Bước tới nội dung

Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh  (Đông Tấn
của Phật-đà-bạt-đà-la, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Kinh Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng (tiếng Phạn: Tathāgatagarbha Sūtra; chữ Hán: 大方等如來藏經) là một bộ kinh quan trọng thuộc hệ tư tưởng Phật giáo Đại thừa, được xem là văn bản nền tảng thiết lập nên học thuyết Như Lai Tạng (khả năng thành Phật tiềm ẩn trong mọi chúng sinh). Bản dịch Hán văn phổ biến nhất hiện nay do cao tăng Phật Đà Bạt Đà La (Buddhabhadra) thực hiện vào thời Đông Tấn.

Nội dung cốt lõi của kinh xoay quanh thông điệp rằng: dù bị bao phủ bởi tham dục, sân hận và vô minh, nhưng sâu thẳm trong thân tâm của mọi chúng sinh đều có trí tuệ và đức tướng của Như Lai, thanh tịnh và không hề biến đổi. Để minh họa cho giáo lý thâm thúy này, đức Phật đã sử dụng chín ví dụ sinh động (như tượng vàng trong khuôn đúc, mật trong hốc cây, hay viên ngọc quý trong túi vải thô), từ đó khuyến khích người tu hành nỗ lực đoạn trừ phiền não để hiển lộ Phật tính sẵn có. Bộ kinh này có ảnh hưởng sâu rộng đến sự hình thành của các kinh điển và tông phái Phật giáo lớn tại Đông Á sau này, tiêu biểu là Thiên Thai tông và Thiền tông.

Kinh Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng

Đông Tấn, Bắc Thiên Trúc Tam Tạng Pháp sư Phật Đà Bạt Đà La dịch

Tôi nghe như vầy. Một thời Phật ở trong núi Kỳ Xà Quật, tại thành Vương Xá, nơi giảng đường Bảo Nguyệt, gác tía Chiên Đàn. Thành đạo được mười năm, Ngài cùng với trăm ngàn chúng đại Tỳ-kheo và sáu mươi hằng hà sa các vị Bồ-tát Ma-ha-tát câu hội. Các vị ấy đều đã thành tựu sức đại tinh tấn, từng cúng dưỡng trăm ngàn ức na-do-tha chư Phật, đều có khả năng chuyển bánh xe pháp không thối chuyển. Nếu có chúng sinh nào nghe danh hiệu của các Ngài thì ở nơi đạo vô thượng trọn không thối chuyển. Tên của các Ngài là: Bồ-tát Pháp Tuệ, Bồ-tát Sư Tử Tuệ, Bồ-tát Kim Cang Tuệ, Bồ-tát Điều Tuệ, Bồ-tát Diệu Tuệ, Bồ-tát Nguyệt Quang, Bồ-tát Bảo Nguyệt, Bồ-tát Mãn Nguyệt, Bồ-tát Dũng Mãnh, Bồ-tát Vô Lượng Dũng, Bồ-tát Vô Biên Dũng, Bồ-tát Siêu Tam Giới, Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Đại Thế Chí, Bồ-tát Hương Tượng, Bồ-tát Hương Thượng, Bồ-tát Hương Thượng Thủ, Bồ-tát Thủ Tạng, Bồ-tát Nhật Tạng, Bồ-tát Tràng Tướng, Bồ-tát Đại Tràng Tướng, Bồ-tát Ly Cấu Tràng, Bồ-tát Vô Biên Quang, Bồ-tát Phóng Quang, Bồ-tát Ly Cấu Quang, Bồ-tát Hỷ Vương, Bồ-tát Thường Hỷ, Bồ-tát Bảo Thủ, Bồ-tát Hư Không Tạng, Bồ-tát Ly Kiêu Mạn, Bồ-tát Tu Di Sơn, Bồ-tát Quang Đức Vương, Bồ-tát Tổng Trì Tự Tại Vương, Bồ-tát Tổng Trì, Bồ-tát Diệt Chúng Bệnh, Bồ-tát Liệu Nhất Thiết Chúng Sinh Bệnh, Bồ-tát Hoan Hỷ Niệm, Bồ-tát Yếm Ý, Bồ-tát Thường Yếm, Bồ-tát Phổ Chiếu, Bồ-tát Nguyệt Minh, Bồ-tát Bảo Tuệ, Bồ-tát Chuyển Nữ Thân, Bồ-tát Đại Lôi Âm, Bồ-tát Đạo Sư, Bồ-tát Bất Hư Kiến, Bồ-tát Nhất Thiết Pháp Tự Tại, Bồ-tát Di Lặc, Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi. Các vị Bồ-tát Ma-ha-tát như thế gồm sáu mươi hằng hà sa, từ vô lượng cõi Phật cùng với vô số Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-gia đồng đến hội tập để tôn trọng cúng dưỡng.

Bấy giờ Thế Tôn ở tại gác tía Chiên Đàn, ngồi ngay ngắn nhập tam-muội mà hiện thần biến. Có hoa sen ngàn cánh lớn như bánh xe, số lượng vô lượng, màu sắc hương thơm đầy đủ mà chưa nở nhụy. Trong tất cả cánh hoa đều có hóa Phật, bay lên hư không che khắp thế giới như bức màn báu. Mỗi mỗi hoa sen phóng ra vô lượng ánh sáng, tất cả hoa sen đồng thời nở rộ. Do thần lực của Phật, trong chốc lát tất cả đều héo úa. Trong các bông hoa ấy, tất cả hóa Phật đều ngồi kiết già, mỗi vị phóng ra vô số trăm ngàn ánh sáng. Lúc bấy giờ cõi này trang nghiêm đặc biệt, tất cả đại chúng đều hoan hỷ nhảy nhót, lấy làm lạ chưa từng có, thảy đều sinh lòng nghi hoặc: "Nay do nhân duyên gì mà vô số hoa diệu lạc bỗng nhiên hư hoại, héo đen hôi hám, rất đáng chán ghét?".

Lúc đó Thế Tôn biết điều nghi ngờ của các vị Bồ-tát và đại chúng, liền bảo Kim Cang Tuệ: "Này thiện nam tử! Trong Phật pháp có điều gì nghi ngờ, tùy ý ông hỏi". Khi ấy Bồ-tát Kim Cang Tuệ biết đại chúng thảy đều nghi ngờ, mới bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà trong vô số hoa sen đều có hóa Phật, bay lên hư không che khắp thế giới, rồi trong chốc lát thảy đều héo úa? Tất cả hóa Phật mỗi vị phóng ra vô số trăm ngàn ánh sáng, chúng hội đều thấy, chắp tay cung kính".

Khi ấy Bồ-tát Kim Cang Tuệ dùng kệ tụng rằng:

"Con xưa chưa từng thấy, thần biến như hôm nay
Thấy trăm ngàn ức Phật, ngồi trong tạng hoa sen
Mỗi vị phóng vô số quang, che khắp tất cả cõi
Các Đạo sư ly cấu, trang nghiêm các thế giới.
Hoa sen bỗng héo úa, không ai không chán ghét
Nay do nhân duyên gì, mà hiện thần hóa này?
Con thấy hằng sa Phật, cùng vô lượng thần biến
Chưa từng thấy như nay, nguyện vì con phân biệt."

Bấy giờ Thế Tôn bảo Kim Cang Tuệ cùng các Bồ-tát rằng: "Này thiện nam tử! Có kinh Đại Phương Đẳng tên là Như Lai Tạng, vì sắp muốn diễn nói nên hiện điềm lành này. Các ông hãy lắng nghe, suy nghĩ kỹ về điều đó." Thảy đều thưa: "Lành thay, chúng con tha thiết muốn nghe."

Phật bảo: "Này thiện nam tử! Như những bông hoa sen vô số do Phật hóa hiện bỗng nhiên héo úa, có vô lượng hóa Phật ở trong hoa sen, tướng hảo trang nghiêm ngồi kiết già, phóng ánh đại quang minh mà đại chúng thấy là hy hữu, không ai không cung kính. Cũng như thế, này thiện nam tử! Ta dùng mắt Phật quan sát tất cả chúng sinh, trong các phiền não tham dục, sân nhuế, ngu si, có trí tuệ Như Lai, mắt Như Lai, thân Như Lai, ngồi kiết già trang nghiêm bất động.

Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh tuy ở trong thân phiền não nơi các đường, nhưng có Như Lai tạng thường không nhiễm ô, đức tướng đầy đủ không khác gì ta. Lại nữa thiện nam tử, ví như người có thiên nhãn, quan sát bông hoa chưa nở thấy trong các hoa có thân Như Lai ngồi kiết già, nếu bỏ hoa héo đi thì thân ấy liền hiển hiện. Cũng như thế, này thiện nam tử! Phật thấy Như Lai tạng của chúng sinh rồi, muốn khiến cho nở nhụy nên vì họ thuyết kinh pháp, trừ diệt phiền não để hiển hiện Phật tính.

Này thiện nam tử! Pháp của chư Phật là như vậy. Dù Phật ra đời hay không ra đời, Như Lai tạng của tất cả chúng sinh vẫn thường trụ không biến đổi. Chỉ vì chúng sinh bị phiền não che lấp nên Như Lai xuất thế rộng vì thuyết pháp, trừ diệt trần lao, làm sạch nhất thiết trí. Này thiện nam tử! Nếu có Bồ-tát tin ưa pháp này, chuyên tâm tu học thì liền được giải thoát, thành Đẳng Chính Giác, rộng vì thế gian mà làm Phật sự."

Bấy giờ Thế Tôn dùng kệ tụng rằng:

"Ví như hoa héo úa, hoa ấy chưa nở nhụy
Người thiên nhãn quan sát, thấy thân Phật không nhiễm
Bỏ đi hoa héo rồi, thấy Đạo sư vô ngại
Vì đoạn phiền não nên, Đấng Tối Thắng xuất thế.
Phật quán các chúng sinh, thảy có Như Lai tạng
Vô lượng phiền não che, như hoa uế quấn lấy
Ta vì các chúng sinh, trừ diệt phiền não nên
Khắp vì thuyết chính pháp, khiến mau thành Phật đạo.
Ta dùng mắt Phật thấy, thân tất cả chúng sinh
Tạng Phật trụ yên ổn, thuyết pháp khiến hiển bày."

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như mật thuần khiết ở trong hốc cây trên núi đá, có vô số đàn ong vây quanh canh giữ. Bấy giờ có một người trí tuệ khéo léo dùng phương tiện, trước tiên đuổi đàn ong đi rồi mới lấy mật, tùy ý ăn dùng và chia sẻ cho người gần kẻ xa. Như thế, này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh có Như Lai tạng, như mật thuần khiết kia ở trong hốc cây, bị các phiền não che lấp, cũng như mật ấy bị đàn ong canh giữ. Ta dùng mắt Phật quan sát đúng như thực, dùng phương tiện khéo léo tùy nghi thuyết pháp để diệt trừ phiền não, mở ra tri kiến Phật, rộng vì thế gian mà làm Phật sự.

Khi ấy Thế Tôn dùng kệ tụng rằng:

Ví như mật hốc cây, vô lượng ong vây quanh
Người khéo phương tiện lấy, trước đuổi đàn ong đi
Như Lai tạng chúng sinh, như mật trong hốc cây
Kết sử trần lao quấn, như đàn ong canh giữ
Ta vì các chúng sinh, phương tiện thuyết chính pháp
Diệt trừ loài ong não, mở bày Như Lai tạng
Đầy đủ biện vô ngại, diễn nói pháp cam lộ
Khiến thảy thành Chính Giác, đại bi cứu quần sinh.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như lúa gạo chưa tách vỏ trấu, kẻ nghèo hèn ngu muội cho là vật bỏ đi; nhưng khi đã xát sạch tinh tươm thì thường được dùng làm thức ăn cho vua chúa. Như thế, này thiện nam tử! Ta dùng mắt Phật quan sát các chúng sinh, thấy trấu phiền não che lấp vô lượng tri kiến Như Lai, nên dùng phương tiện tùy nghi thuyết pháp, khiến họ trừ bỏ phiền não, làm sạch nhất thiết trí, ở trong các thế gian thành bậc Tối Chính Giác.

Khi ấy Thế Tôn dùng kệ tụng rằng:

Ví như các lúa gạo, vỏ trấu chưa sạch tinh
Kẻ nghèo còn khinh rẻ, bảo là vật bỏ đi
Ngoài tuy dường vô dụng, trong thực chẳng hư hao
Bỏ đi lớp vỏ rồi, mới làm thức ăn vua
Ta thấy các chúng sinh, phiền não ẩn tạng Phật
Vì thuyết pháp diệt trừ, khiến đắc nhất thiết trí
Như ta tính Như Lai, chúng sinh cũng như vậy
Khai hóa khiến thanh tịnh, mau thành đạo vô thượng.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như vàng thật rơi vào chỗ bất tịnh, chìm lấp không hiện, trải qua bao năm tháng, vàng thật chẳng hư nhưng không ai biết đến. Có người thiên nhãn bảo mọi người rằng: "Trong chỗ bất tịnh này có báu vàng thật, các người hãy lấy ra để tùy ý thụ dụng". Như thế, này thiện nam tử! Chỗ bất tịnh ấy chính là vô lượng phiền não; báu vàng thật ấy chính là Như Lai tạng; người có thiên nhãn ấy chính là Như Lai. Thế nên Như Lai rộng vì thuyết pháp, khiến các chúng sinh diệt trừ phiền não, thảy đều thành Chính Giác, làm các việc Phật sự.

Khi ấy Thế Tôn dùng kệ tụng rằng:

Như vàng trong bất tịnh, chìm lấp chẳng ai nhìn
Người thiên nhãn mới thấy, liền bảo cho mọi người
Các ngươi nếu lấy ra, tẩy rửa cho thanh tịnh
Tùy ý mà thụ dụng, quyến thuộc thảy vui mừng
Thiện Thệ mắt như thế, quán các loài chúng sinh
Trong bùn lầy phiền não, tính Như Lai không hư
Tùy nghi mà thuyết pháp, khiến xong mọi Phật sự
Phật tính phiền não che, mau trừ cho thanh tịnh.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như nhà nghèo có kho báu vật lạ, bảo vật không thể nói: "Tôi ở tại đây". Người chủ đã không tự biết, lại không có ai bảo cho, nên không thể khai mở kho báu vật lạ này. Tất cả chúng sinh cũng lại như thế. Tri kiến, lực, vô sở úy của Như Lai là kho báu đại pháp ở ngay trong thân họ, nhưng vì không nghe không biết, đắm say lầm lạc nơi năm dục, luân chuyển sinh tử chịu khổ vô lượng. Thế nên chư Phật xuất hiện ở đời để khai mở pháp tạng Như Lai trong thân họ; người nào tin nhận thì làm sạch nhất thiết trí, rộng vì chúng sinh mà mở bày Như Lai tạng, dùng biện tài vô ngại làm bậc đại thí chủ. Như thế, này thiện nam tử! Ta dùng mắt Phật quan sát tất cả chúng sinh có Như Lai tạng, nên vì các Bồ-tát mà nói pháp này.

Khi ấy Thế Tôn dùng kệ tụng rằng:

Ví như nhà người nghèo, trong có kho báu lạ
Chủ đã không biết thấy, báu lại chẳng biết lời
Trọn năm ôm ngu tối, không người chỉ bảo cho
Có báu mà không biết, nên thường chịu nghèo khổ.
Mắt Phật quán chúng sinh, dẫu lưu chuyển năm đường
Kho báu lớn trong thân, thường còn không biến đổi.
Quan sát như thế rồi, mà vì chúng sinh nói
Cho được kho trí báu, giàu lớn khắp lợi tha.
Nếu tin lời ta nói, thảy đều có kho báu
Tin cần khéo tu hành, mau thành đạo vô thượng.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như hạt trong quả Am-la không bị hư hoại, gieo xuống đất sẽ thành cây chúa lớn. Như thế, này thiện nam tử! Ta dùng mắt Phật quan sát các chúng sinh, thấy bảo tạng Như Lai ở trong vỏ vô minh, ví như hạt quả ở trong hạt nhân. Này thiện nam tử! Như Lai tạng ấy mát mẻ không nóng nảy, là khối đại trí tuệ mầu nhiệm tịch tĩnh Niết-bàn, gọi là Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chính Giác. Này thiện nam tử! Như Lai sau khi quan sát chúng sinh như thế, vì muốn làm sạch trí Phật cho các Bồ-tát Ma-ha-tát nên hiển hiện nghĩa này.

Khi ấy Thế Tôn dùng kệ tụng rằng:

Ví như quả Am-la, nhân trong chẳng hư hoại
Gieo xuống đất màu mỡ, tất thành cây chúa lớn.
Mắt vô lậu Như Lai, quán tất cả chúng sinh
Như Lai tạng trong thân, như nhân trong hoa quả.
Vô minh che tạng Phật, các ông nên tin biết
Tam-muội trí đầy đủ, không gì phá hoại được.
Thế nên ta thuyết pháp, mở Như Lai tạng kia
Mau thành đạo vô thượng, như hạt thành cây to.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như có người mang tượng vàng thật đi sang nước khác, đi qua đường hiểm sợ bị cướp đoạt, bèn dùng vật xấu cũ bọc lại khiến người không nhận ra. Người này trên đường bỗng nhiên mạng chung, thế là tượng vàng bị bỏ rơi nơi đồng hoang, người đi đường dẫm đạp lên đều cho là vật bất tịnh. Người đắc thiên nhãn thấy trong vật xấu cũ có tượng vàng thật, liền lấy ra cho mọi người đều lễ kính. Như thế, này thiện nam tử! Ta thấy chúng sinh mang đủ thứ phiền não, đêm dài lưu chuyển sinh tử vô lượng, mà diệu tạng Như Lai ở ngay trong thân họ, trang nghiêm thanh tịnh như ta không khác. Thế nên Phật vì chúng sinh thuyết pháp, đoạn trừ phiền não, làm sạch trí Như Lai, rồi lại hóa độ tất cả thế gian.

Khi ấy Thế Tôn dùng kệ tụng rằng:

Ví người mang tượng vàng, đi sang phương nước khác
Gói bằng vật xấu uế, bỏ lại giữa đồng hoang.
Người thiên nhãn thấy được, liền bảo cho mọi người
Bỏ uế hiện tượng thật, tất cả đều mừng vui.
Thiên nhãn ta cũng vậy, quán các loài chúng sinh
Ác nghiệp phiền não quấn, sinh tử chịu muôn khổ.
Lại thấy chúng sinh ấy, trong bụi bẩn vô minh
Tính Như Lai bất động, không gì phá hoại được.
Phật đã thấy như thế, vì các Bồ-tát nói
Phiền não các ác nghiệp, che lấp thân tối thắng.
Nên cần chuyên đoạn trừ, hiển lộ trí Như Lai
Trời, người, rồng, quỷ, thần, thảy đều cùng hướng về.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như người đàn bà nghèo hèn xấu xí, bị mọi người ghét bỏ mà mang thai quý tử, sẽ làm Thánh vương cai trị bốn thiên hạ. Người này không biết, trải qua thời gian dài, thường tự nghĩ mình hạ liệt và sinh con hèn mọn. Như thế, này thiện nam tử! Như Lai quan sát tất cả chúng sinh luân chuyển sinh tử chịu các khổ độc, trong thân đều có kho báu Như Lai, như người đàn bà kia mà không hay biết. Thế nên Như Lai khắp vì thuyết pháp rằng: "Này thiện nam tử! Chớ tự khinh rẻ mình. Tự thân các ông đều có Phật tính. Nếu siêng năng tinh tấn diệt các lỗi ác, thì sẽ nhận danh hiệu Bồ-tát và Thế Tôn, hóa độ cứu giúp vô lượng chúng sinh".

Khi ấy Thế Tôn dùng kệ tụng rằng:

Ví như người đàn bà nghèo, dung mạo rất tầm thường
Mà mang thai con quý tướng, sẽ làm Chuyển Luân Vương
Bảy báu đủ mọi đức, cai trị bốn thiên hạ
Mà người ấy không biết, thường tự nghĩ thấp hèn.
Ta quán các chúng sinh, chịu khổ cũng như thế
Thân mang Như Lai tạng, mà không tự giác biết
Thế nên bảo Bồ-tát, cẩn thận chớ tự khinh
Thân ông Như Lai tạng, thường có ánh cứu đời.
Nếu siêng tu tinh tấn, chẳng bao lâu ngồi đạo trường
Thành đạo Tối Chính Giác, độ thoát vô lượng chúng.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như thợ đúc đúc tượng vàng thật, sau khi đúc xong đặt úp trên đất, ngoài tuy cháy đen mà tượng trong không đổi. Mở khuôn lấy tượng ra, sắc vàng sáng chói. Như thế, này thiện nam tử! Như Lai quan sát tất cả chúng sinh, Phật tạng ở trong thân đầy đủ các tướng. Quan sát như thế rồi rộng vì hiển thuyết. Các chúng sinh ấy được nghỉ ngơi mát mẻ, dùng trí tuệ Kim Cang đập vỡ phiền não, mở bày thân Phật thanh tịnh như lấy ra tượng vàng.

Khi ấy Thế Tôn dùng kệ tụng rằng:

Ví như thợ đúc lớn, đúc vô lượng tượng vàng
Kẻ ngu nhìn từ ngoài, chỉ thấy đất cháy đen
Thợ đúc lường đã nguội, mở khuôn hiện cốt hình
Các uế bẩn đã trừ, tướng hảo hiện rõ rệt.
Ta dùng mắt Phật quán, loài chúng sinh như thế
Trong bùn lầy phiền não, đều có tính Như Lai
Trao cho trí Kim Cang, đập vỡ khuôn phiền não
Mở bày Như Lai tạng, như vàng thật hiển hiện.
Như điều ta quan sát, bảo cho các Bồ-tát
Các ông khéo thụ trì, chuyển hóa các quần sinh.

Bấy giờ Thế Tôn bảo Bồ-tát Ma-ha-tát Kim Cang Tuệ: "Này thiện nam tử, thiện nữ nhân, dù xuất gia hay tại gia, nếu thụ trì, đọc tụng, biên chép, cúng dưỡng và rộng vì người khác diễn nói kinh Như Lai Tạng này, thì công đức thu được không thể tính lường.

Này Kim Cang Tuệ! Nếu có vị Bồ-tát vì đạo Phật mà siêng năng tinh tấn tu tập thần thông, nhập các tam-muội để vun bồi gốc đức; cúng dưỡng chư Phật hiện tại nhiều hơn số cát sông Hằng; xây dựng đài gác bằng bảy báu nhiều hơn số cát sông Hằng, mỗi đài cao mười do-tuần, bề dọc bề ngang rộng bằng một do-tuần; đặt giường thất bảo trải bằng lụa trời; mỗi ngày vì mỗi mỗi đức Phật mà xây dựng đài gác bảy báu nhiều hơn số cát sông Hằng để dâng lên từng vị Như Lai cùng các vị Bồ-tát, chúng Thanh văn; làm những việc như thế khắp tất cả chư Phật hiện tại nhiều hơn số cát sông Hằng, thứ tự như vậy cho đến hơn năm mươi hằng hà sa đài gác báu để cúng dưỡng hơn năm mươi hằng hà sa chư Phật hiện tại cùng các Bồ-tát, chúng Thanh văn, mãi cho đến vô lượng trăm ngàn muôn kiếp.

Này Kim Cang Tuệ! Việc đó vẫn không bằng có người vì yêu kính bồ-đề, ở nơi kinh Như Lai Tạng này mà thụ trì, đọc tụng, biên chép, cúng dưỡng, cho đến chỉ một ví dụ. Này Kim Cang Tuệ! Tuy thiện nam tử kia đã gieo các căn lành nơi chư Phật với phước đức vô lượng, nhưng so với công đức của thiện nam tử, thiện nữ nhân này có được thì trăm phần không bằng một, ngàn phần không bằng một, cho đến tính toán, thí dụ cũng không thể kịp."

Bấy giờ Thế Tôn lập lại kệ rằng:

"Nếu người cầu bồ-đề, nghe trì kinh điển này
Biên chép và cúng dưỡng, cho đến chỉ một bài
Tạng Như Lai nhiệm mầu, chốc lát phát tùy hỷ
Khi nghe chính giáo này, công đức chẳng thể lường.
Nếu người cầu bồ-đề, trụ sức đại thần thông
Muốn cúng mười phương Phật, Bồ-tát, chúng Thanh văn
Số ấy quá hằng sa, ức kiếp chẳng nghĩ bàn
Vì mỗi mỗi chư Phật, xây đài báu nhiệm mầu
Đài cao mười do-tuần, dọc ngang bốn mươi dặm
Trong đặt tòa bảy báu, trang nghiêm đủ vẻ đẹp
Trải bằng nệm lụa trời, mỗi tòa mỗi khác lạ
Vô lượng quá hằng sa, dâng Phật và đại chúng
Thảy đều dùng hiến dâng, ngày đêm không nghỉ ngơi
Mãn trăm ngàn muôn kiếp, phước thu được như thế.
Bậc trí nghe kinh này, trì được một ví dụ
Mà vì người giải nói, phước ấy vượt hơn kia
Cho đến phép tính toán, thí dụ không theo kịp.
Là chỗ chúng sinh nương, mau thành đạo vô thượng
Bồ-tát khéo tư duy, Như Lai tạng thâm sâu
Biết chúng sinh thảy có, mau thành đạo vô thượng."

Bấy giờ Thế Tôn lại bảo Bồ-tát Kim Cang Tuệ: "Vào thuở quá khứ xa xưa vô lượng vô biên, cách nay những kiếp không thể nghĩ bàn, lại còn hơn số ấy nữa. Khi đó có đức Phật hiệu là Thường Phóng Quang Minh Vương Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chính Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

Này Kim Cang Tuệ! Vì sao hiệu là Thường Phóng Quang Minh Vương? Đức Phật ấy khi xưa tu hành đạo Bồ-tát, từ lúc giáng thần vào bụng mẹ đã thường phóng hào quang chiếu thấu mười phương, khắp các cõi nhiều như vi trần của ngàn thế giới Phật. Nếu có chúng sinh nào thấy ánh sáng này thì thảy đều hoan hỷ, phiền não sạch hết, sắc thân lực lượng đầy đủ, thành tựu niệm trí, đắc biện tài vô ngại. Nếu hàng địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, Diêm-la vương, A-su-la... thấy ánh sáng ấy đều lìa bỏ đường ác, sinh vào cõi trời cõi người. Nếu hàng chư thiên, loài người thấy ánh sáng ấy thì ở nơi đạo vô thượng đắc bất thối chuyển, đầy đủ năm thần thông. Những vị đắc bất thối chuyển đều được vô sinh pháp nhẫn, năm mươi công đức và xoay chuyển đà-la-ni.

Này Kim Cang Tuệ! Những quốc độ được ánh sáng ấy chiếu đến thảy đều trang nghiêm thanh tịnh như thiên lưu ly. Dùng dây vàng ròng để ngăn chia tám đường, các loại cây báu hoa quả tươi tốt, hương thơm ngào ngạt. Gió nhẹ thổi động phát ra âm thanh mầu nhiệm, diễn nói về Tam bảo, công đức Bồ-tát, căn, lực, giác đạo, thiền định, giải thoát. Chúng sinh nghe thấy đều đắc pháp hỷ, tin ưa kiên cố, vĩnh viễn lìa xa đường ác.

Này Kim Cang Tuệ! Tất cả chúng sinh trong mười phương cõi nhờ ơn ánh sáng ấy nên sáu thời ngày đêm đều chắp tay cung kính. Này Kim Cang Tuệ! Vị Bồ-tát ấy từ khi ở trong thai, sinh ra, cho đến lúc thành Phật và nhập Niết-bàn không dư sót đều thường phóng hào quang. Sau khi Ngài nhập diệt, các tháp miếu thờ xá-lợi cũng thường phóng quang. Do nhân duyên ấy mà chư thiên và người đời xưng hiệu là Thường Phóng Quang Minh Vương.

Này Kim Cang Tuệ! Thuở đức Thường Phóng Quang Minh Vương Như Lai mới thành Phật, trong giáo pháp của Ngài có một vị Bồ-tát tên là Vô Biên Quang cùng hai mươi ức Bồ-tát làm quyến thuộc. Bồ-tát Ma-ha-tát Vô Biên Quang ở nơi đức Phật ấy hỏi về kinh Như Lai Tạng, Phật liền vì diễn nói. Ngài ngồi một chỗ suốt năm mươi đại kiếp, vì hộ niệm tất cả các vị Bồ-tát mà tiếng nói vang khắp trăm ngàn cõi Phật nhiều như vi trần của mười thế giới Phật. Ngài vì các Bồ-tát dùng vô số nhân duyên, trăm ngàn ví dụ mà nói kinh điển đại thừa Như Lai Tạng này. Các vị Bồ-tát nghe nói kinh này đều thụ trì đọc tụng, tu hành đúng như lời dạy, trừ bốn vị Bồ-tát ra, còn lại thảy đều đã thành Phật.

Này Kim Cang Tuệ! Ông chớ nên nghĩ khác, Bồ-tát Vô Biên Quang thuở ấy há phải ai lạ, chính là thân ta đây. Còn bốn vị Bồ-tát chưa thành Phật khi đó chính là Văn Thù Sư Lợi, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí và ông, Kim Cang Tuệ. Này Kim Cang Tuệ! Kinh Như Lai Tạng có khả năng làm lợi ích lớn lao, nếu ai được nghe thì thảy đều thành Phật đạo."

Khi ấy Thế Tôn lập lại kệ rằng:

"Vô số kiếp quá khứ, Phật hiệu Quang Minh Vương
Thường phóng đại quang minh, chiếu khắp vô lượng cõi.
Bồ-tát Vô Biên Quang, thuở Phật mới thành đạo
Đã thưa hỏi kinh này, Phật liền vì diễn nói.
Những ai gặp Đấng Thắng, mà nghe được kinh này
Thảy đều đã thành Phật, chỉ trừ bốn Bồ-tát:
Văn Thù, Quán Thế Âm, Đại Thế, Kim Cang Tuệ.
Bốn vị Bồ-tát này, đều từng nghe pháp ấy.
Kim Cang Tuệ khi đó, là con thần thông nhất
Hiệu là Vô Biên Quang, đã từng nghe kinh này.
Ta xưa lúc cầu đạo, nơi Phật Sư Tử Tràng
Cũng từng nhận kinh này, nghe xong đúng pháp tu.
Ta nhờ căn lành ấy, mau thành được Phật đạo
Thế nên các Bồ-tát, nên trì nói kinh này.
Nghe rồi tu đúng lời, đắc Phật như ta nay
Nếu ai trì kinh này, nên lễ như Thế Tôn.
Nếu ai được kinh này, gọi là chủ Phật pháp
Chính là hộ thế gian, được chư Phật khen ngợi.
Nếu ai trì kinh này, người đó tên Pháp Vương
Là con mắt thế gian, nên tán như Thế Tôn."

Bấy giờ Thế Tôn nói kinh này xong, Bồ-tát Kim Cang Tuệ cùng các vị Bồ-tát, quyến thuộc bốn chúng, cùng các hàng Thiên, Nhân, Càn-thát-bà, A-su-la... nghe lời Phật dạy thảy đều hoan hỷ tín thụ phụng hành.


 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.