Bước tới nội dung

Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh  (Hậu Tần
của Cưu-ma-la-thập, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh (chữ Hán: 燈指因緣經; Kinh về nhân duyên của người có ngón tay phát sáng) là một kinh kể về cuộc đời và tiền kiếp của trưởng giả Đăng Chỉ. Điểm đặc biệt của vị này là từ khi sinh ra, trên mười đầu ngón tay luôn phát ra ánh sáng rực rỡ soi thấu mọi nơi, không bao giờ tắt.

Qua câu chuyện của Đăng Chỉ, Đức Phật thuyết về quy luật Nhân quả và Phúc đức. Ánh sáng trên ngón tay là kết quả của việc trong tiền kiếp, ông đã thành tâm thắp đèn cúng dường trước tháp thờ Phật và tu sửa chùa chiền. Kinh là bài học sâu sắc về sự quý báu của tâm thành kính và quả phúc không thể nghĩ bàn của việc cúng dường ánh sáng (đăng minh).

Tam tạng pháp sư Cưu Ma La Thập xứ Quy Từ nước Diêu Tần biên dịch.


Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh

Nếu trồng một chút thiện lành nơi ruộng phước thù thắng, thì sẽ được hưởng lạc thú cõi người và cõi trời, sau đó đạt đến Niết-bàn. Thế nên, bậc trí giả cần phải chuyên cần tu tập các nghiệp thiện. Nói đến "ruộng phước" (phước điền), đó chính là Phật. Thân Phật sáng rực như vàng ròng nóng chảy, trang nghiêm bằng công đức và trí tuệ; Ngài có đôi mắt vẹn tròn, khéo quan sát căn tính của chúng sinh; Ngài làm đèn minh cho thế gian tăm tối, làm bậc thiện tri thức cho chúng sinh ngu si; mọi điều thiện đều đầy đủ, danh tiếng vang khắp muôn phương. Đức Mâu Ni Thế Tôn là nơi quy y của đại chúng, thế nên trời người chí tâm tu phước nơi Ngài, không ai là không nhận được quả báo.

Xưa kia, tại thành Vương Xá, có năm ngọn núi bao quanh. Trong thành có ngõ xóm tương xứng, vườn tược rộng lớn, lâu đài trang nghiêm tráng lệ, phòng ốc kỳ diệu, hiên cao sáng sủa, lan can bao quanh. Lại có rừng cây ao hồ xinh đẹp, nước trong lành điều hòa, kênh rạch luân chuyển giao nhau. Cây cối rậm rạp, cành lá xanh tươi, hoa quả sum sê che khuất cả mặt trăng mặt trời. Gió thổi qua rừng hoa tỏa hương dịu mầu, hương thơm ngào ngạt lan tỏa khắp thành Vương Xá. Những bậc trí giả tu hạnh thanh tịnh đều cho rằng nơi đây trang nghiêm đặc biệt nên sinh lòng vui vẻ, từ phương xa vân tập về đây như mây.

Bấy giờ, vua của thành này là A-xà-thế, dùng đạo đức hóa độ muôn phương, dùng chính pháp trị quốc, người tu thiện rất đông, đất nước giàu mạnh, nhân dân an lạc. Lúc ấy trong thành có một vị trưởng giả, gia thế cực kỳ giàu có, kho tàng đầy ắp như vua Đa Văn (Tỳ-sa-môn), nhưng lại không có con nối dõi. Ông cầu khẩn thần linh để xin con, không lâu sau người vợ mang thai, đủ mười tháng sinh được một bé trai. Đứa bé này vốn có phúc nhân từ tiền kiếp, ngày mới sinh ra, một ngón tay của nó phát ra ánh sáng lớn, soi sáng mười dặm. Cha mẹ vui mừng, mời thân tộc và các thầy tướng đến, mở đại hội đặt tên cho con. Dựa vào ánh sáng nơi ngón tay, ông đặt tên cho con là Đăng Chỉ (Ngón tay đèn). Những người dự hội thấy dị tướng ấy đều khen là việc chưa từng có. Trong hội có một người Bà-la-môn tên là Bà-tu, thuộc lòng bốn bộ kinh Vệ-đà, học rộng biết nhiều. Thấy đứa bé có dung mạo kỳ lạ, ông mỉm cười nói: "Đứa trẻ này hoặc là trời Na-la-diên, Thích-đề-hoàn-nhân, Nhật thiên tử hoặc các vị đại đức thiên hạ phàm hiện thân xuống đây." Cha mẹ nghe xong càng thêm vui mừng, mở tiệc cúng dường, bố thí làm phước suốt bảy ngày bảy đêm. Tin tức truyền đi khắp nước, ai cũng nói trưởng giả sinh được một đứa con phúc đức, tiếng khen thấu đến tai vua.

Vua nghe xong liền hạ lệnh mang đứa bé tới. Trưởng giả tuân lệnh bế con đến cửa cung. Gặp lúc vua đang tiệc tùng ca nhạc, không ai thông báo nên không được vào. Ánh sáng từ ngón tay đứa bé soi thấu vào tận vườn cung, chiếu sáng rực rỡ lên thân vua và cung điện, khiến mọi vật đều biến thành màu vàng. Ánh sáng lan tỏa khắp cung nội như nước đầy tràn. Vua kinh ngạc hỏi: "Ánh sáng này từ đâu đến mà bỗng nhiên soi sáng cung ta? Chẳng lẽ Thế Tôn muốn hóa độ chúng sinh mà đến cửa nhà ta? Hay là các vị đại đức chư Thiên xuống đây?" Vua sai người ra xem, người hầu về báo: "Đứa bé mà đại vương gọi đang ở ngoài cửa. Tay đứa bé đặt trên vai nhũ mẫu, ngón tay phát ra hào quang soi thấu vào đây." Vua truyền lệnh mang đứa bé vào ngay. Thấy rồi, vua lấy làm lạ, tự tay nắm lấy tay đứa bé xem tướng, rồi phán rằng: "Bọn ngoại đạo sáu sư nói rằng không có nhân quả, thật là dối trá. Nếu không có nhân quả, sao đứa bé này sinh ra đã có dung mạo siêu tuyệt, ngón tay phát sáng rực rỡ thế này? Qua đây mà xem, bọn ngoại đạo đã dìm chúng sinh vào đường ác. Định rõ đứa bé này không phải do Tự Tại Thiên hóa sinh, cũng không phải do thần linh hay tự nhiên mà có, nhất định là do phước đời trước mà có thiện báo này, nay mới biết lời Phật nói là chân thật. Phật nói các nghiệp duyên trang nghiêm thế gian, chúng sinh mắt thấy quả báo mà không tu phước, thật đáng trách thay!" Vua lại nói: "Nay ta vẫn chưa rõ ánh sáng này có phải nhờ ánh nắng mặt trời hay không, muốn kiểm chứng thì phải đợi đến nửa đêm." Đến tối, vua cho đứa bé ngồi trên voi đi trước, vua cùng quần thần vào trong vườn. Ngón tay đứa bé soi đến đâu, bóng tối tan đến đó, nhìn rõ chim muông hoa quả trong vườn như ban ngày. Vua thấy vậy than rằng: "Lời Phật dạy thật chân diệu! Ngày nay ta đối với nhân quả đã sinh lòng tin kiên cố, khinh bỉ sự ngu muội của sáu sư ngoại đạo, càng thêm kính ngưỡng đức Phật."

Bấy giờ Kỳ-vực thưa với vua: "Phật nói trong kinh rằng nếu không thấy nghiệp thì sẽ sinh bỏn xẻn; nếu thấy được nghiệp thì sự bỏn xẻn sẽ dứt sạch. Nay thấy Đăng Chỉ có phước báo này, giả sử có nghèo khổ cũng nên dốc hết sức mà tu thiện nghiệp, huống chi giàu có mà không làm phước?" Nói xong thì trời vừa sáng, vua đưa Đăng Chỉ vào cung, vui mừng ban tặng nhiều trân bảo rồi cho về nhà.

Đăng Chỉ dần khôn lớn, cha ông chọn cưới cho ông một người vợ con nhà danh giá tương xứng. Nhà giàu, lễ giáo đầy đủ, gia sản càng ngày càng thịnh. Nhưng đời có thịnh thì có suy, có hợp thì có tan, cha mẹ Đăng Chỉ cùng lúc qua đời, giống như mặt trời lặn thì ánh sáng mất, mặt trăng hiện thì ánh sao mờ, lửa thành tro thì hơi nóng tắt, trẻ trung bị già nua xâm chiếm, mạng sống bị thần chết cướp đi. Cha mẹ mất rồi, gia kế dần sa sút. Đăng Chỉ vốn quen sống giàu sang nhàn hạ, không biết lo liệu gia nghiệp, lại kết bạn với kẻ xấu, phóng túng tâm ý, đắm chìm tửu sắc, tiêu xài không chừng mực, kho tàng không người trông nom, như vầng trăng tròn rồi lại khuyết, gia sản cứ thế hao mòn. Lúc ấy trong nước có lệ mỗi năm mở đại hội tại núi Ban-chu. Đăng Chỉ ăn mặc xa hoa, dẫn theo đoàn ca nhạc lộng lẫy như vua chúa đi dự hội. Mọi người thấy vậy đều kính nể khen ngợi. Giữa lúc mọi người đang vui chơi đàn hát náo nhiệt, bọn trộm biết nhà Đăng Chỉ bỏ trống liền đến cướp sạch tiền tài. Đăng Chỉ tối về thấy nhà cửa tan hoang, chỉ còn gạch đá vách tường, liền ngất xỉu ngã xuống đất. Khi tỉnh lại, ông sầu khổ than khóc, nghĩ rằng: "Cha ta xưa nay khó nhọc tích lũy gia sản giao lại cho ta, vậy mà ta không nối được nghiệp cha, lười biếng để người khinh khi, nay của cải mất sạch, kho tàng trống rỗng, gia súc tan tác, chỉ còn mình ta cô độc. Những đồ trang sức trên người cũng phải đem bán để ăn qua ngày, rồi khi hết đi thì biết làm sao?"

Lúc ấy, ánh sáng nơi ngón tay ông cũng biến mất. Người vợ ghét bỏ rồi bỏ đi, tôi tớ trốn chạy, người thân cắt đứt quan hệ. Những kẻ vốn thân thiết trước kia nay trở mặt như thù, thấy ông nghèo khổ thì sợ ông xin xỏ nên nổi giận xua đuổi. Đến vợ còn bỏ rơi, huống chi người khác? Mới biết nghèo khổ ví như địa ngục, sống nghèo khổ chẳng khác gì chết. Đang quen giàu sang mà gặp cảnh khốn cùng, không nơi nương tựa, lửa sầu nung nấu, nhan sắc tàn phai, thân hình gầy mòn, đói khát rã rời, mắt sâu rốn hoắm, xương cốt lòi ra, da bọc lấy gân, tóc tai rối loạn, tay chân gầy khẳng, da dẻ nứt nẻ, không có áo quần, phải nhặt nhạnh giẻ rách nơi đống phân để che thân, nằm ngủ trên đống rác. Người quen gặp cũng chẳng nhận ra, đi xin ăn như con quạ đói, đến cửa bạn cũ bị người giữ cửa ngăn lại, hễ lẻn vào thì bị nhục mạ đánh đuổi, chủ nhà khinh miệt không thèm nhìn tới. Dẫu được vào nhà, vì bị coi khinh nên không ai thèm nói chuyện, cho chút đồ thừa thì quăng ném vào bát, chẳng đủ no bụng.

Lúc ấy trong nước có lệ lấy vợ, sinh con, cạo tóc đều mở hội. Đăng Chỉ đến hội mong xin đồ ăn thừa, nhưng vì bị khinh rẻ nên không được ngồi, còn bị sai bảo như kẻ hầu. Sau đó người ta cho chút đồ thừa trong bát chung với nô tỳ. Ông tự nghĩ: "Lạ thay, lạ thay! Sao ta lại nghèo hèn điêu linh đến mức này?" Ông thầm nghĩ: "Nay ta tinh thần u mê, chẳng biết đây là thân cũ hay thân mới? Sự khổ độc này thật không ai bằng, ví như cây không hoa thì ong xa lánh, cỏ gặp sương thì lá héo hon, ao cạn thì chim không đậu, rừng cháy thì thú không vào. Nay nghèo khó nói chuyện giàu sang trước kia ai mà tin được? Người đời rất đông nhưng không ai hiểu ta. Vì nghèo nên đi đâu cũng không có lối, như người đứng giữa rừng cháy, như cây khô không bóng mát, như mạ gặp mưa đá, như nhà có rắn độc ai cũng xa lánh, như đồ ăn có độc không ai dám nếm, như mồ mả bỏ hoang, như hố xí hôi hám, như kẻ đao phủ bị người ghét bỏ, như tên trộm bị người nghi ngờ. Ta cũng như thế, đi đâu cũng bị mỉa mai, nói gì cũng sinh lỗi. Nói lời tốt họ cho là sai, làm việc thiện họ cho là bỉ ổi. Nhanh nhẹn thì bị chê là nông nổi, chậm rãi thì bị bảo là trì trệ. Khen ngợi thì họ bảo nịnh bót, không khen thì họ bảo nghèo mà không biết điều. Dạy bảo thì họ bảo giả làm người già biết rộng, nói nhiều họ bảo lắm lời, im lặng họ bảo tâm địa sâu hiểm. Nói thẳng họ bảo thô lỗ, chiều ý họ bảo nịnh hót. Thân cận họ bảo lừa lọc, không thân cận họ bảo kiêu ngạo. Thuận theo họ bảo lừa lòng người, không thuận theo họ bảo tự chuyên. Nhẫn nhục họ bảo hèn hạ, không nhẫn họ bảo nghèo mà còn tự cao. Phóng khoáng họ bảo ngu si không kiêng dè, nghiêm cẩn họ bảo giả tạo. Vui vẻ họ bảo như người điên, buồn rầu họ bảo tâm độc không có lòng vui. Nghe người ta nói mà giải thích giúp họ thì bị bảo là lấy cái ngu thay cái trí, im lặng thì bảo là bướng bỉnh không biết đạo lý. Nói đùa một chút họ bảo không tin tội phước. Xin xỏ họ bảo tham lam không biết hổ thẹn, không xin họ bảo nay không cầu để sau mong được lớn hơn. Dẫn kinh sách họ bảo giả làm thông minh, nói mộc mạc họ bảo vụng về. Bàn việc thật họ bảo cưỡng ép, nói riêng tư họ bảo gièm pha.

Mặc áo mới họ bảo đồ mượn, mặc áo rách họ bảo hèn mạt. Ăn nhiều họ bảo tham ăn, ăn ít họ bảo giả vờ thanh liêm. Nói kinh luận họ bảo khoe khoang, không nói họ bảo ngu si chỉ đáng đi chăn bò. Kể việc xưa họ bảo tự tôn, im lặng họ bảo dòng giống thấp kém. Người nghèo đi đứng nói năng đều là lỗi cả, người giàu làm việc phi pháp cũng không ai chê, cử chỉ hành động gì cũng đều cho là đúng.

Người nghèo như thây ma cử động, ai cũng khiếp sợ, như mắc bệnh nan y khó chữa, như nơi hoang dã không nước cỏ, như rơi xuống biển sâu, như bị bóp cổ không thở được, như mắt có màng không thấy đường đi, như vết bẩn khó rửa sạch, như kẻ thù tuy cùng ăn mặc nhưng lòng không bỏ ác tâm, như rơi vào giếng độc đứt hơi, như sa vào bùn lầy không ra được, như nước lũ cuốn trôi cây cối. Cái nghèo cũng như thế, nhiều nỗi gian nan; nghèo lại phá hoại cả sức trẻ, nhan sắc, khí lực, danh tiếng, nòi giống, trí tuệ, trì giới, bố thí, hổ thẹn, nhân nghĩa, tín hạnh, chí khí, thảy đều phá hoại cả. Nó lại sinh ra đói lạnh, oán hận, hẹp hòi, sầu độc, oán trách. Muôn vàn nỗi khổ đều từ nghèo mà ra. Người giàu có oai đức, dung mạo thong dong, ý chí rộng rãi, lễ nghĩa đủ đầy, tăng trưởng gia nghiệp, quyến luyến hòa thuận, danh thơm vang xa."

Đăng Chỉ suy nghĩ: "Ta nay nghèo khổ nhất trần gian, muốn bỏ thân nhưng không tự chết được, phải làm sao để sống?" Lại nghĩ: "Người đời khinh nhất là nghề khiêng xác chết. Việc này tuy xấu nhưng không gây nghiệp khổ đời sau; nếu làm việc khác sợ vấp phải sát sinh hay điều bất thiện. Vì vậy ta xin làm nghề này." Bấy giờ có người nghe vậy liền thuê ông khiêng xác. Đăng Chỉ nhận tiền rồi khiêng xác chết ra bãi tha ma định quăng đi.

Lúc ấy, xác chết bỗng ôm chặt lấy Đăng Chỉ, như đứa trẻ ôm cha mẹ, ôm chặt không buông, dốc sức gạt ra cũng không được. Xác chết dính vào lưng như keo, đẩy không rời, ông vô cùng sợ hãi, nghĩ rằng: "Ta khiêng cái xác này thì sống sao nổi?" Ông đến làng của những người hạ tiện (Chiên-đà-la) bảo: "Ai gỡ được cái xác này ra khỏi lưng ta, ta sẽ trọng thưởng." Những người ở đó cùng hợp sức kéo nhưng cái xác cũng không rời. Có người mắng ông: "Đồ điên, sao lại khiêng xác vào làng?" Họ lấy gậy đá ném đuổi làm ông bị thương tích đầy mình, đau đớn vô cùng. Có người thương xót đưa ông đến cửa thành, lính canh cửa đánh đuổi không cho vào: "Kẻ ngu nào khiêng xác vào thành thế kia?" Ông thấy thân mình bầm dập, đau buồn than khóc: "Ta vì miếng ăn mà làm việc hèn hạ, nay lại gặp đại khổ này. Thà chết vì việc khác còn hơn khiêng xác mà sống." Lính canh thấy tội nghiệp nên cho ông về nhà.

Về đến căn phòng trống, những người nghèo cùng ở đó thấy cái xác trên lưng ông đều bỏ chạy hết. Khi vào nhà, cái xác tự rụng xuống đất. Đăng Chỉ hoảng sợ ngất xỉu, hồi lâu mới tỉnh lại. Ông nhìn cái xác, thấy ngón tay toàn là vàng ròng, tuy sợ nhưng thấy vàng đẹp nên ông tiến lại lấy dao cắt thử, quả là vàng thật. Có vàng rồi ông vui mừng, liền cắt cả đầu, cổ, tay chân cái xác. Cắt đến đâu nó lại mọc ra đến đó. Chốc lát, vàng từ đầu tay chân chất cao hơn người. Lúc này ông vui mừng như vua mất nước lấy lại ngôi vị, như người mù sáng mắt, như người tu thiền đắc đạo. Kho tàng trân bảo của ông lại giàu hơn trước, oai đức danh tiếng lẫy lừng hơn xưa, người thân bạn bè, vợ con tôi tớ thảy đều quay về. Đăng Chỉ than rằng: "Ôi lạ thay! Giàu có sức mạnh lớn, khiến người đời tìm đến thật nhanh. Ôi lạ thay! Nghèo có sức mạnh lớn, khiến người thân bỏ ta thật mau. Lúc ta nghèo, bạn bè cắt đứt, không ai thèm nói một lời; nay ai nấy đều cung kính hầu hạ. Giả sử sinh ra như Thiên đế, dũng lực như Ra-ma, trí tuệ như thiên sư, nếu không tiền tài thì cũng chẳng giá trị gì. Người giàu chẳng cần biết ngu hay trí đều được gọi là người tốt, không biết gì cũng được khen là trí tuệ, là dũng mãnh; dẫu xấu xí già nua, phụ nữ trẻ đẹp vẫn muốn lại gần."

Vua A-xà-thế nghe tin ông giàu lại, sai người đến lấy vàng. Nhưng hễ người của vua lấy vàng đi thì nó biến lại thành xác chết, khi quăng lại vào nhà Đăng Chỉ nó lại hóa thành vàng. Đăng Chỉ biết vua muốn số vàng ấy, liền lấy đầu và tay chân bằng vàng dâng lên vua. Vua nhận lấy mang về cung. Sau đó Đăng Chỉ suy ngẫm và nói kệ rằng: "Năm dục rất mong manh, như điện chớp, rắn độc. Vinh hoa chẳng ở lâu, liền sinh tâm chán lìa." Ông đem trân bảo bố thí cho mọi người, rồi vào trong Phật pháp xuất gia cầu đạo, tinh tấn tu tập đắc quả A-la-hán. Dẫu đã đắc đạo, nhưng "cái xác vàng" ấy vẫn thường theo sau ông.

Các Tỳ-kheo hỏi Phật: "Tỳ-kheo Đăng Chỉ do nhân duyên gì mà từ khi sinh ra ngón tay đã phát sáng? Do nhân duyên gì mà chịu cảnh nghèo khổ? Lại do nhân duyên gì mà có xác chết vàng luôn đi theo?"

Phật bảo: "Hãy chí tâm lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà nói về đời trước. Tỳ-kheo Đăng Chỉ vào thời quá khứ sinh trong nhà trưởng giả ở nước Ba-la-nại. Lúc còn nhỏ, ông đi xe chơi bên ngoài, tối về cửa đã đóng, ông gọi mãi không ai mở. Hồi lâu người mẹ ra mở cửa, ông nổi giận mắng mẹ: 'Cả nhà khiêng xác chết đi hết rồi sao? Hay bị cướp sạch rồi? Sao không ai mở cửa cho ta?' Do ác nghiệp đó mà khi chết đọa vào địa ngục, dư báo còn lại khiến sinh làm người chịu cảnh nghèo khổ. Còn nhân duyên ngón tay phát sáng và xác vàng là thế này: Cách đây chín mươi mốt kiếp có đức Phật Tỳ-bà-thi, sau khi Phật nhập Niết-bàn, Đăng Chỉ bấy giờ là một vị đại trưởng giả rất giàu có. Ông đến tháp miếu lễ bái, thấy có một pho tượng bùn có ngón tay bị nứt vỡ, ông liền tu sửa ngón tay đó và dùng vàng lá dát lên. Sau khi xong, ông phát nguyện: 'Con dùng hương hoa ca nhạc cúng dường và công đức tu sửa tượng này, nguyện sinh lên trời hay cõi người thường được tôn quý giàu sang, dẫu có mất mát cũng sớm lấy lại được, và cho con được xuất gia đắc đạo trong Phật pháp.' Do sửa ngón tay Phật nên được ánh sáng nơi ngón tay và xác vàng đi theo; do ác khẩu mắng mẹ nên thoát địa ngục rồi phải chịu quả báo nghèo khổ."

Khi Phật nói xong kinh Đăng Chỉ Nhân Duyên này, chư Thiên và nhân dân rải hoa trời, tấu nhạc trời cúng dường rồi trở về thiên cung.

Từ nhân duyên này mà biết, chỉ cần gieo một chút phước nghiệp nơi hình tượng Phật mà còn được phước báo lớn lao đến mức đắc Niết-bàn như vậy, huống chi là nơi Pháp thân của Như Lai? Nếu có thể tu hành đúng như lời Phật dạy thì công đức thật vô lượng. Nếu muốn sinh lên cõi trời hưởng lạc thú thì phải chí tâm nghe pháp. Do ác khẩu mà chịu khổ báo lớn, nên phải biết sợ hãi mà tránh xa ác khẩu và các nghiệp bất thiện. Qua đó mà thấy, vinh hoa phú quý của thế gian không đáng để tham luyến, không nên vui mừng nơi sự tôn quý của trời người; phải biết nghèo khổ là khối khổ lớn, muốn dứt nghèo khổ thì không nên bỏn xẻn tham lam. Thế nên trong kinh nói: Nghèo khổ là nỗi khổ cực lớn vậy.


 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.