Bộ Giáo luật (Công giáo)/Quyển I

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
Bộ Giáo luật (Công giáo) của Giáo hội Công giáo Rôma
Quyển I: Những quy tắc Tổng quát



  • Điều 1: Những Điều của Bộ Luật nầy chỉ liên quan đến Giáo Hội Latinh
  • Điều 2: Thường thường, Bộ Luật không ấn định những nghi lễ phải giữ khi cử hành phụng vụ, vì thế những luật phụng vụ hiện hành vẫn còn hiệu lực, trừ khi có luật nào trái với các Điều của Bộ Luật nầy.
  • Điều 3: Các Điều của Bộ Luật nầy không bãi bỏ cũng không sửa đổi những hiệp ước Tông Tòa đã ký với các Nhà Nước hay các xã hội chính trị khác; vì thế các hiệp ước ấy vẫn giữ hiệu lực như hiện nay, mặc dầu Bộ Luật nầy có những qui định ngược lại.
  • Điều 4: Các quyền thủ đắc cũng như các đặc ân cho đến nay đã được Tông Tòa ban cho thể nhân hay pháp nhân, đáng được sử dụng và chưa bị thu hồi thì vẫn còn nguyên vẹn, trừ khi những Điều của Bộ Luật nầy minh nhiên thu hồi.
  • Điều 5:
    • 5.1: Những tục lệ phổ quát hay đặc lập hiện còn hiệu lực mà nghịch với những qui định của các điều luật nầy, và bị chính những Điều của Bộ luật nầy phi bác, đều hoàn toàn bị bãi bỏ và cũng không được cho phục hồi trong tương lai. Các tục lệ khác cũng phải coi là bị bãi bỏ, trừ khi Bộ Luật minh nhiên định liệu cách khác, nhưng những tục lệ đã có hằng trăm năm hay lâu đời, thì có thể châm chước, nếu theo sự phán đoán của Đấng Thường Quyền, tùy nơi, tùy người, không thể bỏ được.
    • 5.2: Những tục lệ ngoại luật, phổ quát hay đặc lập cho tới nay còn hiệu lực, thì cứ giữ nguyên.
  • Điều 6:
    • 6.1: Khi Bộ Luậy nầy có hiệu lực, thì sẽ bãi bỏ:
      • Bộ Luật ban hành năm 1917.
      • Các luật khác, hoặc phổ quát hoặc đặc lập nghịch với những qui định của Bộ Luật nầy, trừ khi Bộ Luật nầy minh nhiên định liệu cách khác về những luật đặc lập.
      • Bất cứ hình luật nào, hoặc phổ quát hoặc đặc lập đã do Tông Tòa ban hành, trừ những luật mà Bộ Luật nầy bảo lưu.
      • Cả những luật phổ quát khác có tính cách kỷ luật liên quan đến vấn đề nào mà Bộ Luật nầy đã soạn lại toàn bộ.
    • 6.2: Các Điều của Bộ Luật nầy, trong mức độ lấy lại luật cũ, cũng phải được giải thích theo truyền thống Giáo Luật.


TIẾT I

LUẬT GIÁO HỘI
  • Điều 7: Luật được thiết lập khi được công bố.
  • Điều 8:#1 . Các luật phổ quát của Giáo Hội được công bố khi đăng trong “ Acta Apostolicae Sedis ” (Công báo Tông Tòa) - trừ những trường hợp có qui định một lối công bố khác, - và chỉ có hiệu lực sau trọn ba tháng kể từ ngày ghi trên số “ Acta ” , trừ những luật do bản chất sự việc bắt buộc tức khắc, hoặc chính luật đã đặc biệt và minh nhiên ấn định một thời hạn ngắn hơn hay dài hơn để có hiệu lực.
  1. 2 . Luật đặc lập được công bố theo thể thức nhà làm luật ấn định và khởi sự buộc sau một tháng kể từ ngày công bố, trừ khi chính luật đó ấn định một thời hạn khác.
  • Điều 9:Luật nhằm tương lai không nhằm quá khứ, trừ khi rõ ràng định liệu về quá khứ.
  • Điều 10: Chỉ những luật nào minh nhiên ấn định hành động là vô hiệu hoặc nhân thân là vô năng, mới được coi là luật vô hiệu hóa hoặc vô năng hóa.
  • Điều 11:Những luật thuần túy Giáo Hội buộc những người được rửa tội trong Giáo Hội Công Giáo hoặc được nhận vào Giáo Hội ấy, đã có đủ trí khôn và - trừ khi luật minh nhiên định liệu cách khác - đã trọn 7 tuổi.
  • Điều 12:#1. Luật phổ quát đã ban bố cho những ai thì buộc họ phải giữ bất cứ ở nơi nào.
  1. 2 . Còn ở địa hạt nào luật phổ quát không có hiệu lực thì tất cả những ai hiện đang ở đó không buộc phải giữ.
  1. 3 . Những luật được thiết lập cho một địa hạt riêng nào buộc những người mà các luật đó được lập ra cho họ khi họ có gia cư hay chuẩn cư ở đó và đồng thời hiện đang ở đó, vẫn giữ nguyên qui định của Điều 13.
  • Điều 13:#1. Những luật đặc lập không được suy đoán là đối nhân, nhưng là đối địa, trừ khi thấy rõ thể khác.
  1. 2 . Những kiều cư: Không buộc giữ những luật đặc lập của địa hạt mình bao lâu vắng mặt, trừ khi nếu vi phạm thì có hại cho địa hạt riêng của họ hoặc những luật ấy là đối nhân.

Cũng không buộc giữ các luật của địa hạt họ đang trú ngụ, trừ những về trật tự công cộng hoặc những luật xác định trọng thức của các hành vi hoặc những luật về bất động sản nằm trong địa hạt ấy.

  1. 3 . Những người phiêu cư buộc phải giữ cả những luật phổ quát lẫn luật đặc lập đang có hiệu lực nơi họ trú ngụ.
  • Điều 14:Các luật, kể cả những luật vô hiệu hóa và vô năng hóa, khi hồ nghi về pháp luật thì không buộc, còn khi hồ nghi về sự kiện thì Vị Thường Quyền có thể chuẩn chước, miễn là nếu việc chuẩn chước dành riêng cho Thẩm quyền nào mà Thẩm quyền ấy vẫn quen chuẩn chước.
  • Điều 15:#1. Không biết hoặc lầm lẫn về những luật vô hiệu hóa hay vô năng hóa, không cản trở hiệu quả của những luật ấy, trừ khi minh nhiên ấn định cách khác.
  1. 2 . Không được suy đoán là không biết hay lầm lẫn về luật hoặc về hình phạt hoặc về việc riêng của mình hay về việc công nhiên của người khác. Còn về việc không công nhiên của người khác thì được suy đoán như vậy, cho đến khi minh chứng ngược lại.
  • Điều 16:#1. Người chính thức giải thích luật là chính nhà làm luật và người được vị nầy ủy quyền.
  1. 2 . Sự giải thích chính thức trình bày theo hình thức luật, thì có giá trị như chính luật và phải được công bố. Nếu chỉ là minh định những từ ngữ của luật tự nó đã chính xác thì có giá trị hồi tố; nếu thu hẹp hoặc nới rộng luật hay giải thích luật hồ nghi thì không có giá trị hồi tố.
  1. 3 . Sự giải thích theo hình thức phán quyết của tòa án hoặc hình thức hành vi hành chánh trong một vụ riêng biệt thì không có giá trị luật và chỉ buộc những người và liên quan đến những sự việc mà lời giải thích nhằm tới.
  • Điều 17:Luật Giáo Hội phải được hiểu theo nghĩa đen của từ ngữ trong văn bản và văn mạch. Nếu còn hồ nghi và tối nghĩa, thì tham chiếu những điều khoản song đối nếu có, và tham chiếu mục đích của luật cũng như hoàn cảnh và ý của Nhà làm luật.
  • Điều 18:Những luật ấn định hình phạt hay hạn chế tự do sử dụng các quyền lợi hoặc hàm chứa một ngoại lệ, thì phải giải thích theo nghĩa hẹp.
  • Điều 19:Nếu không có qui định minh nhiên của luật phổ quát hay đặc lập hoặc không có tục lệ về một vấn đề nào, thì sự vụ - trừ phi là hình vụ - phải giải quyết theo những luật đã ban hành trong những trường hợp tương tự, theo những nguyên tắc tổng quát của luật áp dụng với sự tương bình của Giáo Luật, chiếu theo án lệ và cách thực hành của Giáo Triều Rôma và theo ý kiến chung xưa nay của các nhà thông thạo.
  • Điều 20:Luật sau bãi bỏ hoặc sửa đổi luật trước, nếu luật sau đã minh nhiên qui định như vậy, hoặc trực tiếp nghịch với luật trước hoặc luật sau đã sắp xếp lại toàn bộ nội dung luật trước. Nhưng luật phổ quát không hề sửa đổi luật đặc lập hay luật đặc biệt, trừ khi luật đã minh nhiên định liệu cách khác.
  • Điều 21: Khi hồ nghi thì không được suy đoán rằng luật trước đã bị thu hồi, nhưng luật sau phải hiểu theo luật trước và bao nhiêu có thể phải được dung hòa với luật trước.
  • Điều 22: Những luật dân sự được Giáo Luật dẫn chiếu, phải được tuân giữ trong Giáo Luật với cùng những hiệu quả của chúng, trong mức độ chúng không trái nghịch với luật Thiên Chúa và nếu Giáo Luật cũng không định liệu cách khác.

TIẾT II TỤC LỆ

  • Điều 23:Chỉ tục lệ nào do cộng đoàn tín hữu tạo lập mà được nhà làm luật chuẩn nhận thì mới có hiệu lực như luật theo các Điều sau đây:
  • Điều 24:#1. Không tục lệ nào trái nghịch với luật Thiên Chúa có thể có hiệu lực như luật.
  1. 2 . Cũng vậy, không tục lệ nào nghịch hoặc ngoài Giáo Luật có thể có hiệu lực như luật, trừ khi là hợp lý, còn tục lệ nào bị Giáo Luật minh nhiên phi bác thì không là hợp lý.
  • Điều 25:Không một tục lệ nào có hiệu lực như luật, trừ khi được tuân giữ do một cộng đoàn ít nhất có khả năng đón nhận luật với ý định lập thành một luật.
  • Điều 26:Tục lệ nào nghịch hoặc ngoài Giáo Luật hiện hành thì chỉ có hiệu lực như luật, nếu đã giữ được trọn 30 năm liên tục, trừ những trường hợp nhà làm luật có thẩm quyền chuẩn nhận cách đặc biệt. Còn tục lệ đã có hàng trăm năm hoặc lâu đời không nhớ được, mới có thể thắng được điều luật có khoản cấm thành lập các tục lệ trong tương lai.
  • Điều 27:Tục lệ phương thế tốt nhất để giải thích luật.
  • Điều 28:Giữ nguyên qui định của Điều 5, những tục lệ nghịch hoặc ngoại luật đều bị thu hồi do một tục lệ hoặc một luật trái ngược lại. Nhưng nếu luật không minh nhiên nhắc tới, thì luật không thu hồi những tục lệ đã có hằng trăm năm hay lâu đời không nhớ được, luật phổ quát cũng không thu hồi những tục lệ đặc lập.

TIẾT III SẮC LỆNH TỔNG QUÁT VÀ HUẤN THỊ

  • Điều 29:Các sắc lệnh tổng quát ấn định những qui định chung do nhà làm luật công bố cho cộng đồng có khả năng tiếp nhận thì mới thành luật và được chi phối bằng những qui định của các Điều nói về luật.
  • Điều 30:Ai chỉ có quyền hành pháp thì không có thể ra sắc lệnh tổng quát nói ở Điều 29, trừ những trường hợp đặc thù mà chiếu luật đã được nhà làm luật có thẩm quyền minh nhiên cho phép và phải tuân giữ những điều kiện đã ra khi cho phép.
  • Điều 31:#1. Những ai có quyền hành pháp thì trong phạm vi thuộc thẩm quyền mình, có thể ra các sắc lệnh tổng quát có tính hành pháp, tức là những sắc lệnh ấn định chính xác hơn những thể thức phải giữ khi áp dụng luật hoặc buộc thi hành luật.
  1. 2 . Về luật công bố và thời gian bắt đầu thi hành các sắc lệnh đã nói ở # 1 thì phải giữ các qui định của Điều 8.
  • Điều 32:Những sắc lệnh tổng quát có tính hành pháp buộc những ai phải giữ những luật mà sắc lệnh ấy đã ấn định cách thức áp dụng hoặc buộc thi hành.
  • Điều 33:#1. Những sắc lệnh tổng quát có tính hành pháp, dù in trong các sách chỉ nam hay trong các văn kiện mang tên khác, cũng không sửa đổi luật và những qui định của các sắc lệnh ấy nếu nghịch với luật cũng không có giá trị.
  1. 2 . Các sắc lệnh ấy hết sức hiệu lực khi Vị có thẩm quyền minh nhiên hoặc mặc nhiên thu hồi và khi luật mà các sắc lệnh ấy ban bố để thi hành, không còn nữa. Nhưng không hết hiệu lực, khi Vị ra sắc lệnh hết quyền, trừ khi đã minh nhiên định liệu ngược lại.
  • Điều 34:#1. Những huấn thị minh giải các qui định của luật và triển khai cùng ấn định những phương cách phải giữ khi thi hành luật thì được ban ra cho những ai phải lo cho luật được thi hành và buộc họ phải giữ trong khi thi hành luật. Những ai có quyền hành pháp, thì chính thức công bố các huấn thị trong giới hạn thẩm quyền của mình.
  1. 2 . Những chỉ thị trong các huấn thị không sửa đổi luật và nếu chúng không thể dung hòa được với những qui định của luật thì không có giá trị.
  1. 3 . Huấn thị hết lực, không những khi Vị thẩm quyền ra huấn thị hoặc cấp trên của Vị ấy đã minh nhiên hoặc mặc nhiên thu hồi, mà cả khi luật được các huấn thị minh giải hoặc truyền thi hành không còn nữa.

TIẾT IV HÀNH VI HÀNH CHÁNH RIÊNG BIỆ CHƯƠNG I NHỮNG QUI TẮC CHUNG

* Điều 35:Hành vi hành chánh riêng biệt dù là sắc lệnh hay lệnh truyền, dù là phúc chiếu, có thể được thực hiện do người có quyền hành pháp trong giới hạn thẩm quyền của mình, vẫn giữ nguyên qui định của điều 76 #1.
  • Điều 36:#1. Hành vi hành chánh phải được hiểu theo nghĩa đen của các từ ngữ và theo kiểu nói thông dụng. Khi hồ nghi, thì các hành vi liên quan đến tố tụng, hoặc đến việc đe phạt hay gia hình, hoặc hạn chế quyền lợi của nhân thân, hoặc phạm đến quyền lợi thủ đắc của kẻ khác, hoặc nghịch luật để có lợi cho tư nhân, tất cả các hành vi ấy phải được giải thích theo nghĩa hẹp, còn các hành vi khác thì theo nghĩa rộng.
  1. 2 . Hành vi hành chánh không được nới rộng sang các trường hợp khác, ngoài các trường hợp đã được nêu ra.
  • Điều 37:Hành vi hành chánh liên quan tới tòa ngoài, phải được ghi trên giấy tờ;nếu hành vi ấy được thực hiện theo hình thức ủy thác, thì việc thi hành cũng phải ghi trên giấy tờ.
  • Điều 38:Hành vi hành chánh dù dưới hình thức phúc chiếu “ Tự Sắc ” (Motu proprio) cũng không có hiệu lực trong mức độ phạm đến quyền lợi kẻ khác hoặc nghịch lại luật hay tục lệ đã được chấp nhận trừ khi Vị có thẩm quyền đã minh nhiên thêm điều khoản sửa đổi lại.
  • Điều 39:Các điều kiện kèm theo hành vi hành chánh, chỉ được coi là những điều kiện để thành sự khi nói rõ bằng những liên từ: “ nếu, trừ khi, miễn là ” (si, nisi, dummodo).
  • Điều 40:Ai thi hành một hành vi hành chánh nào, trước khi nhận được văn thư và nhận ra văn thư ấy là chính xác và toàn vẹn, thì hành động bất thành, trừ khi quyền bính phát khởi hành vi hành chánh trên đã báo cho họ biết trước về văn thư ấy.
  • Điều 41:Ai được ủy thác nguyên việc thi hành một hành vi hành chánh, thì không thể từ chối, trừ khi thấy rõ hành vi ấy vô giá trị, hoặc không thể chấp nhận vì lý do quan trọng nào khác, hoặc những điều kiện đặt ra trong hành vi hành chánh đã không được thực hiện. Nhưng nếu việc thi hành hành vi hành chánh xem ra không thuận lợi vì những hoàn cảnh thuộc về người, về nơi, thì phải đình lại việc thi hành. Trong những trường hợp trên, phải báo ngay cho quyền bính đã phát khởi hành vi đó.
  • Điều 42:Người thi hành hành vi hành chánh phải tiến hành theo sự ủy nhiệm. Còn nếu không thi hành trọn vẹn các điều kiện cốt yếu đã đặt ra trong văn thư, và không giữ những thủ tục chủ yếu, thì việc thi hành ấy vô hiệu.
  • Điều 43:Người thi hành hành vi hành chánh tùy sự phán đoán khôn ngoan, có thể nhờ người khác thay thế cho mình, trừ khi việc thay thế đã bị cấm, hoặc người thi hành đã được chọn vì đức tính riêng, hoặc người thay thế đã được chỉ định trước. Tuy nhiên, trong những trường hợp nầy, người thi hành vẫn được phép trao cho người khác những việc chuẩn bị.
  • Điều 44:Hành vi hành chánh cũng có thể được thi hành bởi người kế nhiệm người thi hành trừ trường hợp người thi hành đã được chọn vì đức tính riêng.
  • Điều 45:Nếu thi hành hành vi hành chánh, người thi hành có lầm lẫn bất cứ cách nào, thì được thi hành lại.
  • Điều 46:Hành vi hành chánh không mất hiệu lực dù người phát khởi hành vi hết quyền, trừ khi luật minh nhiên định liệu thể khác.
  • Điều 47:Việc thu hồi một hành vi hành chánh bởi một hành vi hành chánh khác của thẩm quyền, chỉ có hiệu lực từ khi được chính thức thông báo cho người mà hành vi hành chánh ấy được ban cho.

CHƯƠNG II SẮC LỆNH VÀ LỆNH TRUYỀN RIÊNG BIỆT

* Điều 48:Sắc lệnh riêng biệt được hiểu là hành vi hành chánh do thẩm quyền hành pháp khởi để, chiếu theo luật và cho một trường hợp riêng, thẩm quyền ấy ra một quyết định hoặc đáp ứng một tình thế mà cả hai việc nầy tự chúng không giả thiết đã có sự thỉnh cầu của một người nào.
  • Điều 49:Lệnh truyền riêng biệt là sắc lệnh buộc trực tiếp và hợp pháp một hay nhiều người nhất định phải làm hoặc bỏ một điều gì, nhất là để buộc họ giữ luật.
  • Điều 50:Trước khi ban sắc lệnh riêng biệt, người có quyền bính phải thu thập tin tức và chứng cớ cần thiết, và trong mức độ có thể, phải nghe những người mà quyền lợi của họ có thể bị tổn thương.
  • Điều 51:Sắc lệnh phải được ban trên giấy tờ, nếu là một quyết định, phải nói rõ lý do, ít nhất một cách đại cương.
  • Điều 52:Sắc lệnh riêng biệt chỉ có hiệu lực đối với những sự việc sắc lệnh đã quyết định và với những người mà sắc lệnh đã được ban bố. Nhưng sắc lệnh ấy buộc họ khắp mọi nơi, trừ khi thấy rõ thể khác.
  • Điều 53:Nếu nhiều sắc lệnh nghịch nhau, thì sắc lệnh riêng có giá trị hơn sắc lệnh chung trong những điểm được nêu lên cách riêng. Nếu các sắc lệnh đều là riêng hoặc đều là chung, thì sắc lệnh sau thay đổi sắc lệnh trước, trong những gì nghịch với sắc lệnh trước.
  • Điều 54:#1. Sắc lệnh riêng mà việc áp dụng được trao cho người thi hành, thì có hiệu lực từ lúc thi hành, nếu không, sắc lệnh có hiệu lực từ lúc tống đạt tới đương sự do quyền bính của chính người ra sắc lệnh.
  1. 2 . Để có thể bắt buộc thi hành sắc lệnh riêng phải được tống đạt bằng văn thư chính thức chiếu luật.
  • Điều 55:Vẫn giữ nguyên qui định của Điều 37 và 51, khi có lý do rất quan trọng ngăn trở việc trao văn bản sắc lệnh, thì sắc lệnh cũng được coi là đã tống đạt, nếu đã đọc cho đương sự trước mặt công chứng viên hay hai nhân chứng, rồi lập biên bản và mọi người hiện diện ký tên vào đó.
  • Điều 56:Sắc lệnh kể là đã tống đạt, nếu đương sự một khi đã được mời đến theo đúng thủ tục, để nhận hay nghe đọc sắc lệnh mà không chịu tới hay không chịu ký tên vào, khi không có lý do chính đáng.
  • Điều 57:#1. Mỗi khi luật buộc phải ra sắc lệnh hay khi đương sự chính thức thỉnh cầu để được sắc lệnh, thì thẩm quyền phải lo đáp ứng, trong vòng 3 tháng từ khi nhận lời thỉnh cầu hay thượng cầu, trừ khi luật ấn định một thời hạn khác.
  1. 2 . Hết hạn nầy, nếu chưa ban sắc lệnh, thì suy đoán là từ chối đối với lời thượng cầu về sau.
  1. 3 . Trong trường hợp suy luận là từ chối, thẩm quyền vẫn không được miễn khỏi nghĩa vụ ban sắc lệnh, mà còn phải bồi thường thiệt hại nếu có, chiếu Điều 128.
  • Điều 58:#1. Sắc lệnh riêng hết hiệu lực khi thẩm quyền chính thức thu hồi, cũng như khi luật mà sắc lệnh ban bố để thi hành không còn nữa.
  1. 2 . Lệnh truyền riêng không được ban ra bằng văn thư chính thức, hết hiệu lực khi người truyền lệnh hết quyền.

CHƯƠNG III PHÚC CHIẾU

* Điều 59:#1 . Phúc chiếu là hành vi hành chánh do thẩm quyền hành pháp ban ra bằng văn bản và tự bản chất là để ban cho người xin một đặc ân, một chuẩn chước hay một ân huệ nào khác.
  1. 2 . Những qui định về phúc chiếu cũng có giá trị đối với việc cho phép cũng như việc ban các ân huệ bằng miệng, trừ khi thấy rõ thể khác.
  • Điều 60:Tất cả những ai không minh nhiên bị cấm, đều có thể xin bất cứ phúc chiếu nào.
  • Điều 61:Trừ khi thấy rõ thể khác, có thể xin phúc chiếu cho người khác, cả khi không có sự đồng ý của người ấy và phúc chiếu có giá trị trước khi người ấy chấp nhận, vẫn giữ nguyên những điều khoản ngược lại.
  • Điều 62:Phúc chiếu không chỉ định ai thi hành, thì có hiệu lực từ lúc ban văn thư, còn các phúc chiếu khác, từ lúc được thi hành.
  • Điều 63:#1. Việc ẩn khai hay là giấu sự thật sẽ vô hiệu hóa phúc chiếu, nếu khi xin không trình bày những gì cần phải trình bày để thành sự, chiếu theo luật, lối hành văn và thủ tục Giáo luật, trừ khi phúc chiếu ban ân huệ đã được ban theo kiểu “ Tự Sắc” (Motu proprio).
  1. 2 . Cũng thế, việc mạo khai hay là khai gian vô hiệu hóa phúc chiếu, nếu đã không trình bày ít là một lý do đúng sự thật.
  1. 3 . Trong những phúc chiếu không cần người thi hành, lý do phải đúng sự thực ngay lúc ban hành phúc chiếu, còn trong các phúc chiếu khác, thì ở lúc thi hành.
  • Điều 64:Giữ nguyên quyền của Tòa An Xá Giải đối với tòa trong, một ân huệ đã bị bất cứ Bộ nào của Giáo Triều Rôma từ khước thì không Bộ nào khác của cùng Giáo Triều nầy hay bất cứ thẩm quyền nào khác dưới Đức Giáo Hoàng, có thể ban cách thành sự, nếu không có sự ưng thuận của Bộ đã bắt đầu cứu xét.
  • Điều 65:#1. Giữ nguyên các khoản 2 và 3 dưới đây, không ai được xin với Vị Thường quyền khác một ân huệ đã bị Vị Thường quyền mình từ chối, trừ khi đã nhắc tới việc từ chối trên, dù có nhắc tới, vị Thường quyền cũng đừng ban ân huệ, trừ khi đã được Vị Thường quyền trước cho biết lý do khước từ.
  1. 2 . Ân huệ đã bị Tổng Đại Diện hay Đại Diện Giám Mục khước từ, thì một Vị Đại Diện khác của cùng Giám Mục cũng không thể ban cách thành sự, dù Vị Đại Diện từ khước đã cho biết lý do khước từ.
  1. 3 . Ân huệ đã bị Tổng Đại Diện hay Đại Diện Giám Mục khước từ và sau đó đã được Giám Mục Giáo Phận ban mà không nhắc gì về sự khước từ nầy, thì không thành sự, ân huệ đã bị Giám Mục Giáo Phận khước từ thì dù có nhắc sự khước từ, Tổng Đại Diện hay Đại Diện Giám Mục Giáo Phận cũng không thể ban thành sự, nếu Giám Mục không ưng thuận.
  • Điều 66:Phúc chiếu không trở thành vô hiệu vì lầm lẫn tên người nhận hay tên người ban hoặc nơi ở hoặc sự việc liên hệ, miễn là theo sự phán đoán của Vị Thường quyền, không nghi ngờ gì về người hay về sự việc.
  • Điều 67:#1. Nếu về cùng một sự việc lại xin được hai phúc chiếu nghịch nhau thì phúc chiếu riêng có giá trị hơn phúc chiếu chung, trong những gì đã được trình bày cách riêng.
  1. 2 . Nếu cả hai đều là phúc chiếu riêng hoặc đều là phúc chiếu chung thì phúc chiếu trước có giá trị hơn phúc chiếu sau, trừ khi phúc chiếu sau minh nhiên nhắc tới phúc chiếu trước, hoặc người xin được trước vì man trá hay quá lơ đểnh đã không dùng phúc chiếu.
  1. 3 . Nếu hồ nghi không rõ phúc chiếu vô hiệu hay không, thì phải thỉnh ý Vị ban phúc chiếu.
  • Điều 68:Phúc chiếu do Tông Tòa ban mà không chỉ rõ người thi hành, thì chỉ phải trình với Vị Thường quyền của người xin, khi trong văn thư có qui định như vậy, hoặc khi liên hệ đến các việc công, hoặc khi phải kiểm nhận các điều kiện.
  • Điều 69:Phúc chiếu không định thời gian phải trình thì trình với người thi hành lúc nào cũng được, miễn là không có gian lận và man trá.
  • Điều 70:Nếu trong phúc chiếu, chính việc ban ân huệ được ủy cho người thi hành, thì người này tùy theo sự khôn ngoan và lương tâm của mình, có quyền ban ân huệ hay từ khước.
  • Điều 71:Không ai buộc phải hưởng dùng phúc chiếu đã ban riêng cho mình, trừ khi vì lý do nào khác luật buộc phải hưởng dùng.
  • Điều 72:Khi phúc chiếu do Tông Tòa ban hết hạn, thì vì lý do chính đáng, Đức Giám Mục Giáo phận có thể gia hạn một lần, nhưng không quá ba tháng.
  • Điều 73:Không phúc chiếu nào bị thu hồi bởi luật nghịch lại, trừ khi chính luật đã định liệu thể khác.
  • Điều 74:Cho dù một người có thể hưởng ở tòa trong một ân huệ đã được ban bằng miệng thì ở tòa ngoài vẫn phải minh chứng mỗi khi được hỏi cách hợp pháp.
  • Điều 75:Nếu phúc chiếu bao hàm đặc ân hay chuẩn chước, thì còn phải giữ những qui định của các điều sau đây:

CHƯƠNG IV ĐẶC ÂN

* Điều 76:#1. Đặc ân hay ân huệ ban bằng một văn thư riêng cho thể nhân hay pháp nhân nào, có thể được ban do nhà làm luật và do quyền hành đã được nhà làm luật ban quyền ấy cho.
  1. 2 . Những gì đã được chấp hữu hằng trăm năm hay lâu đời thì được suy đoán là những đặc ân đã được ban.
  • Điều 77: Đặc ân phải được giải thích chiếu Điều 36 #1, nhưng luôn phải giải thích thế nào để người thụ hưởng đặc ân được thực sự hưởng một ân huệ nào đó.
  • Điều 78:#1. Đặc ân được suy đoán là vĩnh viễn, trừ khi minh chứng ngược lại.
  1. 2 . Đặc ân tòng nhân tức là đặc ân theo người, chấm dứt khi người ấy không còn nữa.
  1. 3. Đặc ân tòng sự chấm dứt khi sự vật hay nơi chốn không còn nữa, nhưng đặc ân tòng sở được tái sinh nếu nơi ấy được phục hồi trong vòng 50 năm.
  • Điều 79: Đặc ân chấm dứt khi thẩm quyền thu hồi, chiếu Điều 47 vẫn giữ nguyên điều 81.
  • Điều 80:#1. Không đặc ân nào chấm dứt vì từ khước, trừ khi thẩm quyền chấp nhận sự từ khước ấy.
  1. 2. Bất cứ thể nhân nào cũng có thể từ chối đặc ân ban cho riêng mình.
  1. 3. Đặc ân ban cho pháp nhân nào, hoặc ban vì phẩm chất của nơi chốn hay sự vật, thì từng cá nhân không thể khước từ, chính pháp nhân cũng không có trọn quyền khước từ đặc ân đã ban cho mình, nếu sự từ khước đó gây thiệt hại cho Giáo Hội hay cho những người khác.
  • Điều 81: Khi Vị ban đặc ân hết quyền, đặc ân không chấm dứt, trừ trường hợp đặc ân ban với cách nói: “ Ad bene placitum nostrum ” , hay cách nói khác tương đương.
  • Điều 82: Đặc ân không tạo gánh nặng cho kẻ khác, không chấm dứt do việc không hưởng dùng hay dùng ngược lại, còn đặc ân tạo gánh nặng cho kẻ khác sẽ chấm dứt, nếu có thời hiệu hợp pháp.
  • Điều 83:#1. Đặc ân chấm dứt khi hết hạn hay đã đủ số các trường hợp đặc ân đã ban, giữ nguyên Điều 142#2.
  1. 2. Đặc ân cũng chấm dứt, nếu với thời gian, các hoàn cảnh theo phán quyết của thẩm quyền đã thay đổi, đến nỗi đặc ân trở thành nguy hại, hoặc sự sử dụng các đặc ân trở thành bất hợp pháp.
  • Điều 84: Ai lạm dụng quyền do đặc ân ban cho thì đáng bị tước đặc ân ấy, vì thế, sau khi đã cảnh cáo vô hiệu người hưởng đặc ân, Vị Thường quyền phải rút lại đặc ân chính mình đã ban, cho người lạm dụng một cách trầm trọng, còn nếu đặc ân do Tông Tòa ban, Vị Thường quyền phải báo cáo cho Tông Tòa biết.

CHƯƠNG V CHUẨN CHƯỚC

  • Điều 85: Chuẩn chước hay là miễn giữ luật thuần túy Giáo Hội trong trường hợp riêng biệt, có thể được ban bởi những ai có quyền hành pháp trong phạm vi thẩm quyền của mình, cũng như bởi những ai minh nhiên hay mặc nhiên có quyền chuẩn chước, hoặc do chính luật hoặc do quyền ủy hợp pháp.
  • Điều 86: Không được chuẩn chước những luật nào ấn định những yếu tố cấu thành các định chế hay các hành vi pháp lý.
  • Điều 87:#1. Mỗi khi xét thấy có lợi ích thiêng liêng cho các tín hữu, Giám Mục Giáo phận có thể chuẩn chước cho họ những luật, cả phổ quát lẫn đặc lập có tính cách kỷ luật do quyền tối cao trong Giáo Hội đã ban cho địa hạt hay các người thuộc quyền của ngài, nhưng không được chuẩn chước những luật tố tụng hoặc hình sự, cũng như những luật mà việc chuẩn chước được đặc biệt dành riêng cho Tông Tòa hay cho quyền bính khác.
  1. 2 . Nếu khó thượng cầu Tòa Thánh, đồng thời nếu trì hoãn mà có nguy cơ thiệt hại nặng, thì bất cứ Vị Thường quyền nào cũng có thể chuẩn chước những luật nói trên, mặc dầu việc chuẩn chước đã dành cho Tòa Thánh, miễn là trong những trường hợp như vậy Tòa Thánh quen chuẩn chước, giữ nguyên qui định của Điều 291.
  • Điều 88: Vị Thường quyền sở tại có thể chuẩn chước những luật Giáo phận, và mỗi khi xét thấy có ích cho tín hữu, thì cũng có thể chuẩn chước những luật do Công Đồng liên Giáo tỉnh hay Công Đồng Giáo tỉnh hoặc Hội Đồng Giám Mục đã ban hành.
  • Điều 89: Linh mục chính xứ và các linh mục khác hoặc các phó tế không được chuẩn chước luật phổ quát và đặc lập, trừ khi quyền ấy được minh nhiên ban cho các Ngài.
  • Điều 90:#1. Không được chuẩn chước luật Giáo Hội khi không có lý do chính đáng và hợp lý, sau khi đã cân nhắc các hoàn cảnh và sự hệ trọng của chính luật được chuẩn chước, nếu không, việc chuẩn chước là bất hợp pháp và - trừ khi do chính nhà làm luật hay người trên Ngài đã chuẩn chước - việc chuẩn chước còn bất thành sự nữa.
  1. 2. Khi hồ nghi có đủ lý do hay không, thì việc chuẩn chước thành sự và hợp pháp.
  • Điều 91: Ai có quyền chuẩn chước thì kể cả khi ở ngoài địa hạt của mình, vẫn có thể thi hành quyền ấy đối với các người thuộc quyền, mặc dù họ không ở trong địa hạt, và nếu không minh nhiên qui định nghịch lại, thì còn có thể thi hành quyền ấy đối với cả những kiều cư hiện đang ở trong địa hạt, cũng như đối với chính mình nữa.
  • Điều 92: Phải giải thích theo nghĩa hẹp chiếu Điều 36 #1 chẳng những việc chuẩn chước mà cả chính quyền chuẩn chước đối với một trường hợp nhất định.
  • Điều 93: Việc chuẩn chước gồm nhiều hành vi kế tiếp chấm dứt cùng một cách thức như đặc ân cũng như khi lý do để chuẩn chước chắc chắn và hoàn toàn không còn nữa.

TIẾT V QUI CHẾ VÀ NỘI QUI

* Điều 94:#1. Theo nghĩa đen, qui chế là những điều lệ được thiết lập chiếu luật cho những tập thể hoặc người hoặc sự vật, để ấn định mục đích cơ cấu, việc điều hành và thể thức làm việc.
  1. 2 . Qui chế của tập thể người chỉ buộc những ai chính thức là thành viên của tập thể, còn qui chế của tập thể sự vật, buộc những ai có trách nhiệm điều hành tập thể.
  1. 3 . Những qui chế của qui chế do quyền lập pháp thiết lập và công bố, được chi phối do những qui định của các Điều liên quan đến luật.
  • Điều 95:#1. Nội qui là những điều lệ hay qui tắc phải tuân giữ trong các cuộc hội họp do quyền bính Giáo Hội triệu tập, hoặc do các tín hữu tự ý tụ họp, cũng như trong các cuộc cử hành khác, những nội qui ấn định những gì thuộc về cơ cấu, việc điều hành và những thể thức làm việc.
  1. 2 . Những ai tham dự các cuộc hội họp hoặc các cuộc cử hành buộc phải giữ những điều lệ của nội qui.

TIẾT VI THẾ NHÂN VÀ PHÁP NHÂN

CHƯƠNG I ĐỊA VỊ CÁC THỂ NHÂN THEO GIÁO LUẬT

  • Điều 96:Nhờ Thánh Tẩy, con người được sáp nhập Giáo Hội Chúa Kitô và trở thành thể nhân trong Giáo Hội, cùng với những nghĩa vụ và quyền lợi riêng của Kitô hữu tùy theo địa vị của họ, trong mức độ họ hiệp thông với Giáo Hội, và miễn là không bị chế tài cách hợp pháp.
  • Điều 97:#1. Người trọn 18 tuổi là thành niên, dưới tuổi đó là vị thành niên.
  1. 2 . Người vị thành niên chưa trọn 7 tuổi gọi là ấu nhi và được coi như không có ý thức trách nhiệm, còn trọn 7 tuổi, thì phải suy đoán là đã biết dùng trí khôn.
  • Điều 98:#1. Người thành niên có trọn quyền sử dụng các quyền của mình.
  1. 2 . Người vị thành niên khi sử dụng các quyền của mình, phải tùng phục cha mẹ hay người giám hộ, trừ những gì mà Thiên luật và Giáo luật đã miễn cho các người vị thành niên khỏi quyền các vị ấy, còn về việc ấn định người giám hộ và quyền của họ, thì phải giữ những định luật của dân luật, trừ khi Giáo luật định liệu cách khác, hoặc Giám Mục Giáo phận, trong một số trường hợp, vì lý do chính đáng, xét rằng cần phải bổ nhiệm một người giám hộ khác.
  • Điều 99: Ai thường xuyên không sử dụng được trí khôn, thì kể là không thể ý thức trách nhiệm và được đồng hóa với ấu nhi.
  • Điều 100:Ai có gia cư ở nơi nào thì gọi là người thường trú. Ai có chuẩn cư thì gọi là người tạm trú. Ai vẫn giữ gia cư hay chuẩn cư mà sống ở ngoài thì gọi là người kiều cư. Ai không có gia cư hay chuẩn cư ở bất cứ đâu thì gọi là người phiêu cư.
  • Điều 101:#1. Nguyên quán của người con, dù là tân tòng, là nơi mà khi người con sinh ra, cha mẹ có gia cư hoặc không có gia cư thì có chuẩn cư, nếu cha mẹ không có cùng một gia cư hay chuẩn cư, thì nguyên quán của người con là gia cư hay chuẩn cư của người mẹ.
  1. 2 . Nếu là con của người phiêu cư thì nguyên quán là chính nơi sinh, nếu là con bị bỏ rơi, thì nguyên quán là nơi đã gặp được nó.
  • Điều 102:#1. Ai cư ngụ trong địa hạt của giáo xứ nào hay ít ra của giáo phận, với ý định sẽ ở vĩnh viễn, nếu không có gì thay đổi, hoặc đã ở được trọn 5 năm, thì thủ đắc gia cư.
  1. 2 . Ai cư ngụ trong địa hạt của giáo xứ nào, hay ít ra của giáo phận, với ý định ở lại ít là 3 tháng, nếu không có gì thay đổi, hoặc thực sự đã ở được 3 tháng, thì thủ đắc chuẩn cư.
  1. 3 . Gia cư hay chuẩn cư trong địa hạt giáo xứ gọi là gia cư hay chuẩn cư giáo xứ, còn trong địa hạt của giáo phận, dầu không ở trong giáo xứ, gọi là gia cư hay chuẩn cư giáo phận.
  • Điều 103:Thành viên các Tu Hội Dòng và các Hội Đời sống Tông Đồ, thủ đắc gia cư nơi nhà nhập hội, thủ đắc chuẩn cư nơi nhà đang ở, chiếu Điều 102 #2.
  • Điều 104: Vợ chồng phải có chung một gia cư hoặc chuẩn cư, vì lý do ly thân hợp pháp hay vì lý do chính đáng khác, cả hai có thể có gia cư hay chuẩn cư riêng.
  • Điều 105:#1. Người vị thành niên nhất thiết phải giữ gia cư hay chuẩn cư của người họ thuộc quyền. Người đã quá tuổi ấu nhi cũng có thể thủ đắc chuẩn cư riêng, và nếu đã thoát quyền cách hợp pháp chiếu theo luật dân cư, cũng có thể có gia cư riêng.
  1. 2 . Ngoài lý do vị thành niên, ai ở dưới quyền giám hộ hay quản tài của người khác cách hợp pháp thì có gia cư và chuẩn cư của người giám hộ hay người quản tài.
  • Điều 106:Ai đi khỏi nơi cư ngụ với ý định không trở lại, thì mất gia cư và chuẩn cư, giữ nguyên qui định của Điều 105.
  • Điều 107:#1. Cứ theo gia cư và chuẩn cư, mỗi người biết được ai là linh mục chính xứ và ai là Vị Thường quyền của mình.
  1. 2 . Linh mục chính xứ hay Vị Thường quyền riêng của người phiêu cư là linh mục chính xứ hay Vị Thường quyền nơi người phiêu cư đang ở.
  1. 3 . Đối với người chỉ có gia cư hay chuẩn cư giáo phận thì linh mục chính xứ riêng là Linh Mục chính xứ nơi họ đang ở.
  • Điều 108:#1. Họ máu tính theo hàng và bậc.
  1. 2 . Trong hàng dọc, bao nhiêu đời thì bấy nhiêu bậc, nghĩa là, bao nhiêu người thì bấy nhiêu bậc, trừ gốc tổ.
  1. 3 . Trong hàng ngang, bao nhiêu người tính chung cả hai hàng là bấy nhiêu bậc, trừ gốc tổ.
  • Điều 109:#1. Họ kết bạn phát sinh do hôn nhân thành sự, mặc dầu vị loại và có hiệu lực giữa người chồng với những người họ máu bên vợ, cũng như giữa người vợ và những người họ máu bên chồng.
  1. 2 . Họ kết bạn tính như thế nầy: những ai có họ máu với người chồng cũng có họ kết bạn với người vợ trong cùng hàng và cùng bậc ấy, và ngược lại.
  • Điều 110:Những đứa con được nhận làm con nuôi chiếu theo luật dân sự thì kể như con ruột của người hay những người đã nhận chúng.
  • Điều 111:#1. Do việc lãnh nhận Thánh Tẩy, con cái của cha mẹ thuộc Giáo Hội La-tinh, được ghi nhận vào Giáo Hội ấy, cũng vậy, nếu một trong hai không thuộc Giáo Hội La-tinh, nhưng cả hai đều đồng ý để con cái được lãnh nhận Thánh Tẩy trong Giáo Hội La-tinh, trong trường hợp bất đồng ý kiến, con cái được ghi nhận vào Giáo Hội nghi lễ của người cha.
  1. 2 . Bất cứ ai trọn 14 tuổi sắp được Thánh Tẩy, có thể tự do lựa chọn được rửa tội trong Giáo Hội La-tinh hoặc trong Giáo Hội nghi lễ tự lập nào khác. Trong trường hợp ấy, họ thuộc Giáo Hội họ đã chọn.
  • Điều 112:#1. Sau khi nhận Thánh Tẩy, những người sau đây được ghi nhận vào Giáo Hội nghi lễ tự lập khác:

1 . Người đã được Tông Tòa ban phép.

2 . Người phối ngẫu khi kết hôn hay trong đời hôn nhân đã tuyên bố chuyển sang Giáo Hội nghi lễ tự lập của người phối ngẫu kia, một khi hôn nhân đã đoạn tiêu, có thể tự do trở lại Giáo Hội La-tinh.

3 . Con cái của những người nói ở số 1 và 2 chưa trọn 14 tuổi, cũng như trong hôn nhân hỗn hợp, con cái của bên Công giáo đã hợp pháp chuyển qua Giáo Hội nghi lễ khác, nhưng qua tuổi trên rồi, có thể trở lại Giáo Hội La-tinh.

  1. 2 . Mặc dầu từ lâu đã có thói quen lãnh nhận Bí tích theo nghi thức của một Giáo Hội nghi lễ tự lập, cũng không vì thế mà được coi là đã ghi nhận vào Giáo Hội ấy.

CHƯƠNG II PHÁP NHÂN

  • Điều 113:#1. Giáo Hội Công giáo và Tông Tòa đều có tính cách pháp nhân, do chính ý định của Thiên Chúa.
  1. 2 . Ngoài thể nhân, trong Giáo Hội cũng còn có những pháp nhân nữa, nghĩa là, theo Giáo luật, những chủ thể, có nghĩa vụ và quyền lợi tương xứng với bản chất của những pháp nhân ấy.
  • Điều 114:#1. Những tập thể hoặc người hoặc sự vật nhằm mục đích phù hợp với sứ mạng của Giáo Hội, và vượt trên mục đích của từng người, được thiết lập thành pháp nhân do chính qui định của luật hoặc do đặc ân được thẩm quyền ban dưới hình thức sắc lệnh.
  1. 2 . Các mục đích nói ở #1 hiểu là những việc liên quan đến hoạt động đạo đức, tông đồ hay bác ái, hoặc thiêng liêng hoặc trần thế.
  1. 3 . Thẩm quyền của Giáo Hội chỉ nên ban tính cách pháp nhân cho những tập thể người hoặc sự vật theo đuổi mục đích thực sự hữu ích, sau khi đã cân nhắc mọi mặt và thấy trước rằng những tập thể có đủ phương tiện để đạt tới mục đích đã định.
  • Điều 115:#1. Pháp nhân trong Giáo Hội là hoặc những tập thể người hoặc những tập thể sự vật.
  1. 2 . Tập thể người chỉ có thể được cấu thành bởi ít nhất 3 người. Tập thể ấy có tính cách hiệp đoàn, nếu các thành viên, để ấn định hành động của tập thể, cùng nhau lấy quyết định hoặc đồng quyền hoặc không, chiếu theo luật và các qui chế, nếu không, thì không có tính cách hiệp đoàn.
  1. 3 . Tập thể sự vật tức là tặng lập tự lập, gồm những của hay sự vật hoặc tinh thần hoặc vật chất được một hoặc nhiều thể nhân hoặc một hiệp đoàn quản lý chiếu theo luật và các qui chế.
  • Điều 116:#1. Pháp nhân công là những tập thể người hoặc sự vật được thẩm quyền trong Giáo Hội thiết lập, để trong giới hạn đã đề ra, họ nhân danh Giáo Hội và theo qui định của luật, thi hành nhiệm vụ riêng đã được trao cho vì ích lợi chung. Những pháp nhân khác là pháp nhân tư.
  1. 2 . Pháp nhân công có tính cách pháp nhân, hoặc do chính luật hoặc do sắc lệnh đặc biệt của thẩm quyền minh nhiên ban.
  • Điều 117:Không tập thể người hay sự vật nào muốn có tính cách pháp nhân mà được tính cách ấy, trừ khi qui chế của tập thể đã được thẩm quyền phê chuẩn.
  • Điều 118:Người đại diện pháp nhân công và hành động nhân danh pháp nhân ấy là người được luật phổ quát hay đặc lập hoặc qui chế riêng nhìn nhận có thẩm quyền ấy, người đại diện pháp nhân tư là người được qui chế trao cho thẩm quyền nầy.
  • Điều 119: Đ ối với các hành vi hiệp đoàn, trừ khi luật hay qui chế định liệu thể khác, thì:

Nếu là việc bầu cử, khi đa số các người phải được triệu tập hiện diện và đa số tuyệt đối những người hiện diện đồng ý về một điều gì, thì điều ấy có giá trị pháp luật, sau hai lần đầu phiếu vô hiệu, phải đầu phiếu cho hai ứng viên đã được nhiều phiếu hơn hoặc nếu nhiều người được như vậy, phải đầu phiếu cho hai người nhiều tuổi hơn, sau lần đầu phiếu thứ ba, nếu số phiếu vẫn ngang nhau, ai cao niên hơn người ấy trúng tuyển.

Nếu là các việc khác, khi đa số các người phải được triệu tập hiện diện và đa số tuyệt đối những người hiện diện đồng ý về một điều gì, thì điều ấy có giá trị pháp luật, sau hai lần đầu phiếu mà số phiếu vẫn đồng đều, vị chủ tọa có thể dùng phiếu của mình mà phá vỡ sự đồng đều ấy.

Nếu là việc liên hệ đến tất cả mọi người cũng như từng người, thì phải được mọi người chấp nhận.

  • Điều 120:#1. Pháp nhân tự bản chất là vĩnh viễn, nhưng cũng chấm dứt nếu thẩm quyền chính thức bãi bỏ hoặc đã thôi hoạt động suốt 100 năm, pháp nhân lại còn chấm dứt nếu tập thể bị giải tán theo qui chế, hoặc nếu theo sự phán đoán của thẩm quyền, chính tặng lập, chiếu theo qui chế cũng không còn nữa.
  1. 2 . Nếu số thành viên của pháp nhân có tính cách hiệp đoàn chỉ còn một người mà thôi, và nếu tập thể người chiếu theo qui chế vẫn không chấm dứt, thì việc sử dụng mọi quyền của tập thể thuộc về thành viên ấy.
  • Điều 121: Nhiều tập thể hoặc người hoặc sự vật là pháp nhân công, nếu hợp lại với nhau để lập thành một tập thể và chính tập thể nầy cũng có tính cách pháp nhân, thì pháp nhân mới nầy được thừa hưởng những của cải và quyền lợi thuộc sản nghiệp riêng của các pháp nhân trước cũng như lãnh nhận các nghĩa vụ mà các pháp nhân trước đã gánh chịu, nhưng nhất là về việc sung dụng của cải và việc chu toàn các nghĩa vụ, thì phải giữ trọn ý muốn của những người tặng lập và dâng cúng, và những quyền lợi đắc thủ.
  • Điều 122:Nếu tập thể có tính cách pháp nhân công bị chia ra để một phần của tập thể ấy nhập vào một pháp nhân khác, hay để phần được chia ra làm thành một pháp nhân công biệt lập, thì quyền bính Giáo Hội có thẩm quyền chia cắt, trước hết phải giữ cả ý muốn của những người tặng lập và dâng cúng, cả những quyền đắc thủ, cũng như những qui chế đã được chuẩn nhận, đồng thời tự mình đích thân hay nhờ người thi hành lo liệu:

Sao cho những gì chung mà có thể chia được: của cải, quyền lợi thuộc sản nghiệp cũng như nợ nần và những nghĩa vụ khác, phải được chia cho các pháp nhân liên hệ theo tỷ lệ đúng mức tương bình và chính đáng, xét theo mọi hoàn cảnh và nhu cầu của cả hai bên.

Sao cho quyền sử dụng và quyền dụng ích của những của chung không chia được, cả hai bên cùng được hưởng, cũng như để những nghĩa vụ thuộc riêng cho cả hai, cả hai phải gánh chịu theo tỷ lệ đúng mức sẽ được ấn định cách tương bình và chính đáng.

  • Điều 123: Khi pháp nhân công chấm dứt, việc sung dụng của cải, quyền lợi thuộc sản nghiệp và cả những nghĩa vụ của pháp nhân ấy, phải được điều hành theo luật và các qui chế, nếu luật và qui chế không nói gì thì những của cải, quyền lợi và nghĩa vụ ấy thuộc về pháp nhân trực tiếp cao hơn, nhưng luôn luôn phải trọng ý muốn của những người tặng lập hay người dâng cúng cũng như các quyền lợi đắc thủ; khi pháp nhân tư chấm dứt, việc sung dụng của cải và nghĩa vụ phải được điều hành theo qui chế riêng.

TIẾT VII HÀNH VI PHÁP LÝ

  • Điều 124:#1. Để thành sự, một hành vi pháp lý phải do người có tư năng thực hiện và phải hội đủ những gì cấu thành bản chất của hành vi ấy, cũng như phải giữ các trọng thức và các điều luật đòi để hành vi thành sự.
  1. 2 . Hành vi pháp lý được thực hiện đúng xét theo các yếu tố bên ngoài, thì sự suy đoán thành sự.
  • Điều 125:#1. Hành vi được thực hiện do một người vì bị áp lực từ bên ngoài mà người ấy không thể chống lại được, thì kể như không có.
  1. 2 . Hành vi được thực hiện do sợ sệt trầm trọng gây bên cách bất công, hoặc do man trá, vẫn thành sự, trừ khi luật định liệu thể khác; tuy nhiên, hành vi ấy có thể bị hủy bỏ do án lệnh của thẩm phán hoặc vì đơn của người bị thiệt hại hay của những ai thừa kế quyền của người ấy, hoặc vì nhiệm vụ.
  • Điều 126:Hành vi được thực hiện vì không biết hoặc vì lầm lẫn về yếu tố cấu tạo bản chất của hành vi, hoặc vì điều kiện tất yếu, thì vô hiệu; chẳng vậy, thì hữu hiệu trừ khi luật định liệu cách khác, tuy nhiên, hành vi được thực hiện vì không biết, hoặc vì lầm lẫn, có thể là cơ hội để chiếu theo luật đừng tố quyền triệt tiêu.
  • Điều 127:#1. Khi luật qui định Bề Trên phải có sự đồng ý hay ý kiến của hiệp đoàn nào hoặc nhóm người nào để thực thi những hành vi nào đó, thì Ngài phải triệu tập hiệp đoàn hay nhóm người ấy chiếu theo Điều 166, trừ khi trong trường hợp chỉ cần hỏi ý kiến, luật đặc lập hay luật riêng định liệu cách khác; nhưng để hành vi thành sự, đòi phải có sự đồng ý của đa số tuyệt đối những người hiện diện hoặc phải hỏi ý kiến mọi người.
  1. 2 . Khi luật qui định Bề Trên phải có sự đồng ý hay ý kiến của một số người, xét theo từng người một, để thực hiện những hành vi nào đó:

1 . Nếu đòi phải có sự đồng ý mà Bề Trên không tìm cho biết sự đồng ý của họ, hoặc hành động trái ý của họ, hoặc trái ý một người nào trong họ, thì hành vi ấy không thành.

2 .Nếu đòi phải có ý kiến mà Bề Trên không hỏi họ, thì hành vi ấy không thành, mặc dầu Bề Trên không buộc theo ý của họ, ngay cả khi họ nhất trí, nhưng nếu không có lý do ưu thắng theo thẩm định riêng của Ngài, thì đừng bỏ ý họ, nhất là khi họ nhất trí.

  1. 3 . Khi cần phải có sự đồng ý hoặc ý kiến của những ai, thì tất cả những người đó phải chân thành bày tỏ ý kiến mình và nếu tầm quan trọng của sự việc đòi hỏi, còn buộc phải ân cần giữ bí mật; những nghĩa vụ nầy Bề Trên có quyền đòi những người ấy phải giữ.
  • Điều 128:Bất cứ ai gây thiệt hại cho người khác cách bất hợp pháp bằng hành vi pháp lý hoặc cả bằng hành vi nào khác được thực hiện do man trá hay lỗi phạm, thì buộc phải đền thiệt hại đã gây ra.

TIẾT VIII QUYỀN LÃNH ĐẠO

  • Điều 129:#1. Quyền lãnh đạo trong Giáo Hội, đích thực là quyền do Thiên Chúa thiết lập và cũng gọi là quyền tài phán; những ai đã lãnh nhận chánh thức, đều có tư năng được hưởng quyền ấy, chiếu theo qui định của luật.
  1. 2 . Các tín hữu giáo dân, chiếu luật, có thể cộng tác vào việc hành sử quyền ấy.
  • Điều 130:Quyền lãnh đạo tự nó được hành sử cho tòa ngoài, nhưng đôi khi chỉ được hành sử cho tòa trong thôi, theo cách này là: hiệu quả mà việc hành sử quyền ấy vốn mang lại cho tòa ngoài không được nhìn nhận nơi tòa này, trừ khi luật ấn định điều đó trong những trường hợp đã được xác định.
  • Điều 131:#1. Quyền lãnh đạo là thường quyền khi được gắn liền với một chức vụ nào đó do chính luật; là ủy quyền khi được ban cho chính nhân thân không qua chức vụ.
  1. 2 . Thường quyền lãnh đạo có thể: hoặc quyền riêng hoặc quyền đại diện.
  1. 3 . Ai quả quyết mình là người thụ ủy, buộc phải chứng minh việc ủy quyền ấy.
  • Điều 132:#1. Các năng quyền thường xuyên được chi phối do những qui định về ủy quyền.
  1. 2 . Tuy nhiên, trừ khi lúc ban quyền đã minh nhiên định liệu cách khác, hoặc nhân thân được chọn vì tài năng riêng, năng quyền thường xuyên đã ban cho Vị Thường quyền nào sẽ không chấm dứt khi Vị ấy hết quyền, mặc dầu chính ngài đã bắt đầu hành sử quyền đó, nhưng năng quyền ấy chuyển sang bất cứ Vị Thường quyền nào kế vị Ngài để lãnh đạo
  • Điều 133:#1. Người thụ ủy, nếu vượt quá giới hạn ủy nhiệm của mình hoặc về sự vật hoặc về người, thì hành động vô hiệu.
  1. 2 . Người thụ ủy làm trọn những gì đã được ủy nhiệm theo phương thức khác không đúng như đã xác định trong ủy nhiệm, thì không kể là vượt quá giới hạn ủy nhiệm của mình, trừ khi chính người chủ ủy đã qui định phương thức phải làm để thành sự.
  • Điều 134:#1. Trong luật, các vị sau đây được gọi là Thường quyền: ngoài Đức Giáo Hoàng, còn có các Giám Mục Giáo phận và các Vị khác, dầu chỉ là tạm thời lãnh đạo một Giáo Hội địa phương hay một cộng đồng tương đương với Giáo Hội địa phương, chiếu Điều 368, và cả những vị có Thường quyền hành pháp trong những cộng đồng có nghĩa là: các Vị Tổng Đại diện, các vị Đại diện Giám mục, lại nữa, đối với các thành viên của mình, các Bề Trên cao cấp của các Tu hội Dòng Giáo sĩ thuộc quyền Giáo Hoàng và các Hôi Giáo sĩ đời sống Tông đồ thuộc quyền Giáo Hoàng, các vị này đều có ít là thường quyền hành pháp.
  1. 2 . Được gọi là Thường quyền sở tại tất cả những Vị được liệt kê ở #1, trừ các Bề trên các Tu hội Dòng và các Hội đời sống Tông đồ.
  1. 3 . Những gì các điều luật dành đích danh cho Giám Mục Giáo phận trong phạm vi quyền hành pháp được hiểu là chỉ thuộc thẩm quyền Giám Mục Giáo phận và các vị khác tương đương với Ngài theo Điều 386 #2, còn vị Tổng Đại Diện Giám mục không có thẩm quyền ấy, trừ khi có ủy nhiệm đặc biệt.
  • Điều 135:#1. Quyền lãnh đạo được phân thành: quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
  1. 2 . Quyền lập pháp phải được hành sử theo phương thức đã qui định, và vị lập pháp nào dưới quyền tối thượng có quyền ấy trong Giáo Hội, không thể ủy quyền cách thành sự, trừ khi luật minh nhiên định liệu thể khác; vị lập pháp cấp dưới không thể ban hành cách thành sự luật nào nghịch với quyền cấp trên.
  1. 3 . Quyền tư pháp của các thẩm phán và các hiệp đoàn thẩm phán phải được hành sử theo phương thức luật đã qui định và không thể được ủy, trừ khi là để hoàn thành những hành vi chuẩn bị cho một sắc lệnh hay một án lệnh nào.
  1. 4 . Còn về việc hành sử quyền hành pháp, phải giữ những qui định của các điều sau đây.
  • Điều 136:Vị có quyền hành pháp, mặc dầu ở ngoài địa hạt, vẫn có thể hành sử quyền ấy đối với các người thuộc quyền, cả khi họ vắng mặt khỏi địa hạt, trừ khi do bản chất sự việc hoặc do qui định của luật, thấy rõ ràng thể khác, còn đối với những người kiều cư hiện đang cư ngụ trong địa hạt, Ngài có thể thi hành quyền ấy, nếu là để ban ân huệ hoặc để thi hành những luật phổ quát hoặc đặc lập mà họ buộc phải giữ chiếu Điều 13 #2, số 2.
  • Điều 137:#1. Thường quyền hành pháp có thể được ủy, vừa cho từng việc vừa cho mọi trường hợp, trừ khi luật minh nhiên định liệu thể khác.
  1. 2 . Quyền hành pháp do Tông Tòa ủy cho có thể được chuyển ủy, hoặc cho từng việc hoặc cho mọi trường hợp, trừ khi nhân thân được chọn vì tài năng riêng hoặc việc chuyển ủy đã minh nhiên bị cấm.
  1. 3 . Quyền hành pháp được ủy do một quyền bính khác có thường quyền, nếu được ủy cho mọi trường hợp thì chỉ có thể được chuyển ủy cho từng trường hợp; còn nếu được ủy cho từng việc hoặc cho nhiều việc xác định thì không thể chuyển ủy, trừ khi vị chủ ủy minh nhiên ban phép.
  1. 4 . Không quyền nào đã được chuyển ủy, lại có thể được chuyển ủy lần nữa, trừ khi vị chủ ủy đã minh nhiên cho phép.
  • Điều 138:Thường quyền hành pháp và quyền ủy cho mọi trường hợp, phải được giải thích theo nghĩa rộng, còn bất cứ quyền nào khác, phải được giải thích theo nghĩa hẹp; tuy nhiên, ủy cho ai quyền nào đó thì cũng hiểu là ban cho họ những gì cần thiết để hành sử quyền ấy.
  • Điều 139:#1. Trừ khi luật ấn định thể khác, nếu có ai nại đến thẩm quyền nào kể cả thẩm quyền cấp trên, thì quyền hành pháp, hoặc thường quyền hoặc quyền ủy của một thẩm quyền khác, không bị huyền chỉ.
  1. 2 . Tuy nhiên, quyền cấp dưới đừng xen vào công việc đã được đệ trình lên quyền cấp trên, trừ khi có lý do trầm trọng và khẩn cấp; trong trường hợp nầy, tức khắc phải báo cho cấp trên biết sự việc đó.
  • Điều 140:#1. Khi nhiều người được ủy theo cách toàn đới để làm cùng một việc, nếu một người đã khởi sự làm trước, thì người khác không được làm, trừ khi sau nầy người ấy bị cản trở hoặc không muốn tiếp tục làm nữa.
  1. 2 . Khi nhiều người được ủy theo cách hiệp đoàn để làm việc, thì mọi người phải làm, chiếu Điều 119, trừ khi đã định liệu thể khác lúc ủy nhiệm.
  1. 3 . Quyền hành pháp được ủy cho nhiều người, thì được suy đoán là ủy cho họ theo cách toàn đới.
  • Điều 141:Khi nhiều người được ủy kế tiếp nhau, ủy nhiệm được trao cho ai trước và rồi đã không bị thu hồi, thì người ấy phải giải quyết công việc.
  • Điều 142:#1. Quyền ủy chấm dứt:

- Khi đã hoàn tất ủy nhiệm. - Khi thời hạn đã mãn hay đã hết số trường hợp được ủy. - Khi không còn mục đích của việc ủy. - Khi vị chủ ủy đã trực tiếp tống đạt lệnh thu hồi cho người thụ ủy, cũng như khi người thụ ủy báo cho vị chủ ủy biết mình từ khước và đã được chấp nhận; nhưng quyền ủy không chấm dứt, khi vị chủ ủy hết quyền, trừ khi thấy rõ điều đó trong những điều khoản đính kèm.

  1. 2 . Nhưng một hành vi do quyền ủy được hành sử nơi tòa trong mà thôi nếu được thực hiện vì vô ý khi thời hạn ủy nhiệm đã hết, thì vẫn thành.
  • Điều 143:#1. Thường quyền chấm dứt khi chức vụ gắn liền với quyền ấy bị mất.
  1. 2 . Trừ khi luật định liệu thể khác, thường quyền bị huyền chỉ, nếu có kháng cáo hay thượng cầu hợp pháp chống lại việc bãi nhiệm hay giải nhiệm.
  • Điều 144:#1. Khi có lầm lẫn chung hoặc về sự kiện hoặc về pháp luật cũng như khi có hồ nghi tích cực và cái nhiên hoặc về pháp luật hoặc về sự kiện, thì Giáo Hội bổ khuyết quyền lãnh đạo hành pháp cho cả tòa trong lẫn tòa ngoài.
  1. 2 . Qui tắc trên cũng được áp dụng cho những năng quyền nói ở những Điều 883, 996 và 1111 #1.

TIẾT IX GIÁO VỤ

  • Điều 145:#1. Giáo vụ là bất cứ nhiệm vụ nào đã được thiết lập một cách cố định hoặc do ý định Thiên Chúa hoặc do Giáo Hội để được thi hành nhằm mục đích thiêng liêng.
  1. 2 . Nghĩa vụ và quyền lợi riêng của từng giáo vụ được ấn định hoặc do chính luật thiết lập chức vụ hoặc do sắc lệnh của thẩm quyền vừa thiết lập vừa trao ban chức vụ ấy.

CHƯƠNG I BỔ NHIỆM VÀO GIÁO VỤ

  • Điều 146:Giáo vụ không thể được đảm nhận cách thành sự nếu không có sự bổ nhiệm theo Giáo luật.
  • Điều 147:Việc bổ nhiệm vào giáo vụ được thực hiện:

- do thẩm quyền Giáo Hội tự do trao ban, - do thẩm quyền ấy cắt đặt sau khi được giới thiệu, - do thẩm quyền ấy chuẩn y hoặc chấp nhận sau khi được bầu cử hoặc thỉnh cử. - cuối cùng, do việc bầu cử mà thôi và việc chấp nhận của người đắc cử, nếu việc bầu cử không cần được chuẩn y.

  • Điều 148:Ai có quyền thiết lập, đổi mới và bãi bỏ giáo vụ, thì cũng có quyền bổ nhiệm vào giáo vụ, trừ khi luật ấn định thể khác.
  • Điều 149:#1. Để có thể được tiến cử nhận một giáo vụ, đương sự phải thông hiệp với Giáo Hội và có khả năng thích hợp, nghĩa là có những đức tính mà luật phổ quát hay đặc lập hoặc luật về việc tặng lập đòi phải có đối với chức vụ ấy.
  1. 2 . Việc bổ nhiệm người thiếu những đức tính cần phải có vào giáo vụ, chỉ vô hiệu khi luật phổ quát hay đặc lập hoặc luật về việc tặng lập minh nhiên đòi phải có để việc bổ nhiệm thành sự, bằng không, vẫn thành sự, nhưng có thể bị hủy do sắc lệnh của thẩm quyền hoặc do án lệnh của tòa hành chánh.
  1. 3 .Việc bổ nhiệm do mại thánh vào một giáo vụ, đương nhiên là vô hiệu.
  • Điều 150:Giáo vụ nào bao gồm toàn bộ việc coi sóc các linh hồn và đòi phải thi hành chức linh mục mới chu toàn được không thể trao ban thành sự cho người chưa có chức ấy.
  • Điều 151:Nều không có lý do trầm trọng thì đừng trì hoãn việc bổ nhiệm vào chức vụ bao gồm việc coi sóc các linh hồn
  • Điều 152: Đ ừng trao cho người nào hai hay nhiều giáo vụ không tương hợp, nghĩa là những chức vụ không thể được chu toàn trong cùng một lúc do cùng một người.
  • Đ iều 153:#1 . Bổ nhiệm vào chức vụ không khuyết vị theo luật, đương nhiên là vô hiệu, và sau nầy có khuyết vị cũng không trở thành hữu hiệu.
  1. 2 . Những nếu là chức vụ được trao ban chiếu luật để thi hành trong thời gian nhất định, thì trong vòng sáu tháng, trước khi hết hạn ấy, việc bổ nhiệm có thể được thực hiện và có hiệu lực kể từ ngày khuyết vị.
  1. 3 . Việc hứa ban một chức vụ do bất cứ ai, không tạo nên hiệu lực pháp lý nào.
  • Điều 154:Chức vụ khuyết vị chiếu luật, nhưng nếu có người nào còn chiếm giữ cách bất hợp pháp, có thể được trao ban, miễn là đã hợp thức tuyên bố việc chiếm giữ trên là bất hợp pháp, và phải ghi lời tuyên bố ấy trong văn thư trao ban.
  • Điều 155:Ai thay thế người lơ đễnh hay bị cản trở mà trao ban chức vụ, thì không vì thế mà có quyền nào đối với người đã nhận, những địa vị pháp lý của người nầy được xác định như thể là việc bổ nhiệm đã được thực hiện theo qui tắc thông thường của luật.
  • Điều 156:Việc bổ nhiệm vào bất cứ chức vụ nào phải được ghi trên giấy tờ.

MỤC I TỰ DO TRAO BAN

  • Điều 157:Nếu luật không minh nhiên ấn định thể khác, Giám Mục Giáo phận có quyền bổ nhiệm vào những giáo vụ trong Giáo Hội địa phương của mình bằng cách tự do trao ban.

MỤC II GIỚI THIỆU

  • Điều 158:#1. Ai có quyền giới thiệu vào giáo vụ, phải thực hiện việc giới thiệu ấy với quyền bính có nghĩa vụ cắt đặt giáo vụ được nói tới, và nếu không có gì khác đã được định liệu cách hợp pháp, phải giới thiệu trong vòng ba tháng, kể từ khi được tin chức vụ khuyết vị.
  1. 2 . Nếu hiệp đoàn hay nhóm người nào có quyền giới thiệu thì việc chỉ định người phải được giới thiệu phải làm theo những qui định của các Điều 165-179.
  • Điều 159:Không được giới thiệu ai ngoài ý muốn của họ, vì thế, định giới thiệu ai thì hỏi ý kiến người ấy, rồi mới có thể giới thiệu, trừ khi đương sự từ chối trong vòng tám ngày hữu dụng.
  • Điều 160:#1. Ai có quyền giới thiệu thì có thể giới thiệu một hay nhiều người, hoặc cùng một lúc hoặc kế tiếp nhau
  1. 2 . Không ai có thể tự giới thiệu, nhưng hiệp đoàn hay nhóm người có thể giới thiệu một thành viên nào của mình.
  • Điều 161:#1. Nếu luật không ấn định thể khác, ai đã giới thiệu một người bị xét thấy là không có khả năng thích hợp, thì chỉ có thể giới thiệu một lần nữa, một ứng viên khác, trong vòng một tháng.
  1. 2 . Nếu người được giới thiệu từ chối hoặc chết trước khi được cắt đặt, thì ai có quyền giới thiệu có thể thi hành quyền mình một lần nữa trong vòng một tháng, kể từ khi được tin từ khước hoặc chết.
  • Điều 162:Ai đã không giới thiệu trong vòng thời gian hữu dụng chiếu Điều 158 #1 và Điều 161, cũng như ai đã hai lần giới thiệu người bị xét thấy không có khả năng thích hợp thì trong trường hợp ấy mất quyền giới thiệu; và người nào lo việc cắt đặt thì có quyền tự do bổ nhiệm vào chức vụ khuyết vị, nhưng phải được Vị Thường quyền của người được bổ nhiệm đồng ý.
  • Điều 163:Ai chiếu luật có thẩm quyền cắt đặt người đã được giới thiệu, hãy cắt đặt người đã được giới thiệu cách hợp pháp mà mình đã nhận thấy có khả năng thích hợp và đương sự đã chấp nhận, còn nếu nhiều người được giới thiệu cách hợp pháp đều được nhận thấy có khả năng thích hợp, thì phải cắt đặt một trong những người ấy.

MỤC III BẦU CỬ

  • Điều 164:Nếu luật không định liệu thể khác, trong các cuộc bầu cử theo Giáo luật phải giữ qui định của các Điều sau đây.
  • Điều 165:Trừ khi luật hay qui chế hợp pháp của hiệp đoàn hoặc của nhóm định liệu thể khác, nếu hiệp đoàn hay nhóm người nào có quyền bầu cử vào chức vụ thì đừng hoãn việc bầu cử quá ba tháng hữu dụng, tính từ khi được tin tức vụ ấy khuyết vị; quá thời hạn ấy mà không làm gì, thì giáo quyền nào có quyền chuẩn y việc bầu cử hay có quyền bổ nhiệm kế tiếp hãy tự do bổ nhiệm vào chức vụ khuyết vị.
  • Điều 166:#1. Chủ tịch hiệp đoàn hoặc nhóm phải triệu tập mọi người thuộc hiệp đoàn hay thuộc nhóm, nhưng khi phải triệu tập từng người một, thì việc triệu tập có giá trị, nếu được thực hiện tại nơi họ có gia cư hoặc có chuẩn cư hoặc có chuẩn cư hay nơi họ cư ngụ.
  1. 2 . Nếu ai trong những người phải được triệu tập bị bỏ sót nên vắng mặt, thì việc bầu cử vẫn có giá trị; nhưng nếu người nầy khiếu nại và chứng minh sự bỏ sót và vắng mặt, thì vị thẩm quyền phải hủy bỏ việc bầu cử, dù đã được chuẩn y, miễn là, chiếu luật, thấy rõ việc khiếu nại đã được chuyển đi trễ nhất trong vòng ba ngày, kể từ khi nhận được tin bầu cử.
  1. 3 . Nếu hơn một phần ba cử tri bị bỏ sót, cuộc bầu cử đương nhiên bất thành, trừ khi mọi người bị bỏ sót đã thực sự có mặt.
  • Điều 167:#1. Sau khi đã được triệu tập cách hợp pháp, những người hiện diện đúng ngày, đúng nơi đã ấn định khi triệu tập, có quyền đầu phiếu, không được phép đầu phiếu bằng thư hay nhờ người đại diện, trừ khi qui chế định liệu thể khác cách hợp pháp.
  1. 2 . Nếu có ai trong số các cử tri hiện diện tại nhà nơi diễn ra cuộc bầu cử, nhưng vì đau yếu, không tham dự cuộc bầu cử được, thì những kiểm phiếu viên phải đến lấy phiếu do người ấy viết.
  • Điều 168:Mặc dầu người nào nhân danh riêng mình có quyền đầu phiếu vì nhiều danh nghĩa, cũng chỉ có thể bỏ một phiếu.
  • Điều 169:Để cuộc bầu cử thành sự, không ai có thể được chấp nhận cho đầu phiếu nếu không thuộc tập đoàn hay nhóm.
  • Điều 170:Cuộc bầu cử đương nhiên bất thành, nếu trong đó tự do đã thực sự bị cản trở, bất cứ cách nào.
  • Điều 171:#1. Không có tư năng để đầu phiếu:
   * Người không có khả năng thực thi hành động nhân linh.
   * Người không có quyền bầu cử;
   * Người mắc vạ tuyệt thông, hoặc do án lệnh tư pháp hoặc do sắc lệnh phạt vạ hay tuyên vạ;
   * Người công khai lìa bỏ sự hiệp thông với Giáo Hội.
  1. 2. Nếu ai trong những người kể trên được chấp nhận cho đầu phiếu, thì phiếu của người ấy vô hiệu, nhưng cuộc bầu cử vẫn có giá trị, trừ khi thấy rõ nếu loại phiếu ấy ra, người đắc cử sẽ không hội đủ số phiếu đòi phải có.
  • Điều 172:#1. Để thành sự, phiếu phải là:
   * Phiếu tự do, vì thế, ai bị cưỡng ép trực tiếp hay gián tiếp do sợ sệt trầm trọng hoặc man trá mà chọn một người nào nhất định hoặc nhiều người riêng rẽ nhau, phiếu của người ấy bất thành.
   * Phiếu kín, chắc chắn, tuyệt đối, xác định.
  1. 2 . Các điều kiện đã được đặt ra cho việc đầu phiếu trước khi bầu cử đều phải coi như không có.
  • Điều 173:#1. Trước khi bắt đầu bầu cử, phải cử ít nhất hai kiểm phiếu viên trong số những thành viên hiệp đoàn hay nhóm.
  1. 2 . Kiểm phiếu viên phải thâu phiếu và trước mặt vị chủ tịch cuộc bầu cử phải kiểm soát xem số lá phiếu có đúng với số cử tri không, rồi kiểm chính các lá phiếu và công bố ai được bao nhiêu phiếu.
  1. 3 . Nếu số phiếu nhiều hơn số người đầu phiếu thì cuộc đầu phiếu vô giá trị.
  1. 4 . Mọi việc liên quan tới cuộc bầu cử phải được người giữ nhiệm vụ thư ký ghi lại cẩn thận, và ít nhất phải được người ấy cùng với vị chủ tịch và các kiểm phiếu viên ký nhận, rồi phải được lưu trữ cẩn mật trong văn khố hiệp đoàn.
  • Điều 174:#1. Trừ khi luật hoặc qui chế định liệu thể khác, cuộc bầu cử cũng có thể được thực hiện trung phán ước, miễn là các cử tri, trên giấy tờ nhất trí thỏa thuận chuyển trao quyền bầu cử lần ấy cho một hay nhiều người có khả năng thích hợp, hoặc ở trong hoặc ở ngoài số cử tri, những người ấy do năng quyền đã lãnh nhận, sẽ bầu cử nhân danh mọi người.
  1. 2 . Nếu là hiệp đoàn hoặc nhóm chỉ gồm giáo sĩ, thì những người trung phán phải có chức thánh, bằng không, cuộc bầu cử bất thành.
  1. 3 . Những người trung phán phải giữ các qui định của luật về bầu cử và để cuộc bầu cử thành sự, cũng phải giữ các điều kiện không trái luật được đặt cho trung phán ước; còn những điều kiện trái luật, phải kể như đã không được đặt ra.
  • Điều 175:Trung phán ước chấm dứt và quyền đầu phiếu lại trở về những người chuyển quyền:
   * Khi việc còn y nguyên mà hiệp đoàn hay nhóm đã thu hồi quyền trung phán;
   * Khi không giữ đầy đủ điều kiện nào đã đặt ra trong trung phán ước;
   * Khi cuộc bầu cử đã xong mà vô hiệu.
  • Điều 176:Trừ khi luật hay qui chế định liệu thể khác, ai được số phiếu cần thiết chiếu theo Điều 119 #1, thì phải được coi là đắc cử và vị chủ tịch hiệp đoàn hay nhóm phải tuyên bố như vậy.
  • Điều 177:#1. Việc bầu cử phải được thông báo ngay cho người đắc cử; người nầy, trong vòng tám ngày hữu dụng, kể từ khi nhận được thông báo, phải cho vị chủ tịch hiệp đoàn hoặc nhóm biết có chấp nhận hay không; chẳng vậy, việc bầu cử không có hiệu lực.
  1. 2 . Nếu người đắc cử không chấp nhận, thì mất mọi quyền do việc bầu cử, dù sau nầy có chấp nhận cũng không được hưởng lại quyền ấy, nhưng có thể được bầu lại; còn hiệp đoàn hay nhóm, trong vòng một tháng, từ khi nhận tin người đắc cử không chấp nhận, phải tiến hành cuộc bầu cử mới.
  • Điều 178:Người đắc cử, sau khi chấp nhận việc bầu cử, tức khắc được chức vụ với đầy đủ quyền, nếu việc bầu cử không cần chuẩn y; bằng không, chỉ được quyền để nhận chức vụ.
  • Điều 179:#1. Nếu việc bầu cử cần phải được chuẩn y, người đắc cử, trong vòng tám ngày hữu dụng, kể từ ngày chấp nhận việc bầu cử, phải đích thân nhờ người khác xin thẩm quyền chuẩn y; bằng không sẽ mất mọi quyền, trừ khi chứng minh được rằng mình bị ngăn trở chính đáng, chưa xin chuẩn y được.
  1. 2 . Nếu thẩm quyền thấy người đắc cử có đủ khả năng thích đáng chiếu Điều 149 #1, và việc bầu cử đã hoàn thành đúng luật, thì không thể khước từ việc chuẩn y.
  1. 3 . Phải chuẩn y bằng giấy tờ.
  1. 4 . Trước khi nhận được văn thư chuẩn y, người đắc cử không được phép xen mình vào việc quản trị theo chức vụ, trong những việc hoặc thiêng liêng hoặc trần thế, và giả như có thực hiện hành vi nào, hành vi đó vô hiệu.
  1. 5 . Nhận được văn thư chuẩn y rồi, người đắc cử có chức vụ với đầy đủ quyền, trừ khi luật định liệu thể khác.

MỤC 4 THỈNH CƯ

  • Điều 180:#1. Nếu các cử tri nghĩ người nào thích đáng hơn và mình ưng ý hơn, nhưng việc bầu cử người ấy mắc ngăn trở theo Giáo luật và ngăn trở ấy có thể và thường được chuẩn chước, thì họ có thể dùng lá phiếu của mình thỉnh cử người ấy với thẩm quyền, trừ khi luật định thể khác.
  1. 2 . Những người trung phần không được thỉnh cử, trừ khi điều đó đã được ghi trong trung phần ước.
  • Điều 181:#1. Để việc thỉnh cử có hiệu lực, đòi phải có ít là 2/3 số phiếu.
  1. 2 . Phiếu thỉnh cử phải ghi rõ bằng từ “Tôi thỉnh cử” hoặc bằng từ tương đương, công thức: “Tôi bầu cử”, “hay” “Tôi thỉnh cử”, hoặc công thức tương đương, có giá trị cho việc bầu cử, nếu không có ngăn trở, chẳng vậy, thì có giá trị cho việc thỉnh cử.
  • Điều 182:#1. Vị chủ tịch trong vòng tám ngày hữu dụng, phải đệ trình lên thẩm quyền có quyền chuẩn y việc bầu cử; thẩm quyền nầy chuẩn chước ngăn trở, hoặc nếu không có quyền chuẩn chước, thì xin thẩm quyền cấp trên, nếu việc chuẩn y không cần thiết, thì việc thỉnh cử phải được đệ lên thẩm quyền để được chuẩn chước.
  1. 2 . Nều việc thỉnh cử không được đệ trình trong thời gian qui định, thì đương nhiên vô hiệu, và lần nầy, hiệp đoàn hoặc nhóm mất quyền bầu cử hoặc thỉnh cử, trừ khi chứng minh được rằng vị chủ tịch vì ngăn trở chính đáng mà không đệ trình việc thỉnh cử, hoặc vì man trá hay lơ đểnh đã không đệ trình đúng thời hạn.
  1. 3 . Việc thỉnh cử không đem lại quyền nào cho người được thỉnh cử, thẩm quyền không buộc phải chấp nhận việc thỉnh cử.
  1. 4 . Một khi việc thỉnh cử đã được đệ trình lên thẩm quyền, các cử tri không thể rút lại, trừ khi thẩm quyền đồng ý.
  • Điều 183:#1. Khi thẩm quyền không chấp nhận việc thỉnh cử, quyền bầu cử lại trở về hiệp đoàn hoặc nhóm.
  1. 2 . Nếu việc thỉnh cử đã được chấp thuận, phải thông báo cho người được thỉnh cử, người nầy phải trả lời chiếu Điều 177 #1.
  1. 3 . Người nào nhận việc thỉnh cử đã được chấp thuận, tức khắc được chức vụ với đầy đủ quyền.

CHƯƠNG II CHẤM DỨT GIÁO VỤ

  • Điều 184: #1. Giáo vụ bị chấm dứt do thời gian ấn định đã hết, do tuổi luật định đã qua, do từ nhiệm, do chuyển nhiệm, do giải nhiệm và do bãi nhiệm.
  1. 2 . Dầu quyền bính đã trao ban giáo vụ có thể bị chấm dứt bất cứ cách nào, giáo vụ cũng không bị chấm dứt, trừ khi luật định liệu thể khác.
  1. 3 . Việc chấm dứt chức vụ khi đã có hiệu lực, phải được báo sớm hết sức cho tất cả những ai có một quyền nào đối với việc bổ nhiệm vào chức vụ.
  • Điều 185:Tước hiệu “Người có công” có thể được tặng cho ai chấm dứt chức vụ do quá hạn tuổi, hoặc do từ nhiệm đã được chấp nhận.
  • Điều 186:Việc chấm dứt chức vụ do thời hạn đã hết hay do hạn tuổi đã qua, chỉ có hiệu lực từ lúc thẩm quyền thông báo bằng văn thư.

MỤC 1 TỪ NHIỆM

  • Điều 187:Bất cứ ai còn sử dụng được lý trí của mình, đều có thể từ nhiệm giáo vụ vì lý do chính đáng.
  • Điều 188:Việc từ nhiệm đương nhiên là vô hiệu, nếu đã được thực hiện do sợ sệt trầm trọng, gây nên cách bất công, do man trá hay do lầm lẫn về điều chủ yếu, hoặc do mại thánh.
  • Điều 189:#1. Để có hiệu lực, việc từ nhiệm hoặc cần được chấp nhận hoặc không, phải đệ lên thẩm quyền có nhiệm vụ bổ nhiệm vào chức vụ ấy, và phải thực hiện trên giấy tờ hoặc bằng miệng trước hai nhân chứng.
  1. 2 . Thẩm quyền đừng chấp nhận việc từ nhiệm không dựa trên lý do chính đáng và cân xứng.
  1. 3 . Việc từ nhiệm nào cần phải được chấp nhận mà không được chấp nhận trong vòng ba tháng thì mất hết hiệu lực; còn việc từ nhiệm nào không cần được chấp nhận, thì có hiệu lực ngay khi người từ nhiệm thông báo đúng luật.
  1. 4 . Bao lâu việc từ nhiệm chưa có hiệu lực, người từ nhiệm có thể rút lại, khi đã có hiệu lực, không thể rút lại nữa, nhưng người từ nhiệm có thể nhận chức vụ với danh nghĩa khác.

MỤC 2 CHUYỂN NHIỆM

  • Điều 190:#1. Việc chuyển nhiệm chỉ có thể được thực hiện do vị có quyền bổ nhiệm đối với chức vụ chấm dứt, và đồng thời đối với chức vụ được trao ban.
  1. 2 . Nếu việc chuyển nhiệm được thực hiện trái ý người đương chức, đòi phải có lý do quan trọng và phải giữ thụ tục do luật qui định, nhưng đương chức vẫn luôn có quyền trình bày lý do ngược lại.
  1. 3 . Để có hiệu lực, việc chuyển nhiệm phải được thông báo trên giấy tờ.
  • Điều 191:#1. Trong trường hợp chuyển nhiệm, chức vụ cũ khuyết vị do việc nhận chức vụ mới, được thực hiện theo giáo luật, trừ khi luật định liệu hoặc thẩm quyền qui định thể khác.
  1. 2 . Người được chuyển nhiệm vẫn hưởng lương bổng gắn liền với chức vụ cũ, cho tới khi nhận chức vụ mới theo đúng giáo luật.

MỤC 3 GIẢI NHIỆM

  • Điều 192:Một người bị giải nhiệm, hoặc do sắc lệnh của thẩm quyền ban hành cách hợp pháp, vẫn được giữ nguyên quyền lợi có thể đắc thủ do khế ước, hoặc do chính luật chiếu Điều 194.
  • Điều 193:#1. Không có thể giải nhiệm một người được trao ban chức vụ vô thời hạn, nếu không vì những lý do quan trọng và phải giữ thủ tục luật đã ấn định.
  1. 2 . Điều kiện trên cũng áp dụng cho việc giải nhiệm trước khi mãn hạn một người được trao ban chức vụ có thời hạn, vẫn giữ nguyên qui định của Điều 624 #3.
  1. 3 . Thẩm quyền nào theo sự định đoạt khôn ngoan của mình đã trao cho ai chức vụ chiếu theo qui định của luật, có thể giải nhiệm người ấy vì lý do chính đáng, theo xét đoán của mình.
  1. 4 . Để có hiệu lực, sắc lệnh giải nhiệm phải được thông báo trên giấy tờ.
  • Điều 194:#1. Do chính luật, bị giải nhiệm khỏi giáo vụ:
   * người đã mất bậc giáo sĩ;
   * người đã công khai từ bỏ đức tin công giáo, hoặc không còn hiệp thông với Giáo Hội;
   * Giáo sĩ đã mưu hôn, dù chỉ là hôn nhân theo dân luật.
  1. 2 . Chỉ có thể bắt buộc thi hành việc giải nhiệm nói ở số 2 và 3, nếu việc giải nhiệm ấy đã rõ ràng do thẩm quyền công bố.
  • Điều 195:Nếu ai bị giải nhiệm khỏi chức vụ đang đảm bảo đời sống của mình, không do chính luật nhưng do sắc lệnh của thẩm quyền, thì thẩm quyền ấy phải lo sao đương sự sinh sống trong một thời gian thích hợp, trừ khi đã dự liệu thể khác.

MỤC 4 BÃI NHIỆM

  • Điều 196:#1. Bãi nhiệm, tức là biện pháp nhằm trừng phạt một tội, chỉ có thể được thực hiện chiếu luật.
  1. 2 . Việc bãi nhiệm có hiệu lực theo qui định của những điều trong luật hình sự.

TIẾT X THỜI HIỆU

  • Điều 197:Giáo Hội chấp nhận thời hiệu, xét như là phương thế thủ đắc hay tiêu diệt quyền lợi cá nhân hoặc phương thế thoát khỏi những nghĩa vụ, như sẵn có trong luật dân sự của mỗi nước, trừ những gì được qui định trong các Điều của Bộ Luật nầy.
  • Điều 198:Không thời hiệu nào có hiệu lực, nếu không dựa trên sự ngay tình, chẳng những lúc đầu mà còn suốt thời gian cần để có thời hiệu; vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1362.
  • Điều 199:Thời hiệu không được áp dụng đối với:
   * những quyền lợi và nghĩa vụ thuộc thiên luật tự nhiên hay thiết định;
   * những quyền lợi chỉ có thể được đắc thủ do đặc ân Tông Tòa;
   * quyền lợi và nghĩa vụ liên hệ trực tiếp đến đời sống thiêng liêng của các Kitô hữu;
   * ranh giới chắc chắn và không nghi ngờ của các địa hạt Giáo Hội;
   * tiền dâng lễ, và nhiệm vụ dâng lễ;
   * việc bổ nhiệm vào giáo vụ mà theo luật đòi phải có việc thi hành thánh chức;
   * quyền kinh lý và bổn phận vâng phục, khiến cho các tín hữu Kitô không được giáo quyền nào thăm viếng và khiến cho họ không tùng phục một giáo quyền nào nữa.

TIẾT XI CÁCH TÍNH THỜI GIAN

  • Điều 200:Trừ khi luật minh nhiên định liệu thể khác, thời gian phải được tính chiếu theo các Điều sau đây:
  • Điều 201:#1. Thời gian liên tục được hiểu là thời gian không bị gián đoạn.
  1. 2 . Thời gian hữu dụng được hiểu là thời gian thuộc về người thi hành hoặc theo đuổi quyền lợi mình, đến nỗi thời gian ấy không qua đi đối với những người không biết hoặc không thể hành động được.
  • Điều 202:#1. Trong luật, ngày được hiểu là thời gian gồm 24 giờ liên tục và bắt đầu từ nửa đêm, trừ khi minh nhiên định liệu thể khác. Tuần được hiểu là thời gian 7 ngày. Tháng là thời gian 30 ngày và năm là thời gian 365 ngày, trừ khi nói rằng, tháng và năm phải tính như trong lịch.
  1. 2 . Phải tính tháng và năm như trong lịch, nếu là thời gian liên tục.
  • Điều 203:#1. Ngày khởi điểm thì không tính vào thời hạn, trừ khi giây phút bắt đầu của thời hạn ấy trùng ngay với giây phút đầu của ngày, hoặc đã minh nhiên định liệu thể khác.
  1. 2 . Nếu không ấn định ngược lại, ngày đích điểm được tính vào thời hạn, và nếu thời gian gồm một hay nhiều năm hoặc tháng hoặc tuần thì thời hạn ấy chấm dứt vào hết ngày cuối cùng mang cùng một số, thì thời hạn ấy chấm dứt vào hết ngày cuối tháng.