôn luận. Bà Quỳnh cho biết công an đã đấm bà, gây ra các vết bầm tím và vết rách trên mặt.

Ngày 28 tháng 8, cảnh sát mặc đồng phục và thường phục ở tỉnh Lâm Ðồng đã hành hung hai nhóm các nhà hoạt động và các cựu tù nhân chính trị, bao gồm Trần Thị Nga, Trương Minh Tam, Chu Mạnh Sơn, Phạm Minh Hoàng, Nguyễn Văn Oai, trước và sau khi họ đến thăm ông Trần Minh Nhật, một tù nhân lương tâm vừa mới được ra tù. Họ cáo buộc công an đã dừng xe của một nhóm các nhà hoạt động, kéo họ xuống đất, và đá vào người họ. Cảnh sát mặc thường phục bị cáo buộc đã đánh các thành viên của một nhóm khác, bao gồm Lê Đình Lượng, Bích Hạnh và Lê Hương. Trong một diễn biến khác, những người mặc thường phục đã hành hung Trương Minh Tam một vài ngày trước đó, sau khi ông đến một nhà tù ở tỉnh Thanh Hóa để lấy đồ cá nhân của mình.

Ngày 17 tháng 10, Đỗ Đăng Dư, 17 tuổi, đã chết do bị tra tấn trong khi đang bị giam giữ (xem phần 1.a.).

Ngày 3 tháng 11, hai luật sư Trần Thu Nam và Lê Văn Luân cho biết cảnh sát mặc thường phục và những người lạ đã đánh vào đầu và mặt họ, khiến họ phải nhập viện. Ông Nam và Luân bị hành hung sau khi gặp gỡ gia đình của Đỗ Đăng Dư. Ngày 12 tháng 11, cảnh sát đã tạm giữ luật sư Trần Vũ Hải vài giờ trước khi ông và hàng chục luật sư và các nhà hoạt động lên kế hoạch phản đối chính quyền sách nhiễu luật sư.

Ngày 22 tháng 11, các nhà hoạt động công đoàn Đỗ Thị Minh Hạnh và Trương Minh Đức cho biết công an tỉnh Đồng Nai và những người lạ đã tạm giữ và hành hung họ sau khi giải tán cuộc họp giữa hai nhà hoạt động này với hơn 800 công nhân nhà máy (xem thêm phần 7.a.). Bà Hạnh cáo buộc cảnh sát mặc thường phục đã trói ngược tay bà ra phía sau, đẩy ngã xuống đất, và đánh vào mặt, khiến bà này phải nhập viện. Theo ông Đức, cảnh sát truy tố các nhà hoạt động này về tội cung cấp “các tài liệu bất hợp pháp” cho người lao động và đã tịch thu điện thoại di động, máy tính và máy ảnh của họ. Đại diện chính quyền nói rằng bà Hạnh và ông Đức đã gây rối trật tự công cộng và phủ nhận việc cảnh sát địa phương đã hành hung hoặc tịch thu đồ cá nhân của những người này.

Ngày 6 tháng 12, nhà hoạt động nhân quyền, luật sư Nguyễn Văn Đài cho biết cảnh sát mặc thường phục đã hành hung ông và một nhà hoạt động tại tỉnh Nghệ An sau khi ông tổ chức một cuộc họp liên quan đến nhân quyền. Ngày 16 tháng 12, công an đã bắt giữ ông Đài và trợ lý Lê Thu Hà tại Hà Nội về tội “tuyên truyền chống nhà nước” theo Điều 88 trong Bộ luật hình sự. Cảnh sát đã bắt giữ ông Đài khi ông này đang trên đường đến gặp một phái đoàn nước ngoài để thảo luận về nhân quyền. Vợ ông Đài cho biết cảnh sát đã tịch thu các tài sản mang tính tôn giáo cá nhân, bao gồm Kinh Thánh của ông Đài khi thực hiện lệnh khám xét. Bà cũng cho biết cảnh sát đã không cho bà và luật sư bào chữa được gặp ông Đài cũng như không cho phép họ liên lạc hoặc mang đồ ăn, nước uống hoặc đồ cá nhân cho ông Đài. Đại diện chính quyền nói rằng họ bắt giữ ông Đài do ông này vi phạm pháp luật nhiều lần và âm mưu làm suy yếu chính quyền.

Các nhà hoạt động nhân quyền cũng cho biết công an đã giam giữ và sách nhiễu các nhà hoạt động khác liên quan đến vụ bắt giữ ông Đài. Cảnh sát đã tạm giữ nhà hoạt động Trương Dũng. Ngày 21 tháng 12, ông Dũng cho biết một người lạ mặt đã đổ chất lỏng có tính axit vào đầu ông tại một đồn cảnh sát địa phương, sau khi ông Dũng cố lấy lại đồ đạc mà cảnh sát đã tịch thu trước đó.

Điều kiện ở nhà tù và các trại tạm giam[sửa]

Điều kiện ở trại giam là khắc khổ nhưng nhìn chung không đe dọa tính mạng. Quá chật chội, chế độ ăn uống không đủ, thiếu nước sạch và điều kiện vệ sinh nghèo nàn tiếp tục là những vấn đề nghiêm trọng.

Điều kiện vật chất: Chính quyền thường giam nam và nữ tách biệt nhau, trừ một số ngoại lệ ở những trại tạm giam địa phương có diện tích hạn chế. Vào tháng 11, Quốc hội đã thông qua luật mới về thi hành tạm giữ, tạm giam. Luật này sẽ có hiệu lực vào tháng 7 năm 2016 và quy định phân loại quản lý người bị tạm giữ, tạm giam, bao gồm người thực hiện hành vi phạm tội thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng (bao gồm các tội liên quan đến an ninh quốc gia), người mắc các bệnh truyền nhiễm, người có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, trẻ vị thành niên, phụ nữ mang thai, chăm sóc con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, đồng tính nữ, đồng tính nam, lưỡng tính, chuyển giới, và liên giới. Mặc dù chính quyền thường giam giữ người chưa thành niên tách biệt với người lớn, nhưng trong một số ít trường hợp người chưa thành niên vẫn được giam giữ chung với người lớn trong một thời gian ngắn do diện tích chật hẹp.

Tù nhân được chăm sóc y tế cơ bản, mặc dù trong nhiều trường hợp các cán bộ quản trại đã ngăn người nhà mang thuốc vào cho tù nhân. Bên cạnh đó, người nhà của những nhà hoạt động bị bỏ tù có những vấn đề về sức khỏe quả quyết rằng việc điều trị y tế ở trại là không đầy đủ và khiến cho bệnh tình diễn biến phức tạp và để lại những hậu quả lớn và lâu dài. Trước khi được thả vào ngày 17 tháng 4, người nhà của nhà hoạt động Phật giáo Hòa Hảo Mai Thị Dung cho biết cán bộ tại nhà tù Thanh Xuân đã từ chối điều trị y tế thích hợp đối với bệnh tê liệt chân, sỏi mật, và các bệnh khác của bà.

Vào tháng 3, các tù nhân lương tâm Đinh Nguyên Kha, Đặng Xuân Diệu, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Trần Vũ Anh Bình đã tuyệt thực 10 ngày để phản đối việc biệt giam Bình tại trại giam Xuyên Mộc, tỉnh Vũng Tàu.

Vào tháng 4, tù nhân lương tâm Bùi Thị Minh Hằng đã tuyệt thực 10 ngày để phản đối việc bỏ tù bà tại trại giam Gia Trung tỉnh Gia Lai. Gia đình bà Hằng cho biết chính quyền đã ngăn không cho họ gặp gỡ và cung cấp thức ăn cho bà và cáo buộc nhà chức trách trại giam đang trả đũa do bà Hằng từ chối mặc áo tù nhân. Cuối cùng, nhà chức trách đã cho phép các thành viên gia đình được tiếp tục thăm bà.

Những cái chết trong tù chủ yếu liên quan đến các điều kiện sức khỏe nghiêm trọng, vấn đề này trở nên trầm trọng hơn do chăm sóc y tế kém hoặc chậm chễ, vệ sinh kém, và thiếu dinh dưỡng. Một số người nhà của các tù nhân cáo buộc rằng tù nhân chết do nhà chức trách dùng vũ lực làm chết người (xem phần 1.a. và 1.b.).

Nói chung các phạm nhân phải làm việc nhưng không được nhận tiền công. Nhà chức trách biệt giam tù nhân trong khoảng thời gian tiêu chuẩn là ba tháng. Một số tù nhân chính trị cho biết họ bị biệt giam thường xuyên hơn so với các tù nhân khác. Các báo cáo cũng cho biết các trại giam cũng giam giữ những người chuyển giới ở khu biệt lập do không biết nên giam những người đó ở khu nam hay khu nữ. Tù nhân không được tiếp cận các tài liệu đọc và phương tiện viết lách, đặc biệt là tù nhân chính trị. Người nhà tù nhân vẫn tiếp tục khẳng định một cách đáng tin cậy rằng tù nhân sẽ được thêm thức ăn và được đối xử tốt hơn nếu biết hối lộ cán bộ quản trại.

Nhà chức trách thường đưa các tù nhân chính trị đến các nhà tù được chỉ định cụ thể. Đây cũng là nơi giam giữ thường xuyên các tù nhân hình sự, và trong nhiều trường hợp, tù nhân chính trị bị giam tách biệt với các tù nhân khác. Nhà chức trách cô lập hoàn toàn một số tù nhân chính trị nổi tiếng. Các nhà hoạt động cho biết các cán bộ quản trại hành hung tù nhân lương tâm để họ nhận tội hoặc sử dụng các phương tiện khác để bắt tù nhân nhận tội bằng văn bản, bao gồm chỉ đạo các tù nhân khác hành hung họ hoặc hứa sẽ đối xử tốt hơn.

Một số cựu tù nhân lương tâm cho biết các tù nhân nhận được lượng thức ăn không đầy đủ và kém chất lượng. Một số cựu tù nhân cho biết họ chỉ được nhận hai bát cơm nhỏ và rau mỗi ngày, thường bị trộn lẫn các chất lạ như côn trùng, hoặc đá nhỏ.

Quản lý trại giam: Không có hệ thống thanh tra nhà tù nào hoạt động mặc dù pháp luật có quy định về giám sát thi hành án hình sự của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một tổ chức chuyên giám sát các tổ chức xã hội do chính phủ Việt Nam bảo trợ.

Nhà chức trách chỉ cho tù nhân mỗi tháng gặp gia đình một lần trong 30 phút và nói chung cho phép người nhà chu cấp thêm đồ bao gồm tiền, thực phẩm và chăn đệm cho tù nhân. Người nhà của các tù nhân chính trị cho biết các cán bộ quản trại đôi khi thu hồi quyền được thăm viếng, thường là sau khi các tù nhân chính trị tuyệt thực hoặc từ chối tuân theo các chỉ dẫn. Người nhà của họ tiếp tục bị chính quyền giám sát chặt chẽ và bị các nhân viên an ninh sách nhiễu cũng như gây trở ngại trong công việc, học hành, và các hoạt động kinh doanh.

Trái ngược với hành động đối với tù nhân phi chính trị, các nhà chức trách thường xuyên chuyển trại tù nhân chính trị đến các địa điểm xa gia đình của họ, gây khó khăn cho người nhà đến thăm. Vào tháng 1, các cán bộ công an đã chuyển tù nhân lương tâm Ngô Hào từ trại giam Xuân Phước ở tỉnh Phú Yên quê ông đến trại giam An Điềm tại tỉnh Quảng Nam.

Vào tháng 2, các cán bộ công an đã chuyển Bùi Thị Minh Hằng từ trại giam An Bình tại tỉnh Đồng Tháp quê bà đến trại giam Gia Trung tỉnh Gia Lai, cách đó khoảng 300 dặm.

Các chức sắc tôn giáo và các cựu tù nhân lương tâm cho biết các cán bộ công an không cho phép các tù nhân thực hành các nghi lễ tôn giáo hoặc gặp gỡ các chức sắc tôn giáo. Người nhà và một số cựu tù nhân cho biết nhà chức trách không cho phép tù nhân nhận tài liệu tôn giáo khi bị tạm giam. Các cán bộ công an thường không cho phép sở hữu các văn bản pháp luật ngoại trừ các ấn phẩm chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giám sát độc lập: Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế không yêu cầu và cũng không đến thăm các nhà tù trong năm qua.

d. Bắt giữ hoặc giam cầm tùy tiện[sửa]

Luật pháp cho phép chính quyền bắt và giam giữ người theo các quy định mập mờ về an ninh quốc gia trong Bộ luật hình sự, bao gồm bắt giữ nhà hoạt động dân chủ Trần Anh Kim trong năm qua về tội “âm mưu lật đổ chính quyền” (Điều 79). Chính quyền tiếp tục bắt và giam giữ những người đã bày tỏ quan điểm chính trị hoặc tôn giáo một cách ôn hòa theo các quy định khác của pháp luật hình sự, bao gồm tội “gây rối trật tự công cộng” (Điều 245), tội “chống người thi hành công vụ” (Điều 257), hay tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” (Điều 258). Nhà chức trách thường xuyên quản chế hành chính hoặc quản thúc tại gia các nhà hoạt động. Mặc dù có những tranh luận công khai tại Quốc hội song Bộ luật hình sự đã thông qua vào tháng 11 không xóa bỏ cũng như không làm rõ các quy định này.

Vai trò của công an và bộ máy an ninh[sửa]

Bộ Công an chịu trách nhiệm về an ninh trong nước và quản lý đội ngũ công an, một cơ quan điều tra an ninh quốc gia đặc biệt và các đơn vị an ninh khác trong nước. Cục Điều tra của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (văn phòng công tố cấp trung ương) xem xét các cáo buộc vi phạm của lực lượng an ninh và các cơ quan thực thi pháp luật.

Ủy ban nhân dân (cơ quan hành pháp cấp địa phương) có thẩm quyền đối với lực lượng công an và công tố viên cấp tỉnh, huyện và địa phương. Mặc dù Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao có quyền điều tra các vi phạm của lực lượng công an, song các tổ chức công an hoạt động với thẩm quyền lớn đáng kể và ít có sự minh bạch và giám sát công. Các cán bộ công an đôi khi vi phạm mà không bị xử phạt. Ở cấp xã, lực lượng an ninh gồm dân phòng địa phương hoặc thành viên của các tổ chức xã hội thuộc chính phủ thường xuyên hỗ trợ công an. Nhìn chung, công an duy trì trật tự công cộng có hiệu quả, nhưng các năng lực khác của công an, đặc biệt là về điều tra, còn rất hạn chế, và việc đào tạo cũng như nguồn lực, đặc biệt là ở cấp địa phương, còn chưa đầy đủ. Một số chính phủ nước ngoài và các tổ chức quốc tế tiếp tục trợ giúp đào tạo công an cấp tỉnh và các cán bộ quản lý trại giam nhằm tăng cường kỹ năng chuyên môn cho họ.

Nhiều cơ quan chuyên môn của chính phủ giám sát vấn đề di cư và biên giới. Cục Quản lý xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an có trách nhiệm giám sát việc xuất cảnh và nhập cảnh vào Việt Nam. Quân đội thực hiện các chức năng an toàn công cộng tại các khu vực biên giới. Bộ Tài chính kiểm soát các cơ quan hải quan và các cơ quan khác giám sát vấn đề kiểm dịch và các chức năng khác. Trách nhiệm, quyền hạn và cơ cấu hoạt động chính thức của các cơ quan này khác nhau đáng kể. Các cán bộ biên phòng thường thiếu năng lực nhận diện và ngăn chặn các hoạt động qua biên giới bất hợp pháp như buôn bán người; ma túy và tiền chất ma túy; và buôn bán động vật hoang dã, gỗ, và hàng giả.

Thủ tục bắt giữ và đối xử người bị tạm giam[sửa]

Luật pháp quy định quy trình bắt giữ và đối xử đối với người bị tạm giữ, tạm giam trước khi xét xử vụ án. Cảnh sát và các cơ quan điều tra khác thường thực hiện lệnh bắt, tạm giữ, và tạm giam. Theo luật, công an nói chung cần có quyết định của Viện kiểm sát nhân dân về việc bắt giữ nghi can, dù trong một số ít trường hợp công an cần quyết định của tòa án. Trong hầu hết các trường hợp Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, cấp tỉnh, cấp huyện ban hành các lệnh bắt giữ đó. Trong những trường hợp khẩn cấp, chẳng hạn như có bằng chứng chứng minh một người đang chuẩn bị thực hiện phạm tội hoặc khi cảnh sát phát hiện một người phạm tội quả tang thì được bắt giữ mà không cần lệnh bắt. Trong các trường hợp này, Viện Kiểm sát nhân dân phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc bắt giữ trong vòng 12 giờ sau khi nhận được thông báo từ công an.

Viện Kiểm sát nhân dân phải ban hành quyết định điều tra chính thức đối với người bị tạm giam trong vòng ba ngày kể từ ngày bắt giữ; nếu không, công an phải thả nghi phạm. Luật pháp cho phép Viện kiểm sát gia hạn thời gian tạm giữ hai lần, mỗi lần ba ngày, tối đa là chín ngày.

Luật pháp cho phép nghi phạm được tiếp xúc với luật sư từ lúc bị tạm giữ; tuy nhiên, nhà chức trách tiếp tục dùng nhiều cách cản trở quan liêu để ngăn không cho nghi phạm tiếp xúc với luật sư. Trong những vụ được điều tra theo luật an ninh quốc gia, chính quyền có quyền cấm luật sư bào chữa tiếp cận với thân chủ cho đến khi các cán bộ kết thúc điều tra và nghi phạm đã bị chính thức buộc tội, hầu hết thường là sau khoảng bốn tháng.

Theo luật, nhà chức trách có quyền kéo dài thời gian điều tra đối với các vụ án về an ninh quốc gia và không cho tiếp xúc với luật sư trong thời gian lên đến 20 tháng. Trong các trường hợp như vậy, nhà chức trách không cho luật sư tiếp cận thân chủ hoặc không đưa ra bằng chứng về vụ việc cho đến ngay trước khi vụ việc được đưa ra xét xử và do đó luật sự không có đủ thời gian chuẩn bị bào chữa. Theo luật, nhà chức trách phải đề nghị đoàn luật sư địa phương, trung tâm trợ giúp pháp lý hoặc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ định luật sư bào chữa trong các vụ án có người vị thành niên, người bị khiếm khuyết về thể chất và tâm thần và người chính thức bị kết án tử hình. Bộ luật hình sự mới, được thông qua vào tháng 11, bổ sung thêm các trường hợp này bao gồm những người chính thức bị buộc tội với bản án có thể lên đến 20 năm hoặc nhiều hơn. Bộ luật mới không quy định người bào chữa phải là luật sư, và họ có thể là một người đại diện cá nhân của bị cáo hoặc thành viên của một tổ chức trợ giúp pháp lý.

Luật pháp yêu cầu các cơ quan chức năng thông báo cho người bị tạm giữ, nghi can, bị can về các quyền của mình theo quy định của pháp luật, bao gồm cả quyền có luật sư. Trong hầu hết các trường hợp, sau khi được tư vấn, các bị cáo là người chịu trách nhiệm mời luật sư riêng của mình. Luật quy định luật sư bào chữa có nghĩa vụ bào chữa cho thân chủ của mình từ lúc nhà chức trách ban hành quyết định tạm giữ.

Nhà chức trách thường gửi thông báo đến các cơ quan lãnh sự về việc bắt giữ công dân nước ngoài, nhưng đôi khi lại trì hoãn thông báo đó. Quan chức chính quyền thường cho phép cán bộ lãnh sự được tiếp cận người nước ngoài bị bắt hoặc bị giam giữ nhưng đôi khi lại áp đặt những điều kiện nghiêm ngặt đối với việc tiếp cận này, bao gồm yêu cầu cán bộ công an có mặt tại các cuộc gặp giữa các cán bộ lãnh sự và công dân nước ngoài bị bắt giữ, và đôi khi là ghi hình các cuộc gặp này.

Luật pháp cho phép luật sư bào chữa có mặt trong các cuộc thẩm vấn thân chủ của mình. Luật pháp cũng yêu cầu các nhà chức trách cho luật sư tiếp cận với hồ sơ của vụ án và cho phép họ sao chụp lại các tài liệu. Các luật sư thường có thể thực hiện các quyền này. Tháng 11, Quốc hội đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi trong đó quy định cảnh sát phải ghi hình hoặc ghi âm các cuộc thẩm vấn. Bộ luật này sẽ có hiệu lực vào tháng 7 năm 2016 và dự kiến quy định trên sẽ được thực hiện thí điểm đầu tiên vào năm 2017, và triển khai trên toàn quốc vào năm 2019. Những người đại diện cho người bị giam giữ nhạy cảm về chính trị cho biết họ gặp khó khăn lớn trong việc thực hiện trách nhiệm của mình với thân chủ và thực hiện các quyền của họ theo quy định của luật. Nhiều người bị giam giữ, đặc biệt là những người bị cáo buộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia, cho biết họ bị hạn chế tiếp cận các tài liệu và thông tin hỗ trợ trong việc chuẩn bị bảo vệ pháp lý, bao gồm cả Bộ luật hình sự.

Công an nói chung thông báo cho gia đình người bị giam giữnơi giam giữ, nhưng người nhà chỉ có thể vào thăm khi điều tra viên cho phép. Trong quá trình điều tra, nhà chức trách thường không cho người bị giam giữ tiếp xúc với người nhà, đặc biệt trong các vụ án về an ninh quốc gia. Trước khi cáo trạng chính thức được đưa ra, người bị giam giữ có quyền báo cho gia đình biết, mặc dù vậy Bộ Công an giam giữ một số người tình nghi xâm phạm an ninh quốc gia mà không cho họ liên lạc. Thời gian giam giữ trước khi xét xử được tính vào thời gian chấp hành bản án.

Ví dụ, chính quyền tiếp tục từ chối các yêu cầu thăm viếng gia đình đối với các nhà hoạt động về quyền sử dụng đất như Ngô Thị Minh Ước, Nguyễn Thị Bé Hai, Nguyễn Thị Trí - bị bắt hồi tháng 7 năm 2014.

Vào tháng 11, cảnh sát Nha Trang đã bắt giữ Nguyễn Hữu Quốc Duy sau khi ông cho biết đã khởi tạo một nhóm trên Facebook để thảo luận cách tránh bị bắt khi thực hiện hoạt động nhân quyền. Mẹ của Duy cho biết cảnh sát không thông báo cho bà về nơi giam giữ Duy cũng như không cho phép bà vào thăm.

Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia cũng như một số tội đặc biệt nghiêm trọng, tòa án có thể áp dụng hình thức quản chế hoặc quản thúc hành chính trong thời gian từ 1 đến 5 năm sau khi chấp hành xong án tù. Hình thức quản chế thường bao gồm quản thúc tại gia và tước quyền bầu cử, ứng cử, tham gia chính quyền hoặc quân đội.

Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính, cơ quan chức năng có quyền giam giữ người nghiện ma túy tại “các cơ sở cai nghiện bắt buộc” (trước đây gọi là trung tâm “06” hoặc “cơ sở điều trị bắt buộc”). Luật này quy định việc gửi bất kỳ người nào vào các cơ sở cai nghiện bắt buộc phải thông qua quy trình tố tụng. Luật cũng quy định cụ thể người bị giam giữ tại các cơ sở này có thể làm việc không quá ba giờ mỗi ngày. Chính phủ đã đóng cửa các cơ sở điều trị bắt buộc đối với người bán dâm (trước đây gọi là trung tâm “05”) vào năm 2013, nhưng chính quyền tiếp tục đưa người bán dâm sử dụng ma túy hoặc bị nhiễm HIV vào các cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tiếp tục có các báo cáo về lao động cưỡng bức tại các cơ sở này.

Luật pháp cho phép bảo lãnh tại ngoại như một biện pháp để thay thế tạm giam, nhưng hiếm khi nhà chức trách áp dụng. Luật pháp cho phép các nhà điều tra, kiểm sát viên, hoặc tòa án được phép nhận tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo lãnh tại ngoại. Một ủy ban liên ngành đã đưa ra các hướng dẫn thực hiện quy định pháp lý này vào năm 2013.

Các trường hợp hiếm hoi về việc chấp nhận bảo lãnh các cá nhân bị bắt vì thực thi quyền tự do ngôn luận đó là vào ngày 10 tháng 2, nhà văn Nguyễn Quang Lập đã được tại ngoại chờ điều tra các cáo buộc liên quan đến các thông tin đăng trên blog “Quê Choa” của ông. Ngày 12 tháng 2, nhà chức trách đã thả tại ngoại blogger Hồng Lê Thọ, người điều hành trang web “Người Lót Gạch”. Trước đó nhà chức trách đã bắt giữ hai blogger trên về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” (Điều 258 Bộ luật hình sự), và cho đến thời điểm cuối năm tình hình về vụ việc của hai ông này vẫn chưa rõ ràng.

Bắt giam tùy tiện: Việc bắt và giam giữ tùy tiện, đặc biệt đối với những nhà hoạt động chính trị, vẫn còn là một vấn đề nghiêm trọng (xem phần 2.a.).

Nhà chức trách bắt và giam giữ các cá nhân dựa trên các cáo buộc về tiết lộ bí mật quốc gia, lật đổ, lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước, tuyên truyền chống nhà nước, phá hoại đoàn kết dân tộc và các tội khác để đàn áp những người bất đồng chính kiến và những người bảo vệ cộng đồng.

Ngày 3 tháng 8, công an ở tỉnh Thanh Hóa đã bắt giữ cựu tù nhân lương tâm Đinh Tất Thắng và cáo buộc ông này về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” vì đã viết đơn thư công khai chỉ trích lãnh đạo và công an tỉnh.

Ngày 1 tháng 10, công an ở tỉnh Thái Bình chính đã chính thức khởi tố cựu tù nhân lương tâm, nhà hoạt động dân chủ Trần Anh Kim về tội “âm mưu lật đổ chính quyền” (Điều 79 Bộ luật hình sự). Nhà chức trách đã bắt giữ ông Kim và hai cộng sự khác vào ngày 21 tháng 9, ngày mà ông đã lên kế hoạch khai trương một tổ chức chính trị mới có tên “Lực lượng Quốc dân Dựng cờ Dân chủ”. Việc bắt giữ ông Kim là vụ bắt giữ chính thức đầu tiên áp dụng các quy định mơ hồ về an ninh quốc gia trong Bộ luật hình sự kể từ năm 2013.

Theo các báo cáo đáng tin cậy, nhà chức trách cũng đã giam giữ tùy tiện ở nhiều mức độ khác nhau đối với các nhà hoạt động tôn giáo và chính trị tại nơi ở của họ, tại các đồn cảnh sát địa phương, hoặc tại sân bay.

Ngày 30 tháng 8, công an ở tỉnh Hà Giang đã giam giữ Ma Văn Pá, một người dân tộc H’mông theo Đạo Dương Văn Minh, một ngày sau khi ông này gặp gỡ một phái đoàn nước ngoài đang điều tra tự do tôn giáo. Nhà chức trách đã thả ông Pá sau một ngày giam giữ và thẩm vấn, trong thời gian giam giữ đó công an đã đấm vào đầu, đe dọa sẽ đánh nữa, và tịch thu máy tính xách tay của ông này.

Ngày 1 tháng 9, cảnh sát tại sân bay Nội Bài ở Hà Nội giam giữ người ủng hộ nhân quyền Nguyễn Quang A trong khoảng 15 giờ sau khi ông này trở về từ nước ngoài.

Ngày 13 tháng 12, công an đã giam giữ nhà hoạt động dân chủ chống Trung Quốc Nguyễn Phương Uyên trong một ngày tại một quán cà phê ở Thành phố Hồ Chí Minh sau khi bà này tham gia lễ ký bán công khai về một cuốn sách bị cấm có nội dung về thay đổi hình thức chính phủ Việt Nam. Nhà chức trách cũng giam giữ chủ cửa hàng cà phê đó.

Giam giữ chờ xét xử: Luật thi hành tạm giữ, tạm giam mới bao gồm các quy định phân biệt quyền của cá nhân bị tạm giữ chờ xét xử và những người đang thụ án. Các cá nhân bị giam giữ chờ xét xử sẽ có một số quyền nhất định, như quyền bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý. Luật quy định bốn mức độ tội phạm: tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng. Thời gian tạm giam để điều tra sẽ khác nhau tùy vào mức độ phạm tội. Các nhà hoạt động thường cho biết một số cuộc điều tra vượt quá các thời hạn theo quy định của luật, từ tối đa bốn tháng đối với tội ít nghiêm trọng đến 20 tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng.

Tháng 5 năm 2014, các cán bộ công an đã bắt giữ nhà hoạt động, blogger nổi tiếng Nguyễn Hữu Vinh (còn gọi là Anh Ba Sàm) và cáo buộc ông này về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” (Điều 258 Bộ luật hình sự). Cảnh sát cũng đã bắt giữ bà Nguyễn Thị Minh Thúy - nhân viên của ông Vinh. Tháng 11 năm 2014, nhà chức trách đã truy tố cả ông Vinh và bà Thúy theo Điều 258, và vào cuối năm họ vẫn đang bị tạm giam chờ xét xử, được cho là đã quá thời gian giam giữ tối đa theo luật định.

Ân xá: Chính quyền đã thả bốn tù nhân lương tâm theo các quy định về ân xá.

Ngày 21 tháng 1, chính quyền đã ân xá cho nhà báo Nguyễn Văn Khương, một năm trước khi kết thúc bản án tù bốn năm. Nhà chức trách đã kết án ông Khương về tội đưa hối lộ một quan chức sau khi ông này bí mật ghi hình một đồng nghiệp đang đưa hối lộ cho cảnh sát nhằm phanh phui tình trạng tham nhũng của cảnh sát.

Ngày 22 tháng 2, chính quyền đã ân xá cho nhà hoạt động vì dân chủ và quyền sử dụng đất Cao Văn Tỉnh, sáu tháng trước khi kết thúc bản án tù 4,5 năm. Trước đó nhà chức trách đã kết án ông Tỉnh về tội “âm mưu lật đổ chính quyền” (Điều 79 Bộ luật hình sự).

Ngày 17 tháng 4, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ân xá cho tín đồ phật giáo Hòa Hảo Mai Thị Dung – đã thụ án tù hơn chín năm sau khi nhà chức trách bắt giữ bà do tham gia buổi tuyệt thực đòi tự do tôn giáo hơn nữa.

Ngày 30 tháng 6, chính quyền đã ân xá cho thành viên của Đảng Nhân dân Hành động và Khối 8406 Lê Thanh Tùng, sáu tháng trước khi kết thúc bản án tù bốn năm. Nhà chức trách đã kết án ông Tùng về tội “tuyên truyền chống nhà nước” (Điều 88 Bộ luật hình sự).

Vào ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9, chính quyền đã ân xá cho 18.539 tù nhân phi chính trị. Theo số liệu thống kê chính thức, 837 tù nhân bị buộc tội liên quan đến tham nhũng, 2.188 tù nhân về tội giết người, và 1.449 về tội phạm ma tuý đã được ân xá. Chính quyền cho biết họ không thả bất kỳ tù nhân nào bị kết án theo các điều luật về an ninh quốc gia.

e. Từ chối xét xử công khai và công bằng[sửa]

Luật pháp quy định tính độc lập của thẩm phán và hội thẩm nhân dân, song hệ thống tư pháp không đủ mạnh và chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như các quan chức chính quyền cấp cao và ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Giống như trước đây, ảnh hưởng chính trị, vấn nạn tham nhũng và sự thiếu năng lực đã bóp méo hệ thống tòa án rất nhiều. Hầu hết, nếu không phải là tất cả, các thẩm phán đều là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và đều do Đảng Cộng sản Việt Nam và các quan chức địa phương sàng lọc trong quá trình lựa chọn để quyết định sự phù hợp với vị trí. Sự chi phối của Đảng đặc biệt rõ ràng trong những vụ án nổi tiếng và những trường hợp khác mà trong đó nhà chức trách buộc tội bị cáo đã chống lại hoặc làm tổn hại Đảng hoặc nhà nước.

Luật tổ chức toà án nhân dân ban hành tháng 11 năm 2014 và có hiệu lực vào tháng 6 bao gồm các quy định về xét xử công bằng. Luật này quy định rõ rằng thẩm phán và hội thẩm phải xét xử độc lập; nghiêm cấm các cơ quan, tổ chức, và cá nhân can thiệp vào việc xét xử; và quy định rằng việc xét xử phải được tiến hành kịp thời và công khai, và tòa án phải đảm bảo các nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và quá trình tranh tụng, và chính quyền phải coi bị cáo là vô tội cho đến khi chứng minh họ có tội. Luật này cũng bao gồm các điều về xây dựng các án lệ, chỉ ra rằng một trong những nhiệm vụ của Toà án nhân dân tối cao là tổng hợp và công bố các quyết định của các tòa án nhân dân để làm án lệ áp dụng trong các phiên xét xử.

Vẫn còn thiếu các luật sư và thẩm phán có trình độ. Liên đoàn Luật sư Việt Nam là tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp và Hội Luật gia Việt Nam.

Thủ tục xét xử[sửa]

Hiến pháp năm 2013 quy định các quyền cơ bản của công dân, trong đó mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân đều phải được coi là vô tội cho đến khi việc xét xử chứng minh người đó có tội và có quyền mời luật sư bào chữa và được xét xử công khai, nhanh chóng. Bộ luật tố tụng hình sự mới đã pháp điển hóa suy đoán vô tội đối với người bị buộc tội và quy định nghĩa vụ chứng minh trong các vụ án hình sự thuộc về nhà nước. Tuy nhiên, các luật sư bào chữa thường phàn nàn rằng trong nhiều trường hợp có vẻ các thẩm phán đã xác định bị cáo có tội trước khi tiến hành xét xử. Hiến pháp và Bộ luật tố tụng hình sự cho phép quá trình tranh tụng nhiều hơn trong suốt phiên xét xử, một chính sách nếu được thực thi hiệu quả, sẽ đưa tòa án hướng tới một hệ thống tư pháp cân bằng bình đẳng hơn. Luật sư cho rằng các tòa án vẫn chưa triển khai hệ thống tranh tụng thực sự. Các phiên xử nói chung là công khai, nhưng trong các vụ án nhạy cảm, các thẩm phán đã xử kín hoặc hạn chế chặt chẽ người dự phiên tòa. Cơ chế bồi thẩm đoàn không được sử dụng.

Viện Kiểm sát nhân dân đưa ra cáo trạng truy tố bị can và đóng vai trò như một công tố viên trong quá trình xử án. Bị cáo có quyền được thông báo một cách nhanh chóng và chi tiết về cáo buộc đối với họ, tuy nhiên điều này không phải lúc nào cũng được thực hiện. Chính quyền nói chung để bị cáo có quyền có mặt và có luật sư bào chữa tại phiên tòa mặc dù không nhất thiết luật sư đó là do bị cáo chọn. Bộ luật tố tụng hình sự mới sẽ cho phép luật sư bào chữa dễ dàng đăng ký bào chữa cho thân chủ của mình. Luật pháp quy định ngôn ngữ viết và nói tại phiên tòa là Tiếng Việt song sẽ có phiên dịch nếu những người tham dự quá trình xét xử dùng ngôn ngữ nói và viết khác. Chính quyền chỉ định luật sư bào chữa cho bị cáo không đủ khả năng thuê luật sư chỉ trong các vụ án liên quan đến tội phạm vị thành niên hoặc người bị khiếm khuyết về thể chất hoặc tâm thần hoặc có khả năng bị kết án chung thân hoặc tử hình.

Các luật mới ban hành vào tháng 11 cũng sẽ quy định chính quyền phải chỉ định luật sư bào chữa cho các bị cáo chính thức bị cáo buộc phạm tội với bản án có thể lên đến 20 năm hoặc nhiều hơn. Luật sư bào chữa thường cho biết họ có rất ít thời gian nghiên cứu các bằng chứng chống lại thân chủ của mình trước phiên xét xử. Mặc dù bị cáo hoặc luật sư bào chữa có quyền kiểm tra bằng chứng và chất vấn chéo các nhân chứng, nhưng đã có những vụ án mà bị cáo cũng như luật sư của mình không được phép tiếp cận bằng chứng của chính quyền trước phiên xử, không biết ai sẽ là nhân chứng hoặc không có cơ hội được chất vấn chéo các nhân chứng hoặc phản bác các lời khai. Bị cáo có quyền bào chữa, nhưng luật không quy định rõ ràng về việc bị cáo có quyền gọi người làm chứng.

Bộ luật tố tụng hình sự mới có quy định quyền im lặng trong một số trường hợp nhất định; mặc dù bị cáo sẽ có quyền im lặng khi chưa có sự có mặt của luật sư, song bị cáo có thể bị phạt nếu từ chối khai sau khi luật sư bào chữa có mặt. Luật mới quy định cụ thể về nghĩa vụ chứng minh trong các vụ án hình sự thuộc về nhà nước; do đó, bị cáo có quyền không bị bắt buộc nhận tội và được phép lựa chọn không đưa ra lời khai. Tuy nhiên, công an thường thẩm vấn nghi phạm mà không có sự tham dự của luật sư bào chữa. Có nhiều báo cáo cho biết điều tra viên đã dùng các hành động ngược đãi thân thể, cách ly, kéo dài quá lâu các buổi thẩm vấn, và tước đoạt giấc ngủ để bắt nghi phạm phải nhận tội. Trong các vụ án về an ninh quốc gia, các thẩm phán đôi khi không cho luật sư bào chữa được lập luận thay mặt thân chủ của mình trước tòa. Người bị kết án có quyền kháng cáo. Các tòa án quận/huyện và tỉnh không công bố biên bản phiên xét xử, nhưng Tòa án Nhân dân Tối cao vẫn công bố biên bản của tất cả các vụ án mà họ xử phúc thẩm.

Ví dụ, nhà hoạt động Lê Thị Phương Anh cho biết nhân viên cảnh sát đã hành hung bà trong giai đoạn điều tra trước khi xét xử để thực hiện ép cung. Cùng với hai nhà hoạt động khác, ngày 12 tháng 2, bà Anh đã bị kết án 12 tháng tù về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” (Điều 258 Bộ luật hình sự). Nhà chức trách đã thả bà Phương Anh vào ngày 15 tháng 5.

Vẫn có các báo cáo đáng tin cậy cho rằng nhà chức trách đã gây sức ép để các luật sư bào chữa không nhận bào chữa cho những thân chủ là những nhà hoạt động tôn giáo hay dân chủ. Nhà chức trách cũng hạn chế, sách nhiễu, bắt giữ, khai trừ họ khỏi đoàn luật sư, và trong một số trường hợp còn giam giữ các luật sư bảo vệ nhân quyền vì làm đại diện cho các nhà hoạt động chính trị. Nhà chức trách đã không cho phép các luật sư như Lê Trần Luật, Huỳnh Văn Đông, Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài và Nguyễn Thanh Lương hành nghề luật sư.

Tù nhân chính trị và người bị giam giữ vì lý do chính trị[sửa]

Chính quyền giam giữ ít tù nhân chính trị hơn so với các năm trước do họ đã chấp hành xong bản án, số lượng bắt giữ và kết án tiếp tục giảm. Vào cuối năm có khoảng 95 tù nhân chính trị, so với con số khoảng 125 tù nhân chính trị vào cuối năm 2014. Chính quyền khẳng định không có tù nhân chính trị tại Việt Nam và không cho phép các tổ chức nhân quyền hoặc các tổ chức nhân đạo tiếp xúc thường xuyên với những người này.

Chính quyền tiếp tục trấn áp những phát biểu về chính trị thông qua việc bắt giữ tùy tiện và giam giữ ngắn hạn mà không có cáo buộc. Trong năm qua, chính quyền đã kết án hai nhà hoạt động thực hiện ôn hòa các quyền con người đã được quốc tế công nhận về tội “gây rối trật tự công cộng” (Điều 245), và “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” (Điều 258) trong Bộ luật hình sự. Năm 2014, chính quyền đã kết án 29 nhà hoạt động.

Nhà chức trách cũng tiếp tục giam giữ và bỏ tù những người sử dụng Internet để bày tỏ các ý kiến về nhân quyền, chính sách của chính phủ và đa nguyên chính trị (xem phần 2.a.). Nhiều nhà hoạt động có liên hệ với các tổ chức chính trị không đăng ký tiếp tục bị giam trong tù, bao gồm Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Lý, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Trần Anh Kim. Bộ Công an quản thúc tại gia những người khác, trong đó có Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung và Nguyễn Phương Uyên.

Nhà chức trách đã thả một số nhà hoạt động chính trị và tôn giáo nổi bật. Ngoài việc thả trước thời hạn ba tù nhân lương tâm theo pháp luật về ân xá (xem phần 1.d.), vào ngày 19 tháng 9, chính quyền đã đình chỉ bản án của blogger kiêm nhà hoạt động Tạ Phong Tần, đã thụ án bốn năm trong tổng án mười năm tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước” (Điều 88 Bộ luật hình sự). Bà Tần đã rời Việt Nam, và có thể sẽ phải chấp hành hết bản án nếu quay lại Việt Nam.

Các thủ tục và biện pháp khắc phục tư pháp dân sự[sửa]

Hiến pháp năm 2013 quy định rằng người nào bị bắt và giam giữ trái phép, bị khởi tố hình sự, bị điều tra, truy tố, đưa ra xét xử, hoặc bị thi hành án trái pháp luật có quyền được đòi bồi thường về vật chất và tinh thần và phục hồi danh dự. Luật quy định cơ chế để theo đuổi vụ kiện dân sự nhằm giải quyết hoặc khắc phục hậu quả trong trường hợp nhà chức trách lạm quyền. Những vụ kiện dân sự được xét xử bởi tòa hành chính và tòa dân sự trong đó áp dụng thủ tục xét xử giống như trong các vụ án hình sự và được xét xử bởi các thành viên của cùng một hội đồng thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Cả ba tòa hình sự, hành chính và dân sự tiếp tục có biểu hiện tham nhũng, chịu ảnh hưởng từ bên ngoài, thiếu tính độc lập và thiếu kinh nghiệm.

Mặc dù pháp luật có quy định về quy trình bồi thường dân sự trong trường hợp cán bộ vi phạm nhân quyền, song trên thực tế công dân ít có khả năng theo đuổi một cách hiệu quả các thủ tục tư pháp dân sự hoặc hình sự trong việc khắc phục hậu quả của các hành vi vi phạm nhân quyền; bên cạnh đó, cũng chỉ có rất ít chuyên gia pháp lý có kinh nghiệm về hệ thống này.

Năm 2013, nhà chức trách đã thả ông Nguyễn Thanh Chấn, người bị kết án oan về tội giết người và đã thụ án 10 năm tù. Vào tháng 9, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã tiến hành điều tra các thẩm phán đã xét xử phúc thẩm ông Chấn. Ông Chấn đã đệ đơn khiếu nại dân sự lên Tòa phúc thẩm Hà Nội, và đến cuối năm vẫn đang chờ quyết định của tòa.

Chính phủ tiếp tục ngăn cấm các vụ kiện tập thể đối với các bộ của chính phủ, do đó đã hạn chế quyền khiếu kiện chung của công dân về đất đai.

Bồi thường tài sản[sửa]

Vẫn có rất nhiều khiếu kiện về việc bồi thường không đủ hoặc chậm trễ, sự tham nhũng của cán bộ và sự thiếu minh bạch của chính phủ trong quá trình thu hồi đất và di dân để chuẩn bị cho các dự án cơ sở hạ tầng. Vào tháng 7 năm 2014, Luật Đất đai sửa đổi có hiệu lực giúp giải quyết các thách thức trong vấn đề thu hồi đất và tăng cường sự minh bạch về thủ tục. Tuy nhiên, nhiều người phàn nàn rằng các điều khoản và nguyên tắc đáng quan ngại nhất vẫn còn tồn tại. Luật sửa đổi vẫn duy trì quyền quyết định đáng kể trong việc xác định giá đất, giao đất và thu hồi đất cho ủy ban nhân dân và hội đồng nhân dân địa phương, đây là điều mà nhiều người khẳng định sẽ dẫn đến hành vi không công bằng và tham nhũng. Hơn nữa, nhiều người cho rằng với việc cho phép liên tục thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội, trái với việc chỉ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng và phúc lợi công cộng, thì luật này không có nhiều cải cách đáng kể.

Đã có một số vụ đụng độ giữa nông dân và chính quyền tại các địa điểm thu hồi đất và các cuộc biểu tình liên quan đến đất. Tranh chấp về thu hồi đất cho các dự án phát triển kinh tế xã hội vẫn là một vấn đề lớn, gây bất bình trong dân chúng. Nhiều người dân có đất bị chính quyền cưỡng chế thu hồi đã phản đối tại các cơ quan đảng do đơn khiếu nại của họ không được giải quyết. Một số vụ cưỡng chế thu hồi đất đã gây ra các vụ bạo lực và thương tích cho cả quan chức nhà nước và người dân. Các báo cáo cũng cho biết “côn đồ” đã hăm dọa và đe dọa người dân, hoặc đột nhập vào nhà của các nhà hoạt động. Nhà chức trách đã bắt giữ và kết án ít nhất một chục người biểu tình liên quan đến đất đai với cáo buộc “chống người thi hành công vụ” hoặc “gây rối trật tự công cộng”.

Đầu năm qua, chính quyền địa phương ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh được cho là đã không cho 155 em học sinh Công giáo nhập học ở trường gần nhà và yêu cầu các em đến các trường xa hơn. Nhiều giáo dân cáo buộc các quan chức địa phương đã cố ép họ rời bỏ nhà cửa để tịch thu đất cho một dự án phát triển kinh tế.

Theo số liệu của chính phủ, số lượng đơn khiếu nại về tranh chấp đất đai tăng cao đột biến trong thập kỷ qua, chiếm 70% đến 90% tổng số lượng đơn khiếu kiện, khiếu nại.

Nhiều nhà hoạt động nhân quyền cho biết cảnh sát đã tịch thu đồ đạc cá nhân của họ, bao gồm máy tính xách tay, điện thoại di động, và các tài liệu cá nhân trong các cuộc thẩm vấn hoặc giam giữ tùy tiện.

f. Tự ý can thiệp vào quyền riêng tư, gia đình, nhà ở hay thư tín[sửa]

Luật pháp nghiêm cấm các hành vi tự ý can thiệp vào quyền riêng tư, gia đình, nhà ở hay thư tín, song trên thực tế, chính phủ không bảo hộ nhất quán và nhà chức trách đôi khi vi phạm các quyền này.

Theo quy định của pháp luật, lực lượng an ninh chỉ được phép xông vào nhà dân nếu có lệnh khám xét của viện kiểm sát, song các cán bộ an ninh thường không tuân thủ quy định này đối với trường hợp của các nhà hoạt động, thay vào đó, họ yêu cầu được phép khám nhà đương sự với lời đe dọa về các hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra nếu thiếu hợp tác.

Các nhà chức trách đôi khi ngăn cản các nhà hoạt động chính trị và người thân của các tù nhân chính trị gặp gỡ các nhà ngoại giao nước ngoài hoặc ngăn không cho ra nước ngoài. Các chiến thuật được sử dụng bao gồm lập hàng rào hoặc cử bảo vệ đến đứng ngoài nơi cư trú của các nhà hoạt động và triệu tập các cá nhân đến đồn cảnh sát địa phương.

Các nhà hoạt động Nguyễn Đan Quế, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Bắc Truyền cho biết Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã bao vây nhà của họ và ngăn cản họ gặp gỡ một quan chức cấp cao nước ngoài đến thăm vào ngày 5 tháng 8. Lê Công Cầu, thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, cho biết chính quyền tại thành phố Huế đã ngăn không cho ông ra khỏi nhà để đi gặp vị quan chức nước ngoài đó.

Các nhà chức trách mở và kiểm duyệt thư từ của những người đang trong diện bị theo dõi, tịch thu hàng hóa và thư từ, theo dõi các cuộc nói chuyện điện thoại, e-mail, tin nhắn văn bản, blog và các giấy tờ gửi qua fax của họ. Chính quyền cắt điện thoại và tạm ngưng cung cấp dịch vụ điện thoại di động và Internet của một số nhà hoạt động chính trị và người nhà của họ.

Bộ Công an cũng duy trì hệ thống đăng ký nhân khẩu và đội ngũ cảnh sát khu vực để giám sát các hoạt động trái pháp luật. Mặc dù hệ thống này ít can thiệp vào đời tư của người dân hơn so với trước đây, nhưng Bộ Công an vẫn tiếp tục theo dõi sát sao những người tham gia hoặc bị nghi ngờ tham gia các hoạt động chính trị trái phép. Người nhà của các nhà hoạt động công khai cho biết họ bị cán bộ an ninh xâm hại thân thể, hăm dọa và chất vấn.

Chính phủ tiếp tục khuyến khích các cặp vợ chồng không sinh nhiều hơn hai con. Mặc dù luật không cấm hoặc không quy định hình phạt đối với việc có nhiều hơn hai con, song một số đảng viên cho biết những hậu quả không chính thức nếu có hơn hai con, bao gồm hạn chế về thăng tiến trong công việc (xem phần 6, Phụ nữ).

Việc là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn là điều kiện tiên quyết để thăng tiến trong các tổ chức nhà nước và trong tất cả các cơ quan và các doanh nghiệp có liên quan đến chính phủ. Tuy nhiên, sự đa dạng hóa kinh tế tiếp tục làm cho việc trở thành thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức quần chúng chịu sự kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng ít quan trọng trong việc thăng tiến về tài chính và địa vị xã hội.

Phần 2. Tôn trọng tự do của người dân, bao gồm:[sửa]

a. Tự do ngôn luận và tự do báo chí[sửa]

Mặc dù hiến pháp và pháp luật đã quy định về quyền tự do ngôn luận, bao gồm cả quyền tự do ngôn luận của nhà báo, nhưng chính quyền vẫn tiếp tục áp dụng các quy định chung về an ninh quốc gia và các quy định chống phỉ báng nhằm hạn chế những quyền tự do này. Pháp luật coi tội “phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, “gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo”, “tội tuyên truyền chống Nhà nước” là những tội nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia. Pháp luật cũng quy định rõ là cấm “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước và các tổ chức xã hội”.

Tự do ngôn luận: Chính quyền tiếp tục hạn chế những phát ngôn có nội dung chỉ trích các cá nhân lãnh đạo chính quyền, ủng hộ chủ nghĩa đa nguyên chính trị, dân chủ đa đảng, hoặc chất vấn các chính sách về những vấn đề nhạy cảm như nhân quyền, tự do tôn giáo, hay vấn đề tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc. Chính quyền cũng tìm cách ngăn chặn các chỉ trích thông qua việc theo dõi các cuộc gặp gỡ và liên lạc của các nhà hoạt động, bao gồm tại các cơ sở giáo dục.

Ngày 25 tháng 3, trong bối cảnh các cuộc biểu tình công khai gia tăng tại Hà Nội phản đối kế hoạch của chính quyền thành phố trong việc chặt hạ cây cổ thụ trên các tuyến phố chính, trường Đại học Lâm nghiệp đã ra thông báo chỉ đạo “tất cả các cán bộ nhân viên và sinh viên không được phát ngôn hoặc cung cấp thông tin” liên quan đến việc chặt hạ cây xanh tại Hà Nội và cho biết cảnh sát yêu cầu nhà trường quy kết trách nhiệm đối với các cá nhân nếu “vi phạm quy định về phát ngôn và cung cấp thông tin”. Trường đại học này đã rút lại thông báo hai ngày sau đó, sau khi vấp phải nhiều chỉ trích của báo chí và truyền thông xã hội.

Tháng 12 năm 2014, Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã bắt giữ blogger Nguyễn Đình Ngọc (còn gọi là Nguyễn Ngọc Già) vì những vi phạm “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” sau khi ông viết các bài trên Dân Làm Báo và Dân Luận chỉ trích nhà nước. Nhà chức trách sau đó đã cáo buộc ông Ngọc về tội “tuyên truyền chống nhà nước” (Điều 88 liên quan đến an ninh quốc gia). Cảnh sát đã gây sức ép bắt gia đình ông Ngọc phải giữ im lặng về vụ việc. Nhà chức trách đã bắt giữ blogger Hồng Lê Thọ hồi tháng 11 năm 2014 và giam giữ ông Nguyễn Quang Lập vào tháng 12 năm 2014 tại thành phố Hồ Chí Minh, với cáo buộc đăng các bài viết trên blog chỉ trích nhà nước. Ngày 10 tháng 2, chính quyền đã thả tại ngoại ông Lập do vấn đề sức khỏe và ngày 20 tháng 10 đã đình chỉ điều tra vụ việc. Ngày 11 tháng 2, cảnh sát đã thả Hồng Lê Thọ tại ngoại, và ngày 21 tháng 10 đã đình chỉ điều tra vụ việc. Ông Nguyễn Đình Ngọc vẫn đang bị giam giữ.

Chính quyền khoan dung đối với một số cuộc tranh luận hạn chế về các chủ đề chính trị hoặc xã hội nhạy cảm. Ví dụ, chính phủ cho phép các tổ chức phi chính phủ và các công ty tư nhân được góp ý về Bộ luật dân sự nhằm thực hiện những cải tiến cần thiết cho các nhóm dễ bị tổn thương, ví dụ như quyền của người chuyển giới trong việc thay đổi bản dạng giới tính. Chính quyền cũng khoan dung đối với các cuộc tranh luận hạn chế trên báo chí và giữa các tổ chức xã hội dân sự về các đạo luật quan trọng đang được Quốc hội thảo luận (xem thêm phần 3, Đảng phái chính trị và tham gia chính trị).

Vào tháng 6, linh mục Công giáo Nguyễn Duy Tân cho biết Công an tỉnh Đồng Nai đã triệu tập ông đến đồn cảnh sát địa phương ba lần để chất vấn về một bài đăng trên Facebook trong đó ông nói rằng ông hy vọng về “hòa bình, dân chủ, nhân quyền, và quyền bỏ phiếu cho mọi người Việt Nam”. Ông Duy cho biết cảnh sát đã đe dọa sẽ cáo buộc ông về tội “tuyên truyền chống nhà nước” (Điều 88 Bộ luật hình sự).

Tự do báo chí và truyền thông: Đảng Cộng sản Việt Nam, chính phủ, và các tổ chức đoàn thể chịu sự lãnh đạo của Đảng kiểm soát tất cả các hoạt động in ấn, phát thanh truyền hình, và truyền thông điện tử thông qua Bộ Thông tin và Truyền thông, dưới sự chỉ đạo chung của Ban Tuyên giáo Trung ương. Việc sở hữu tư nhân bất kỳ đài phát thanh truyền hình hay tòa báo nào vẫn còn bị cấm, nhưng có nhiều báo cáo phổ biến cho biết đã có các hợp đồng phụ ký với các cơ sở tư nhân. Theo báo chí, Bộ Thông tin và Truyền thông đã thúc đẩy kế hoạch hợp nhất báo in và báo điện tử trong cả nước, nhằm tăng cường sự kiểm soát của chính phủ đối với báo chí.

Hiến pháp khẳng định công dân có quyền tự do báo chí. Ngày 7 tháng 8, chính phủ đã ban hành Nghị định 65/2015/NĐ-CP, trong đó sửa đổi bổ sung một số điều về xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến hành vi đăng, phát, cung cấp, đưa tin, công bố thông tin sai sự thật. Theo Nghị định này, các cơ quan báo chí sẽ bị xử phạt nếu họ xuất bản “thông tin sai sự thật” trong các lĩnh vực thống kê; năng lượng nguyên tử; quản lý giá, phí, lệ phí và hóa đơn; giáo dục; hàng không dân dụng; đào tạo nghề; khí tượng thủy văn; bản đồ; và y tế.

Luật pháp giới hạn chỉ cho phép các quan chức cấp cao, người nước ngoài, khách sạn hạng sang, và giới truyền thông được tiếp cận truyền hình vệ tinh nhưng người dân trên khắp cả nước tiếp tục có thể tiếp cận các chương trình nước ngoài thông qua thiết bị vệ tinh gia đình hoặc truyền hình cáp. Thuê bao ở các vùng đô thị có thể tiếp cận rộng rãi truyền hình cáp, bao gồm các kênh có nguồn gốc nước ngoài.

Chính quyền cho phép các cơ quan truyền thông nước ngoài (bao gồm nhưng không giới hạn BBC và CNN) hoạt động mặc dù luật pháp quy định việc phát sóng truyền hình nước ngoài phải được phát chậm 30 đến 60 phút để có thể kiểm duyệt nội dung. Người xem truyền hình cho biết nhiều bài bình luận, phim tài liệu, phim truyền hình về chiến tranh Việt Nam, chiến tranh lạnh, thời Xô Viết hoặc các sự kiện tại Trung Quốc, bao gồm cuộc biểu tình “Chiếm Trung tâm” (Occupy Central) ở Hồng Kông đã bị phá sóng.

Các hãng truyền thông lớn của nước ngoài cho biết chính quyền từ chối cấp visa cho những phóng viên trước đây đã viết về các chủ đề chính trị nhạy cảm, đặc biệt là các phóng viên của các báo Việt ngữ ở nước ngoài.

Bạo hành và sách nhiễu: Có nhiều báo cáo về các nhân viên an ninh đã tấn công, đe dọa hoặc bắt giữ một số nhà báo vì họ đã đề cập đến những vấn đề nhạy cảm.

Trong năm qua, nhà chức trách tiếp tục trừng phạt báo Người Cao tuổi với cáo buộc đã đăng một loạt bài điều tra chỉ trích tham nhũng và việc làm sai trái của các quan chức nhà nước cấp cao. Vào tháng 2, Bộ Thông tin và Truyền thông đã thu hồi giấy phép phiên bản trực tuyến của báo này và thu hồi thẻ nhà báo của Tổng biên tập Kim Quốc Hoa (còn gọi là Nguyễn Quốc Hoa). Ngày 12 tháng 5, cảnh sát đã khởi tố ông Hoa về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” (Điều 258 Bộ luật hình sự). Đến thời điểm cuối năm cảnh sát vẫn chưa giam giữ ông Hoa.

Ngày 8 tháng 6, các báo cáo cho biết nhiều người đã đánh các nhà báo Vĩnh Phú và Linh Hoàng của báo Giao thông và lấy trộm máy ảnh khi họ đang thu thập tin ở thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 18 tháng 6, cảnh sát bị cho là đã bắt giữ và đánh đập phóng viên Tống Văn Đạt của báo Tuổi trẻ Thủ đô tại Hà Nội sau khi ông này cố gắng quay phim các nhân viên cảnh sát điều khiển giao thông.

Ngày 25 tháng 6, nhà báo tự do kiêm Chủ tịch Hội nhà báo độc lập Việt Nam Phạm Chí Dũng cho biết sau khi gửi nhiều giấy triệu tập, Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã giam giữ ông trong hơn tám giờ và gây áp lực buộc ông phải đóng cửa trang web của hội. Cảnh sát triệu tập Dũng một lần nữa vào ngày 8 tháng 7.

Ngày 3 tháng 9, những người lạ mặt đã hành hung và làm nhà báo Nguyễn Ngọc Quang của Truyền hình Thái Nguyên bị thương. Các nhà báo khác cho rằng vụ hành hung là do nhà báo này đã có các bài điều tra về các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn tỉnh.

Ngày 10 tháng 9, các nhân viên cảnh sát đã hành hung phóng viên Phạm Thanh Tàu của báo Hà Nội Mới khi ông này đang đưa tin về một vụ tai nạn giao thông tại thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 15 tháng 9, chính quyền tỉnh Long An đã nhanh chóng tạm giữ phóng viên Nguyễn Hoàng Nam, tịch thu điện thoại di động, và ép ông này xóa các nội dung trong máy ảnh sau khi tham dự phiên xét xử 12 nhà hoạt động về quyền sử dụng đất. Ngày 23 tháng 9, cảnh sát tại các khu vực lân cận Hà Nội đã giam giữ sáu thành viên của kênh truyền hình Lương Tâm TV mà không có lệnh, đây là một tổ chức truyền thông độc lập trên YouTube không đăng ký với Bộ Thông tin và Truyền thông. Cảnh sát đã đánh đập một số thành viên và thả họ ra trong cùng ngày sau khi đã tịch thu máy quay phim, máy tính xách tay và điện thoại di động của họ. Các thành viên bị giam giữ bao gồm người đứng đầu Nguyễn Vũ Bình và các nhân viên Lê Thu Hà, Nguyễn Mạnh Cường, Phạm Đắc Đạt, Lê Thị Yến và Trần Đức Thịnh. Cảnh sát đã khám xét nhà của Nguyễn Vũ Bình và tịch thu các thiết bị sản xuất, đe dọa sẽ truy tố nếu ông Bình tiếp tục làm phim.

Các nhà báo nước ngoài cho biết họ tiếp tục bị yêu cầu phải thông báo cho cơ quan chức năng khi đi ra khỏi Hà Nội đến các khu vực được coi là nhạy cảm, chẳng hạn như vùng Tây Bắc hoặc Tây Nguyên, hoặc liên quan đến câu chuyện mà chính phủ có thể coi là nhạy cảm. Nhiều phóng viên nước ngoài cho biết họ đã bị nhân viên an ninh sách nhiễu, bao gồm cả việc đe dọa không gia hạn thị thực nếu họ tiếp tục công bố những câu chuyện về các chủ đề “nhạy cảm”.

Kiểm duyệt hoặc hạn chế nội dung đăng tải: Bộ Thông tin và Truyền thông và Ban Tuyên giáo Trung ương thường xuyên can thiệp trực tiếp để áp đặt hoặc kiểm duyệt nội dung. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản và chính phủ vẫn duy trì kiểm soát các nội dung truyền thông thông qua hình thức tự kiểm duyệt với lời đe dọa sẽ sa thải và có thể bắt giữ các nhà báo.

Vào tháng 9, báo Thanh Niên có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh đã sa thải Phó tổng thư ký tòa soạn Đỗ Văn Hùng, và Bộ Thông tin và Truyền thông đã thu hồi thẻ nhà báo sau khi ông này đăng một bài viết châm biếm Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên trang Facebook của mình.

Luật pháp hạn chế nghiêm ngặt tự do báo chí. Nghị định 159/2013/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với các nhà báo, báo chí, và truyền thông trực tuyến nếu cung cấp hoặc phát thông tin được cho là làm tổn hại đến lợi ích quốc gia. Nghị định cũng cho phép chính phủ xử phạt nhà báo và báo chí. Nghị định này quy định mức tiền phạt từ 5 triệu đến 10 triệu đồng nếu nhà báo không công bố nguồn tin; các nhà báo và báo chí “sử dụng tài liệu, hồ sơ từ các tổ chức, thư tín hay tài liệu của các cá nhân”.

Theo các quy định của chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông có quyền thu hồi giấy phép đối với các nhà xuất bản nước ngoài, và từng nhà xuất bản nước ngoài hàng năm phải nộp đơn xin cấp lại giấy phép. Tuy nhiên, những người bán rong đường phố và các cửa hàng dành cho khách du lịch công khai bán các phiên bản bằng tiếng nước ngoài của một số cuốn sách bị cấm. Các ấn phẩm định kỳ bằng tiếng nước ngoài hiện có mặt rộng rãi ở các thành phố, mặc dù đôi khi chính quyền kiểm duyệt các bài viết.

Quy định về tội phỉ bang/vu khống: Luật pháp yêu cầu các nhà báo phải bồi thường thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức bị hủy hoại danh tiếng do thông tin mà các nhà báo đã công bố, ngay cả khi những thông tin này là chính xác. Các nhà quan sát độc lập cũng lưu ý rằng luật pháp đã hạn chế nghiêm trọng các phóng sự điều tra. Mặc dù trong năm qua đã có một số bài báo viết về những chủ đề thường được xem là nhạy cảm, chẳng hạn như việc truy tố các cán bộ cao cấp thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam và của các quan chức chính phủ với các cáo buộc tham nhũng và đôi khi phê phán một vài quan chức và các tổ chức chính thức khác, nhưng quyền tự do chỉ trích Đảng Cộng sản Việt Nam và đội ngũ lãnh đạo cấp cao trong Đảng vẫn còn bị hạn chế.

Tự do Internet[sửa]

Chính quyền tiếp tục thực hiện các hình thức kiểm soát truy cập Internet. Chính quyền cho phép truy cập Internet thông qua một số ít các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP), tất cả đều thuộc quyền sở hữu nhà nước hoặc là công ty cổ phần với quyền kiểm soát đáng kể của nhà nước. Mặc dù có những sự kiểm soát này, việc tiếp cận và sử dụng Internet tiếp tục tăng mạnh. Ngân hàng Thế giới ước tính năm 2014 có 48% dân số được tiếp cận với Internet.

Nhà chức trách tiếp tục trấn áp các phát biểu mang tính chính trị trên mạng thông qua các vụ bắt giữ vì động cơ chính trị và kết án các blogger cũng như thông qua việc giam giữ ngắn hạn, theo dõi, hăm dọa, và tịch thu bất hợp pháp máy tính và điện thoại di động của các nhà hoạt động và người nhà của họ. Chính quyền tiếp tục áp dụng Điều 258 Bộ luật hình sự đối với các nhà hoạt động thể hiện quan điểm chính trị ôn hòa trên mạng. Những người bất đồng chính kiến và các blogger cho biết Bộ Công an thường xuyên ra lệnh ngắt kết nối dịch vụ Internet tại nhà của họ.

Chính quyền đôi khi sử dụng tường lửa để chặn một số trang web được coi là không phù hợp về chính trị và văn hóa, trong đó có các trang web được điều hành bởi các nhóm chính trị người Việt Nam ở hải ngoại. Ngoài ra, Đài phát thanh Châu Á Tự do và trang web BBC tiếng Việt cho biết dịch vụ của họ ở Việt Nam bị khóa. Các nhà cung cấp dịch vụ nhà nước đã khóa các trang tiếng Việt tại Việt Nam khi các trang đó chứa các nội dung chỉ trích Đảng Cộng sản Việt Nam hoặc thúc đẩy cải cách chính trị. Một số thuê bao trong nước cho biết họ phải đi đường vòng, như sử dụng các mạng ảo cá nhân để truy cập vào các trang web bị chặn.

Nhà chức trách không chặn Facebook; và các giám đốc điều hành của Facebook cho biết có hơn 30 triệu người sử dụng trên toàn quốc; tuy nhiên, chính phủ theo dõi các bài viết trên Facebook và trừng phạt các nhà hoạt động sử dụng internet để tổ chức các cuộc biểu tình. Vào tháng 7, cảnh sát đã giam giữ nhà hoạt động trên internet Nguyễn Thanh Phước trong hơn hai tuần với các cáo buộc “gây rối trật tự công cộng” sau khi ông này kêu gọi tổ chức cuộc họp “phong trào Zombie” tại thành phố Hồ Chí Minh trên trang Facebook của mình. Cảnh sát cũng đã giam giữ khoảng 20 thành viên khác của phong trào Zombie trong một vài giờ. Ngày 28 tháng 8, công an đã giam giữ thành viên của phong trào Zombie Nguyễn Hữu Thiên Ân tại thành phố Nha Trang và sau đó truy tố ông này về tội “tuyên truyền chống nhà nước” (Điều 88 liên quan đến an ninh quốc gia). Tính đến tháng 12, công an đã gia hạn điều tra thêm một vài tháng nữa và gây sức ép lên người nhà phải giữ im lặng về vụ việc của ông Thiên Ân. Một bài hát rap chống cộng sản lan truyền trên các phương tiện truyền thông xã hội vào đầu năm đã lấy cảm hứng từ phong trào Zombie.

Theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông, các công ty Internet, các trang mạng xã hội, các trang web cung cấp thông tin hoặc bình luận thuộc lĩnh vực “chính trị, kinh tế, văn hóa, và xã hội”, có trụ sở tại Việt Nam phải đăng ký và phải có giấy phép hoạt động. Bộ này cũng yêu cầu chủ sở hữu đệ trình các kế hoạch chi tiết về nội dung và phạm vi để chính phủ phê duyệt. Chính quyền áp dụng các chế tài hành chính như phạt tiền hoặc đình chỉ giấy phép hoạt động để điều chỉnh các hoạt động trực tuyến, bao gồm Nghị định 159 và 174 thi hành Luật Xử phạt các vi phạm hành chính.

Nghị định 72/2013/NĐ-CP yêu cầu các công ty vận hành các trang web tổng hợp và các mạng xã hội, bao gồm cả nền tảng blog phải đặt hệ thống máy chủ tại Việt Nam và lưu trữ thông tin đã đăng trong 90 ngày và một số siêu dữ liệu đến hai năm. Tháng 9 năm 2014, chính quyền đã ban hành thông tư mới hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định 72. Người sử dụng mạng xã hội và blog phải cung cấp đầy đủ họ tên, số chứng minh thư và địa chỉ trước khi tạo tài khoản. Theo Nghị định này, các nhà vận hành trang web tổng hợp trong nước và mạng xã hội phải cho phép nhà chức trách kiểm tra các máy chủ tại Việt Nam theo yêu cầu và phải có cơ chế gỡ bỏ nội dung bị cấm trong vòng ba giờ kể từ thời điểm nhà chức trách phát hiện hoặc thông báo. Việc thực thi các yêu cầu này dường như hạn chế.

Chính phủ cấm truy cập trực tiếp Internet thông qua nhà cung cấp dịch vụ Internet nước ngoài, yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ Internet trong nước phải lưu trữ thông tin truyền đi trên Internet ít nhất là trong 15 ngày, đồng thời yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ Internet phải cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và chỗ làm việc cho các nhân viên an ninh giám sát các hoạt động trên Internet. Bộ Công an từ lâu đã yêu cầu “các đại lý Internet”, bao gồm các quán cà phê phải đăng ký thông tin cá nhân của khách hàng và lưu trữ các trang web mà khách hàng đã truy cập, và tham gia các cuộc điều tra thực thi pháp luật về hoạt động trên mạng. Các quán cà phê Internet tiếp tục cài đặt và sử dụng phần mềm do Chính phủ phê duyệt để theo dõi các hoạt động trực tuyến của khách hàng. Bộ Công an triển khai thực hiện những việc này và các yêu cầu khác và tiến hành theo dõi có chọn lọc.

Tự do học thuật và các sự kiện văn hóa[sửa]

Các chuyên gia nước ngoài làm việc tạm thời tại các trường đại học trong nước được phép thảo luận về các chủ đề phi chính trị một cách rộng rãi và tự do trên lớp học, nhưng các nhà quan sát của chính phủ thường xuyên tham dự những lớp học được các nhà khoa học nước ngoài và trong nước giảng dạy. Các ấn phẩm học thuật thường phản ánh quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính phủ. Chính phủ tiếp tục yêu cầu các tổ chức quốc tế và trong nước phải có sự phê duyệt của chính phủ ít nhất 20 ngày trước khi tổ chức các hội nghị có sự tham gia và tài trợ của nước ngoài.

Chính quyền tiếp tục cấm mọi chỉ trích công khai Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của nhà nước, bao gồm các tổ chức khoa học và kỹ thuật độc lập, kể cả khi các chỉ trích đó hoàn toàn mang tính học thuật.

Mặc dù chính quyền kiểm soát các cuộc triển lãm nghệ thuật, âm nhạc, và các hoạt động văn hóa khác nhưng vẫn tiếp tục cho phép các nghệ sĩ lựa chọn chủ đề tác phẩm trong phạm vi rộng hơn. Các nhà chức trách tiếp tục hạn chế các cuộc trưng bày nghệ thuật và trình diễn âm nhạc công cộng bằng việc yêu cầu nhiều thủ tục xin phép đáng kể. Chính quyền cũng cho phép các trường đại học có nhiều quyền tự chủ hơn trong các hoạt động trao đổi quốc tế và các chương trình hợp tác quốc tế, tuy nhiên yêu cầu về thị thực đối với các học giả và các sinh viên trao đổi vẫn còn phiền phức.

Nhiều nhà hoạt động cho biết các cán bộ của Bộ Công an đã đe dọa lãnh đạo các trường đại học nếu họ không đuổi học các nhà hoạt động, mặc dù các hoạt động chính trị của họ mang tính ôn hòa.

Ngày 1 tháng 9, Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội đã đuổi học sinh viên và là nhà hoạt động Phạm Lê Vương Các ở Thành phố Hồ Chí Minh. Là một blogger chính trị, Các đã tham dự phiên Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát tại Geneva hồi tháng 6 và cho biết chính quyền địa phương thẩm vấn khi ông này quay trở về Việt Nam.

b. Tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình[sửa]

Tự do hội họp[sửa]

Mặc dù hiến pháp quy định cá nhân có quyền tự do hội họp, song chính quyền địa phương thường ngăn cản hội họp, và chính quyền tiếp tục hạn chế và theo dõi tất cả các hình thức phản đối hay tụ tập công khai. Luật và các quy định yêu cầu những người muốn tụ tập theo nhóm phải xin phép, chính quyền địa phương có thể đồng ý hoặc từ chối cấp phép mà không nêu lý do. Chỉ những người tổ chức tụ họp công khai để bàn về các vấn đề nhạy cảm thì mới phải xin giấy phép, và người ta thường xuyên tụ tập theo các nhóm phi chính thức mà không bị chính quyền can thiệp. Chính quyền nói chung không cho phép biểu tình vì mục đích chính trị. Chính quyền cũng hạn chế quyền tụ tập để cầu nguyện của nhiều nhóm tôn giáo chưa đăng ký.

Bộ Công an và công an địa phương thường xuyên ngăn cản các nhà hoạt động tham gia hội họp một cách ôn hòa. Ví dụ, vào ngày 26 tháng 1, blogger Huỳnh Công Thuận và nhà hoạt động Nguyễn Bắc Truyền cho biết Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ngăn cản họ tham dự một cuộc họp xã hội dân sự để thảo luận về việc áp dụng hình phạt tử hình của Việt Nam. Cả hai người cho biết công an địa phương đã bao vây nhà của họ và ngăn cản việc đi lại của họ.

Vào tháng 3 và tháng 4, sinh viên và các nhà hoạt động vì môi trường độc lập đã tổ chức một loạt các cuộc tuần hành tại Hà Nội để phản đối kế hoạch của quan chức thành phố trong việc chặt hạ cây cổ thụ. Ngày 13 tháng 4, chính quyền đã bắt giữ Nguyễn Việt Dũng về tội “gây rối trật tự công cộng” sau khi ông này mặc một bộ quân phục của Việt Nam Cộng Hòa trước đây và tham gia cuộc biểu tình ngày 12 tháng 4 phản đối chặt hạ cây xanh. Ngày 14 tháng 12, một tòa án cấp quận tại Hà Nội đã kết án Dũng 15 tháng tù giam. Luật sư của ông Dũng cho biết ông Dũng bị kết án “chỉ là do ông mặc bộ quân phục đó”.

Ngày 26 tháng 4, hơn 100 cảnh sát mặc đồng phục và thường phục đã giải tán cuộc tuần hành quanh Hồ Hoàn Kiếm nhằm phản đối kế hoạch chặt hạ cây xanh tại Hà Nội. Chính quyền địa phương đã dùng vũ lực bắt giữ khoảng 20 người, thẩm vấn và hăm dọa họ tại một đồn cảnh sát địa phương trong nhiều giờ. Một số người khác, chủ yếu là sinh viên, khẳng định chính quyền đã giam giữ họ khi đang trên đường đến tham gia cuộc tuần hành. Những người khác cho biết một số trường đại học ở Hà Nội đã cấm sinh viên tham gia các sự kiện tương tự.

Ngày 17 tháng 5, chính quyền ở Hà Nội đã cố ngăn chặn cuộc tụ họp dã ngoại bên ngoài thành phố để ủng hộ chiến dịch “Vì một Hà Nội xanh” và đến thăm nhà hoạt động Nguyễn Chí Tuyến – người đã bị những người lạ hành hung vài ngày trước đó. Những người có ý định tham gia chuyến dã ngoại khẳng định họ đã gặp nhiều khó khăn mới đến được nơi do sự can thiệp của chính quyền khiến các lái xe phải thả họ xuống giữa đường, và nhóm đã phải chia thành các nhóm nhỏ và bắt phương tiện giao thông công cộng đến điểm hẹn.

Ngày 25 tháng 7, các nhà hoạt động và nạn nhân của sự bất công trên toàn quốc đã tham gia “Ngày tuyệt thực thế giới”, ủng hộ phóng thích tất cả các tù nhân chính trị tại Việt Nam. Nhà chức trách đã ngăn cản nhiều nhà hoạt động, bao gồm Phạm Bá Hải, Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Hoàng Vi, và Nguyễn Phương Uyên, rời khỏi nhà trong thời gian này. Những người khác, bao gồm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trương Hoàng Anh, Nguyễn Phi Tâm và Phạm Văn Hải khẳng định chính quyền đã theo dõi, ngăn chặn, hành hung, giam giữ họ khi đang trên đường đến các địa điểm tụ họp công cộng. Ví dụ, nhà chức trách đã bất ngờ đóng cửa Công viên Bách thảo ở Hà Nội để phun thuốc trừ sâu khi một nhóm các nhà hoạt động dự định gặp nhau ở đó.

Vào tháng 8 và tháng 9, các học viên Pháp Luân Công tại thành phố Hồ Chí Minh cho biết cảnh sát và những người đàn ông được thuê đã hành hung họ khi cố gắng nhóm họp tại một trong số các công viên công cộng của thành phố. Các học viên Pháp Luân Công cho biết cảnh sát không đưa ra lý do giải tán nhóm mà chỉ nói rằng họ đang làm theo lệnh.

Tháng 7 năm 2014, công an đã truy tố ba nhà hoạt động vì đất đai của Phong trào Liên đới Dân oan, gồm Ngô Thị Minh Ước, Nguyễn Thị Bé Hai, Nguyễn Thị Trí, về tội “tuyên truyền chống nhà nước” (Điều 88 Bộ luật hình sự) sau khi họ tổ chức cuộc biểu tình tại thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu chính quyền trả lại đất đã tịch thu cho nông dân và chỉ trích sự tham nhũng của chính phủ, Trung Quốc, và các khẩu hiệu của Đảng. Đến thời điểm cuối năm vụ việc vẫn chưa được xét xử.

Chính quyền thường cho phép các nhóm được tụ tập hội họp trao đổi về các vấn đề không nhạy cảm. Vào tháng 8, hơn 1.000 người đã tham gia cuộc diễu hành niềm tự hào Việt Pride tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tự do lập hội[sửa]

Hiến pháp cho phép cá nhân có quyền được lập hội song chính quyền tiếp tục hạn chế nghiêm ngặt quyền tự do lập hội, không cho phép hay chấp nhận các đảng đối lập chính trị. Chính phủ cấm thành lập các tổ chức tư nhân, độc lập, đặc biệt nhấn mạnh đối với những người làm việc trong các tổ chức quần chúng do đảng thành lập hoặc kiểm soát, thường là dưới sự bảo trợ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Một số tổ chức, bao gồm các nhóm tôn giáo chưa đăng ký, đã hoạt động bên ngoài khuôn khổ này mà không bị chính quyền can thiệp hoặc chỉ bị can thiệp rất ít, và trong năm qua nhà chức trách đã thể hiện nhiều sự khoan dung đối với các tổ chức phi chính phủ độc lập. Một số tổ chức đã đăng ký cho biết trong năm qua các hoạt động của họ bị giám sát nhiều hơn trong giai đoạn trước khi chuyển giao lãnh đạo dự kiến trong kỳ Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam hồi tháng 1 năm 2016.

Khuôn khổ pháp lý và quy định của Việt Nam đã hệ thống hóa tính ưu việt của Đảng Cộng sản Việt Nam và thiết lập các cơ chế để hạn chế sự tự do của các tổ chức phi chính phủ trong việc hoạt động và tổ chức, bao gồm hạn chế tự do lập hội, tự do hội họp, tự do ngôn luận, và tự do báo chí. Chính phủ đã sử dụng các hệ thống đăng ký phức tạp và được chính trị hóa đối với các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức tôn giáo để ngăn chặn sự tham gia chính trị và tôn giáo không được hoan nghênh. Các tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước thường xuyên gặp các vấn đề trong việc đăng ký, được nêu cụ thể trong Nghị định 93 về việc đăng ký của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và Nghị định 38 về quản lý và sử dụng viện trợ nước ngoài của các tổ chức phi chính phủ trong nước. Bất chấp những hạn chế này, số lượng các tổ chức phi chính phủ độc lập vẫn tiếp tục tăng lên trong năm qua.

Luật pháp và các quy định điều chỉnh các tổ chức phi chính phủ làm hạn chế khả năng tham gia vào vận động chính sách hoặc tiến hành các nghiên cứu ngoài các chủ đề được nhà nước phê duyệt. Ví dụ, Quyết định 97, có hiệu lực năm 2009, nghiêm cấm các tổ chức khoa học xã hội và công nghệ hoạt động trong các lĩnh vực như chính sách kinh tế, chính sách công, các vấn đề chính trị, và một loạt các lĩnh vực khác được coi là nhạy cảm. Chính quyền cũng không cho phép họ tham gia thể hiện công khai các lập trường vận động chính sách.

Vào đầu tháng 5, trong một cuộc bầu cử nội bộ tại thành phố Hồ Chí Minh chọn đại biểu tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nhà văn Việt Nam, chín nhà văn cho biết họ bị loại khỏi danh sách các ứng viên do tham gia vận động thành lập một hội nhà văn độc lập.

c. Tự do tôn giáo[sửa]

Xem Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tại trang web.

d. Tự do đi lại, người lánh nạn trong nước, bảo vệ người tị nạn và người không quốc tịch[sửa]

Hiến pháp quy định quyền tự do đi lại trong nước, ra nước ngoài, di trú, và hồi hương, nhưng chính quyền vẫn áp đặt một số giới hạn về tự do đi lại đối với một số cá nhân, đặc biệt là những người bị kết án về các tội an ninh quốc gia hoặc các tội có liên quan hoặc những người bày tỏ quan điểm chỉ trích chính quyền. Nhìn chung chính quyền có thái độ hợp tác với Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người tị nạn (UNHCR) và với các tổ chức nhân đạo khác trong việc bảo vệ và hỗ trợ người lánh nạn trong nước, người tị nạn, người tị nạn hồi hương, người xin vào các trại tế bần, người không quốc tịch, và những người khác cần có sự hỗ trợ.

Chính phủ cho phép Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người tị nạn thực hiện các chuyến thăm tìm hiểu thực tế và giám sát, song chính quyền địa phương lại theo dõi chặt chẽ tất cả các khía cạnh của những chuyến thăm đó. Một số thành viên của các nhóm dân tộc thiểu số bỏ chạy khỏi Tây Nguyên sang Campuchia, một số do bị đàn áp tôn giáo, quả quyết rằng khi họ trở về, chính quyền Việt Nam đã bắt giữ và thẩm vấn họ, đôi khi lên đến vài ngày. Người nhà của họ cũng cho biết cảnh sát đã theo dõi chặt chẽ những người đã trốn sang Campuchia và cả người nhà của họ.

Đi lại trong nước: Một số nhà bất đồng chính kiến đang bị quản chế hoặc bị quản thúc tại gia bị hạn chế đi lại chính thức, bao gồm Lê Công Định, Lê Thanh Tùng, Nguyễn Phương Uyên, Nguyễn Tiến Trung và Đinh Nhật Uy. Bộ Công an tiếp tục theo dõi và hạn chế có chọn lọc sự đi lại của các nhà hoạt động nổi bật như Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Bắc Truyền, Phạm Bá Hải, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Hồng Quang, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga, và nhiều người khác. Nhiều nhà hoạt động cho biết họ phải dùng các chiến thuật cải trang để tránh những sự hạn chế đi lại này. Các nhà hoạt động khác cho biết việc tự do đi lại trong nước đã cải thiện hơn so với các năm trước đó.

Một số nhà hoạt động cho biết chính quyền đã ngăn họ và người thân ra khỏi nhà khi có các sự kiện nhạy cảm về chính trị. Ví dụ, vào tháng 9, trong kỳ Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam và trong chuyến thăm của các quan chức chính phủ cấp cao, cảnh sát mặc thường phục đã bao vây nhà của nhà hoạt động Trần Thị Nga và một người hàng xóm và ngăn cản họ ra ngoài.

Chính quyền hạn chế việc đi đến một số khu vực nhất định thông qua việc yêu cầu công dân và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam phải xin giấy phép đến thăm các khu vực biên giới; các cơ sở quốc phòng, các khu công nghiệp liên quan đến quốc phòng, các khu “dự trữ chiến lược quốc gia” và những “công trình cực kỳ quan trọng vì mục đích chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội”.

Cảnh sát địa phương yêu cầu công dân phải đăng ký tạm trú khi ngủ qua đêm ở bất kỳ nơi nào bên ngoài nhà riêng của họ; chính quyền dường như có những biện pháp thực thi yêu cầu này một cách nghiêm ngặt hơn ở một số huyện miền núi Tây Bắc và Tây Nguyên. Người mang hộ chiếu nước ngoài cũng phải đăng ký nếu tá túc ở nhà dân, mặc dù không có trường hợp nào bị chính quyền địa phương từ chối cho phép du khách nước ngoài tá túc tại nhà bạn bè hay gia đình họ.

Luật cư trú không được chính quyền triển khai thực hiện một cách nghiêm ngặt và việc di cư từ nông thôn ra thành thị vẫn không giảm. Tuy nhiên, việc di cư không phép đã gây khó khăn cho người dân trong việc xin giấy phép cư trú hợp pháp và hưởng các phúc lợi về giáo dục công cộng và chăm sóc sức khỏe.

Xuất cảnh: Những công dân có ý định di cư đôi khi gặp khó khăn trong quá trình xin hộ chiếu; các nhà chức trách thường tịch thu hộ chiếu, đôi khi là tịch thu không thời hạn.

Việc cấm xuất cảnh ngày càng được tăng cường. Các nhà chức trách cấm và ngăn chặn hàng chục cá nhân đi ra nước ngoài hoặc nhập cảnh vào Việt Nam, giữ hộ chiếu của họ về những tội mơ hồ, hoặc từ chối cấp hộ chiếu cho một số nhà hoạt động mà không giải thích rõ ràng. Những người này bao gồm Nguyễn Hồ Nhật Thành (Paulo Thành Nguyễn), Phạm Chí Dũng, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Hoàng Vi, Bùi Tuấn Lâm, Đinh Xuân Thi, Lê Phúc Hiệp, Nguyễn Lân Thắng, Nguyễn Thị Huyền Trang, Nguyễn Thanh Thủy, Nguyễn Tường Thụy, Ngô Nhật Đăng, Nguyễn Đình Hà, Nguyễn Văn Tráng, Phạm Đắc Đạt, Phạm Lê Vương Các, Nguyễn Văn Viên, Lê Ngọc Thanh, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Thị Nhung, Lê Bá Huy Hào, Mai Xuân Dũng, Võ Văn Tạo, Khổng Hy Thiêm, Uyên Thảo Trần Lê, Nguyễn Thị Phi và Phạm Hà Nam. Mặc dù thời hạn quản thúc đã hết, chính quyền tiếp tục cấm các nhà hoạt động như Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Bá Hải, Phạm Hồng Sơn, Lê Thị Kim Thu, Nguyễn Hồng Quang, và những người khác được nhận hộ chiếu và đi ra nước ngoài.

Di cư và hồi hương: Nhìn chung, chính quyền cho phép các công dân đã di cư được trở về thăm quê hương, mặc dù công an từ chối cấp thị thực nhập cảnh và đôi khi trục xuất một số nhà hoạt động chính trị nổi bật ở nước ngoài.

Bảo vệ người tị nạn[sửa]

Xin tị nạn: Luật không quy định việc cấp quy chế tị nạn và chính phủ cũng không thiết lập hệ thống bảo vệ người tị nạn.

Hồi hương người tị nạn: Theo các tổ chức phi chính phủ nhân quyền quốc tế, chính phủ đã gây áp lực lên Campuchia trong việc hồi hương các thành viên của các nhóm dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên trước đó đã chạy sang Campuchia xin quy chế tị nạn và bảo vệ tránh sự sách nhiễu và các hạn chế về tự do tôn giáo của các quan chức Việt Nam.

Ngày 20 tháng 11, người phát ngôn của Cao ủy Liên Hợp Quốc về Nhân quyền bày tỏ quan ngại về các báo cáo cho rằng chính quyền đã bắt giữ chín công dân Triều Tiên hồi tháng 10 và sau đó chuyển họ sang Trung Quốc, nơi họ có nguy cơ bị gửi trả về Triều Tiên. Người phát ngôn lưu ý rằng, nếu bị hồi hương, những người này sẽ có nguy cơ đối mặt với các vi phạm về nhân quyền nghiêm trọng.

Người không quốc tịch[sửa]

Các nhà chức trách cho biết tính đến năm 2013 họ đã nhập tịch cho hầu như tất cả 10.000 cá nhân không quốc tịch và trước đây thường trú ở Campuchia. Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn (UNHCR) ước tính có gần 200 người đang chờ phê chuẩn chính thức từ chính phủ vào cuối năm.

Phần 3. Tự do tham gia quy trình chính trị[sửa]

Hiến pháp quy định khả năng bầu trực tiếp đại biểu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan nhà nước khác. Mặc dù hiến pháp quy định rằng công dân có quyền bỏ phiếu khi đủ 18 tuổi và ứng cử vào Quốc hội, hoặc Hội đồng nhân dân khi 21 tuổi, nhưng khả năng thay đổi chính phủ một cách dân chủ của công dân bị hạn chế nghiêm ngặt. Đảng Cộng sản Việt Nam sàng lọc tất cả các ứng cử viên.

Trong phiên họp mùa xuân, Quốc hội đã thông qua luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 9. Luật mới này quy định về tỷ lệ các ứng viên chính thức vào Quốc hội là người dân tộc thiểu số (18%) và là phụ nữ (35%) và vào Hội đồng nhân dân là phụ nữ (35%). Luật cho phép các cá nhân đang bị tạm giam và tạm giữ và những người đang bị cải tạo giáo dục bắt buộc và cai nghiện được bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử.

Bầu cử và tham gia chính trị[sửa]

Các cuộc bầu cử gần đây: Cuộc bầu cử gần đây nhất vào năm 2011 lựa chọn các đại biểu Quốc hội đã cho phép cạnh tranh hạn chế giữa các ứng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, mặc dù toàn bộ quy trình bầu cử là không rõ ràng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã lựa chọn và xem xét kỹ lưỡng tất cả các ứng viên. Các ứng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành 458 trong số 500 ghế được bầu. 42 người còn lại là những ứng viên ngoài Đảng.

Theo chính phủ, hơn 99% cử tri đủ điều kiện bỏ phiếu đã đi bỏ phiếu trong cuộc bầu cử năm 2011 - một con số mà các nhà quan sát quốc tế cho là cao một cách khó tin. Cử tri được phép bỏ phiếu theo ủy quyền, và chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm đảm bảo rằng tất cả các cử tri đủ điều kiện đều đi bỏ phiếu bằng cách tổ chức bầu cử theo nhóm, và đảm bảo rằng tất cả các cử tri đủ điều kiện đều đã đi bỏ phiếu.

Quốc hội, mặc dù thành phần phần lớn là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, vẫn tiếp tục thể hiện nhiều nỗ lực để khẳng định vai trò của cơ quan lập pháp. Trong năm qua, Quốc hội đã thông qua cơ chế thực hiện bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với các lãnh đạo cấp cao và đã tổ chức một lần bỏ phiếu bất tín nhiệm.

Đảng phái chính trị và tham gia chính trị: Chương I, Điều 4 của hiến pháp sửa đổi nêu vai trò chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặc dù Điều này không nêu chi tiết các quyền cụ thể, song phần 1 khẳng định vai trò của đảng là “đội tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam” và “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội", một vai trò lớn không trao cho bất cứ thực thể theo hiến pháp nào khác. Phần 2 nêu thêm trách nhiệm của Đảng đối với quần chúng. Phần 3 quy định rằng “tất cả các tổ chức Đảng và Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Bộ Chính trị có vai trò là cơ quan ra quyết định tối cao, mặc dù về mặt nguyên tắc thì Bộ Chính trị phải báo cáo cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Các phong trào đối lập chính trị và các đảng phái chính trị khác được coi là bất hợp pháp.

Ngày 21 tháng 9, công an ở tỉnh Thái Bình đã giam giữ và sau đó cáo buộc cựu tù nhân lương tâm, nhà hoạt động dân chủ Trần Anh Kim ngay trước khi ông này lên kế hoạch khai trương một tổ chức chính trị mới có tên “Lực lượng Quốc dân Dựng cờ Dân chủ” (xem phần 1.d.) .

Chính phủ tiếp tục hạn chế nghiêm ngặt các tranh luận công khai và những chỉ trích đối với nhà nước độc đảng. Tuy nhiên, một số nhóm và cá nhân đã công khai kêu gọi cho phép dân chủ đa đảng. Các nhà phê bình đã thảo luận về những ưu và khuyết điểm của các luật và quy định liên quan đến nhân quyền, bao gồm các sửa đổi trong Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, và dự thảo luật mới về lập hội, tiếp cận thông tin, biểu tình, và tín ngưỡng và tôn giáo. Họ cũng thảo luận các vấn đề chính trị nhạy cảm khác, bao gồm bảo vệ quyền của người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính, chuyển giới và người liên giới tính; các quyền về đất đai và các vấn đề về môi trường.

Sự tham gia của phụ nữ và các dân tộc thiểu số: Luật mới về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân quy định 35% ứng viên chính thức của hai cơ quan này là phụ nữ và 18% ứng viên chính thức đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, phụ nữ tiếp tục có ít đại diện trong các cơ quan chính trị. Có 122 nữ đại biểu Quốc hội (chiếm khoảng 24%), hai nữ bộ trưởng trong bộ máy chính phủ gồm 28 thành viên, hai thành viên nữ (một người dân tộc Thái) trong Bộ Chính trị gồm 16 thành viên và một thành viên nữ trong Tòa án Nhân dân Tối cao. Các dân tộc thiểu số chiếm 78 ghế trong Quốc hội (khoảng 16%); có một nam bộ trưởng là người dân tộc thiểu số trong chính phủ và không có đại biểu nào là người dân tộc thiểu số trong bộ máy Tòa án Nhân dân tối cao.

Phần 4. Tham nhũng và thiếu sự minh bạch trong Chính phủ[sửa]

Luật pháp quy định các hình phạt hình sự đối với hành vi tham nhũng của quan chức, tuy nhiên, chính phủ không phải lúc nào cũng thực thi pháp luật một cách hiệu quả, và các quan chức đôi khi có hành vi tham nhũng mà không bị trừng phạt.

Tham nhũng: Tham nhũng tiếp tục là một vấn đề lớn bất chấp chính phủ đã tăng cường tập trung về vấn đề này trước thềm Đại hội Đảng Cộng sản vào năm 2016. Vào tháng 9, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành báo cáo đánh giá về các thách thức và thành tựu chính trị và kinh tế, trong đó nêu “Tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng... và đặt ra thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu quả quản lý của nhà nước, đe dọa sự sống còn của chế độ”.

Tham nhũng trong giao đất, đấu thầu các dự án xây dựng và cơ sở hạ tầng, và hỗ trợ phát triển chính thức tiếp tục là một vấn đề. Vào tháng 4, một nhà tài trợ nước ngoài cho rằng tham nhũng đã đạt đến mức mà họ sẽ ngừng hỗ trợ các dự án tại Việt Nam.

Cải cách ngành ngân hàng tiếp tục diễn ra trong năm báo cáo, dẫn đến việc bắt giữ ông Nguyễn Xuân Sơn, cựu Chủ tịch Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, với cáo buộc tham nhũng trong thời gian ông đảm nhiệm chức Tổng Giám đốc Ocean Bank. Đây là vụ bắt giữ lãnh đạo cấp cao đầu tiên của một doanh nghiệp nhà nước kể từ năm 2013.

Ngày 11 tháng 9, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội cho biết Thanh tra Chính phủ đã tiến hành hơn 120.000 cuộc thanh tra các quan chức chính phủ và các giao dịch từ ngày 31 tháng 7, và thu hồi 50,3 nghìn tỷ đồng và 4.420 mẫu đất. Thanh tra Chính phủ phát hiện các vi phạm kinh tế với tổng số tiền 201,5 nghìn tỷ đồng trong giai đoạn 2011-15, thu hồi giấy phép đối với hơn 46.900 mẫu đất, và thu hồi 113,88 nghìn tỷ đồng trong 441 vụ liên quan đến tham nhũng.

Ngày 27 tháng 10, một tòa án ở Hà Nội đã kết án sáu lãnh đạo của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam do dính líu đến vụ bê bối tham nhũng liên quan đến hợp đồng đường sắt do Nhật Bản tài trợ.

Tham nhũng trong lực lượng cảnh sát là vấn đề đáng quan ngại ở tất cả các cấp, và cảnh sát đôi khi đã có hành vi vi phạm pháp luật mà không bị trừng phạt. Ngành công an có cơ chế giám sát nội bộ, nhưng cơ chế này cũng chịu ảnh hưởng chính trị.

Luật phòng, chống tham nhũng 2013 cho phép công dân khiếu nại công khai về các thủ tục hành chính không hiệu quả của chính phủ, về các hành vi tham nhũng và chính sách kinh tế, nhưng chính quyền nghiêm cấm việc tập hợp những người bất mãn lại, theo đó những người tổ chức phản đối tham nhũng sẽ bị bắt giữ và sách nhiễu.

Kê khai tài chính: Luật phòng, chống tham nhũng sửa đổi yêu cầu các quan chức cấp cao của chính phủ và các đại biểu Quốc hội phải kê khai thu nhập và tài sản của mình và giải trình những thay đổi so với bản kê khai của năm trước. Tháng 1 năm 2014, Bộ Chính trị đã ban hành chỉ thị yêu cầu kê khai tài sản tăng thêm của các quan chức đang nắm giữ vị trí quản lý. Ngoài ra, các giám sát viên có quyền chất vấn bản kê khai của nhân viên. Mặc dù pháp luật không quy định hình phạt đối với việc không tuân thủ, nhưng Nghị định ban hành hồi tháng 7 năm 2014 lại quy định có thể áp dụng hình thức khiển trách, cảnh cáo, đình chỉ, hoặc sa thải công chức không tuân thủ. Năm 2014, chính phủ cho biết 99% công chức đã thực hiện kê khai tài chính.

Tiếp cận thông tin của chính phủ: Luật pháp không quy định về việc công chúng được truy cập thông tin của chính phủ, và chính phủ thường không cấp quyền truy cập đối với những thông tin như vậy cho công dân Việt Nam hay người nước ngoài, kể cả các phương tiện truyền thông nước ngoài. Theo quy định của pháp luật, Công báo đã công bố hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật của chính phủ trong các ấn bản hàng ngày, nhưng lại không công bố các văn bản của Đảng Cộng sản, ví dụ như các chỉ thị của Bộ Chính trị. Chính phủ và Quốc hội đều có trang web bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Các quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nói chung có thể được tiếp cận thông qua trang web của tòa, mặc dù việc lấy thông tin của chính phủ là khó khăn đối với các cá nhân.

Phần 5. Thái độ của Chính phủ đối với điều tra quốc tế và điều tra phi chính phủ về các cáo buộc vi phạm quyền con người[sửa]

Chính phủ không cho phép các tổ chức nhân quyền địa phương hoặc tư nhân được thành lập hoặc hoạt động, cũng như không dung thứ cho các tổ chức hay cá nhân chỉ trích công khai về các thực tiễn quyền con người. Chính phủ sử dụng nhiều phương cách để ngăn chặn các chỉ trích trong nước về các chính sách quyền con người, trong đó bao gồm biện pháp giám sát; tạm giam; truy tố và bỏ tù; can thiệp vào thư từ cá nhân; và hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do hội họp.

Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế khác: Nhìn chung, chính phủ cấm các cá nhân liên hệ trực tiếp với các tổ chức nhân quyền quốc tế, nhưng nhiều nhà hoạt động vẫn bất chấp lệnh cấm này. Chính phủ cho phép đại diện của Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người tị nạn, và chính phủ nước ngoài đến thăm Tây Nguyên.

Các cơ quan về nhân quyền của Chính phủ: Không có các thanh tra viên, các ủy ban nhân quyền hoặc các ủy ban lập pháp được thành lập cụ thể để giải quyết các vấn đề về quyền con người. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cơ quan chịu trách nhiệm đào tạo tất cả các quan chức cấp cao, giám sát Viện Nhân quyền Việt Nam – đây là viện thực hiện các trao đổi nghiên cứu với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài về các thông lệ quốc tế tốt nhất về nhân quyền. Chính phủ tiếp tục thảo luận song phương về các vấn đề quyền con người với một số chính phủ nước ngoài và tổ chức các cuộc hội đàm chính thức liên quan đến quyền con người, bao gồm thông qua các cuộc đối thoại được tổ chức hàng năm.

Phần 6. Phân biệt đối xử, bạo hành xã hội và nạn buôn người[sửa]

Luật pháp nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, giới tính, khuyết tật, ngôn ngữ, hoặc địa vị xã hội; tuy nhiên, việc thực thi những quy định này của luật pháp vẫn còn chưa đồng đều. Chính phủ tiếp tục thể hiện quan điểm thoáng hơn và tôn trọng các quyền dành cho người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính, chuyển giới và liên giới.

Phụ nữ[sửa]

Hiếp dâm và bạo lực gia đình: Luật pháp nghiêm cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng bạo lực đối với phụ nữ cũng như nghiêm cấm hành vi lợi dụng một người không có khả năng tự vệ. Luật pháp cũng coi hiếp dâm là một tội, bao gồm cả hành vi hiếp dâm bạn đời. Kẻ phạm tội hiếp dâm có thể phải chịu hình phạt từ hai đến bảy năm tù giam. Trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng, bao gồm hiếp dâm có tổ chức, có hành vi phạm tội lặp lại, hoặc gây hại nghiêm trọng cho nạn nhân thì mức án có thể từ bảy đến 15 năm tù. Các cơ quan chức năng đã truy tố các trường hợp phạm tội hiếp dâm một cách đầy đủ, nhưng chính phủ không công bố số liệu thống kê về số vụ bắt giữ, truy tố, kết án và trừng phạt đối tượng phạm tội này.

Các cơ quan chức năng coi hành vi bạo lực gia đình là các vụ dân sự, trừ trường hợp nạn nhân bị thương tích lên tới hơn 11%. Luật pháp quy định cụ thể các hành vi cấu thành bạo lực gia đình, đồng thời, giao trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan chính phủ và các bộ ngành khác nhau, bên cạnh đó, cũng quy định các mức hình phạt đối với người phạm tội từ cảnh cáo, quản chế đến phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ là khá phổ biến. Vào tháng 2 năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ghi nhận 192.000 vụ bạo lực gia đình từ năm 2009 đến giữa năm 2013, trong đó có 136.700 vụ liên quan đến bạo lực đối với bạn đời, chủ yếu là bạo lực với vợ, hơn 19.700 vụ liên quan đến bạo lực với người cao tuổi, và hơn 27.800 vụ liên quan đến bạo lực đối với trẻ em.

Vào tháng 11, các tổ chức phi chính phủ đã công bố kết quả hai cuộc điều tra về bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái. Một cuộc khảo sát cho biết 58% phụ nữ đã lập gia đình bị lạm dụng về thể chất hoặc tình dục ít nhất một lần trong đời, thường là do bạn đời là nam giới hoặc thành viên trong gia đình. Một nghiên cứu khác được thực hiện từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 1 năm 2014 tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy 83% phụ nữ và trẻ em gái ở Hà Nội và 91% tại thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua ít nhất một trong các hình thức quấy rối tình dục trong đời. Người trả lời là sinh viên cho biết họ đã bị huýt sáo và trêu chọc, trong khi những nhân viên văn phòng được hỏi cho biết họ bị quấy rối qua thư điện tử và tin nhắn. Theo khảo sát, hầu hết các vụ quấy rối đều xảy ra trên đường phố.

Các tổ chức phi chính phủ và những người giúp đỡ nạn nhân cho rằng nhiều quy định pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình còn yếu, và chính phủ không cung cấp số liệu thống kê về việc bắt giữ, truy tố, kết án, hoặc trừng phạt. Các quan chức chính phủ thừa nhận bạo lực gia đình là một mối quan ngại xã hội đáng kể, và truyền thông đã thảo luận vấn đề này một cách công khai. Mặc dù lực lượng cảnh sát và hệ thống pháp luật nói chung vẫn chưa đủ để đối phó với các vụ án liên quan đến bạo lực gia đình, song với sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước, chính phủ hiện vẫn đang tiếp tục đào tạo về pháp luật cho lực lượng cảnh sát, các luật sư và các quan chức trong hệ thống pháp lý. Sự kỳ thị xã hội cũng khiến nhiều nạn nhân không dám đối mặt, do lo sợ bị bạn đời hoặc gia đình họ quấy rối.

Một số tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế đã nỗ lực giải quyết vấn đề bạo lực gia đình. Ở các thành phố lớn, các tổ chức phi chính phủ trong nước vận hành các đường dây nóng dành cho các nạn nhân. Trung tâm Phụ nữ và Phát triển, được hỗ trợ bởi Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, cũng có đường dây nóng trên toàn quốc, dù không được quảng bá một cách rộng rãi ở khu vực nông thôn. Mặc dù khu vực nông thôn thường thiếu các nguồn lực tài chính để cung cấp đường dây nóng và xây dựng các trung tâm lánh nạn, song luật pháp quy định phải thành lập "những địa chỉ tin cậy" để phụ nữ có thể chuyển đến ở tại một gia đình khác trong khi chính quyền địa phương và lãnh đạo cộng đồng cố gắng giáo dục kẻ bạo hành và giải quyết khiếu nại. Có 300 địa chỉ như thế trên khắp cả nước, tất cả đều được thành lập thông qua Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ở cấp xã, phường. Nhiều phụ nữ vẫn chấp nhận cuộc sống hôn nhân bị bạo hành hơn là phải đối đầu với sự kỳ thị xã hội và gia đình cũng như e ngại về sự bất ổn về kinh tế.

Với sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ quốc tế, chính phủ tiếp tục hỗ trợ các cuộc hội thảo và hội nghị chuyên đề nhằm mục đích giáo dục phụ nữ và nam giới về bạo hành gia đình và về các quyền của phụ nữ, đồng thời, nhấn mạnh vấn đề này thông qua các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng. Tháng 2 năm 2014, Thủ tướng đã phê duyệt chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020. Các tổ chức phi chính phủ địa phương đã liên kết với Hội Liên hiệp Phụ nữ để tham gia vào các mối quan ngại của phụ nữ, đặc biệt là vấn đề bạo hành đối với phụ nữ và vấn đề buôn bán phụ nữ và trẻ em.

Quấy rối tình dục: Luật pháp nghiêm cấm hành vi quấy rối tình dục ở nơi làm việc (xem phần 7.d.). Các ấn phẩm và đào tạo về các quy định phẩm chất đạo đức đối với các quan chức chính phủ và công nhân viên chức cũng không đề cập đến vấn đề quấy rối tình dục.

Nạn nhân bị quấy rối tình dục có thể liên hệ với các tổ chức xã hội như Hội Phụ nữ để yêu cầu can thiệp. Nếu nạn nhân là thành viên của công đoàn thì đơn khiếu nại cũng có thể được nộp cho các cán bộ công đoàn. Trong trường hợp nghiêm trọng, nạn nhân có thể kiện người phạm tội với tội danh “làm nhục người khác” và từ đó xác định các hình phạt bao gồm cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. Tuy nhiên, trong năm qua các vụ kiện hoặc truy tố liên quan đến hành vi quấy rối tình dục vẫn còn chưa được biết đến và hầu hết các nạn nhân đều không muốn tố cáo kẻ phạm tội một cách công khai.

Quyền sinh sản: Hiến pháp quy định xã hội, gia đình và mọi công dân có nghĩa vụ thực hiện “chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình”. Pháp luật khẳng định quyền của cá nhân trong việc lựa chọn biện pháp tránh thai, khám phụ khoa, điều trị, kiểm tra sức khỏe trong thời kỳ mang thai và được tiếp cận dịch vụ y tế khi sinh nở tại các cơ sở y tế. Nhìn chung, chính phủ Việt Nam đã thực thi các quy định pháp luật này.

Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020 áp dụng cho tất cả các công dân và cố gắng duy trì số con trung bình của mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản là 1,8. Chính phủ, chủ yếu thông qua các chiến dịch truyền thông rộng rãi, ra sức khuyến khích các cá nhân thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Một chỉ thị của Bộ chính trị có quy định về khiển trách đảng viên nếu họ sinh con thứ ba, thôi không cho giữ chức vụ nếu sinh con thứ tư và khai trừ Đảng nếu sinh con thứ năm. Vi phạm chỉ thị này cũng làm giảm cơ hội được đề bạt, và có thể dẫn đến chấm dứt hợp đồng lao động.

Phân biệt đối xử: Pháp luật quy định về bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực đời sống, nhưng phụ nữ vẫn tiếp tục phải đối mặt với sự phân biệt đối xử của xã hội. Mặc dù phần lớn các đạo luật và các quy định pháp luật đều bảo vệ các quyền của phụ nữ trong hôn nhân và tại nơi làm việc, đồng thời, có nhiều quy định pháp lý kêu gọi đối xử ưu đãi đối với nữ giới, song phụ nữ không phải lúc nào cũng được đối xử bình đẳng trong tuyển dụng, giáo dục, hoặc nhà ở, đặc biệt là ở các vùng nông thôn (xem thêm phần 7.d.).

Chênh lệch về giới trong giáo dục đã giảm, nhưng vẫn còn những khoảng cách nhất định. Theo báo cáo do Cơ quan phụ nữ Liên Hợp Quốc tài trợ năm 2013, trình độ chuyên môn của lao động nữ thấp hơn so với lao động nam. Có sự khác biệt đáng kể về hồ sơ đào tạo giữa nam giới và nữ giới ở cấp đại học. Trong giáo dục đại học, số lượng sinh viên nữ theo học các chương trình công nghệ ứng dụng ít hơn rất nhiều so với số lượng nam giới.

Một báo cáo nữa do Liên Hợp Quốc tài trợ về bảo trợ xã hội đối với phụ nữ và trẻ em gái lưu ý rằng phụ nữ di cư làm việc trong các lĩnh vực không chính thức gặp khó khăn về nhà ở tiêu chuẩn. Những phụ nữ này sống trong các căn phòng tạm bợ, không an toàn và thiếu các dịch vụ cơ bản.

Mặc dù pháp luật quy định về quyền thừa kế bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ, song trên thực tế, phụ nữ vẫn phải đối mặt với sự phân biệt đối xử về văn hóa: Con trai thường được thừa kế tài sản nhiều hơn con gái, trừ khi được quy định khác trong văn bản pháp lý. Một nghiên cứu thực hiện vào tháng 12 năm 2014 cho thấy phụ nữ có ít thông tin hơn nam giới về tiếp cận đất đai và việc thích con trai hơn con gái vẫn còn tiếp diễn, mặc dù luật pháp quy định mọi công dân đều có quyền bình đẳng.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ trực thuộc chính phủ vẫn tiếp tục nỗ lực thúc đẩy quyền phụ nữ, trong đó bao gồm quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế và pháp lý, quyền được bảo vệ trước hành vi bạo hành của bạn đời. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cũng đã vận hành các chương trình tài chính tiêu dùng tín dụng vi mô và các chương trình khác để thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ. Bản Kế hoạch Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 của chính phủ khẳng định rằng nam giới và nữ giới phải bình đẳng trong việc được hưởng cơ hội, tham gia, và các lợi ích về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, tính đến cuối năm, chính phủ chưa đưa ra cam kết tài chính nào để thực hiện chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020. Chính phủ đã thông qua các quy định về phân bổ ngân sách dựa trên giới như là một phần của Luật ngân sách Nhà nước trong năm qua.

Lựa chọn giới tính dựa trên cơ sở giới: Theo Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc, tỷ lệ giới tính bé trai/bé gái trung bình của trẻ sơ sinh ở Việt Nam năm 2013 là 113,8/100. Tỷ lệ mất cân bằng của bé trai sơ sinh so với bé gái vẫn tiếp tục gia tăng, đặc biệt là ở một số khu vực giàu có tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Chính phủ thừa nhận vấn đề này (giảm tỷ lệ chênh lệch nam-nữ là một mục tiêu nổi bật của Chương trình quốc gia về bình đẳng giới) và tiếp tục tiến hành các biện pháp để giải quyết tình trạng đó. Bộ Y tế đã nhận được thêm vốn và nguồn lực để giải quyết sự mất cân bằng giới này. Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ký kết chương trình phối hợp nhằm giải quyết sự mất cân bằng giới tính, tập trung truyền thông để thay đổi hành vi, và xây dựng các chương trình thí điểm tại 20 tỉnh. Mặc dù không có chương trình cụ thể để giải quyết sự mất cân bằng giới tính, nhưng Hội Liên hiệp Phụ nữ đã lồng ghép chủ đề này vào các chương trình và các hoạt động hiện tại của hội.

Trẻ em[sửa]

Khai sinh: Theo quy định của luật, bất cứ ai có ít nhất cha hoặc mẹ là người Việt Nam thì đều được công nhận là công dân Việt Nam, mặc dù những người có cha mẹ không phải là người Việt Nam cũng có thể được cấp quy chế công dân trong một vài trường hợp nhất định. Không phải tất cả các em bé mới sinh đều được đăng ký khai sinh ngay lập tức, thường là do người dân vẫn còn thiếu hiểu biết hoặc chưa thấy thật cần thiết về vấn đề này. Luật pháp yêu cầu phải trình giấy khai sinh khi sử dụng các dịch vụ công cộng, chẳng hạn như giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Chính vì vậy, các bậc cha mẹ, đặc biệt là người dân tộc thiểu số, không đăng ký khai sinh sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng được nhập học và được chính phủ bảo trợ chăm sóc sức khỏe đối với con cái họ.

Giáo dục: Giáo dục là bắt buộc, miễn học phí, và phổ cập cho đến khi trẻ 14 tuổi, mặc dù nhiều gia đình được yêu cầu phải trả nhiều loại phí khác nhau. Theo một chương trình trợ cấp của chính phủ, học sinh dân tộc thiểu số được miễn các loại học phí. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng không phải lúc nào cũng thực hiện đúng quy định này, hoặc chưa thực hiện đồng đều đối với các bé trai và bé gái, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, nơi mà ngân sách của chính phủ và gia đình dành cho giáo dục còn rất hạn chế và đóng góp của trẻ em trong lực lượng lao động nông nghiệp vẫn được đánh giá cao.

Xâm hại trẻ em: Năm 2011, Liên Hợp Quốc và Tổng cục Thống kê cho biết 25% trẻ em là nạn nhân của các hành vi xâm hại theo như báo cáo của các bà mẹ trong một nghiên cứu về bạo lực gia đình năm 2006. Theo một báo cáo trên báo chí, Bộ Công an và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ghi nhận năm 2012 có khoảng 1.000 trẻ em bị xâm hại tình dục mỗi năm. Các tổ chức phi chính phủ nêu lên sự khó khăn trong việc có được thông tin chính xác về tình trạng xâm hại tình dục trẻ em và trẻ vị thành niên, điều đó có nghĩa là số lượng các vụ xâm hại trên thực tế có thể còn cao hơn nữa. Chính phủ không công bố thông tin về mức độ nghiêm trọng của vấn đề này, cũng không cho biết những nỗ lực trong việc đấu tranh chống các hành vi xâm hại.

Kết hôn sớm và bị ép buộc: Theo luật, độ tuổi kết hôn tối thiểu là 18 tuổi đối với nữ và 20 tuổi đối với nam, và luật quy định việc giúp tổ chức kết hôn hoặc kết hôn với người chưa đủ tuổi quy định là hành vi vi phạm pháp luật. Người nào đứng ra dàn xếp những cuộc hôn nhân sớm này có thể bị phạt với các mức độ khác nhau, từ phạt vi phạm hành chính đến phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. Theo cuộc tổng điều tra dân số năm 2009, tỷ lệ kết hôn dưới 18 tuổi chiếm khoảng 16% ở miền núi Tây Bắc và khoảng 11% ở khu vực Tây Nguyên – đây là hai khu vực nông thôn nghèo, xa xôi hẻo lánh, tuy nhiên không có thêm dữ liệu của chính phủ. Chính quyền cấp tỉnh và Hội Liên hiệp phụ nữ chịu trách nhiệm nâng cao nhận thức về hậu quả của việc kết hôn sớm.

Bóc lột tình dục trẻ em: Hành vi bóc lột tình dục trẻ em dưới 16 tuổi là bất hợp pháp. Pháp luật quy định các hành vi mua bán, tước đoạt sự tự do của trẻ em cũng như tất cả các hành vi liên quan đến mại dâm trẻ em và cưỡng bức lao động trẻ em là phạm tội. Án phạt cho tội danh này là từ 3 năm đến tù chung thân và phạt tiền từ 5 đến 50 triệu đồng. Pháp luật cũng quy định hình phạt tù đối với các hành vi liên quan đến mại dâm trẻ em, trong đó có hành vi chứa chấp mại dâm trẻ em (từ 12 đến 20 năm tù), môi giới mại dâm trẻ em (từ 7 đến 15 năm tù), và mua dâm người vị thành niên (từ 3 đến 15 năm tù). Tương tự, pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi đối xử tàn bạo, làm nhục, bắt cóc, mua bán, và cưỡng bức trẻ em tham gia bất kỳ hoạt động nào có hại cho sự phát triển lành mạnh của trẻ; đồng thời quy định về sự bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.

Tuổi được quan hệ tình dục có sự đồng thuận tối thiểu là 18. Hành vi hiếp dâm bị coi là bất hợp pháp và có thể bị kết án tù chung thân hoặc tử hình. Hình phạt cho hành vi quan hệ tình dục với trẻ vị thành niên từ 16 đến 18 tuổi là từ 5 đến 10 năm tù giam tùy từng trường hợp cụ thể. Hình phạt đối với tội hiếp dâm trẻ em trong độ tuổi từ 13 và dưới 16 là từ bảy đến 15 năm tù giam. Nếu làm nạn nhân có thai, loạn luân, hoặc người phạm tội là người giám hộ của nạn nhân thì mức án tăng lên 12 đến 20 năm tù giam. Luật quy định tất cả các trường hợp quan hệ tình dục với trẻ dưới 13 tuổi đều được coi là hiếp dâm trẻ em, và người phạm tội có thể bị kết án từ 12 đến 20 năm tù giam, tù chung thân hoặc tử hình. Chính phủ thực thi pháp luật và những kẻ phạm tội hiếp dâm phải nhận những bản án nghiêm khắc. Việc sản xuất, phân phối, phổ biến, hoặc bán các sản phẩm khiêu dâm trẻ em là bất hợp pháp và có thể bị phạt tù từ 3 đến 10 năm tù giam.

Trẻ em lang thang: Các tổ chức phi chính phủ độc lập ước tính có khoảng 23.000 đến 25.000 trẻ em sống lang thang trên đường phố, đôi khi các em bị cảnh sát ngược đãi hoặc quấy rối.

Bắt cóc trẻ em quốc tế: Việt Nam không phải là thành viên của Công ước Hague năm 1980 về các khía cạnh dân sự đối với hành vi bắt cóc trẻ em quốc tế.

Thái độ thù địch đối với người Do Thái[sửa]

Có rất ít người Do Thái sinh sống và làm việc tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Không có báo cáo nào cho thấy ở Việt Nam có những hành vi chống lại người Do Thái.

Nạn buôn người[sửa]

Xem Báo cáo về nạn buôn người của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trên trang web.

Người khuyết tật[sửa]

Hiến pháp có các quy định bảo vệ người khuyết tật về thể chất và tâm thần. Luật pháp nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử hoặc ngược đãi đối với người khuyết tật về thể chất và tâm thần; khuyến khích họ làm việc và đảm bảo quyền bình đẳng của họ trong việc tiếp cận với chỗ ở, giáo dục, việc làm, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, giao thông vận tải, và đào tạo hướng nghiệp. Chính phủ tiếp tục tăng cường phối hợp với các chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và các công ty tư nhân nhằm rà soát các quy định pháp luật điều chỉnh việc thực hiện điều ước quốc tế, tiến hành nghiên cứu khả thi, chia sẻ các thông lệ quốc tế tốt nhất, tổ chức các buổi hội thảo cung cấp thông tin, ủng hộ tuyển dụng người khuyết tật và tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức.

Pháp luật quy định việc xây dựng và tu bổ các tòa nhà làm việc của chính phủ và các công trình công cộng lớn phải tính đến các phương án di chuyển thuận lợi cho người khuyết tật, nhưng việc thực thi quy định này còn rời rạc. Bộ Xây dựng vẫn có các cơ quan kiểm tra việc chấp hành trong việc loại bỏ các rào cản đối với người khuyết tật, đồng thời tiến hành đào tạo về thực tiễn xây dựng cho các thanh tra viên và các công ty kiến trúc tại hơn 22 tỉnh thành. Một số tòa nhà và các cơ sở mới tại những thành phố đô thị lớn có các đường dốc và các cửa vào dành cho người khuyết tật.

Tiếp cận giáo dục đối với trẻ em khuyết tật, đặc biệt là trẻ bị điếc, và trẻ bị khiếm khuyết về mặt trí tuệ vẫn còn cực kỳ hạn chế. Bộ Giáo dục và Đào tạo ước tính có khoảng 500.000 trẻ em khuyết tật đã được tham gia học tập tại các trường tiểu học, trung học và đại học.

Pháp luật ủng hộ và khuyến khích các công ty tuyển dụng người khuyết tật, tuy nhiên các rào cản xã hội và thái độ đối với người khuyết tật vẫn còn là vấn đề (xem phần 7.d.)

Năm 2011, chính phủ hỗ trợ người khuyết tật bỏ phiếu bằng việc đưa các hòm phiếu đến tận nhà của những người khuyết tật không thể đi đến nơi bỏ phiếu. Pháp luật không hạn chế quyền bỏ phiếu của người khuyết tật, tuy nhiên nhiều điểm bỏ phiếu rất khó tiếp cận, nhất là đối với những người gặp khó khăn trong việc đi lại, di chuyển.

Mặc dù việc cung cấp các dịch vụ xã hội cho người khuyết tật còn hạn chế, song chính phủ vẫn nỗ lực hỗ trợ thành lập các tổ chức trợ giúp người khuyết tật và tham vấn ý kiến của các tổ chức đó khi xây dựng hoặc rà soát các chương trình quốc gia, chẳng hạn như Chương trình giảm nghèo quốc gia, Luật giáo dục nghề nghiệp và các chính sách giáo dục khác. Ủy ban Quốc gia về Người khuyết tật, Liên hiệp hội người khuyết tật Việt Nam và các thành viên của các tổ chức này từ nhiều bộ ngành tiếp tục phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước để tăng cường nỗ lực bảo vệ, hỗ trợ, tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ giáo dục và việc làm của người khuyết tật. Chính phủ điều hành một mạng lưới nhỏ các trung tâm phục hồi chức năng để cung cấp dịch vụ phục hồi chức năng lâu dài cho bệnh nhân nội trú. Một số tỉnh thành, các cơ quan chính phủ và các trường đại học cũng có những chương trình được thiết kế đặc biệt dành riêng cho người khuyết tật.

Quốc gia/Chủng tộc/Dân tộc thiểu số[sửa]

Luật pháp nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng sự phân biệt đối xử xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số đã tồn tại từ lâu và tiếp tục dai dẳng. Các quan chức chính phủ ở một số tỉnh, nhất là ở khu vực cao nguyên, đã có những hành vi trái với pháp luật của quốc gia trong việc phân biệt đối xử đối với người dân tộc thiểu số hoặc thành viên của các nhóm tôn giáo thiểu số. Bất chấp tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng kể, vẫn tồn tại khoảng cách kinh tế giữa các cộng đồng dân tộc thiểu số và cộng đồng dân tộc Việt (Kinh), mặc dù một số nơi, trong đó có khu vực Tây Nguyên, miền núi Tây Bắc, và một phần của đồng bằng sông Cửu Long, các nhóm dân tộc thiểu số vẫn chiếm một tỷ lệ lớn dân số.

Các tổ chức nhân quyền quốc tế tiếp tục cáo buộc chính quyền sách nhiễu và hăm dọa các thành viên của một số nhóm dân tộc thiểu số, bao gồm người vùng cao, thường được gọi là “người Thượng” và người dân tộc thiểu số Công giáo ở Tây Nguyên. Có nhiều báo cáo cho biết thành viên của các nhóm dân tộc thiểu số này đã chạy sang Campuchia và Thái Lan, xin quy chế tị nạn và tự xưng là nạn nhân của sự đàn áp tôn giáo. Chính phủ khẳng định những người này là người di cư bất hợp pháp đã rời Việt Nam để tìm kiếm các cơ hội kinh tế. Các nhóm nhân quyền cáo buộc chính phủ đã gây áp lực lên Campuchia trong việc từ chối cấp quy chế tị nạn cho những người này và đề nghị hồi hương họ về Việt Nam.

Chính phủ đã thực hiện các chính sách tại các vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số thông qua ba ban liên ngành, đó là Ban Chỉ đạo Tây Bắc, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên và Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ. Chính phủ cũng tiếp tục theo dõi chặt chẽ một số nhóm dân tộc thiểu số ở miền núi, đặc biệt là một số nhóm dân tộc ở khu vực Tây Nguyên và miền núi Tây Bắc.

Nhà chức trách tiếp tục bỏ tù nhiều người dân tộc thiểu số bị cáo buộc có hành vi liên hệ với các tổ chức ở nước ngoài mà chính phủ cho là có mục đích ly khai, viện dẫn các quy định về an ninh quốc gia trong Bộ luật hình sự và đã kết án những người này nhiều năm tù. Ngoài ra, các nhà hoạt động thường cho biết lực lượng công an cũng hiện diện đông hơn trong khu vực trong những dịp nhạy cảm và các ngày lễ.

Chính phủ tiếp tục nỗ lực giải quyết khoảng cách kinh tế giữa các nhóm dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh thông qua các chương trình đặc biệt nhằm trợ cấp các cơ sở giáo dục và y tế, mở rộng mạng lưới đường giao thông, điện khí hóa các cộng đồng nông thôn và các khu vực làng bản. Chính phủ tiếp tục giao đất cho các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thông qua một chương trình đặc biệt.

Pháp luật quy định về phổ cập giáo dục dành cho trẻ em bất kể tôn giáo hay sắc tộc, và đồng bào dân tộc thiểu số không phải trả học phí. Chính phủ mở các trường học đặc biệt cho trẻ em dân tộc thiểu số, và đã có 300 trường nội trú cho trẻ em dân tộc thiểu số ở 50 tỉnh, hầu hết ở vùng núi Tây Bắc, khu vực Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm cả các cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, cộng với điều kiện ưu đãi đặc biệt khi nhập học, các chương trình định hướng và các suất học bổng kèm ưu đãi nhập học ở trình độ đại học. Chính phủ cũng đã làm việc với các quan chức địa phương để xây dựng chương trình giảng dạy ngôn ngữ địa phương, nhưng chương trình này dường như chỉ mới được thực hiện toàn diện ở khu vực Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long và tại một số ít các khu vực miền núi Tây Bắc. Cũng có một vài trường kỹ thuật và dạy nghề được chính phủ trợ cấp dành cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Chính phủ phát sóng chương trình phát thanh và truyền hình bằng ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở một số vùng nhất định. Chính phủ cũng yêu cầu các quan chức dân tộc Kinh làm việc tại các vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống phải học ngôn ngữ địa phương. Chính quyền cấp tỉnh tiếp tục các sáng kiến tăng việc làm, giảm khoảng cách thu nhập giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh, giúp các quan chức địa phương trở nên nhạy cảm và dễ tiếp thu văn hóa và truyền thống của các dân tộc thiểu số.

Chính phủ dành điều kiện ưu đãi cho các công ty trong nước và nước ngoài đầu tư ở khu vực miền núi nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Chính phủ cũng duy trì các chương trình phát triển cơ sở hạ tầng tại những khu vực nghèo đói, nhiều dân tộc thiểu số sinh sống và xây dựng các chương trình khuyến nông cho các khu vực nông thôn xa xôi hẻo lánh.

Hội đồng Dân tộc của Quốc hội cùng với các ban chỉ đạo cấp tỉnh về dân tộc thiểu số tiếp tục hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng và giải quyết một số vấn đề liên quan đến giảm nghèo và tăng tỷ lệ biết chữ.

Các hành vi xâm hại, phân biệt đối xử và hành vi bạo lực khác dựa trên khuynh hướng tình dục và bản dạng giới tính[sửa]

Luật pháp chưa giải quyết việc phân biệt đối xử dựa trên khuynh hướng tình dục hoặc bản dạng giới tính. Phân biệt đối xử và kỳ thị xã hội vẫn là hiện tượng phổ biến, và truyền thông trong nước cho biết vẫn có hiện tượng quấy rối những người chuyển giới, kể cả những người đang bị giam giữ.

Tình dục đồng thuận giữa những người đồng giới không phải là hành vi phạm tội. Vào tháng 11, Quốc hội đã thông qua Bộ luật dân sự sửa đổi trong đó có các quy định mới hợp pháp hóa quyền của những người chuyển giới trong việc thay đổi giới tính, quyền được chăm sóc y tế và thay đổi bản dạng giới tính của họ.

Năm 2013, Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường, một tổ chức phi chính phủ hoạt động vì quyền lợi của các nhóm thiểu số, cho biết có khoảng 1,65 triệu người ở Việt Nam được cho là người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới. Vào tháng 8, hơn 1.000 người đã tham gia sự kiện diễu hành niềm tự hào Việt Pride tại Thành phố Hồ Chí Minh và có các chuỗi sự kiện Việt Pride tại 17 tỉnh và thành phố trên cả nước, bao gồm cuộc diễu hành xe máy của hơn 300 người tại Hà Nội.

Kỳ thị xã hội đối với những người nhiễm HIV và AIDS[sửa]

Pháp luật có quy định về bảo vệ các quyền cụ thể của người bị nhiễm HIV/AIDS, bao gồm xét nghiệm tự nguyện; bảo mật danh tính; quyền được học hành, làm việc, chăm sóc y tế, và không bị phân biệt đối xử; và các cơ chế bồi thường pháp lý trong trường hợp vi phạm các quyền đó.

Theo nghiên cứu Chỉ số đánh giá mức độ kỳ thị 2014, có 11,2% số người bị nhiễm HIV, 16,6% mại dâm nữ, 15,5% người tiêm chích ma túy, và 7,9% nam giới có quan hệ tình dục đồng tính cho biết có hành vi vi phạm về các quyền trong 12 tháng trước cuộc khảo sát. Tuy nhiên, các cuộc Điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ cho thấy sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người dương tính với HIV vẫn còn phổ biến, với khoảng 70% nữ giới được hỏi cho biết họ đã phải đối mặt với một số hình thức kỳ thị và phân biệt đối xử. Người bị nhiễm HIV tiếp tục phải đối mặt với các rào cản trong việc tiếp cận và duy trì việc làm, với 4,2% số người được hỏi cho biết họ bị mất việc làm hoặc thu nhập và 6,7% cho biết người tuyển dụng lao động đã từ chối không tạo cơ hội việc làm hoặc nghề nghiệp cho họ.

Mặc dù Việt Nam đã đạt được tiến bộ trong việc thay thế tạm giữ hành chính người sử dụng ma túy bằng thủ tục tố tụng tư pháp và gửi các bệnh nhân nhiễm HIV điều trị ngoại trú, nhưng không có số liệu báo cáo chính thức nào về việc tiếp cận điều trị HIV hoặc điều trị có hỗ trợ bằng thuốc đối với các rối loạn lạm dụng chất trong số những người bị giam giữ, đáng chú ý nhất là tại các trung tâm cai nghiện bắt buộc. Theo ước tính của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Việt Nam duy trì khoảng 17.680 người tại hệ thống các “trung tâm 06” với tỷ lệ nhiễm HIV cao ở mức 13%.

Phần 7. Quyền của người lao động[sửa]

a. Tự do lập hội và quyền thương lượng tập thể[sửa]

Luật pháp không cho phép người lao động được tổ chức và tham gia vào các tổ chức công đoàn độc lập do họ lựa chọn. Mặc dù người lao động có quyền lựa chọn việc tham gia công đoàn và cấp công đoàn (cấp địa phương hay còn gọi là “cấp cơ sở”, cấp tỉnh, hoặc cấp trung ương), song tất cả các công đoàn đều nằm trong khuôn khổ pháp lý và chịu sự kiểm soát của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (TLĐLĐVN) - cơ quan công đoàn duy nhất tại Việt Nam. TLĐLĐVN là tổ chức công đoàn cấp trên và chịu sự kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam, có thẩm quyền phê duyệt và quản lý các liên đoàn lao động trực thuộc được tổ chức theo ngành và theo địa phương. TLĐLĐVN báo cáo trực tiếp Bộ Chính trị và không thuộc thẩm quyền của Thủ tướng hay bộ ngành nào.

Mặc dù Luật Công đoàn quy định trách nhiệm của các cơ sở công đoàn trong việc “tuyên truyền thông tin vận động và hướng dẫn người lao động thành lập và tham gia tổ chức công đoàn”, tuy nhiên Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chỉ được đại diện cho người lao động ở những doanh nghiệp “không có tổ chức công đoàn” khi có đề nghị của người lao động. Nhưng cả luật này và cả các quy định liên quan đều không quy định cách thức để người lao động yêu cầu sự đại diện đó, và cũng không nói rõ cần tối thiểu bao nhiêu người lao động để đưa ra lời yêu cầu như vậy. Ngoài ra, Bộ luật Lao động không nhất quán với luật công đoàn và không quy định rõ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chỉ được đại diện người lao động trong các doanh nghiệp không có tổ chức công đoàn khi có yêu cầu của người lao động.

Theo luật này, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng có trách nhiệm trong việc giáo dục người lao động về các quyền và nghĩa vụ của họ, đại diện cho người lao động (“thỏa ước lao động tập thể”) trong thương lượng tập thể và các tranh chấp cá nhân của người lao động, tổ chức và lãnh đạo các cuộc đình công hợp pháp và phối hợp với các cơ quan nhà nước về các quan hệ lao động, an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, và các vấn đề khác. Theo luật, đóng đoàn phí là bắt buộc đối với các công đoàn viên và chủ sử dụng lao động trong nước cũng như nước ngoài. Thành viên công đoàn phải đóng 1% tiền lương của mình cho công đoàn, và chủ sử dụng lao động đóng 2% cho mỗi nhân viên, dù nhân viên đó có là thành viên công đoàn hay không. Để tăng trách nhiệm giải trình đối với việc sử dụng phí công đoàn, luật nêu rõ quy chế sử dụng quỹ cho các công đoàn viên, và người sử dụng lao động trong nước và nước ngoài.

Pháp luật cũng cho phép các tổ chức công đoàn trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được quyền thương lượng tập thể nhân danh người lao động về các vấn đề liên quan đến lương và phụ cấp, thời giờ làm việc, làm thêm giờ, an toàn lao động và sức khỏe nghề nghiệp. Các tranh chấp lao động tập thể vượt quá thẩm quyền phải được hòa giải thông qua hội đồng hoà giải. Trong trường hợp hội đồng không thể giải quyết vấn đề thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp quận/huyện có thẩm quyền giải quyết. Bộ luật Lao động cho phép các tổ chức công đoàn và người sử dụng lao động được tạo điều kiện và hỗ trợ việc thương lượng tập thể và yêu cầu các doanh nghiệp phải thiết lập một cơ chế giúp cho ban lãnh đạo doanh nghiệp và người lao động trao đổi thông tin và tham vấn về các chủ đề ảnh hưởng đến điều kiện làm việc. Các quy định yêu cầu phải tiến hành các cuộc đối thoại tại nơi làm việc 3 tháng một lần.

Luật cũng cho phép các cuộc đình công trong một số hoàn cảnh nhất định, và quy định một quy trình hòa giải và trọng tài phức tạp và rườm rà trước khi được phép đình công hợp pháp. Luật cấm đình công trong những lĩnh vực kinh doanh phục vụ công chúng, hoặc những lĩnh vực mà chính phủ cho là thiết yếu đối với nền kinh tế quốc dân và quốc phòng, cụ thể là đình công trong các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất điện; bưu chính viễn thông; vận tải, giao thông và quản lý vận tải biển và hàng không; các công trình công cộng; và sản xuất dầu khí. Luật định nghĩa “các dịch vụ thiết yếu” rộng hơn so với các chuẩn mực quốc tế. Luật cũng cho Thủ tướng chính phủ quyền được chấm dứt những cuộc đình công bị coi là gây hại đến nền kinh tế quốc dân hay an toàn công cộng.

Các cuộc đình công không xuất phát từ tranh chấp lao động tập thể hoặc không tuân theo quy trình mà luật quy định thì sẽ bị coi là bất hợp pháp. Luật có sự phân biệt giữa tranh chấp “về lợi ích” và tranh chấp “về quyền”, và trái với các tiêu chuẩn quốc tế, luật cấm đình công đối với các tranh chấp “về quyền”, hoặc cấm các cuộc đình công phát sinh từ các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện hoặc giải thích các quy định của pháp luật hoặc các thỏa thuận có tính ràng buộc pháp lý khác, như các thỏa thuận thương lượng tập thể. Luật cũng cấm đình công trong các lĩnh vực cụ thể và theo cấp ngành. Trước khi người lao động được phép tổ chức đình công, họ phải khiếu nại theo một quy trình với hội đồng hòa giải (hoặc một cán bộ hòa giải lao động cấp quận/huyện nếu doanh nghiệp không có tổ chức công đoàn). Nếu hai bên không đạt được thỏa thuận chung thì công đoàn phải nộp đơn khiếu nại lên hội đồng trọng tài cấp tỉnh. Các công đoàn (hoặc đại diện của người lao động tại những nơi không có tổ chức công đoàn) có quyền kháng nghị quyết định của hội đồng trọng tài cấp tỉnh lên tòa án nhân dân tỉnh, hoặc có quyền tổ chức đình công. Luật cũng quy định rằng những người đình công sẽ không được hưởng lương trong thời gian không đi làm. Luật cấm trả đũa người đình công. Theo luật, các cá nhân tham gia các cuộc đình công mà bị tòa án nhân dân coi là bất hợp pháp và gây thiệt hại cho chủ sử dụng lao động thì phải bồi thường các thiệt hại đó. Cá nhân người lao động có thể trực tiếp đưa vụ việc lên hệ thống tòa án nhân dân, nhưng trong hầu hết các trường hợp, họ chỉ được phép làm như vậy sau khi đã cố gắng hòa giải nhưng thất bại.

Vào tháng 10, chính phủ đã ban hành Nghị định 88 về xử phạt vi phạm hành chính đối với việc can thiệp vào các hoạt động công đoàn. Cụ thể, nghị định quy định mức tiền phạt từ ba đến 10 triệu đồng đối với hành vi phân biệt đối xử người lao động thành lập hoặc tham gia công đoàn, hoặc thực hiện các hoạt động công đoàn, và đối với bất kỳ hành động nào gây bất lợi đến hoạt động của công đoàn.

Chính phủ tiếp tục thực hiện một số biện pháp để cải thiện các quan hệ lao động, bao gồm phối hợp với một số chính quyền cấp tỉnh để xây dựng và thực hiện các kế hoạch tổng thể về quan hệ lao động, tập trung vào vấn đề hòa giải và cải cách công đoàn. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng phối hợp với các tổ chức phi chính phủ quốc tế để tăng cường năng lực trong việc hỗ trợ tổ chức và thương lượng tập thể tại khu vực tư nhân.

Lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có vai trò ảnh hưởng đến các quyết định quan trọng thông qua việc soạn thảo, sửa đổi, hoặc góp ý về pháp luật lao động, thông qua xây dựng mạng lưới an sinh xã hội và đề ra các tiêu chuẩn về y tế, an toàn lao động và mức lương tối thiểu. Các nhà hoạt động và những người đại diện cho các tổ chức độc lập của người lao động (không thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) thường phải đối mặt với hành vi phân biệt đối xử.

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết, từ tháng 1 đến tháng 11, đã xảy ra 262 cuộc đình công, xấp xỉ số vụ xảy ra trong cùng kỳ năm 2014. Khoảng 61% số cuộc đình công này xảy ra ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (chủ yếu là các công ty Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản). Không cuộc đình công nào trong số này tuân theo quy trình hòa giải và trọng tài, do đó, chính quyền coi đây là những cuộc đình công "tự phát" bất hợp pháp. Chính phủ đã không thực hiện hành động nào chống lại những người lao động tham gia đình công, trong một số trường hợp còn chủ động đứng ra làm trung gian hòa giải để đi đến thỏa thuận có lợi cho người lao động. Trong một số trường hợp, chính phủ đã phạt tiền nặng những chủ sử dụng lao động, đặc biệt là với các công ty nước ngoài, do các doanh nghiệp này đã có những hành động bất hợp pháp đối với người lao động, dẫn đến các cuộc đình công.

Ngày 26 tháng 3, các công nhân tại một nhà máy trong khu công nghiệp Tân Tạo ở Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã đình công phản đối những thay đổi đề xuất trong luật bảo hiểm xã hội. Những thay đổi này quy định hầu hết công nhân phải đợi lĩnh lương hưu khi họ đã có ít nhất 20 năm làm việc và/hoặc đến tuổi nghỉ hưu chính thức. Các báo cáo trên truyền thông ước tính có từ 80.000 đến 90.000 công nhân đã tham gia cuộc đình công này. Trong những ngày đình công, các quan chức cấp thứ trưởng của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tham gia đối thoại ghi nhận các nhu cầu của những người tham gia đình công và bày tỏ hối tiếc về vụ việc. Cuộc đình công chấm dứt vào ngày 2 tháng 4 khi Thủ tướng đồng ý đề nghị Quốc hội chỉnh lý điều luật sửa đổi gây tranh cãi trong Luật bảo hiểm xã hội mới.

Bản báo cáo tháng 7 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và chương trình Better Work Vietnam (Việc làm tốt hơn ở Việt Nam) của Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) ghi nhận nhiều trường hợp chủ sử dụng lao động can thiệp vào các hoạt động của người lao động. Báo cáo cho biết 62% các nhà máy phân biệt đối xử hoặc can thiệp vào các hoạt động của công đoàn. Tương tự, các số liệu cho thấy có khoảng 45% số nhà máy có các cán bộ quản lý tiếp tục ngồi trong các ban chấp hành công đoàn, việc này làm suy yếu chức năng của công đoàn với vai trò là tiếng nói đại diện hợp pháp cho người lao động. Đồng thời, báo cáo cho biết 7% số nhà máy đã phát hiện các vụ việc có sự can thiệp của quản lý trực tiếp và công khai trong các hoạt động công đoàn, và số ít (8 chủ sử dụng lao động đã thực sự “cố” can thiệp) vẫn được phát hiện đã ngăn chặn công nhân tham gia các cuộc họp nếu không có mặt của người quản lý. Cũng có các báo cáo đáng tin cậy cho rằng người sử dụng lao động có xu hướng sử dụng hợp đồng ngắn hạn hoặc hợp đồng thử việc để trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ mang lại lợi ích hợp pháp cho người lao động, chẳng hạn như bảo hiểm thất nghiệp, hoặc để ngăn cản người lao động gia nhập các tổ chức công đoàn.

Nhiều tổ chức phi chính phủ quốc tế về lao động đã phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong việc đào tạo cho các đại diện công đoàn thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về tổ chức lao động, thương lượng tập thể, và các vấn đề công đoàn khác. Do việc thành lập hoặc tìm cách thành lập các tổ chức liên đoàn lao động độc lập với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là bất hợp pháp, nên không có tổ chức phi chính phủ trong nước về lao động do chính phủ phê duyệt tham gia vào việc tổ chức lao động. Tuy nhiên, các tổ chức phi chính phủ về lao động trong nước đã nỗ lực nâng cao nhận thức về quyền của người lao động và các vấn đề an toàn và sức khỏe nghề nghiệp và hỗ trợ lao động nhập cư trong và ngoài nước.

Các nhà hoạt động công đoàn độc lập tìm cách thành lập các liên đoàn lao động tách biệt với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc thông báo cho người lao động về các quyền của họ đôi khi gặp phải sự sách nhiễu của chính quyền. Ví dụ, ngày 22 tháng 11, cảnh sát đã tạm giữ các thành viên của phong trào Lao động Việt là Đỗ Thị Minh Hạnh và Trương Minh Đức trong vài giờ sau khi giải tán cuộc họp giữa hai người này và hơn 800 công nhân bị một công ty may mặc Hàn Quốc sa thải. Bà Minh Hạnh cáo buộc cảnh sát mặc thường phục đã trói ngược tay bà ra sau lưng, đẩy bà ngã xuống đất, và đánh vào mặt bà, dẫn đến phải nhập viện. Ông Đức cho biết cảnh sát cáo buộc hai người họ vì đã cung cấp “các tài liệu bất hợp pháp” và đã tịch thu điện thoại di động, máy tính và máy ảnh của họ. Họ cho biết phong trào Lao động Việt đã và đang hỗ trợ người lao động kể từ ngày 9 tháng 11, sau khi nhà máy kia quyết định chấm dứt hợp đồng lao động mà không bồi thường theo quy định của pháp luật. Đại diện chính quyền cho biết bà Hạnh và ông Đức đã gây rối trật tự công cộng và tuyên truyền thông tin sai lệch về tranh chấp lao động; họ chối rằng công an địa phương không tấn công hoặc tịch thu đồ đạc của hai người. Trong một diễn biến khác, ngày 25 tháng 12, cảnh sát đã hành hung và bắt tạm giam Hoàng Đức Bình, Đỗ Thị Minh Hạnh và các nhà hoạt động ôn hòa về quyền lao động khác tại Thành phố Hồ Chí Minh.

b. Cấm lao động cưỡng bức hoặc lao động bắt buộc[sửa]

Luật pháp nghiêm cấm mọi hành vi lao động cưỡng bức hoặc lao động bắt buộc. Một nghị định của chính phủ quy định hình phạt từ ba năm đến 10 năm tù đối với tội buôn bán lao động. Trong năm qua không có trường hợp truy tố nào đối với các vụ án lao động cưỡng. Bộ luật hình sự mới đã hình sự hóa việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hoặc “sử dụng các thủ đoạn khác” đối với lao động cưỡng bức. Hình phạt là phạt tiền từ 50 triệu đến 200 triệu đồng và/hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm hoặc đến 12 năm tù nếu có các tình tiết tăng nặng. Bộ luật hình sự mới có quy định riêng về việc hình sự hóa buôn bán người hoặc tiếp nhận người để lao động cưỡng bức. Nếu nạn nhân là người trưởng thành, mức phạt là phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu đồng và/hoặc phạt từ năm năm đến 10 năm tù, hoặc đến 20 năm tù nếu có các tình tiết tăng nặng. Nếu nạn nhân là người dưới 16 tuổi, mức phạt là phạt tiền từ 50 đến 200 triệu đồng và/hoặc phạt từ bảy năm đến 12 năm tù, hoặc chung thân nếu có các tình tiết tăng nặng.

Các tổ chức phi chính phủ tiếp tục cho biết lao động cưỡng bức đối với người lớn và trẻ em tại Việt Nam vẫn còn tiếp diễn. (xem phần 7.c.).

Chính phủ tiếp tục giam giữ người sử dụng ma túy tại “các cơ sở cai nghiện bắt buộc” (còn gọi là “các trung tâm 06”). Một báo cáo năm 2014 do Diễn đàn Quyền Lao động quốc tế ban hành cho thấy lao động cưỡng bức và ngược đãi tiếp tục diễn ra tại các trung tâm 06, bao gồm những người bị giam giữ bị ép buộc sản xuất hàng hoá cho các công ty tư nhân. Trong năm qua có bằng chứng chứng minh lao động cưỡng bức tiếp tục xảy ra tại một số trung tâm cai nghiện. Với các sửa đổi luật năm 2013, chính quyền có quyền đưa tội phạm ma túy vào các trung tâm như vậy chỉ sau một quá trình tư pháp, không bằng nghị định hành chính như trước đây (xem thêm phần 1.d.). Tháng 12 năm 2014, Thủ tướng ban hành Nghị quyết số 98 về cải cách các trung tâm 06. Nghị quyết yêu cầu biến phần lớn các trung tâm 06 thành các trung tâm điều trị tự nguyện và tái khẳng định chính sách, ban hành lần đầu tiên vào năm 2013, rằng phải thực hiện quá trình tư pháp khi đưa một cá nhân vào trung tâm 06 bắt buộc. Nghị quyết cũng kêu gọi giảm số lượng các cơ sở cai nghiện bắt buộc và quy định các trung tâm 06 phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị. Trong năm qua, một số trung tâm giam giữ đã chuyển sang hệ thống cơ sở điều trị tự nguyện.

Theo báo cáo, các công ty xuất khẩu lao động, phần lớn có liên kết với các doanh nghiệp nhà nước và các đơn vị môi giới không có giấy phép, đã thu tiền của người lao động đang mong muốn được xuất khẩu lao động với mức phí cao hơn quy định của pháp luật mà không bị xử phạt. Những lao động này phải gánh những khoản nợ lớn, và do đó họ dễ bị lao động cưỡng bức, kể cả việc phải lao động để trừ nợ.

Xem thêm Báo cáo về Nạn buôn người của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tại trang web.

c. Cấm lao động trẻ em và quy định độ tuổi làm việc tối thiểu[sửa]

Luật pháp quy định độ tuổi lao động tối thiểu là 18. Các doanh nghiệp tuyển dụng trẻ em ở độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi phải có trách nhiệm chăm sóc người lao động chưa thành niên về mặt “lao động, tiền lương, sức khỏe và giáo dục” trong quá trình lao động. Luật pháp nghiêm cấm trẻ em dưới 18 tuổi làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Luật quy định trẻ em từ 15 đến dưới 18 tuổi chỉ được làm việc tối đa tám giờ mỗi ngày và 40 giờ mỗi tuần. Trẻ em từ 13 đến 15 tuổi chỉ được làm các công việc nhẹ (theo quy định của Bộ LĐTBXH), và chủ sử dụng lao động phải cân nhắc đến các điều kiện học hành, làm việc, an toàn lao động và vệ sinh. Pháp luật cho phép trẻ em đến đăng ký tại các trung tâm đào tạo thương mại, một hình thức đào tạo nghề, từ năm 14 tuổi mà không cần có sự đồng ý của cha mẹ.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm về việc thực thi các chính sách và quy định của pháp luật về lao động trẻ em. Các quan chức chính phủ có thể phạt tiền và truy tố chủ sử dụng lao động trong các trường hợp vi phạm các quy định pháp luật về lao động trẻ em. Là một phần của Kế hoạch hành động quốc gia vì trẻ em và Chương trình Quốc gia về bảo vệ trẻ em của chính phủ, chính phủ tiếp tục các nỗ lực nhằm ngăn chặn lao động trẻ em, đặc biệt là đối tượng trẻ em ở khu vực nông thôn, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và trẻ em có nguy cơ tiếp xúc với các điều kiện làm việc độc hại.

Kết quả khảo sát toàn quốc về lao động trẻ em 2012 của chính phủ ban hành năm 2014 cho thấy lao động trẻ em là một vấn đề lớn và ước tính có hơn 2,8 triệu trẻ em hoạt động kinh tế trong cả nước, trong đó có 1,75 triệu là lao động trẻ em. Cuộc khảo sát xác định lao động trẻ em là những trẻ em tham gia vào các hoạt động kinh tế - “các hoạt động sản xuất kinh tế, thương mại và dịch vụ phục vụ tiêu dùng hoặc mua bán có trả lương hoặc không được trả lương” – làm việc hơn một giờ mỗi ngày hoặc năm giờ trong một tuần đối với trẻ em từ 5 đến 11 tuổi, hơn bốn giờ một ngày hoặc 24 giờ trong một tuần đối với trẻ em từ 12-14 tuổi, hoặc hơn bảy giờ một ngày hoặc 42 giờ trong một tuần đối với trẻ em từ 15 đến 17 tuổi.

Cụ thể, 60% lao động trẻ em là ở trong lĩnh vực nông nghiệp, 22% trong lĩnh vực dịch vụ, và 18% trong lĩnh vực xây dựng và sản xuất. Trong số 1,75 triệu lao động trẻ em, 85% ở các vùng nông thôn và 15% ở các khu vực đô thị. Khoảng 60% lao động trẻ em là nam giới. Các cuộc khảo sát cho biết 52% trẻ em đã bỏ học, và chỉ có 24% thuộc các hộ gia đình dưới mức nghèo của đất nước. Ngoài ra, 38% lao động thuộc các hộ gia đình có thu nhập gấp đôi ngưỡng nghèo. Bản báo cáo cũng cho biết có gần 569.000 lao động trẻ em (khoảng 32%) làm việc trung bình hơn 42 giờ mỗi tuần. Trong số những đứa trẻ này, 96% không đi học.

Một số trẻ em là nạn nhân của lao động cưỡng bức và làm công trừ nợ tại các nhà máy tại các gia đình ở đô thị, đặc biệt là trong lĩnh vực may mặc không chính thức gần thành phố Hồ Chí Minh, trong các mỏ vàng và các nhà máy gạch tư nhân ở nông thôn, cũng như trong các nhà hàng tại các trung tâm đô thị lớn.

d. Phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp[sửa]

Luật pháp nghiêm cấm phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp dựa trên giới tính, sắc tộc, khuyết tật, địa vị xã hội, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, và tình trạng nhiễm HIV/AIDS. Luật pháp ủng hộ và khuyến khích tuyển dụng người khuyết tật.

Theo luật, doanh nghiệp không được sa thải lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, hoặc chăm con nhỏ dưới một tuổi trừ khi doanh nghiệp đóng cửa. Chủ sử dụng lao động không được ép buộc động nữ đang mang thai từ 7 tháng trở lên hoặc đang chăm con nhỏ dưới một tuổi làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, hay ở các địa điểm cách xa nhà của họ. Luật quy định nguyên tắc trả lương như nhau cho các công việc giống nhau. Luật pháp nghiêm cấm quấy rối tình dục ở nơi làm việc; tuy nhiên, theo Tổ chức Lao động Thế giới, các quy định pháp luật này chưa cụ thể và khả năng khó được thực hiện.

Luật không cấm phân biệt đối xử dựa trên quan điểm chính trị, tuổi tác, ngôn ngữ, nguồn gốc quốc gia, khuynh hướng tình dục hoặc bản dạng giới tính. Ngoài ra, không có luật nào cấm chủ sử dụng lao động hỏi về tình trạng gia đình, ý định kết hôn hoặc bắt đầu hoặc chăm lo gia đình trong các buổi phỏng vấn xin việc.

Chính phủ đã không thực thi hiệu quả các luật liên quan đến phân biệt đối xử về việc làm. Hành vi vi phạm quy định pháp luật về phân biệt đối xử bao gồm phạt tiền, gồm phạt hành chính lên tới 50 đến 75 triệu đồng đối với hành vi vi phạm các quy định cấm quấy rối tình dục. Tuy nhiên, hình phạt là không đủ để ngăn chặn hành vi phân biệt đối xử về việc làm. Trong năm qua, chính phủ đã có một số hành động nhằm giải quyết sự phân biệt đối xử về việc làm đối với người khuyết tật. Ví dụ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành hướng dẫn các sở điều chỉnh chương trình đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho người khuyết tật phù hợp với nhu cầu đa dạng của họ. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũng đã ban hành chỉ thị yêu cầu tất cả các tỉnh dành 20% ngân sách đào tạo nghề cho người khuyết tật và đặt mục tiêu 10% tổng số học viên là người khuyết tật. Các công ty có tối thiểu 51% người lao động là người khuyết tật sẽ được vay vốn ưu đãi đặc biệt của chính phủ.

Hoạt động tuyển dụng mang tính phân biệt đối xử vẫn tồn tại, thường liên quan đến giới tính, tuổi tác và tình trạng hôn nhân. Phụ nữ làm việc trong khu vực công sẽ nghỉ hưu ở tuổi 55, ngoại trừ những người có cấp hàm Bộ trưởng hoặc những người có bằng tiến sĩ hoặc là giáo sư, so với độ tuổi 60 ở nam giới. Các doanh nghiệp có phụ nữ làm lãnh đạo chiếm khoảng 25% trong tổng số hơn 300.000 doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có phụ nữ làm lãnh đạo tiếp tục ít được tiếp cận tín dụng và các thị trường quốc tế cũng như không có đầy đủ kiến thức về quản lý tài chính và hoạt động, bên cạnh gánh nặng về các trách nhiệm xã hội và gia đình. Nhiều phụ nữ cho biết họ nhận được mức lương thấp hơn so với đồng nghiệp nam.

Luật pháp nghiêm cấm ưu tiên tuyển dụng dựa trên cơ sở giới; mặc dù các tổ chức phi chính phủ cho rằng sự phân biệt đối xử đó vẫn xảy ra, và khó chứng minh được các cáo buộc. Các rào cản về xã hội và thái độ vẫn là những vấn đề đối với việc làm cho người khuyết tật.

e. Điều kiện làm việc có thể chấp nhận được[sửa]

Mức lương tối thiểu đối với doanh nghiệp dao động từ 2,4 triệu đồng mỗi tháng đến 3,5 triệu đồng mỗi tháng, tùy theo khu vực. Theo luật, Hội đồng Tiền lương quốc gia gồm các đại diện từ Bộ Lao động Thương binh Xã hội, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, sẽ xác định mức lương tối thiểu vùng. Hội đồng Tiền lương Quốc gia đã nhất trí tăng mức lương tối thiểu thêm 12,4%, có hiệu lực vào ngày 01 tháng 1 năm 2016. Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, mức lương tối thiểu mới sẽ đáp ứng 87% đến 90% tiêu chuẩn làm việc tối thiểu. Trái lại, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cho rằng mức lương tối thiểu chỉ đáp ứng 72% mức sống tối thiểu.

Luật pháp quy định số giờ làm việc trong điều kiện bình thường là 8 giờ mỗi ngày, số giờ nghỉ bắt buộc là 24 giờ mỗi tuần. Số giờ làm thêm được trả lương gấp rưỡi mức lương trong điều kiện làm việc bình thường, được trả gấp đôi nếu làm thêm vào các ngày cuối tuần và gấp ba lần nếu làm thêm vào các ngày lễ hoặc vào các ngày nghỉ phép được hưởng lương. Luật cũng quy định giới hạn tối đa làm thêm giờ không quá 50% số giờ làm việc bình thường mỗi ngày, không quá 30 giờ mỗi tháng và 200 giờ trong một năm, nhưng vẫn có ngoại lệ trong trường hợp đặc biệt tối đa là 300 giờ làm thêm một năm theo quy định của chính phủ sau khi đã tham vấn với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các đại diện chủ lao động. Pháp luật cũng quy định số ngày nghỉ phép hàng năm là 12 đến 16 ngày, tùy vào loại hình công việc.

Ngày 25 tháng 6, quốc hội đã thông qua Luật an toàn vệ sinh lao động, trong đó mở rộng sự bảo vệ pháp lý và các nỗ lực phòng ngừa đối với các ngành nghề không chính thức. Luật mới quy định công tác bảo đảm an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, đưa ra các thủ tục cho người lao động là nạn nhân trong các vụ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, và quy định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong các lĩnh vực an toàn và sức khỏe nghề nghiệp. Luật không quy định về quyền của người lao động trong việc thoát khỏi các tình huống gây nguy hiểm đến sức khỏe hoặc sự an toàn mà không ảnh hưởng tới việc làm của họ. Bộ luật cũng quy định việc “cho thuê lại lao động”, một hình thức việc làm mới, giúp bảo vệ những người lao động bán thời gian và người giúp việc gia đình.

Không rõ là chính phủ thi hành nghiêm ngặt đến mức nào các quy định pháp lý về tiền lương, giờ làm việc, phúc lợi hoặc an toàn nghề nghiệp và các hạn chế về sức khỏe. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban nhân dân và các tổ chức công đoàn địa phương chịu trách nhiệm thi hành luật, nhưng việc thi hành này chưa thường xuyên vì nhiều lý do, trong đó phải kể đến lý do nguồn vốn ít và thiếu cán bộ thực thi pháp luật đã qua đào tạo. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết các cơ quan chức năng không phải lúc nào cũng truy tố những hành vi vi phạm. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã thừa nhận những bất cập trong hệ thống thanh tra lao động của mình, và nhấn mạnh rằng hiện chưa có đủ số thanh tra viên lao động trên toàn quốc. Theo các quan chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cả nước có 492 thanh tra viên lao động, bao gồm cả chuyên trách và kiêm nhiệm. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã chỉ ra và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã thừa nhận chính mức tiền phạt còn thấp đối với các công ty vi phạm pháp luật về lao động khiến cho hình phạt này không đạt được hiệu quả răn đe đối với các hành vi vi phạm. Số tiền phạt thông thường từ 1,065 triệu đến 106,5 triệu đồng tùy hành vi vi phạm.

Tiếp tục có các báo cáo đáng tin cậy cho biết các nhà máy thường vi phạm quy định về số giờ làm thêm tối đa và quy định về số ngày nghỉ. Những người lao động di cư, gồm những người đi tìm công ăn việc làm trong nước, là những người dễ bị tổn thương nhất và thường phải chịu những điều kiện làm việc nguy hiểm. Những người lao động khác thường làm việc trong những ngành nghề không chính thức, có cả những người thuộc các nhóm sắc tộc thiểu số. Hiện tượng bị thương khi làm việc do sức khỏe kém, điều kiện an toàn lao động và đào tạo nhân viên không đầy đủ ở nơi làm việc vẫn là một vấn đề quan ngại. Các vụ tai nạn lớn trong công nghiệp và xây dựng xảy ra thường xuyên. Ví dụ, vào tháng 3, một giàn giáo lớn tại công trường xây dựng trong một khu công nghiệp do Đài Loan đầu tư tại tỉnh Hà Tĩnh đã đổ sập khiến 16 người chết và 27 người bị thương. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ước tính mỗi tháng có khoảng 50 công nhân thiệt mạng trong các vụ tai nạn công nghiệp.

- Xem thêm tại trang web.