Bộ luật Hàng hải nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005/Chương VIII/Mục 2

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Điều 166. Môi giới hàng hải và người môi giới hàng hải[sửa]

  1. Môi giới hàng hải là dịch vụ làm trung gian cho các bên liên quan trong việc giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng thuê tàu, hợp đồng mua bán tàu biển, hợp đồng lai dắt tàu biển, hợp đồng thuê thuyền viên và các hợp đồng khác liên quan đến hoạt động hàng hải theo hợp đồng môi giới hàng hải.
  2. Người môi giới hàng hải là người thực hiện dịch vụ môi giới hàng hải.

Điều 167. Quyền và nghĩa vụ của người môi giới hàng hải[sửa]

  1. Có quyền phục vụ các bên tham gia hợp đồng với điều kiện phải thông báo cho tất cả các bên biết việc đó và có nghĩa vụ quan tâm thích đáng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
  2. Được hưởng hoa hồng môi giới khi hợp đồng được ký kết do hoạt động trung gian của mình. Người môi giới và người được môi giới thỏa thuận về hoa hồng môi giới; nếu không có thỏa thuận trước thì hoa hồng môi giới được xác định trên cơ sở tập quán địa phương.
  3. Có nghĩa vụ thực hiện công việc môi giới một cách trung thực.
  4. Chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của các bên được môi giới trong thời gian môi giới.
  5. Trách nhiệm của người môi giới hàng hải chấm dứt khi hợp đồng giữa các bên được giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Điều 168. Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng môi giới hàng hải[sửa]

Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng môi giới hàng hải là hai năm, kể từ ngày phát sinh tranh chấp.