Bước tới nội dung

Biên dịch:Đại Học

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Đại học , do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Đại Học nguyên là một chương trong Lễ Ký được viết thành sách trong khoảng thời gian từ thời chiến quốc đến thời Tần Hán, được xem là một trong những sách chủ yếu của Nho gia. Tác giả của Đại Học là ai hiện nay vẫn chưa xác định rõ, có người cho là của Tử Tư viết, nhưng Chu Hy đời Tống lại cho là của Tăng Tử viết. Bởi Chu Hy cho rằng Tăng Tử là học trò của Khổng Tử nên Tăng Tử ghi chép lại lời của Khổng Tử là hợp đạo lý. Và đa số người ta tin vào giả thiết này hơn. — Trích dẫn từ Đại Học của Wikipedia, bách khoa toàn thư mở.
Tứ thư
Đại Học | Trung Dung | Luận ngữ | Mạnh Tử |
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt

一、綱領
大學之道,在明明德,在親親,在新民,在止於至善。

二、述明明德
古之欲明明德於天下者,先治其國;欲治其國者,先齊其家;欲齊其家者,先修其身;欲修其身者,先正其心;欲正其心者,先誠其意;欲誠其意者,先致其知;致知在格物。物格而後知至,知至而後意誠,意誠而後心正,心正而後身修,身修而後家齊,家齊而後國治,國治而後天下平。
康誥曰:「克明德。」太甲曰:「顧諟天之明命。」帝典曰:「克明峻德。」皆自明也。

三、述親親新民
物有本末,事有終始,知所先後,則近道矣。自天子以至於庶人,壹是皆以親親為本,其本亂而末治者否矣;其所厚者薄,而其所薄者厚,未之有也。
湯之盤銘曰:「苟日新,日日新,又日新。」康誥曰:「作新民。」詩曰:「周雖舊邦,其命維新。」是故,君子畏天愛民。

四、述止至善
知止而後有定,定而後能靜,靜而後能安,安而後能慮,慮而後能得。是故,君子無所不用其極。
詩云:「邦畿千里,維民所止。」詩云:「緡蠻黃鳥,止於丘隅。」子曰:「於止,知其所止,可以人而不如鳥乎?」
詩云:「穆穆文王,於緝熙敬止。」為人君,止於仁;為人臣,止於敬;為人子,止於孝;為人父,止於慈;與國人交,止於信。

五、總結綱領
詩云:「瞻彼淇澳,菉竹猗猗;有斐君子,如切如磋,如琢如磨,瑟兮僩兮,赫兮喧兮;有斐君子,終不可諠兮。」如切如磋者,道學也;如琢如磨者,自修也;瑟兮僩兮者,恂慄也;赫兮喧兮者,威儀也。有斐君子,終不可諠兮者,道盛德至善,民之不能忘也。
詩云:「於戲!前王不忘。」君子賢其賢而親其親,小人樂其樂而利其利,此以沒世不忘也。

六、述格物致知
所謂「致知在格物」者:人之其所親愛而辟焉,之其所賤惡而辟焉,之其所畏敬而辟焉,之其所哀矜而辟焉,之其所敖惰而辟焉。故好而知其惡,惡而知其美者,天下鮮矣。故諺有之曰:「人莫知其子之惡,莫知其苗之碩。」
子曰:「聽訟,吾猶人也;必也,使無訟乎!」無物不得盡其情也。此謂物格,此謂知本,此謂知之至也。

七、述誠意
所謂「誠其意」者,毋自欺也。如惡惡臭,如好好色;故君子必慎其獨也。
小人閒居為不善,無所不至;見君子而後厭然,揜其不善,而著其善;人之視己,如見其肺肝然,則何益矣?此之謂自慊;故君子必慎其獨也。曾子曰:「十目所視,十手所指,其嚴乎!」富潤屋,德潤身,心廣體胖。此謂誠於中形於外;故君子必誠其意。

八、述正心修身
所謂「修身在正其心」者:身有所忿懥,則不得其正;有所恐懼,則不得其正;有所好樂,則不得其正;有所憂患,則不得其正。心不在焉,視而不見,聽而不聞,食而不知其味。此謂修身在正其心。

九、述修身齊家
所謂「齊其家在修其身」者:堯、舜帥天下以仁,而民從之;桀、紂帥天下以暴,而民從之。其所令反其所好,而民不從。是故君子有諸己,而後求諸人;無諸己,而後非諸人。所藏乎身不恕,而能喻諸人者,未之有也。此謂身不修,不可以齊其家。

十、述齊家治國
所謂「治國必先齊其家」者:其家不可教,而能教人者,無之。故君子不出家,而成教於國。孝者,所以事君也;弟者,所以事長也;慈者,所以使眾也。康誥曰:「如保赤子。」心誠求之,雖不中,不遠矣。未有學養子而後嫁者也。
一家仁,一國興仁;一家讓,一國興讓;一人貪利,一國作亂;其機如此。此謂一言僨事,一人定國。
詩云:「桃之夭夭,其葉蓁蓁,之子于歸,宜其家人。」宜其家人,而後可以教國人。詩云:「宜兄宜弟。」宜兄宜弟,而後可以教國人。詩云:「其儀不忒,正是四國。」其為父子兄弟足法,而後民法之也。此謂治國在齊其家。

十一、述治國平天下
所謂「平天下在治其國」者:上老老,而民興孝;上長長,而民興弟;上恤孤,而民不倍。是以君子有絜矩之道也。所惡於上,毋以使下;所惡於下,毋以事上;所惡於前,毋以先後;所惡於後,毋以從前;所惡於右,毋以交於左;所惡於左,毋以交於右;此之謂絜矩之道。
詩云:「節彼南山,維石巖巖;赫赫師尹,民具爾瞻。」有國者不可以不慎,辟,則為天下僇矣!
詩云:「殷之未喪師,克配上帝;儀監於殷,峻命不易。」道得眾,則得國;失眾,則失國。是故君子有大道:必忠信以得之,驕泰以失之。
康誥曰:「惟命不於常。」道善則得之;不善則失之矣。楚書曰:「楚國無以為寶,惟善以為寶。」舅犯曰:「亡人無以為寶,仁親以為寶。」
秦誓曰:「若有一個臣,斷斷兮,無他技;其心休休焉,其如有容焉;人之有技,若己有之;人之彥聖,其心好之;不啻若自其己出,寔能容之,以能保我子孫黎民,尚亦有利哉!人之有技,媢嫉以惡之;人之彥聖,而違之俾不通;寔不能容,以不能保我子孫黎民,亦曰殆哉!」唯仁人放流之,迸諸四夷,不與同中國。此謂「唯仁人為能愛人,能惡人。」
見賢而不能舉,舉而不能先,命也;見不善而不能退,退而不能遠,過也。好人之所惡,惡人之所好,是謂拂人之性,菑必逮夫身。詩云:「樂只君子,民之父母。」民之所好好之,民之所惡惡之,此之謂民之父母。
是故君子先慎乎德;有德此有人,有人此有土,有土此有財,有財此有用。德者,本也;財者,末也;外本內末,爭民施奪。是故財聚則民散,財散則民聚。是故言悖而出者,亦悖而入;貨悖而入者,亦悖而出。
生財有大道:生之者眾,食之者寡;為之者疾,用之者舒,則財恆足矣。
仁者以財發身,不仁者以身發財。未有上好仁,而下不好義者也;未有好義,其事不終者也;未有府庫財,非其財者也。
孟獻子曰:「畜馬乘,不察於雞豚;伐冰之家,不畜牛羊;百乘之家,不畜聚斂之臣;與其有聚斂之臣,寧有盜臣。」此謂國不以利為利,以義為利也。
長國家而務財用者,必自小人矣;彼為善之,小人之使為國家,菑害竝至,雖有善者,亦無如之何矣!此謂國不以利為利,以義為利也。

Nhất, cương lĩnh
Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân thân, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện.


Nhị, thuật minh minh đức
Cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên trị kỳ quốc; dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia; dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân; dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm; dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý; dục thành kỳ ý giả, tiên trí kỳ tri; trí tri tại cách vật. Vật cách nhi hậu tri chí, tri chí nhi hậu ý thành, ý thành nhi hậu tâm chính, tâm chính nhi hậu thân tu, thân tu nhi hậu gia tề, gia tề nhi hậu quốc trị, quốc trị nhi hậu thiên hạ bình.
Khang cáo viết: 「khắc minh đức. 」thái giáp viết: 「cố thị thiên chi minh mệnh. 」đế điển viết: 「khắc minh tuấn đức. 」giai tự minh dã.


Tam, thuật thân thân tân dân
Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thuỷ, tri sở tiên hậu, tắc cận đạo hỹ. Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ thân thân vy bản, kỳ bản loạn nhi mạt trị giả bĩ hỹ; kỳ sở hậu giả bạc, nhi kỳ sở bạc giả hậu, vị chi hữu dã.
Thang chi bàn minh viết: 「cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân. 」khang cáo viết: 「tác tân dân. 」thi viết: 「chu tuy cựu bang, kỳ mệnh duy tân. 」thị cố, quân tử uý thiên ái dân.


Tứ, thuật chỉ chí thiện
Tri chỉ nhi hậu hữu định, định nhi hậu năng tĩnh, tĩnh nhi hậu năng an, an nhi hậu năng lự, lự nhi hậu năng đắc. Thị cố, quân tử vô sở bất dụng kỳ cực.
Thi vân: 「bang kỳ thiên lý, duy dân sở chỉ. 」thi vân: 「mân man hoàng điểu, chỉ ư khâu ngung. 」tử viết: 「ư chỉ, tri kỳ sở chỉ, khả dĩ nhân nhi bất như điểu hồ? 」
Thi vân: 「mục mục văn vương, ư tập hy kính chỉ. 」vy nhân quân, chỉ ư nhân; vy nhân thần, chỉ ư kính; vy nhân tử, chỉ ư hiếu; vy nhân phụ, chỉ ư từ; dữ quốc nhân giao, chỉ ư tín.


Ngũ, tổng kết cương lĩnh
Thi vân: 「chiêm bỉ kỳ áo, lục trúc y y; hữu phỉ quân tử, như thiết như tha, như trác như ma, sắt hề dản hề, hách hề huyên hề; hữu phỉ quân tử, chung bất khả huyên hề. 」như thiết như tha giả, đạo học dã; như trác như ma giả, tự tu dã; sắt hề dản hề giả, tuân lật dã; hách hề huyên hề giả, uy nghi dã. Hữu phỉ quân tử, chung bất khả huyên hề giả, đạo thịnh đức chí thiện, dân chi bất năng vong dã.
Thi vân: 「ư hý! Tiền vương bất vong. 」quân tử hiền kỳ hiền nhi thân kỳ thân, tiểu nhân nhạc kỳ nhạc nhi lợi kỳ lợi, thử dĩ một thế bất vong dã.


Lục, thuật cách vật trí tri
Sở vị 「trí tri tại cách vật 」giả: nhân chi kỳ sở thân ái nhi tịch yên, chi kỳ sở tiện ác nhi tịch yên, chi kỳ sở uý kính nhi tịch yên, chi kỳ sở ai căng nhi tịch yên, chi kỳ sở ngao noạ nhi tịch yên. Cố hảo nhi tri kỳ ác, ác nhi tri kỳ mỹ giả, thiên hạ tiên hỹ. Cố ngạn hữu chi viết: 「nhân mạc tri kỳ tử chi ác, mạc tri kỳ miêu chi thạc. 」
Tử viết: 「thính tụng, ngô do nhân dã; tất dã, sử vô tụng hồ! 」vô vật bất đắc tận kỳ tình dã. Thử vị vật cách, thử vị tri bản, thử vị tri chi chí dã.

Thất, thuật thành ý
Sở vị 「thành kỳ ý 」giả, vô tự khi dã. Như ác ác xú, như hảo hảo sắc; cố quân tử tất thận kỳ độc dã.
Tiểu nhân nhàn cư vy bất thiện, vô sở bất chí; kiến quân tử nhi hậu yếm nhiên, yểm kỳ bất thiện, nhi trước kỳ thiện; nhân chi thị kỷ, như kiến kỳ phế can nhiên, tắc hà ích hỹ? Thử chi vị tự khiểm; cố quân tử tất thận kỳ độc dã. Tằng tử viết: 「thập mục sở thị, thập thủ sở chỉ, kỳ nghiêm hồ! 」phú nhuận ốc, đức nhuận thân, tâm quảng thể bàn. Thử vị thành ư trung hình ư ngoại; cố quân tử tất thành kỳ ý.

Bát, thuật chính tâm tu thân
Sở vị 「tu thân tại chính kỳ tâm 」giả: thân hữu sở phẫn chí, tắc bất đắc kỳ chính; hữu sở khủng cụ, tắc bất đắc kỳ chính; hữu sở hảo nhạc, tắc bất đắc kỳ chính; hữu sở ưu hoạn, tắc bất đắc kỳ chính. Tâm bất tại yên, thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn, thực nhi bất tri kỳ vị. Thử vị tu thân tại chính kỳ tâm.

Cửu, thuật tu thân tề gia
Sở vị 「tề kỳ gia tại tu kỳ thân 」giả: nghiêu, thuấn suý thiên hạ dĩ nhân, nhi dân tòng chi; kiệt, trụ suý thiên hạ dĩ bạo, nhi dân tòng chi. Kỳ sở linh phản kỳ sở hảo, nhi dân bất tòng. Thị cố quân tử hữu chư kỷ, nhi hậu cầu chư nhân; vô chư kỷ, nhi hậu phi chư nhân. Sở tàng hồ thân bất thứ, nhi năng dụ chư nhân giả, vị chi hữu dã. Thử vị thân bất tu, bất khả dĩ tề kỳ gia.

Thập, thuật tề gia trị quốc
Sở vị 「trị quốc tất tiên tề kỳ gia 」giả: kỳ gia bất khả giáo, nhi năng giáo nhân giả, vô chi. Cố quân tử bất xuất gia, nhi thành giáo ư quốc. Hiếu giả, sở dĩ sự quân dã; đệ giả, sở dĩ sự trưởng dã; từ giả, sở dĩ sử chúng dã. Khang cáo viết: 「như bảo xích tử. 」tâm thành cầu chi, tuy bất trung, bất viễn hỹ. Vị hữu học dưỡng tử nhi hậu giá giả dã.
Nhất gia nhân, nhất quốc hưng nhân; nhất gia nhượng, nhất quốc hưng nhượng; nhất nhân tham lợi, nhất quốc tác loạn; kỳ cơ như thử. Thử vị nhất ngôn phẫn sự, nhất nhân định quốc.
Thi vân: 「đào chi yêu yêu, kỳ diệp trăn trăn, chi tử vu quy, nghi kỳ gia nhân. 」nghi kỳ gia nhân, nhi hậu khả dĩ giáo quốc nhân. Thi vân: 「nghi huynh nghi đệ. 」nghi huynh nghi đệ, nhi hậu khả dĩ giáo quốc nhân. Thi vân: 「kỳ nghi bất thắc, chính thị tứ quốc. 」kỳ vy phụ tử huynh đệ túc pháp, nhi hậu dân pháp chi dã. Thử vị trị quốc tại tề kỳ gia.

Thập nhất, thuật trị quốc bình thiên hạ
Sở vị 「bình thiên hạ tại trị kỳ quốc 」giả: thượng lão lão, nhi dân hưng hiếu; thượng trưởng trưởng, nhi dân hưng đệ; thượng tuất cô, nhi dân bất bội. Thị dĩ quân tử hữu khiết củ chi đạo dã. Sở ác ư thượng, vô dĩ sử hạ; sở ác ư hạ, vô dĩ sự thượng; sở ác ư tiền, vô dĩ tiên hậu; sở ác ư hậu, vô dĩ tòng tiền; sở ác ư hữu, vô dĩ giao ư tả; sở ác ư tả, vô dĩ giao ư hữu; thử chi vị khiết củ chi đạo.
Thi vân: 「tiết bỉ nam sơn, duy thạch nham nham; hách hách sư doãn, dân cụ nhĩ chiêm. 」hữu quốc giả bất khả dĩ bất thận, tịch, tắc vy thiên hạ lục hỹ!
Thi vân: 「ân chi vị táng sư, khắc phối thượng đế; nghi giám ư ân, tuấn mệnh bất dị. 」đạo đắc chúng, tắc đắc quốc; thất chúng, tắc thất quốc. Thị cố quân tử hữu đại đạo: tất trung tín dĩ đắc chi, kiêu thái dĩ thất chi.
Khang cáo viết: 「duy mệnh bất ư thường. 」đạo thiện tắc đắc chi; bất thiện tắc thất chi hỹ. Sở thư viết: 「sở quốc vô dĩ vy bảo, duy thiện dĩ vy bảo. 」cữu phạm viết: 「vong nhân vô dĩ vy bảo, nhân thân dĩ vy bảo. 」
Tần thệ viết: 「nhược hữu nhất cá thần, đoạn đoạn hề, vô tha kỹ; kỳ tâm hưu hưu yên, kỳ như hữu dung yên; nhân chi hữu kỹ, nhược kỷ hữu chi; nhân chi ngạn thánh, kỳ tâm hảo chi; bất thí nhược tự kỳ kỷ xuất, tẩm năng dung chi, dĩ năng bảo ngã tử tôn lê dân, thượng diệc hữu lợi tai! Nhân chi hữu kỹ, mạo tật dĩ ác chi; nhân chi ngạn thánh, nhi vy chi tỷ bất thông; tẩm bất năng dung, dĩ bất năng bảo ngã tử tôn lê dân, diệc viết đãi tai! 」duy nhân nhân phóng lưu chi, bính chư tứ di, bất dữ đồng trung quốc. Thử vị 「duy nhân nhân vy năng ái nhân, năng ác nhân. 」
Kiến hiền nhi bất năng cử, cử nhi bất năng tiên, mệnh dã; kiến bất thiện nhi bất năng thoái, thoái nhi bất năng viễn, quá dã. Hảo nhân chi sở ác, ác nhân chi sở hảo, thị vị phất nhân chi tính, tri tất đãi phu thân. Thi vân: 「nhạc chỉ quân tử, dân chi phụ mẫu. 」dân chi sở hảo hảo chi, dân chi sở ác ác chi, thử chi vị dân chi phụ mẫu.
Thị cố quân tử tiên thận hồ đức; hữu đức thử hữu nhân, hữu nhân thử hữu thổ, hữu thổ thử hữu tài, hữu tài thử hữu dụng. Đức giả, bản dã; tài giả, mạt dã; ngoại bản nội mạt, tranh dân thi đoạt. Thị cố tài tụ tắc dân tán, tài tán tắc dân tụ. Thị cố ngôn bội nhi xuất giả, diệc bội nhi nhập; hoá bội nhi nhập giả, diệc bội nhi xuất.
Sinh tài hữu đại đạo: sinh chi giả chúng, thực chi giả quả; vy chi giả tật, dụng chi giả thư, tắc tài hằng túc hỹ.
Nhân giả dĩ tài phát thân, bất nhân giả dĩ thân phát tài. Vị hữu thượng hảo nhân, nhi hạ bất hảo nghĩa giả dã; vị hữu hảo nghĩa, kỳ sự bất chung giả dã; vị hữu phủ khố tài, phi kỳ tài giả dã.
Mạnh hiến tử viết: 「súc mã thừa, bất sát ư kê đồn; phạt băng chi gia, bất súc ngưu dương; bách thừa chi gia, bất súc tụ liễm chi thần; dữ kỳ hữu tụ liễm chi thần, ninh hữu đạo thần. 」thử vị quốc bất dĩ lợi vy lợi, dĩ nghĩa vy lợi dã.
Trưởng quốc gia nhi vụ tài dụng giả, tất tự tiểu nhân hỹ; bỉ vy thiện chi, tiểu nhân chi sử vy quốc gia, tri hại tịnh chí, tuy hữu thiện giả, diệc vô như chi hà hỹ! Thử vị quốc bất dĩ lợi vy lợi, dĩ nghĩa vy lợi dã.

Dịch nghĩa

[sửa]

I. Cương lĩnh

[sửa]

Đạo học của bậc đại nhân: cốt ở làm sáng đức sáng, ở chỗ gần gũi (đổi mới) dân, ở chỗ đạt đến mức thiện tối cao.

II. Thuật về Minh minh đức

[sửa]

Người xưa muốn làm sáng đức sáng ra thiên hạ thì trước hết phải trị quốc; muốn trị quốc phải tề gia; muốn tề gia phải tu thân; muốn tu thân phải chính tâm; muốn chính tâm phải thành ý; muốn thành ý phải trí tri; trí tri cốt ở cách vật. Sự vật được nghiên cứu thấu đáo thì trí thức mới đạt đến; trí thức đạt đến thì ý niệm mới thành thực; ý niệm thành thực thì tâm mới ngay chính; tâm ngay chính thì thân mới tu chỉnh; thân tu chỉnh thì nhà mới yên vui; nhà yên vui thì nước mới thịnh trị; nước thịnh trị thì thiên hạ mới thái bình.

  • Khang cáo viết: "Khắc phục bản thân để làm sáng đức".
  • Thái Giáp viết: "Dõi theo mệnh sáng của trời".
  • Đế Điển viết: "Làm sáng đức lớn".

Tất cả đều là tự làm sáng mình.

III. Thuật về Thân dân (Tân dân)

[sửa]

Vật có gốc ngọn, việc có đầu cuối, biết được trước sau thì gần với Đạo vậy. Từ thiên tử đến thứ dân, tất cả đều lấy tu thân (thân dân) làm gốc. Gốc loạn mà ngọn trị là điều không thể; coi nhẹ việc trọng yếu, coi trọng việc thứ yếu là điều chưa từng có.

  • Bàn minh của vua Thang viết: "Nếu ngày nay mới, ngày ngày đều mới, lại ngày càng mới". Khang cáo viết: "Làm mới dân". Kinh Thi viết: "Nước Chu tuy cũ, mệnh trời duy mới". Do đó, quân tử kính sợ trời, thương yêu dân.

IV. Thuật về Chỉ ư chí thiện

[sửa]

Biết dừng đúng chỗ thì mới định, định rồi mới tĩnh, tĩnh rồi mới an, an rồi mới lo nghĩ sâu xa, lo nghĩ sâu xa rồi mới đạt được kết quả. Do đó, bậc quân tử làm việc gì cũng nỗ lực đến cùng cực.

  • Kinh Thi viết: "Vùng đất nghìn dặm, là nơi dân dừng chân". Lại viết: "Líu lo chim hoàng oanh, đậu nơi gò núi". Khổng Tử nói: "Về việc đậu (dừng), chim còn biết chỗ mà dừng, chẳng lẽ người lại không bằng chim sao?".
  • Kinh Thi viết: "Vua Văn Vương uy nghi, kính cẩn dừng lại ở nơi sáng láng". Làm vua, dừng ở lòng Nhân; làm tôi, dừng ở lòng Kính; làm con, dừng ở lòng Hiếu; làm cha, dừng ở lòng Từ; giao thiệp với người dân, dừng ở chữ Tín.

V. Tổng kết cương lĩnh

[sửa]
  • Kinh Thi viết: "Nhìn vực sông Kỳ, tre xanh mướt; có bậc quân tử, như cắt như giũa, như mài như chạm; nghiêm nghị mà hiên ngang, rạng rỡ mà hiển hách; bậc quân tử đẹp đẽ, thật khó quên thay". "Như cắt như giũa" là việc học đạo; "như mài như chạm" là việc tự tu thân; "nghiêm nghị hiên ngang" là vẻ thận trọng cung kính; "rạng rỡ hiển hách" là vẻ uy nghi. "Bậc quân tử khó quên" là vì đức thịnh, thiện tới cực điểm nên dân không thể quên.
  • Kinh Thi viết: "Ôi! Các vua đời trước chẳng thể quên". Bậc quân tử quý người hiền, thân người thân; tiểu nhân vui cái vui của họ, lợi cái lợi của họ; bởi vậy đời sau vẫn không quên.

VI. Thuật về Cách vật Trí tri

[sửa]

Cái gọi là "Trí tri tại cách vật" là thế này: Người ta đối với người mình thân yêu thường thiên lệch, đối với kẻ mình khinh ghét thường thiên lệch, đối với người mình kính sợ thường thiên lệch, đối với người mình thương xót thường thiên lệch, đối với người mình kiêu ngạo thường thiên lệch. Thế nên, yêu mà biết điểm xấu, ghét mà biết điểm tốt của người, thiên hạ hiếm thay. Tục ngữ có câu: "Người ta không biết con mình xấu, không biết mạ mình tốt". Khổng Tử nói: "Xử kiện, ta cũng như người thôi; cái chính là làm sao để không còn kiện tụng nữa!". Không vật gì không thấu hết sự tình. Đó gọi là vật được nghiên cứu thấu đáo, là biết cái gốc, là cái trí đạt đến tột cùng.

VII. Thuật về Thành ý

[sửa]

Nói "Thành ý" là không tự lừa dối mình. Như ghét mùi thối, như yêu màu đẹp; nên người quân tử tất phải thận trọng khi ở một mình (thận độc). Kẻ tiểu nhân khi ở riêng thường làm việc bất thiện, không gì không làm; khi thấy quân tử thì che đậy việc xấu, phô trương việc tốt. Người khác nhìn mình như thấy rõ cả gan phổi, vậy có ích gì đâu? Đó gọi là tự mãn nguyện với lòng; nên quân tử phải thận trọng khi ở một mình. Tăng Tử nói: "Mười mắt nhìn vào, mười tay chỉ vào, thật đáng sợ thay!". Giàu làm đẹp nhà, đức làm đẹp thân, tâm rộng rãi thì thân thể thư thái. Đó gọi là trong thực thì ngoài hiện; nên quân tử tất phải thành thực với ý niệm của mình.

VIII. Thuật về Chính tâm Tu thân

[sửa]

Nói "Tu thân tại chính tâm" là vì: Khi lòng có oán hận thì không được ngay chính; có sợ hãi thì không được ngay chính; có vui thích thì không được ngay chính; có lo âu thì không được ngay chính. Tâm không ở đó thì nhìn mà chẳng thấy, nghe mà chẳng thông, ăn mà chẳng biết mùi vị. Đó gọi là tu thân cốt ở chính tâm.

IX. Thuật về Tu thân Tề gia

[sửa]

Nói "Tề gia ở chỗ tu thân" là vì: Vua Nghiêu, Thuấn dùng nhân đức dẫn dắt thiên hạ, dân theo đó mà nhân đức; Kiệt, Trụ dùng bạo ngược dẫn dắt thiên hạ, dân theo đó mà bạo ngược. Lệnh ban ra trái với sở thích của mình thì dân không nghe. Cho nên, quân tử có đức ở mình rồi mới yêu cầu ở người; mình không có tính xấu rồi mới phê phán người. Trong mình không có lòng trung thứ mà có thể giáo hóa được người là chuyện chưa từng có. Thế nên thân không tu thì không thể tề gia.

X. Thuật về Tề gia Trị quốc

[sửa]

Nói "Trị quốc phải tề gia" là vì: Nhà mình không dạy được mà dạy được người khác, chuyện đó không có. Cho nên quân tử không ra khỏi nhà mà thành tựu giáo hóa cả nước. Hiếu là để thờ vua; Đễ là để thờ trưởng thượng; Từ là để trị dân chúng. Khang cáo viết: "Chăm dân như chăm trẻ đỏ". Lòng thành tìm kiếm, tuy không trúng đích nhưng cũng chẳng xa. Chưa có ai học cách nuôi con rồi mới đi lấy chồng cả. Một nhà nhân, cả nước dấy lên lòng nhân; một nhà nhường, cả nước dấy lên lòng nhường; một người tham lợi, cả nước sinh loạn; cái cơ là như thế. Đó gọi là một lời hỏng việc, một người định nước.

  • Kinh Thi viết: "Cây đào tơ đào tơ, lá đào xanh mướt mườn mượt; cô gái kia về nhà chồng, làm yên vui cả nhà". Yên vui cả nhà rồi mới dạy được người trong nước. Kinh Thi viết: "Hòa thuận anh em". Hòa thuận anh em rồi mới dạy được người trong nước. Kinh Thi viết: "Oai nghi không sai, làm mẫu cho bốn phương". Làm cha con anh em đủ để làm gương thì dân mới theo. Đó gọi là trị quốc ở chỗ tề gia.

XI. Thuật về Trị quốc Bình thiên hạ

[sửa]

Nói "Bình thiên hạ ở chỗ trị quốc" là vì: Bề trên kính già thì dân dấy lòng hiếu; bề trên kính trưởng thì dân dấy lòng đễ; bề trên thương kẻ mồ côi thì dân không phản bội. Thế nên quân tử có đạo "Khế củ" (phép thước kẻ). Điều gì ghét ở trên thì đừng đem dùng với dưới; ghét ở dưới thì đừng đem thờ trên; ghét ở trước thì đừng làm gương cho sau; ghét ở sau thì đừng theo gót trước; ghét bên phải thì đừng giao bên trái; ghét bên trái thì đừng giao bên phải. Đó gọi là đạo Khế củ.

  • Kinh Thi viết: "Núi Nam cao ngất, đá lởm chởm; Thầy Doãn rạng rỡ, dân đều trông vào". Người giữ nước không thể không cẩn trọng, thiên lệch thì bị thiên hạ giết.
  • Kinh Thi viết: "Nhà Ân khi chưa mất dân, còn xứng với mệnh trời; hãy soi gương nhà Ân, mệnh lớn giữ chẳng dễ". Được lòng dân thì được nước; mất lòng dân thì mất nước. Thế nên quân tử có đạo lớn: Phải trung tín mới được nước, kiêu xa thì mất nước.
  • Khang cáo viết: "Mệnh trời không ở mãi một nơi". Làm thiện thì được, không thiện thì mất. Sách nước Sở viết: "Nước Sở không lấy gì làm báu, chỉ lấy thiện làm báu". Cậu Phạm nói: "Kẻ lưu vong không có gì làm báu, chỉ lấy lòng nhân với người thân làm báu".
  • Tần thệ viết: "Nếu có vị thần dứt khoát, dù không tài lẻ nhưng lòng khoan dung, thấy người có tài như chính mình có, thấy người hiền đức thì lòng yêu quý hơn cả chính mình, thực sự dung nạp được người, ấy là có thể bảo vệ con cháu dân đen, thật có lợi thay! Nếu thấy người có tài mà đố kỵ, thấy người hiền đức mà ngăn cản, thực không dung được người, chẳng thể bảo vệ con cháu dân đen, thật nguy khốn thay!". Chỉ người nhân mới có thể xua đuổi kẻ ấy ra bốn phương, không cho sống chung ở Trung Quốc. Đó gọi là: "Chỉ người nhân mới có thể yêu người và ghét người".

Thấy người hiền mà không đề bạt, đề bạt mà không trọng dụng, ấy là mệnh vậy; thấy kẻ bất thiện mà không đẩy lui, đẩy lui mà không đuổi đi xa, ấy là lỗi vậy. Yêu điều người ta ghét, ghét điều người ta yêu, ấy là trái tính người, tai họa tất đến thân. Kinh Thi viết: "Vui thay bậc quân tử, là cha mẹ của dân". Dân thích gì thì thích nấy, dân ghét gì thì ghét nấy, đó gọi là cha mẹ của dân. Thế nên quân tử trước hết phải thận trọng về đức; có đức mới có người, có người mới có đất, có đất mới có tài, có tài mới có dụng. Đức là gốc; tài là ngọn. Coi nhẹ gốc coi trọng ngọn là tranh giành với dân, dạy dân cướp bóc. Thế nên tài tụ thì dân tán, tài tán thì dân tụ. Lời nói trái đạo phát ra thì lời trái đạo dội về; của cải bất chính vào nhà thì của cải bất chính sẽ đi ra. Làm ra của cải có đạo lớn: Người làm ra nhiều, người ăn tiêu ít; làm ra nhanh, dùng tiết kiệm, thì tài dụng luôn đủ. Người nhân dùng của cải để tu thân, kẻ không nhân dùng thân để tích của. Chưa từng có bề trên yêu lòng nhân mà bề dưới không yêu nghĩa; chưa từng có người yêu nghĩa mà công việc không thành; chưa từng có kho tàng nào chứa của cải không phải của mình. Mạnh Hiến Tử nói: "Nhà có xe ngựa thì không lo tính chuyện gà lợn; nhà quyền quý dùng băng (tế lễ) thì không nuôi bò cừu; nhà có trăm xe thì không nuôi quan lại tham nhũng; thà có quan lại trộm cắp còn hơn có quan lại tham nhũng". Đó gọi là quốc gia không lấy lợi làm lợi, mà lấy Nghĩa làm lợi. Người đứng đầu nước mà chỉ lo tích trữ của cải, tất do tiểu nhân xúi giục; cho rằng tiểu nhân là tốt mà dùng họ trị nước, thì tai họa cùng đến, dù có người hiền cũng không cứu vãn nổi. Đó gọi là nước không lấy lợi làm lợi, lấy Nghĩa làm lợi.

 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.