Bước tới nội dung

Biên dịch:Bản thảo cương mục/Thái 2

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bản thảo cương mục  (1596)  của Lý Thời Trân, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Thái phần 2 - các loại rau mềm nhớt (nhu hoạt) (Ba lăng, rau muống, thái, đông phong thái, tề, tích, phồn lâu, kê tràng thảo, mục túc, dền, mã xỉ hiện, khổ thái, bạch cự, oa cự, thủy khổ, phiên bạch thảo, tiên nhân trượng thảo, bồ công anh, hoàng qua thái, sinh qua thái, lạc quỳ, dấp cá, quyết, thủy quyết, vi, kiều dao, lộc hoắc, hôi, lê, tần địch lê, đề hồ thái, dụ, thổ dụ, thạch dự, linh dư tử, cam thử, bách hợp, sơn đan, thảo thạch tằm, măng tre)
Lưu ý: Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc.

41 loại rau mềm

[sửa]

BA LĂNG (菠薐)

[sửa]

(Ghi chép từ sách "Gia Hựu" thời Tống)

Tên khoa học: Spinacia oleracea L.

(cây cải bó xôi (rau chân vịt))

【Giải thích tên gọi】

  • Tên khác: Ba thái (菠菜 - Bản thảo Cương mục), Ba tư thảo (波斯草 - Bản thảo Cương mục), Xích căn thái (赤根菜 - Rau rễ đỏ).
  • Thận Vi nói: Xét theo Gia thoại lục của Lưu Vũ Tích: Giống Báo lăng vốn từ nước ngoài đưa tới. Có vị tăng mang hạt giống đến, nói rằng đó là giống từ nước Phả Lăng (頗陵), do đọc chệch đi mà thành Ba lăng (波棱). (Rau Ba lăng vốn từ Tây Vực, có vị tăng mang hạt từ đó đến, giống như cỏ Mục túc và Bồ đào do Trương Khiên đưa về. Lý Tuần nói: "Há chẳng phải từ nước Phả Lăng mang đến mà đọc chệch thành Ba lăng sao?").
  • Thời Trân nói: Xét theo Đường hội yếu: Thời Đường Thái Tông, nước Ni Ba Duy (Nepal) dâng rau Ba lăng, lá giống cây hồng hoa, quả giống quả tật lê, nấu chín ăn rất ngon. Chính là loại này vậy. Các phương sĩ (thầy thuốc/đạo sĩ) ẩn danh gọi nó là Ba tư thảo (Cỏ Ba Tư).

【Tập giải】

  • Thời Trân nói: Ba lăng gieo vào tháng 8, tháng 9 thì dùng làm thức ăn cho mùa đông; gieo vào tháng Giêng, tháng 2 thì làm rau ăn mùa xuân. Thân cây mềm giòn, bên trong rỗng. Lá xanh bóng, mềm và dày, đầu lá có một mũi nhọn chính và hai mũi nhọn bên, hình dáng giống lá hoa đậu xị nhưng dài và lớn hơn. Rễ dài vài tấc, to như rễ Cát cánh (Platycodon grandiflorus) và có màu đỏ, vị rất ngọt. Tháng 4 cây mọc ngồng cao khoảng một thước. Có cây đực và cây cái. Hoa mọc từ thân, nhỏ li ti màu đỏ nhạt, mọc thành cụm không rõ rệt. Cây cái kết quả, quả có gai, hình dáng giống hạt Tật lê (Tribulus terrestris). Khi gieo hạt cần nghiền nhẹ cho lớp vỏ nứt ra thì hạt mới dễ hút nước mà nảy mầm. Hạt phải qua một kỳ trăng (một tháng) mới mọc, cũng là một đặc điểm kỳ lạ.
RAU VÀ RỄ (Của rau chân vịt - Spinacia oleracea L.)
[sửa]

【Khí vị】

  • Vị ngọt, tính lạnh, trơn (hoạt), không độc.
  • Sĩ Lương nói: Hơi độc. Ăn nhiều khiến chân yếu, đau lưng, phát lạnh. Người vốn bị lạnh bụng (phúc lãnh) ăn vào tất bị tiêu chảy. Không ăn cùng lươn (Monopterus albus) vì gây hoắc loạn. Nước cốt luyện thành sương có thể chế phục thạch tín, thủy ngân, thư hoàng, lưu huỳnh.

【Chủ trị】

  • Lợi ngũ tạng, thông nhiệt tràng vị, giải độc rượu. Người đang uống đan thạch (thuốc khoáng vật) ăn vào rất tốt (Mạnh Tiễn).
  • Thông huyết mạch, khai lồng ngực, hạ khí điều trung, chỉ khát nhuận táo. Phần rễ càng tốt (Thời Trân).

【Phát minh】

  • Mạnh Tiễn nói: Người phương Bắc ăn nhiều thịt và bột mì, ăn rau này vào thì quân bình; người phương Nam ăn nhiều cá, ba ba, gạo nước, ăn vào dễ bị lạnh. Do đó ăn nhiều sẽ làm lạnh đại tiểu tràng.
  • Thời Trân nói: Theo Nho môn sự thân của Trương Tòng Chính: Người bệnh lâu ngày, đại tiện táo kết không thông hoặc người bị trĩ lậu, nên thường xuyên ăn rau chân vịt, rau quỳ. Tính trơn của chúng nuôi dưỡng các khiếu, giúp thông lợi tự nhiên.

【Phụ phương】

  • Trị tiêu khát (tiểu đường) uống nước liên tục: Rễ rau chân vịt, Kê nội kim (màng mề gà) lượng bằng nhau, tán bột. Uống 1 tiền (3-4g) với nước cơm, ngày 3 lần.

RAU MUỐNG (Úng thái - 蕹菜)

[sửa]

Tên khoa học: Ipomoea aquatica Forsk.

【Giải thích tên gọi】

  • Thời Trân nói: Úng (蕹) cũng giống như ủng (壅 - vun bồi). Loại rau này chỉ nhờ vun bồi mà thành nên gọi là Úng.

【Tập giải】

  • Tàng Khí nói: Rau muống trồng ở vùng Lĩnh Nam. Thân bò, hoa trắng, ăn được.
  • Thời Trân nói: Nay người ở Kim Lăng và Giang Hạ trồng rất nhiều. Tính ưa đất ẩm, sợ sương tuyết. Tháng 9 đem cất vào hầm đất, tháng 3-4 lấy ra, vun bồi bằng phân đất thì mỗi đốt đều nảy mầm, một gốc có thể mọc đầy một luống. Thân mềm, rỗng giữa; lá giống lá rau chân vịt hoặc hình mũi đục. Vị nhạt, nên nấu cùng thịt lợn, khi thịt chuyển màu tím thì mới ngon. Bắc hộ lục nói lá giống lá liễu là sai. Theo Thảo mộc trạng: Lá rau muống giống rau mồng tơi (Basella alba) nhưng nhỏ hơn. Người phương Nam tết sậy làm bè, đục lỗ nhỏ thả trên mặt nước. Gieo hạt xuống nước, rễ nổi trên mặt nước như bèo. Khi lớn, cành lá đều mọc ra từ lỗ bè sậy, trôi nổi theo nước. Đây là loại rau lạ của phương Nam. Như vậy rau này thủy sinh hay lục sinh đều được.

【Khí vị】

  • Vị ngọt, tính bình, không độc.

【Chủ trị】

  • Giải độc cỏ Hồ man (độc Diệp cát - lá ngón Gelsemium elegans): Sắc ăn hoặc giã sống lấy nước uống (Tàng Khí).
  • Giã nước cốt hòa với rượu uống để trị đẻ khó (Thời Trân).

【Phát minh】

  • Tàng Khí nói: Người phương Nam ăn rau muống trước, ăn Dã cát (lá ngón) sau, hai thứ khắc chế nhau nên không bị hại. Lấy nước rau muống nhỏ vào mầm lá ngón, mầm đó lập tức héo chết, sức tiêu diệt nhau mạnh như vậy. Bác vật chí của Trương Hoa nói Ngụy Vũ Đế ăn lá ngón đến một thước mà không sao, chắc là nhờ ăn rau này trước vậy.

ĐIỀM THÁI (菾菜)

[sửa]

Tên khoa học: Beta vulgaris var. cicla L. (Rau cải cầu vồng/Cải Thụy Sĩ)

【Hiệu chính】

  • Gộp cả mục rau "Thiềm" (Thiềm thái) trong sách Gia Hựu.

【Giải thích tên gọi】

  • Điềm thái (Rau ngọt), Thiềm thái.
  • Thời Trân nói: Điềm thái chính là Thiềm thái. Chữ "Thiềm" thông với chữ "Điềm" (ngọt), đặt theo vị của rau. Nghĩa của chữ "Thiềm" hiện chưa rõ.

【Tập giải】

  • Hoằng Cảnh nói: Điềm thái là loại rau nay dùng để làm món hấp (ôi chưng).
  • Tô Cung nói: Lá giống mầm Thăng ma (Shengma), người phương Nam hấp hoặc nướng ăn, rất thơm ngon.
  • Bảo Thăng nói: Cây cao 3-4 thước, thân như cây Sóc địch (Sambucus javanica), có khía cạnh nhỏ, mùa hè tươi tốt, mùa đông khô héo. Đốt thân lấy tro luyện nước giặt áo quần sẽ trắng như ngọc.
  • Sĩ Lương nói: Lá giống cúc tím nhưng lớn hơn, hoa trắng.
  • Thời Trân nói: Gieo hạt vào tháng Giêng, tháng 2, rễ cũ cũng tự mọc lại. Lá màu xanh trắng, giống lá cải bắp trắng nhưng ngắn hơn, thân cũng tương tự nhưng nhỏ hơn một chút. Ăn sống hay chín đều được, hơi có mùi đất. Tháng 4 nở hoa trắng nhỏ. Kết quả hình dáng như quả Thù du, nhẹ và xốp, màu vàng đất, bên trong có hạt nhỏ. Rễ màu trắng.

【Khí vị】

  • Vị ngọt, đắng, tính rất lạnh (đại hàn), trơn (hoạt), không độc.
  • Vũ Tích nói: Tính bình, hơi độc. Người bị khí lạnh không nên ăn nhiều vì động khí. Người vốn bị lạnh bụng ăn vào tất bị tiêu chảy.

【Chủ trị】

  • Trị bệnh thời hành sốt cao, giải độc phong nhiệt, giã nước uống sẽ khỏi (Biệt lục).
  • Mùa hè nấu cháo rau này ăn giúp giải nhiệt, trị lỵ do nhiệt độc. Giã nát đắp vết bỏng (ngải cứu), giúp giảm đau, mau lành (Tô Cung).
  • Giã nước uống chủ trị lỵ nóng lạnh. Lại giúp cầm máu, sinh cơ (mọc da non), trị các vết thương do thú vật cắn, đắp vào lập tức khỏi (Tàng Khí). Sắc nước uống giúp khai vị, thông tâm cách, hợp với phụ nữ (Đại Minh). Bổ trung hạ khí, điều lý tì khí, trị đầu phong, lợi ngũ tạng (Gia Hựu).

RỄ (Điềm thái căn)

【Khí vị】 Vị ngọt, tính bình, không độc.

【Chủ trị】 Thông kinh mạch, hạ khí, mở rộng vùng ngực bụng (Chính yếu).

HẠT (Điềm thái tử)

【Chủ trị】 Nấu chín tái, giã lấy nước uống trị chứng nóng ở trẻ em (Mạnh Tiễn). Ngâm giấm xát mặt giúp tẩy sạch bã nhờn, da dẻ mịn màng, sáng bóng (Tàng Khí).

【Phụ phương】

  • Trị trĩ lậu đi ngoài ra máu: Hạt Điềm thái, hạt Vân đài (cải dầu), hạt Kinh giới, hạt Rau mùi, hạt Xà lách, hạt Mạn kinh, hạt Củ cải, hạt Hành lượng bằng nhau. Lấy một con cá diếc lớn bỏ vảy và ruột, nhồi thuốc vào trong, khâu lại. Cho vào dụng cụ bằng bạc hoặc đá, dùng lửa luyện chín cả trên lẫn dưới, để nguội tán bột. Mỗi lần uống 2 tiền (8g) với nước cơm, ngày 2 lần.

ĐÔNG PHONG THÁI (東風菜)

[sửa]

Tên khoa học: Doellingeria scabra (Thunb.) Nees (tên cũ: Aster scaber)

【Giải thích tên gọi】

  • Đông phong (Gió đông), Đông phong (Gió mùa đông).
  • Mã Chí nói: Rau này mọc trước mùa xuân nên gọi là Đông phong (Gió đông). Có chỗ viết là Đông phong (Gió mùa đông) ý nói nhận được khí của mùa đông.

【Tập giải】

  • Mã Chí nói: Rau Đông phong mọc ở vùng đầm lầy Lĩnh Nam. Cao 2-3 thước, lá giống lá mơ nhưng dài, cực kỳ dày và mềm, trên có lông mịn, nấu ăn rất ngon.
  • Thời Trân nói: Theo Quảng Châu ký của Bùi Uyên: Rau Đông phong hoa và lá giống cây Lạc nhâm, thân màu tím. Nên nấu canh với thịt mỡ, mùi thơm như Mã lan (Aster indicus), vị như nhũ lạc (váng sữa).

【Khí vị】 Vị ngọt, tính hàn, không độc.

【Chủ trị】 Phong độc ủng nhiệt, đau đầu chóng mặt, gan nhiệt mắt đỏ, dùng nấu canh hoặc làm món ăn rất tốt (Khai bảo).

TỀ (薺) - RAU TỀ

[sửa]

Tên khoa học: Capsella bursa-pastoris (L.) Medic. (Rau tề/Đào y)

【Giải thích tên gọi】

  • Hộ sinh thảo.
  • Thời Trân nói: Rau tề mọc nơi đầm lầy (tế trạch) nên gọi là Tề. Nhà Phật lấy thân cây làm gậy khêu đèn để đuổi kiến, bướm đêm nên gọi là Hộ sinh thảo (cỏ bảo vệ chúng sinh).

【Tập giải】

  • Hoằng Cảnh nói: Tề có nhiều loại, đây là loại người nay thường ăn. Làm dưa muối hay nấu canh đều ngon. Kinh Thi có câu: "Ai bảo rau đồ đắng, nó ngọt như rau tề", chính là nói về loại này.
  • Thời Trân nói: Tề có loại lớn và nhỏ. Loại nhỏ lá hoa thân dẹt, vị ngon (gọi là Sa tề). Loại lớn thân lá đều to nhưng vị không bằng. Loại thân cứng có lông gọi là Tích minh, vị không ngon lắm. Cây mọc sau tiết Đông chí, tháng 2-3 mọc ngồng cao 5-6 thốn. Hoa trắng nhỏ mọc đều. Quả nang hình tam giác như bèo cám. Hạt bên trong như hạt Đình lịch, gọi là Thoa (菔), thu hoạch vào tháng 4. Sư Khoáng nói: "Năm nào muốn có vị ngọt thì Cam thảo mọc trước, rau Tề theo sau". Tích minh và Đình lịch đều thuộc loại rau Tề.

【Khí vị】 Vị ngọt, tính ấm, không độc.

【Chủ trị】 Lợi gan hòa trung (Biệt lục). Lợi ngũ tạng. Rễ: Trị đau mắt (Đại Minh). Sáng mắt bổ dạ dày (Thời Trân). Thân, lá: Đốt thành tro trị kiết lỵ ra máu trắng cực hiệu nghiệm (Diễn Quyền).

【Phụ phương】

  • Mắt đỏ cấp tính, đau sưng nhức cộm: Rễ rau tề giã lấy nước nhỏ mắt (Thánh huệ).
  • Mắt có màng mộng (ế màng): Rau tề cả rễ, thân, lá rửa sạch, sấy khô tán bột mịn. Trước khi ngủ rửa sạch mắt, lấy một lượng bằng hạt gạo chấm vào hai khóe mắt. Tuy đau nhức nhưng cố nhịn, dùng lâu màng tự rụng (Thánh tế tổng lục).
  • Bụng sưng trướng to, tứ chi gầy khô, tiểu rắt: Đình lịch (sao), rễ rau tề lượng bằng nhau, tán bột, luyện mật làm viên bằng quả đạn. Mỗi lần uống 1 viên với nước trần bì. Uống 2-3 viên tiểu sẽ trong; hơn 10 viên bụng sẽ trở lại bình thường (Tam nhân).

【Hạt (Tề thực)】

  • Chu Vương nói: Năm đói thu hạt, hòa nước thành khối, nấu cháo hoặc làm bánh rất dẻo.
  • Khí vị: Vị ngọt, tính bình, không độc. Người bị bệnh khí ăn vào sẽ động khí lạnh. Không ăn cùng bột mì vì gây tức lưng. Người đang uống đan thạch không được ăn.
  • Chủ trị: Sáng mắt, trị đau mắt, bổ ngũ tạng hư tổn, trị bụng trướng, giải nhiệt độc. Dùng lâu nhìn vật rõ ràng.

【Hoa】 Trải dưới chiếu để đuổi côn trùng, muỗi, bướm. Tán bột uống với nước táo trị lỵ lâu ngày.

TÍCH MINH (菥蓂)

[sửa]

Tên khoa học: Thlaspi arvense L. (Cải dại)

【Giải thích tên gọi】

  • Đại tề (Tề lớn), Đại túc, Mã tân.
  • Thời Trân nói: Các tên này không rõ nghĩa. Ô Phổ bản thảo gọi là Tích mục, Vinh mục, Mã câu.

【Tập giải】

  • Cung nói: Nhĩ Nhã gọi Tích minh là Đại tề. Chú giải: Giống rau tề, dân gian gọi là Lão tề, vị ngọt không cay.
  • Tàng Khí nói: Đại tề là Đình lịch, không phải Tích minh. Quả Tích minh lớn và dẹt, quả Đình lịch nhỏ và tròn, hai thứ khác hẳn nhau.
  • Tụng nói: Đình lịch gọi là Điển (蕇), hạt và lá giống hạt cải, còn gọi là Cẩu tề. Tích minh là Đại tề. Cả hai đều thuộc loại rau tề nên người ta hay nhầm lẫn.
  • Thời Trân nói: Tề và Tích minh cùng một loại nhưng chia ra lớn nhỏ. Nhỏ là Tề, lớn là Tích minh (có lông). Công dụng hạt giống nhau. Tích minh vị ngọt hoa trắng, Đình lịch vị đắng hoa vàng.

【Mầm (Tích minh miêu)】

  • Khí vị: Vị ngọt, tính bình, không độc.
  • Chủ trị: Hòa trung ích khí, lợi gan sáng mắt (Thời Trân).

【Hạt (Tích minh tử)】

  • Khí vị: Vị cay, tính hơi ấm, không độc. (Tô Cung nói vị ngọt không cay).
  • Chủ trị: Sáng mắt, trị đau mắt chảy nước mắt, trừ tê bại (biểu), bổ ngũ tạng, ích tinh quang. Dùng lâu nhẹ người trẻ mãi không già (Bản kinh). Trị đau thắt lưng bụng (Biệt lục). Trị tích tụ ở gan, mắt sưng đỏ (Diễn Quyền).

【Phụ phương】

  • Mắt nóng đau, chảy nước mắt không ngừng: Hạt Tích minh tán bột. Khi ngủ dùng trâm đồng điểm một ít vào mắt, để nước mắt nóng và chất bẩn chảy ra là tốt.
  • Trong mắt mọc thịt thừa: Dùng phương như trên, điểm mắt mỗi đêm (Hải thượng phương).

PHỒN LÂU (蘩縷)

[sửa]

Tên khoa học: Stellaria media (L.) Vill. (Cỏ đại bi, Cầm bàng, Cỏ lòng máng)

【Giải thích tên gọi】

  • Sản lâu, Tư thảo, Nga tràng thái (Rau ruột ngỗng).
  • Thời Trân nói: Cỏ này thân bò rất rậm rạp (phồn), giữa thân có một sợi tơ (lâu) nên gọi là Phồn lâu. Dân gian gọi là rau Ruột ngỗng vì hình dáng giống. Nó dễ sinh trưởng nên gọi là Tư thảo.

【Tập giải】

  • Tô Cung nói: Đây chính là Kê tràng (ruột gà). Thường mọc nơi đất ẩm, cạnh mương rãnh. Người bình dân gọi là Kê tràng, bậc nhã sĩ gọi là Phồn lâu.
  • Thời Trân nói: Phồn lâu là Nga tràng (ruột ngỗng), không phải Kê tràng (ruột gà). Mọc rất nhiều nơi đất thấp ẩm. Tháng Giêng mọc mầm, lá to bằng đầu ngón tay. Thân nhỏ kéo dài, ngắt ra thấy bên trong rỗng, có một sợi trắng như tơ. Làm rau ăn rất ngọt giòn. Sau tháng 3 thì già. Hoa trắng cánh nhỏ. Quả nhỏ như hạt kê, bên trong có hạt mịn như hạt Đình lịch. Nga tràng vị ngọt, thân rỗng có tơ, hoa trắng; còn Kê tràng vị hơi đắng, nhai có dịch nhờn, thân không tơ, màu hơi tím, hoa cũng tím.

【Khí vị】 Vị chua, tính bình, không độc. (Thời Trân nói: vị ngọt, hơi mặn). Ăn cùng lươn sẽ gây tiêu khát và hay quên.

【Chủ trị】 Các loại mụn nhọt ác tính lâu năm, trĩ không khỏi. Phá huyết, thông sữa, phụ nữ sau sinh nên ăn. Trị đau bụng có khối sau sinh (huyết hòn): sao với rượu lấy nước ấm uống. Hoặc tán bột, làm viên với hồ giấm, uống 50 viên lúc đói để tống ác huyết ra ngoài (Tàng Khí).

【Phụ phương】

  • Làm đen râu tóc: Ăn Phồn lâu làm rau trong thời gian dài.
  • Tiểu rắt cấp tính: Lấy hai nắm cỏ Phồn lâu sắc nước uống thường xuyên.
  • Mụn nhọt bộ phận sinh dục nam giới: Phồn lâu đốt tồn tính 5 phần, phân giun đất mới đùn 2 phần, hòa ít nước đắp vào.

KÊ TRÀNG (雞腸)

[sửa]

Tên khoa học: Stellaria neglecta Weihe hoặc Stellaria aquatica (L.) Scop.

(Cỏ đường tàu)

【Tập giải】

  • Thời Trân nói: Kê tràng mọc nơi ẩm thấp. Tháng 2 mọc mầm, lá giống Nga tràng nhưng màu đậm hơn. Thân mang sắc tím, đặc ruột, không có tơ. Tháng 4 nở hoa tím nhỏ 5 cánh. Làm rau không ngon bằng Nga tràng. Nhai sống thấy có dịch nhờn (nên có thể dùng dính ve sầu).

【Khí vị】 Vị hơi cay, đắng, tính bình, không độc.

【Chủ trị】 Độc sưng, cầm tiểu tiện quá nhiều. Trị lở loét do nước tiểu sâu róm. Trị đái dầm, tay chân nứt nẻ do nước lạnh. Đốt thành tro hòa muối trị mụn nhọt, phong chẩn ngứa ngáy toàn thân. Giã nước hòa mật ong trị lỵ đỏ trắng ở trẻ em rất tốt. Tán bột hoặc đốt tro xát răng trị sâu răng, hở lợi.

MỤC TÚC (苜蓿)

[sửa]

Tên khoa học: Medicago sativa L. (Cỏ ba lá/Lục lăng/Cỏ Alfalfa)

(Cỏ ba lá/Lăng tiêu)

【Giải thích tên gọi】

  • Mộc túc, Hoài phong thảo, Quang phong thảo, Liên chi thảo.
  • Thời Trân nói: Vì rễ cũ tự mọc lại qua mùa đông (túc) để chăn nuôi (mục) trâu ngựa nên gọi là Mục túc. Sách Tây Kinh tạp ký nói: Gió thổi qua cỏ này nghe xào xạc, ánh nắng chiếu vào hoa có hào quang nên gọi là Quang phong.

【Tập giải】

  • Thời Trân nói: Nguyên gốc từ nước Đại Uyển, Trương Khiển mang về Trung Quốc. Nay mọc hoang khắp nơi. Một năm có thể cắt 3 lần làm rau. Lá gồm 3 lá chét, xanh biếc. Hạ thu nở hoa vàng nhỏ. Quả đậu tròn dẹt, xoắn lại có gai, khi già màu đen. Hạt bên trong có thể nấu cơm hoặc nấu rượu.

【Khí vị】 Vị đắng, tính bình, chát, không độc. Ăn nhiều gây lạnh gân cốt, khiến người gầy. Ăn cùng mật ong gây tiêu chảy.

【Chủ trị】 An trung, lợi người, có thể ăn lâu dài. Lợi ngũ tạng, nhẹ người, khỏe mạnh, tẩy sạch nhiệt tà ở tì vị, thông nhiệt độc ở tiểu trường. Ăn khô bổ dưỡng.

【Rễ (Mục túc căn)】

  • Khí vị: Tính hàn, không độc.
  • Chủ trị: Phiền đầy do nhiệt bệnh, vàng mắt, đỏ mắt, tiểu vàng, vàng da do rượu (tửu đản). Giã lấy 1 lít nước cốt uống, gây nôn hoặc tiêu chảy là khỏi. Giã lấy nước sắc uống trị đau do sỏi đường tiết niệu (sa thạch lâm).

RAU DỀN (Hiện 莧 - Amaranthus)

[sửa]
  • (Sách "Bản kinh" xếp loại Thượng phẩm)

【Giải thích tên gọi】

  • Thời Trân nói: Thân lá đều cao lớn, dễ nhìn thấy (kiến), nên chữ Dền/Hiện (莧) có chữ Kiến (見).

【Tập giải】

  • Biệt lục: Hạt dền (Amanrath thực) còn gọi là Mạc thực. Mọc ở Hoài Dương và trên đồng ruộng. Lá như lá chàm. Thu hái vào tháng 11.
  • Hoằng Cảnh: Hạt dền nên lấy từ Dền trắng. Dền gai (Khang dền/Tế dền) ăn ngon hơn nhưng tính lạnh, nhuận tràng. Lại có loại Dền đỏ thân tím không ăn được. Rau Sam (Mã xỉ dền) là loại khác, mọc bò mặt đất, không phải hạt dền này.
  • Bảo Thăng: Dền có 6 loại: Đỏ, Trắng, Dền cơm (Nhân dền), Tía, Ngũ sắc và Rau sam. Chỉ có Dền cơm và Dền trắng là lấy hạt làm thuốc.
  • Tụng: Dền cơm và Dền trắng tính rất lạnh. Dền tía không độc, không lạnh. Dền đỏ vị cay. Dền gai mọc hoang, lợn rất thích ăn nên gọi là Trư dền (Dền lợn).
  • Thời Trân: Dền gieo tháng 3, sau tháng 6 không nên ăn. Khi già thân cao bằng người, nở hoa kết bông. Hạt đen bóng, dẹt, thu hoạch tháng 9.

RAU DỀN (菜)

  • Tên khoa học: Amaranthus tricolor L. (Dền đỏ/tía), Amaranthus viridis L. (Dền xanh/cơm).
  • Khí vị: Vị ngọt, tính lạnh, nhuận tràng, không độc. Dền đỏ: vị cay, tính hàn.
  • Lưu ý: Không ăn cùng thịt ba ba vì sinh chứng tích bụng (trứng ba ba).
  • Chủ trị:
    • Dền trắng: Bổ khí, trừ nhiệt, thông chín khiếu.
    • Dền đỏ: Trị lỵ ra máu, giải độc sâu độc, cát sâm.
    • Dền tía: Sát trùng độc, trị lỵ do khí.
    • Chung các loại: Lợi đại tiểu trường, trị lỵ mới phát, làm trơn thai (dễ đẻ).
  • Phụ phương: Trị sản hậu kiết lỵ (nấu cháo dền tía); trị lở môi ở trẻ em; trị vết cắn của rết, ong, rắn; giải độc sâu róm.

HẠT DỀN (莧實 - Amaranthi Semen)

  • Khí vị: Vị ngọt, tính hàn, không độc.
  • Chủ trị: Trị mù màu (thanh manh), sáng mắt, trừ tà khí, lợi đại tiểu tiện, trừ hàn nhiệt. Dùng lâu ích khí lực, nhẹ người. Trị màng mộng trắng, giết giun đũa. Trị gan phong khách nhiệt làm mắt có hoa đen.

RỄ DỀN(根)

  • Chủ trị: Trị đau lạnh vùng kín dẫn đến sưng bụng (giã đắp). Đốt tồn tính tán bột xát trị đau răng.

MÃ XỈ DỀN (馬齒莧 - Rau sam)

[sửa]
  • (Sách "Thục bản thảo")

【Giải thích tên gọi】

  • Tên khác: Mã dền, Ngũ hành thảo, Ngũ phương thảo, Trường mệnh thái (Rau trường thọ), Cửu đầu sư tử thảo.
  • Thời Trân nói: Lá xếp đối nhau như răng ngựa (mã xỉ), tính trơn lợi như rau dền nên có tên này. Cây rất bền bỉ, khó héo khô nên gọi là Trường mệnh (sống lâu).
  • Tụng: Gọi là Ngũ hành thảo vì lá xanh, thân đỏ, hoa vàng, rễ trắng, hạt đen.

【Tập giải】

  • Thời Trân: Rau sam mọc khắp nơi. Thân mềm bò đất, lá nhỏ đối sinh. Tháng 6-7 nở hoa vàng nhỏ, quả nhọn chứa hạt như hạt Đình lịch. Người ta thường hái nấu chín rồi phơi khô làm rau dự trữ. Các phương sĩ dùng nó để chế phục thạch tín, thủy ngân, lưu huỳnh trong luyện đan.

RAU SAM(菜)

  • Tên khoa học: Portulaca oleracea L.
  • Khí vị: Vị chua, tính hàn, không độc. (Tô Cung nói: vị cay, tính ấm). Tính hàn và trơn.
  • Chủ trị:
    • Giã đắp trị các loại sưng phù, mụn cóc. Phá tích tụ, chỉ tiêu khát.
    • Nhuận tràng, trị xích bạch đới ở phụ nữ.
    • Uống nước cốt trị nôn mửa, tiểu rắt, vết thương chảy máu, trị lở môi và mặt ở trẻ em. Giải độc mồ hôi ngựa, sâu độc.
    • Nấu cháo trị kiết lỵ, đau bụng, sát giun. Dùng lâu tóc không bạc. Tán huyết tiêu thũng, trơn thai dễ đẻ, trị sản hậu hư hãn (mồ hôi trộm).
  • Phát minh: Tướng quốc Võ Nguyên Hành bị ghẻ lở ở chân lâu ngày không khỏi, dùng rau sam giã nát đắp 2-3 lần là sạch.

【Phụ phương】 (Tóm tắt các phương tiêu biểu)

  • Phong nhiệt đau răng: Nhai rau sam ngậm lấy nước cốt.
  • Kiết lỵ ra máu ở trẻ em: Nước cốt rau sam hòa mật ong uống.
  • Trĩ mới phát: Ăn rau sam nấu chín, kết hợp xông rửa bằng nước sắc.
  • Giun đũa: Sắc rau sam với muối, giấm uống lúc đói.
  • Hôi nách: Rau sam giã với mật, bọc bùn nướng khô, tán bột hòa mật đắp vào nách.
  • Mụn nhọt, đinh độc: Giã rau sam tươi đắp hoặc đốt tro hòa giấm đắp.
  • Rết, ong, sâu róm đốt: Giã nát đắp vào vết thương.
  • Lang ben, nấm da: Nấu rau sam thành cao bôi hoặc đốt tro trộn mỡ lợn bôi.

HẠT (馬齒莧子 - Portulacae Semen)

  • Chủ trị: Sáng mắt, ích thọ. Trị mù màu, màng mộng, trừ tà khí, lợi đại tiểu trường. Tán bột nấu cháo hoặc làm canh ăn. Trị mắt hay chảy nước mắt hoặc chảy mủ (dùng cùng hạt dền cơm).

KHỔ THÁI (苦菜)

[sửa]

(Sách "Bản kinh" xếp loại Thượng phẩm)

Tên khoa học: Sonchus oleraceus L. (Rau cúc đắng/Rau cải trời)

【Giải thích tên gọi】

  • Đồ (荼), Khổ cự (苦苣), Khổ nặc (苦蕒), Du đông (游冬), Thiên hương thái.
  • Thời Trân nói: Gọi là "Khổ", "Đồ" vì vị đắng. Vì trải qua mùa đông và mùa xuân mà không chết nên gọi là "Du đông".

【Tập giải】

  • Biệt lục: Mọc ở thung lũng, núi đồi, ven đường. Qua mùa đông không chết. Thu hái vào ngày 3 tháng 3, phơi khô trong bóng râm.
  • Thời Trân nói: Khổ thái chính là Khổ nặc. Loại trồng trong vườn gọi là Khổ cự, thực chất là cùng một loại. Đầu xuân mọc mầm, thân rỗng và giòn, bấm vào có nhựa trắng. Lá xẻ thùy như lá củ cải nhưng sắc xanh biếc. Hoa vàng như hoa cúc dại. Quả có lông trắng mềm, bay theo gió, rơi đâu mọc đó.

【Khí vị】 Vị đắng, tính hàn, không độc. Người tỳ vị hư hàn không nên ăn. Không ăn cùng mật ong vì gây trĩ nội.

【Chủ trị】 Trị tà khí ngũ tạng, dạ dày tê bí. Dùng lâu giúp an thần, ích khí, thông minh, ít ngủ, nhẹ người, trẻ lâu. Đắp trị đinh nhọt, sưng tấy, tẩy mụn cơm, trị rắn cắn. Nấu nước xông rửa trị trĩ lâu ngày (cực hiệu nghiệm).

【Phụ phương】

  • Huyết lâm, tiểu ra máu: Một nắm Khổ nặc, sắc với nửa rượu nửa nước mà uống.
  • Họng sưng đau: Nước cốt Khổ nặc dại hòa với nước cốt bấc đèn (Đăng tâm thảo) uống.
  • Độc sâu rát (Sa sáp): Dùng nước cốt Khổ thái bôi lên vết đỏ trên da sẽ khỏi.

【Rễ, Hoa, Hạt】

  • Rễ: Trị lỵ đỏ trắng, cốt chưng, lợi tiểu tiện.
  • Hoa, Hạt: Vị ngọt, tính bình. Trị nhiệt trong, an thần, trị vàng da (hoàng đản).

BẠCH CỰ (白苣 - Xà lách trắng)

[sửa]

Tên khoa học: Lactuca sativa L. var. capitata

【Giải thích tên gọi】 Thạch cự, Sinh thái (Rau sống).

【Tập giải】 Thời Trân nói: Giống Oa cự nhưng lá màu trắng hơn, bấm vào có nhựa trắng. Thường dùng ăn sống với muối và giấm nên gọi là Sinh thái.

【Khí vị】 Vị đắng, tính hàn. Phụ nữ sau sinh không nên ăn vì gây lạnh bụng, đau tiểu trường. Không ăn cùng sữa/phô mai vì sinh ký sinh trùng.

【Chủ trị】 Bổ gân cốt, lợi ngũ tạng, thông kinh mạch, làm trắng răng, giúp thông minh ít ngủ. Giải độc rượu, độc nhiệt. Trị mụn "mắt cá" (ngư tề sang) đau nhức.

OA CỰ (萵苣 - Diếp thơm/Xà lách)

[sửa]

Tên khoa học: Lactuca sativa L. var. angustana Irish

【Giải thích tên gọi】 Oa thái, Thiên kim thái. Tên gọi xuất phát từ việc giống này đến từ nước Oa (vùng Trung Á).

【Tập giải】 Gieo vào tháng Giêng, tháng 2. Lá dài nhọn, màu xanh, có nhựa trắng dính tay. Tháng 4 mọc ngồng cao 3-4 thước. Lột vỏ ăn sống vị như dưa chuột, hoặc muối dưa, gọi là Oa tử (Ngồng cải).

【Rau (Thái)】

  • Khí vị: Vị đắng, tính lạnh, hơi độc. Ăn nhiều làm mờ mắt.
  • Chủ trị: Lợi ngũ tạng, thông kinh mạch, làm răng trắng, hơi thở thơm tho. Thông sữa, lợi tiểu, sát trùng và nọc rắn.
  • Phụ phương: Trị nhũ dịch không thông (sắc với rượu); trị bí tiểu hoặc tiểu ra máu (giã đắp rốn); trị sâu tai (nhỏ nước cốt).

【Hạt (Oa cự tử)】 (Dùng trong thuốc thường sao qua)

  • Chủ trị: Thông sữa, lợi tiểu, trị âm nang sưng thũng, trĩ lậu ra máu, đau do chấn thương.
  • Phụ phương:
    • Sữa không xuống: Hạt Oa cự mài thành mụn, uống với rượu hoặc nấu cháo với gạo nếp, Cam thảo.
    • Thắt lưng đau do bong gân: Hạt Oa cự trắng (sao) 3 lạng, gạo nếp (sao), Nhũ hương, Một dược, Ô mai tán bột làm viên bằng quả đạn, uống với rượu nóng.
    • Tóc/Râu không mọc chỗ sẹo: Cạo nhẹ da bằng dao tre, dùng hạt Oa cự giã cùng gừng khô (Hồ tôn khương) xát thường xuyên.

THỦY KHỔ NẶC (水苦蕒)

[sửa]

Tên khoa học: Veronica undulata Wall. (Sâm bàng chày/Bèo vảy ốc)

  • 【Giải thích tên gọi】 Rau Tạ Bà, Bán biên sơn.
  • 【Tập giải】 Tụng nói: Mọc bên khe suối. Lá giống Khổ nặc nhưng dày và bóng. Rễ giống Bạch truật nhưng mềm. Tháng 2, 8, 9 hái rễ ăn.
  • 【Rễ - Khí vị】 Vị hơi đắng, cay, tính hàn, không độc.
  • 【Chủ trị】 Phong nhiệt thượng ủng, họng sưng đau và bướu cổ (phong lựu), mài với rượu uống.

PHIÊN BẠCH THẢO (翻白草)

[sửa]

Tên khoa học: Potentilla discolor Bunge (Cỏ lá bạc/Ủy lăng thái)

  • 【Giải thích tên gọi】 Cây Chân gà (Kê thối căn), Thiên ngẫu (Ngó sen trời).
  • 【Tập giải】 Thân cao 7-8 thốn. Lá cứng, răng cưa, mặt dưới trắng (nên gọi là Phiên bạch). Hoa vàng. Rễ to bằng ngón tay, vỏ đỏ thịt trắng, vị như thịt gà, có bột. Năm đói dân đào rễ ăn thay cơm.
  • 【Rễ - Khí vị】 Vị ngọt, hơi đắng, tính bình, không độc.
  • 【Chủ trị】 Thổ huyết, hạ huyết, băng lậu, sốt rét, ung nhọt.
  • 【Phụ phương】 Trị băng huyết (sắc rễ với rượu); thổ huyết không ngừng; sốt rét; nhọt độc không tên; ghẻ lở toàn thân (sắc nước tắm vào tiết Đoan ngọ).

TIÊN NHÂN TRƯỢNG THẢO (仙人杖草)

[sửa]

Tên khoa học: Lepidium apetalum Willd. (Hạt cải trời/Cỏ gậy tiên)

  • 【Tập giải】 Tàng Khí nói: Mọc ở vùng Kiếm Nam. Lá giống Khổ cự, mọc thành cụm. Tụng nói: Có 3 vật cùng tên này (một loại rau, một loại măng tre khô đen, và một tên khác của Câu kỷ). Đây là loại dùng làm rau ăn.
  • 【Khí vị】 Vị ngọt, tính hơi ấm, không độc.
  • 【Chủ trị】 Làm rau ăn giúp trừ đờm tích, trừ phong lạnh. Dùng lâu khỏe gân cốt, trẻ mãi không già.

BỒ CÔNG ANH (蒲公英)

[sửa]

Tên khoa học: Taraxacum mongolicum Hand.-Mazz.

  • 【Giải thích tên gọi】 Cấu nặc thảo, Kim châm thảo, Hoàng hoa địa đinh.
  • 【Tập giải】 Mọc nơi bình nguyên, đồng ruộng. Thân lá giống Khổ cự, bấm có nhựa trắng. Hoa vàng như cúc đại đóa.
  • 【Khí vị】 Vị ngọt, tính bình, không độc.
  • 【Chủ trị】 Sản phụ bị áp-xe vú (nhũ ung), sắc uống hoặc đắp tại chỗ. Giải độc thức ăn, tán khí trệ, hóa nhiệt độc, tiêu u bướu, đinh nhọt. Nhựa trắng bôi trị vết đâm độc.
  • 【Phát minh】 Chấn Hanh nói: Cây này thuộc hành Thổ, hoa vàng vị ngọt, vào kinh Dương minh và Thái âm, có kỳ công tiêu sưng tán kết. Thời Trân nói: Dùng đánh răng giúp bền răng, đen râu tóc (bài thuốc Hoàn thiếu đan).

HOÀNG QUA THÁI (黃瓜菜)

[sửa]

Tên khoa học: Paraixeris denticulata (Houtt.) Nakai (Rau cải trời hoa vàng)

  • 【Giải thích tên gọi】 Rau hoa vàng. Hoa vàng, mùi như dưa chuột (hoàng qua) nên tên vậy.
  • 【Tập giải】 Mọc hoang ngoài đồng. Hình như cải dầu nhưng vị hơi đắng. Nấu canh rất thơm ngon.
  • 【Khí vị】 Vị ngọt, hơi đắng, tính hơi hàn.
  • 【Chủ trị】 Thông khí kết, lợi đường ruột.

SINH QUA THÁI (生瓜菜)

[sửa]

Tên khoa học: Asperuga procumbens L. (Rau mùi dưa)

  • 【Giải thích tên gọi】 Vị có mùi dưa sống.
  • 【Tập giải】 Mọc nơi ruộng phẳng ẩm ướt. Lá xanh tròn như Bạch dền. Hoa tím trắng.
  • 【Khí vị】 Vị ngọt, tính hơi hàn.
  • 【Chủ trị】 Trị phong chạy khắp đầu mặt chân tay, thương hàn dương độc, sốt cao đau đầu, phiền táo. Giã nước uống hoặc đắp vết sưng.

LẠC QUY (落葵)

[sửa]

Tên khoa học: Basella alba L. (Mồng tơi)

  • 【Giải thích tên gọi】 Đằng quy, Thiên quy, Yên chi thái (Rau mồng tơi/Rau mồng tơi nhuộm da).
  • 【Tập giải】 Dây leo, lá tròn dày, mềm mướt. Quả khi chín màu tím đen, vò ra nước đỏ như phấn hồng (yên chi), phụ nữ dùng tô điểm mặt môi hoặc nhuộm vải.
  • 【Lá - Khí vị】 Vị chua (hoặc ngọt), tính hàn, trơn mướt. Người tỳ vị hư hàn không nên ăn.
  • 【Chủ trị】 Hoạt trung, tán nhiệt, lợi đại tiểu trường.
  • 【Quả】 Giúp da mặt tươi nhuận, làm phấn sáp bôi mặt.

TỨP THÁI (蕺菜 - Ngư tinh thảo)

[sửa]

Tên khoa học: Houttuynia cordata Thunb. (Diếp cá)

  • 【Giải thích tên gọi】 Rau vựa (Tả thái), Cỏ tanh cá (Ngư tinh thảo).
  • 【Tập giải】 Mọc nơi ẩm ướt, bóng râm. Lá giống tam giác, một mặt xanh một mặt tím đỏ, mùi tanh như cá.
  • 【Lá - Khí vị】 Vị cay, tính hơi ấm, có độc nhẹ. Ăn nhiều gây suy yếu dương khí, tiêu tinh tủy, không lợi cho chân (người bị cước khí ăn vào không khỏi).
  • 【Chủ trị】 Trị lở loét do nước tiểu sâu róm, ung nhọt, trĩ, thoát vị đái chậu, giải độc độc.
  • 【Phụ phương】 Trị nhọt lưng; trĩ sưng đau; đinh nhọt; trẻ em thoát vị hậu môn; sâu răng (nhét tai); rắn rết cắn.

QUYẾT (蕨)

[sửa]

Tên khoa học: Pteridium aquilinum (L.) Kuhn (Rau dớn/Rau dương xỉ)

  • 【Giải thích tên gọi】 Biểu (鳖). Đầu mầm cuộn lại như tay trẻ con hoặc chân rùa nên tên vậy.
  • 【Tập giải】 Mọc vùng núi. Mầm non cuộn tròn, khi già xòe như đuôi phượng. Lấy mầm non luộc nước tro khử nhớt rồi làm rau. Rễ màu tím, bên trong có bột trắng, dùng làm bánh hoặc miến ăn rất ngon.
  • 【Khí vị】 Vị ngọt, tính hàn, trơn mướt, không độc. Ăn nhiều gây mờ mắt, ngạt mũi, rụng tóc, yếu chân.
  • 【Chủ trị】 Khử bạo nhiệt, lợi thủy đạo, giúp ngủ ngon. Bổ ngũ tạng hư tổn. Tro rễ trộn dầu đắp vết rắn cắn.
  • 【Phát minh】 Thời Trân nói: Rau này tính lạnh trơn, tiết dương khí, hạ mà không thăng, tiêu hao chân nguyên nên không nên ăn quá nhiều.

THỦY QUYẾT (水蕨)

[sửa]

Tên khoa học: Ceratopteris thalictroides (L.) Brongn. (Ráng đại chiến/Rau cần nước)

  • 【Tập giải】 Thời Trân nói: Thủy quyết giống rau Dương xỉ (Quyết) nhưng mọc dưới nước. Sách Lã Thị Xuân Thu khen đây là loại rau ngon vùng Vân Mộng.
  • 【Khí vị】 Vị ngọt, đắng, tính hàn, không độc.
  • 【Chủ trị】 Trị tích tụ trong bụng (bĩ tích). Luộc ăn nhạt trong 1-2 ngày sẽ tống khứ vật ác ra ngoài. Kiêng ăn tạp trong một tháng là tốt nhất.

VI (薇)

[sửa]

Tên khoa học: Vicia sepium L. (Vĩ diệp thố nhi đơn/Dã vạn đậu)

  • 【Giải thích tên gọi】 Thùy thủy, Dã vạn đậu, Đại sào thái.
  • 【Tập giải】 Thời Trân nói: Vi mọc trong ruộng mạch hoặc ngoài đồng. Chính là loại Đậu vạn dại hiện nay, người Thục gọi là rau Sào (Sào thái). Cây dạng dây leo, thân lá mùi vị đều giống Đậu Hà Lan, dùng làm rau hay nấu canh đều tốt. Loại lớn là Vi, loại nhỏ là rau Nguyên Tu (Nguyên Tu thái).
  • 【Khí vị】 Vị ngọt, tính hàn, không độc.
  • 【Chủ trị】 Ăn lâu không đói, điều hòa trung tiêu, lợi đại tiểu trường, tiêu phù thũng, nhuận tràng.

KIỀU YÊU (翹搖)

[sửa]

Tên khoa học: Astragalus sinicus L. (Tử vân anh/Hoa vân anh)

  • 【Giải thích tên gọi】 Diêu xa, Dã tằm đậu (Đậu tằm dại), Tiểu sào thái.
  • 【Tập giải】 Thời Trân nói: Cây có thân lá mềm mại, đung đưa (phiêu diêu) nên có tên vậy. Người Thục gieo vào mùa thu, hái vào mùa xuân. Khi cây già thì cày lật xuống làm phân bón ruộng. Lá giống lá hòe non, hoa màu tím trắng.
  • 【Khí vị】 Vị cay, tính bình, không độc. Ăn sống gây nôn ra nước.
  • 【Chủ trị】 Phá huyết, cầm máu, sinh cơ. Giã nước uống trị các chứng vàng da (hoàng bệnh). Lợi ngũ tạng, sáng mắt thính tai, trị sốt rét do nhiệt, hoạt huyết bình vị.

LỘC HOẮC (鹿藿)

[sửa]

Tên khoa học: Rhynchosia volubilis Lour. (Đậu cúc/Đậu rùa)

  • 【Giải thích tên gọi】 Lộc đậu, Lao đậu, Dã lục đậu (Đậu xanh dại). Vì hươu (lộc) thích ăn lá (hoắc) của nó nên tên vậy.
  • 【Tập giải】 Thời Trân nói: Mọc nhiều nơi ruộng mạch và đồng hoang. Thân lá giống đậu xanh nhưng nhỏ hơn, dạng dây leo. Quả chín có hạt đen như hạt tiêu, có thể nấu ăn hoặc xay bột làm bánh.
  • 【Khí vị】 Vị đắng, tính bình, không độc.
  • 【Chủ trị】 Giải độc cổ, trị phụ nữ đau lưng bụng, trị nhọt ruột (tràng ung), tràng nhạc (loa lịch), các chứng ghẻ lở khí huyết.

HÔI ĐIÊU (灰藋)

[sửa]

Tên khoa học: Chenopodium album L. (Rau muối/Cỏ chân vịt)

  • 【Giải thích tên gọi】 Rau Hôi điều, Kim tỏa yểu. Vì thân lá có lớp phấn mịn như tro (hôi) nên tên vậy.
  • 【Tập giải】 Mọc nơi đất thuần thục. Thân có khía đỏ tím, mặt lá xanh, lưng lá có phấn trắng. Tháng 7-8 kết hạt từng chùm như hạt cầu, có thể đồ chín lấy nhân nấu cơm hoặc xay bột ăn.
  • 【Khí vị】 Vị ngọt, tính bình, không độc.
  • 【Chủ trị】 Trị ác sang, côn trùng, nhện cắn (giã đắp với dầu). Nấu nước tắm trị ghẻ lở, ngứa ngáy. Tro hạt dùng sát trùng răng sâu, tẩy thịt thừa, trị bạch biến, tàn nhang. Nhân hạt ăn giúp diệt ký sinh trùng (tam trùng).

LÊ (藜)

[sửa]

Tên khoa học: Chenopodium giganteum D. Don (Rau muối đỏ/Hồng tâm thái)

  • 【Giải thích tên gọi】 Lai, Hồng tâm hôi điều, Hạc đỉnh thảo, Yên chi thái.
  • 【Tập giải】 Thời Trân nói: Chính là loại Rau muối có tâm đỏ. Người phương Bắc gọi là Lạc lê, người phương Nam gọi là rau Yên chi. Khi già thân cứng có thể làm gậy chống.
  • 【Lá - Khí vị】 Vị ngọt, tính bình, hơi độc.
  • 【Chủ trị】 Diệt trùng. Sắc canh rửa mụn nhọt, súc miệng trị sâu răng. Giã đắp vết trùng cắn, trị lang ben. Thân đốt thành tro dùng tẩy mụn cóc, nốt ruồi đen và thịt thừa.

TẦN ĐỊCH LÊ (秦荻藜)

[sửa]

Tên khoa học: Chenopodium ficifolium Sm. (Rau muối lá hình lá vả)

  • 【Giải thích tên gọi】 Thời Trân nói: Sách Sơn Hải Kinh chép tại núi Tần có loại cỏ như cây địch (cỏ lau), gọi là Lê, có thể làm dưa muối.
  • 【Khí vị】 Vị cay, tính ấm, không độc. Là loại ngon nhất trong các loại rau sống.
  • 【Chủ trị】 Trị đau bụng lạnh trướng, hạ khí tiêu thực. Tán bột uống với rượu trị đau tim đột ngột, khí uất nghẹn. Hạt giã nát hòa giấm đắp trị sưng độc.

ĐỀ HỒ THÁI (醍醐菜)

[sửa]

Tên khoa học: Cynanchum corymbosum Wight. (Dây da bò/Sâm sữa)

  • 【Tập giải】 Thời Trân nói: Chứng loại Bản thảo có chép nhưng hình trạng chưa khảo cứu được. Duy có Lôi Hiệu nói: Hình giống dây da bò, bấm vào có nhựa trắng, mùi thơm ngọt. Hái về dùng dao tre cắt nhỏ, nghiền nát như cao, dùng lụa lọc lấy nước, uống ấm. Tuy nhiên không nói rõ trị bệnh gì.
  • 【Khí vị】 Vị ngọt, tính ấm, không độc.
  • 【Chủ trị】 Kinh nguyệt không đều: giã lá lấy nước cốt, hòa rượu sắc uống (theo Thiên Kim).
  • 【Phụ phương】 Trị nội thương băng huyết: Đề hồ giã lấy nước, hòa rượu đun sôi, uống một bát lúc đói.
      1. 【Phụ lục】
  • Mao cao thảo (茅膏菜 - Drosera peltata): Vị ngọt, bình, không độc. Sắc uống trị kiết lỵ đỏ trắng lâu ngày. Cây có nhựa dính như mỡ, quả dạng sừng.
  • Kê hầu thái (雞侯菜): Vị cay, ấm, không độc. Ăn lâu giúp ấm trung tiêu, ích khí. Hình giống cây Ngải, mọc ở Lĩnh Nam.
  • Mạnh nương thái (孟娘菜): Vị đắng, tính hơi ấm, không độc. Trị phụ nữ huyết kết gầy yếu, nam giới bìu dái thấp ngứa, cường dương, bổ hư, trị trĩ, tràng nhạc, bướu cổ. Lá giống Thăng ma, thân vuông.
  • Ưu điện (優殿): Vị cay, ấm, không độc. Ấm trung tiêu, trừ ác khí, tiêu thực. Mọc ở An Nam (Việt Nam), người dân trồng làm rau ăn với tương đậu rất thơm ngon.

DỤ (芋 - Khoai môn)

[sửa]

Tên khoa học: Colocasia esculenta (L.) Schott

  • 【Giải thích tên gọi】 Thổ chi, Tuấn si (Chim cú ngồi). Thời Trân nói: Củ lớn lá to khiến người ta kinh ngạc (hú/dụ) nên gọi là Dụ. Hình dáng củ như chim cú đang ngồi nên gọi là Tuấn si.
  • 【Tập giải】 Hoằng Cảnh nói: Khoai tươi có độc, vị tê ngứa không ăn được. Có loại khoai dại (Dã dụ) hình lá rất giống khoai ăn nhưng rễ có độc chết người.
    • Cung nói có 6 loại: Khoai xanh, khoai tím, khoai thật (chân dụ), khoai trắng, khoai liên thiền và khoai dại. Khoai xanh nhiều con, dài và độc nhiều, khi nấu phải dùng nước tro. Các loại khác độc ít, nấu ăn hoặc nấu canh với thịt rất tốt.
    • Thời Trân nói: Có hai loại là khoai nước và khoai cạn. Khoai nước vị ngon hơn. Thân (dọc mùng) cũng ăn được. Khoai thường không hoa, nếu nở thì hoa màu vàng. Sách Quảng chí liệt kê 14 loài khác nhau tùy kích thước củ và vị.
  • 【Củ (Dụ tử) - Khí vị】 Vị cay, tính bình, trơn mướt, có độc nhẹ. Ăn nhiều khó tiêu, gây trệ khí tỳ vị.
  • 【Chủ trị】 Khoan khoái dạ dày, làm đầy đặn cơ bắp. Ăn lạnh trị phiền nhiệt, chỉ khát. Giúp người béo trắng, thông táo bón. Sản phụ ăn vào giúp phá huyết ứ, uống nước cốt giúp chỉ khát do mất máu. Trị tử nhục (thịt thừa), bổ hư.
  • 【Phát minh】 Khoai trắng không vị, khoai tím phá khí. Tháng 10 phơi khô thu giữ, ăn mùa đông không phát bệnh. Khi nấu nên nấu với gừng, thay nước mới rồi ăn.
  • 【Phụ phương】 Trị bĩ tích trong bụng; trị phong ngứa ngoài da; trị mụn nhọt sưng đau do phong tà (dùng khoai trắng đốt thành tro đắp); trị nhọt mềm trên đầu (giã khoai tươi đắp).


LÁ VÀ THÂN KHOAI (Dụ diệp, ngạnh)

  • 【Khí vị】 Vị cay, tính lạnh, trơn mướt, không độc.
  • 【Chủ trị】 Trừ phiền, chỉ tả (cầm tiêu chảy), trị phụ nữ có thai tâm phiền mê muội, thai động bất an. Giã với muối đắp vết rắn rết, sâu bọ cắn và nhọt độc. Thân khoai (dọc mùng) sát vào chỗ ong đốt rất tốt. Nhựa bôi trị nhện cắn.
  • 【Phát minh】 Thẩm Quát chép: Thấy nhện bị ong đốt bụng sưng to sắp nứt, nhện bò vào ăn thân khoai rồi cọ vết thương vào đó, một lúc sau bụng xẹp lại như cũ. Từ đó dùng trị ong đốt rất nghiệm.

【Phụ lục】

  • Dã dụ (野芋 - Khoai dại): Hình lá giống khoai ăn nhưng cực độc, ăn vào gây phiền muội muốn chết, cứu bằng nước đậu nành hoặc nước phân. Loại nhỏ là Dã dụ, loại lớn là Thiên hà (Hải dụ - Alocasia macrorrhizos). Rễ dã dụ vị cay lạnh, độc nặng, mài với giấm đắp ghẻ lở, sâu bọ cắn.

THỔ DỤ (CỦ KHOAI ĐẤT)

[sửa]

(Trích: Thập Di) Tên khoa học: Dioscorea bulbifera L.

  • Hiệu chính: Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này.
  • Tên gọi khác: Thổ noãn (Thập Di), Hoàng độc (Cương mục), Thổ đậu.
  • Tập giải: Tàng Khí nói: Thổ dụ thân leo, lá như lá đậu, rễ tròn như quả trứng. Ăn vào gây nôn mửa dữ dội, người không nên ăn. Lại nói: Thổ noãn thân leo, giống khoai môn, người ta luộc với nước tro để ăn.
    • Cung nói: Thổ noãn giống khoai môn nhỏ, thịt trắng vỏ vàng. Người vùng Lương, Hán gọi là Hoàng độc, có thể hấp ăn.
  • Rễ:
    • Khí vị: Vị ngọt, cay, tính hàn, có độc nhỏ.
    • Chủ trị: Giải độc các loại thuốc. Giã tươi hòa nước uống, nôn ra chất độc thì dừng. Nấu chín ăn vị ngọt mỹ, không đói, làm dày ruột gan, trị ho do nhiệt (Tàng Khí).

THỰ DỰ (HOÀI SƠN/SƠN DƯỢC)

[sửa]
  • (Trích: Bản kinh - Thượng phẩm) Tên khoa học: Dioscorea polystachya Turcz. (syn. Dioscorea opposita)
  • Hiệu chính: Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này.
  • Tên gọi khác: Thự dự, Thổ thự, Sơn thự, Sơn dụ, Sơn dược, Ngọc diên, Nhi thảo, Tu thúy.
    • Lưu ý: Đời Đường kỵ húy vua Đường Đại Tông (Lý Dự) đổi thành Sơn dược, đời Tống kỵ húy vua Tống Anh Tông (Triệu Thự) nên tên gốc Thự Dự dần ít dùng.
  • Tập giải: Mọc ở thung lũng núi Cao Tung. Thân đỏ, leo nhỏ, hoa trắng, quả xanh vàng. Rễ trong trắng ngoài vàng.
    • Có hai loại: Loại trắng là thượng hạng, làm phấn ăn rất tốt và bổ; loại xanh đen vị kém không dùng.
    • Người phương Nam có loại rễ nhỏ như ngón tay, chắc, nấu canh không tan, vị rất ngon, bổ hơn loại trồng trong vườn. Lại có loại ở Mân Trung rễ giống gừng, khoai, vỏ tím, to vài cân, tính lạnh hơn loại phương Bắc.
    • Thời Trân nói: Dùng làm thuốc thì loại mọc hoang là tốt nhất; dùng làm thức ăn thì loại trồng là tốt. Tháng 5-6 nở hoa chùm màu hồng nhạt. Quả có ba cạnh, hạt kết bên cạnh trông như viên đạn (Linh dư), luộc ăn ngọt nhớt như rễ.
  • Tu trị (Bào chế): Gọt vỏ, ngâm nước có pha chút phèn chua để sạch nhớt, sấy khô. Làm thuốc quý ở chỗ phơi khô tự nhiên. Sinh dùng thì tính trơn, chín dùng thì trệ khí. Không dùng loại mọc ở ruộng phẳng, nên dùng loại mọc trong núi lâu năm.
  • Rễ:
    • Khí vị: Vị ngọt, tính ấm, bình, không độc. Ghét Cam toại.
    • Chủ trị: Bổ hư lao, gầy yếu, trừ hàn nhiệt tà khí, ích khí lực, dưỡng cơ bắp, cường âm. Dùng lâu làm sáng tai mắt, nhẹ người, không đói, kéo dài tuổi thọ. Trị phong trên mặt, chóng mặt, hạ khí, trị đau lưng, bổ ngũ tạng, trừ phiền nhiệt. Mạnh gân xương, trị di tinh, hay quên. Ích thận khí, kiện tì vị, cầm tiêu chảy, hóa đờm, nhuận da lông. Giã tươi đắp trị mụn nhọt sưng cứng.
  • Phát minh: Dùng cho người cơ thể hư nhược rất tốt. Giúp nam giới trợ âm lực.
    • Lý Cao nói: Sơn dược nhập thủ Thái âm Phế kinh, tính mát mà bổ. Trị da khô nhuận rất tốt.
  • Phụ phương:
    • Bổ hư tổn, tiểu nhiều, gầy yếu: Sơn dược nghiền nhỏ, cho vào nồi với một thìa mỡ bò (tô) đun thơm, thêm rượu đun đều, uống lúc đói.
    • Bụng đầy chướng, tay chân lạnh, nôn mửa: Sơn dược nửa sống nửa sao, tán bột. Uống 2 tiền với nước cơm. Kỵ đồ sắt.
    • Tiểu nhiều: Sơn dược (nấu nước phèn), Bạch phục linh bằng nhau, tán bột. Uống 2 tiền.
    • Lỵ cấm khẩu: Sơn dược nửa sống nửa sao, tán bột, uống với nước cơm.
    • Đờm phong suyễn cấp: Sơn dược tươi giã nát nửa bát, trộn nửa bát nước mía, đun nóng uống ngay.
    • Tì vị hư yếu, chán ăn: Sơn dụ, Bạch truật mỗi thứ 1 lạng, Nhân sâm 7 chỉ rưỡi, tán bột, làm viên bằng hạt đậu, uống 40-50 viên.
    • Tiêu chảy do thấp nhiệt: Sơn dược, Thương truật bằng nhau, làm viên uống.
    • Nhọt độc mới phát: Sơn dược tươi (còn dính đất), hạt Thầu dầu, Gạo nếp bằng nhau, ngâm nước nghiền nát, đắp lên.
    • Lở loét vùng háng, lưng: Sơn dược và Đường đỏ cùng giã, bôi lên.
    • Kết hạch sau cổ hoặc sưng đau: Sơn dược tươi gọt vỏ, 2 hạt Thầu dầu cùng nghiền, đắp vào rất thần hiệu.
    • Bỏng lạnh tay chân: Một khúc Sơn dược, mài thành bùn đắp vào

LINH DƯ TỬ (DÁI MAI/CỦ KHÔNG KHÍ)

[sửa]
  • (Trích: Thập Di) Tên khoa học: Dioscorea bulbifera L.
  • Hiệu chính: Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này.
  • Tập giải: Tàng Khí nói: Linh dư tử to như trứng gà, nhỏ như viên đạn, mọc dưới nách lá. Phơi khô dùng công hiệu mạnh hơn Sơn dược. Đây là một loại trong các giống Thự dự.
    • Thời Trân nói: Đây là quả kết trên dây leo của cây Sơn dược. Hình dáng dài tròn không đều, vỏ vàng thịt trắng. Luộc chín bỏ vỏ ăn ngon hơn Sơn dược và khoai môn. Thu hoạch sau mùa sương giáng. Hạt rơi xuống đất cũng dễ mọc rễ.
  • Khí vị: Ngọt, ấm, không độc.
  • Chủ trị: Bổ hư tổn, mạnh lưng chân, ích thận, ăn vào không đói (Tàng Khí).

CAM THỰ (KHOAI LANG)

[sửa]
  • (Trích: Cương Mục) Tên khoa học: Ipomoea batatas (L.) Lam.
  • Tập giải: Thời Trân nói: Theo Dị vật chí, Cam thự xuất xứ từ vùng Giao Chỉ, Quảng Châu phương Nam. Dân trồng tháng 2, thu hoạch tháng 10. Rễ giống khoai môn, có củ rất lớn như trứng ngỗng, nhỏ như trứng gà vịt. Bóc vỏ tím thấy thịt trắng như mỡ. Người miền Nam dùng thay lương thực hoặc làm trái cây, hấp nướng đều thơm ngon. Mới đầu rất ngọt, để lâu gặp gió vị sẽ nhạt đi.
    • Theo Thảo mộc trạng: Cam thự thuộc loại Thự dự hoặc khoai môn, lá rễ cũng tương tự. Củ to như nắm tay hoặc bát cơm, vị như Sơn dược, tính không quá lạnh. Người vùng Hải Đảo không làm ruộng chỉ trồng thứ này, cắt lát phơi khô làm lương thực gọi là Thự lương. Người vùng biển nhiều người thọ là do không ăn ngũ cốc mà chỉ ăn Cam thự.
  • Khí vị: Ngọt, bình, không độc.
  • Chủ trị: Bổ hư phạp, ích khí lực, kiện tì vị, cường thận âm, công dụng giống Sơn dược (Thời Trân).

BÁCH HỢP (HOA HUỆ TÂY/LOA KÈN)

[sửa]
  • (Trích: Bản kinh - Trung phẩm) Tên khoa học: Lilium brownii var. viridulum Baker
  • Hiệu chính: Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này.
  • Tên gọi khác: Phiên, Cường cù, Toán não thự (Khoai đầu tỏi), Ma la, Trọng tương.
  • Giải thích tên gọi: Rễ do nhiều cánh (vảy) hợp thành nên gọi là Bách hợp (trăm thứ hợp lại). Có thuyết nói do trị được bệnh "Bách hợp". Vì rễ giống củ tỏi, vị như khoai nên tục gọi là Toán não thự.
  • Tập giải: Mọc ở lũng núi Kinh Châu. Tháng 2, tháng 8 đào rễ phơi khô. Rễ như củ tỏi lớn, hàng chục vảy chồng lên nhau.
    • Có hai loại: Loại lá lớn thân dài, rễ thô hoa trắng dùng làm thuốc; loại lá nhỏ hoa đỏ (Sơn đan) không dùng.
    • Cần phân biệt:
      • Bách hợp (Lilium brownii): Thân đứng, lá ngắn rộng như lá trúc, hoa trắng lớn rủ xuống.
      • Sơn đan (Lilium pumilum): Lá dài hẹp như lá liễu, hoa đỏ không rủ.
      • Quyển đan (Lilium lancifolium - Loa kèn vảy rồng): Thân cao, hoa đỏ cam có đốm đen rủ xuống, nách lá có hạt đen (linh dư tử). Loại này Tô Tụng nói không dùng làm thuốc, nhưng Lý Thời Trân đính chính là có thể dùng.
  • Rễ (Thân hành):
    • Khí vị: Ngọt, bình, không độc. Quyền nói: Có độc nhỏ.
    • Chủ trị: Trị tà khí gây đầy bụng, đau tim, lợi tiểu tiện, bổ trung ích khí. Trị phù thũng, trướng bụng, đầy trướng, sốt rét, đau nhức toàn thân, thông sữa, viêm họng, cầm nước mắt nước mũi. An thần, định phách, dưỡng ngũ tạng, trị điên cuồng, kinh sợ, huyết vận sau sinh. Chưng với mật ong trị đau tim do hoàng đản. Ôn phổi chỉ khái (trị ho).
  • Phát minh: Trương Trọng Cảnh có 4 phương trị bệnh Bách hợp (Bách hợp tri mẫu thang, Bách hợp hoạt thạch đại赭 thang, Bách hợp kê tử thang, Bách hợp địa hoàng thang).
  • Phụ phương (Tóm lược):
    • Bệnh Bách hợp: Dùng Bách hợp sắc cùng Tri mẫu, hoặc lòng đỏ trứng gà, hoặc Đại赭 thạch/Hoạt thạch, hoặc Địa hoàng tùy chứng (theo Kim quỹ yếu lược).
    • Tiêu khát/Nhiệt do bệnh Bách hợp: Sắc lấy nước tắm hoặc uống với Hoạt thạch.
    • Ho do phổi nhiệt: Bách hợp tươi 4 lạng, chưng với mật cho mềm, ngậm nuốt nước.
    • Thổ huyết: Giã Bách hợp tươi lấy nước uống.
    • Bệnh tai: Khô Bách hợp tán bột uống.
    • Trị tóc bạc: Giã nát Bách hợp ủ kín 100 ngày, nhổ tóc bạc đắp vào sẽ mọc tóc đen.
    • Mụn nhọt, lở loét: Giã nát đắp (tươi hoặc phối hợp muối/dấm).
    • Hóc xương cá: Bách hợp tán bột, hòa nước mật bôi quanh cổ.
  • Hoa: Trị mụn mủ trẻ em (phơi khô tán bột trộn dầu cải bôi).
  • Hạt: Sao rượu tán bột uống trị đại tiện ra máu.

SƠN ĐAN (HOA LILY CHI MAI)

[sửa]
  • (Trích: Nhật Hoa) Tên khoa học: Lilium pumilum DC.
  • Tên gọi khác: Hồng bách hợp (Nhật Hoa), Liên châu, Xuyên cường cù (Thông chí), Hồng hoa thái.
  • Tập giải:
    • Thẩm nói: Loại Bách hợp hoa đỏ gọi là Sơn đan. Rễ của nó ăn không tốt bằng loại hoa trắng.
    • Thời Trân nói: Rễ Sơn đan giống Bách hợp nhưng nhỏ và ít vảy hơn, thân cũng ngắn nhỏ. Lá hẹp, dài và nhọn, rất giống lá liễu, khác hẳn với Bách hợp. Tháng 4 nở hoa đỏ, hoa có 6 cánh không rủ xuống, cũng kết hạt nhỏ. Người vùng Yến, Tề hái đài hoa lúc chưa nở, phơi khô đem bán, gọi là Hồng hoa thái.
    • Cây Quyển đan (Lilium lancifolium) tuy thân lá giống nhưng hơi dài và lớn hơn. Hoa có 6 cánh rủ xuống, lớn hơn Sơn đan. Tháng 4 kết hạt ở nách lá, đến mùa thu hoa mới nở ở đỉnh ngọn, thật là một sự lạ. Rễ có vảy giống Bách hợp nhưng không ăn được, là một loại riêng biệt.
  • Rễ:
    • Khí vị: Vị ngọt, tính lương (mát), không độc. Quyển Chính yếu ghi: Tính bình.
    • Chủ trị: Sang thũng (mụn nhọt sưng tấy), kinh tiệp (hoảng sợ, co giật) (Đại Minh). Dùng cho phụ nữ bị băng trung (băng huyết) (Thời Trân).
  • Hoa:
    • Khí vị: Giống như rễ.
    • Chủ trị: Hoạt huyết. Nhị hoa dùng đắp trị đinh sang, ác thũng (nhọt độc sưng dữ) (Thời Trân).

THẢO THẠCH SÂM (CÂY CỎ SÂM/CAM LỘ TỬ)

[sửa]
  • (Trích: Thập Di) Tên khoa học: Stachys sieboldii Miq.
  • Hiệu chính: Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này.
  • Tên gọi khác: Địa tiềm (Nhật dụng), Thổ nhộng (Dư đông lục), Cam lộ tử (Thực vật), Tích lộ (Cương mục), Địa qua nhi.
    • Thời Trân nói: Tên "Tiềm" (tằm), "Nhộng" đều dựa trên hình dáng của rễ mà đặt; "Cam lộ" (móc ngọt) dựa vào vị của rễ. Có thuyết nói trên lá có giọt sương nhỏ xuống (tích lộ) thì rễ sinh ra, nhưng tôi thường trồng thử thì thấy không có chuyện đó. Loại rễ to dài được sách Cứu hoang bản thảo gọi là Địa qua nhi.
  • Tập giải:
    • Tàng Khí nói: Đào Hoằng Cảnh chú giải phần sâu bọ về "Thạch tiềm" có nói: Nay tục dùng rễ cỏ màu đen. Xét thấy Thảo thạch sâm mọc trên đá núi cao, rễ như cái trâm, trên có lông, đốt như con tằm, lá giống lá Quyển bá. Người miền núi hái về ăn.
    • Tô Tụng nói: Rễ cỏ giống con tằm cũng gọi là Thạch sâm. Có ở vùng Phúc Châu và Tín Châu trên đá núi, bốn mùa đều có. Mầm màu xanh, cũng có đốt. Tháng 3 hái rễ dùng.
    • Cơ nói: Thảo thạch sâm ở Huy Châu rất nhiều, dân địa phương gọi là Địa tiềm. Trắng béo và đốt ngắn, to như con tằm lứa thứ ba. Mọc ở vùng đất thấp ẩm và bãi cát. Mùa thu cày ruộng thấy khắp nơi. Thu hái về ngâm giấm làm dưa chua ăn. Mùa đông cũng đào lấy được.
    • Dĩnh nói: Địa tiềm mọc ở ruộng mạch vùng ngoại ô. Lá như lá bạc hà nhưng hẹp và nhọn hơn, vân hơi nhăn, kém độ bóng. Rễ màu trắng, trạng như con tằm. Tháng 4 hái rễ, trụng nước sôi hòa muối làm rau ăn.
    • Thời Trân nói: Thảo thạch sâm chính là cây Cam lộ tử ngày nay. Vùng Kinh Tương, Giang Hoài trở về nam trong hoang dã đều có, người ta cũng trồng. Tháng 2 mọc mầm, dài gần một thước, thân vuông, đối đốt, lá hẹp có răng cưa, đều giống cây Kê tô (dân gian gọi là bạc hà dại), nhưng lá nhăn và có lông. Tháng 4 nở hoa nhỏ thành bông (tuế), giống như bông hoa Tử tô. Hạt giống hạt Kinh giới. Rễ chuỗi lại như con tằm già. Tháng 5 đào rễ chưng hoặc luộc ăn, vị như Bách hợp. Hoặc dùng nước muối củ cải hoặc nước dưa muối để bảo quản thì rễ không bị đen. Cũng có thể ngâm tương hoặc tẩm mật. Vừa có thể làm rau, vừa có thể làm quả. Trần Tạng Khí nói lá Thạch sâm giống Quyển bá thì có lẽ là loại khác.
  • Rễ:
    • Khí vị: Vị ngọt, tính bình, không độc.
    • Thời Trân nói: Không nên ăn sống hoặc ăn quá nhiều vì sinh sán (thốn bạch trùng). Ăn cùng các loại cá sẽ khiến người ta buồn nôn.
    • Chủ trị: Ngâm rượu giúp trừ phong, phá huyết. Nấu ăn trị khê độc (độc nước suối) (Tàng Khí). Sao khô trị tẩu chú phong (phong chạy khắp người), tán huyết chỉ thống (giảm đau). Các đốt rễ cũng có thể giã bột uống với rượu (Tô Tụng). Hòa ngũ tạng, hạ khí, làm thanh thản tinh thần (Chính yếu).

TRÚC DUẨN (MĂNG TRE)

[sửa]
  • (Trích: Thục Bản thảo) Tên khoa học chung: Bambusoideae (Phân họ Tre)
  • Hiệu chính: Hợp nhất với phần "Đào trúc duẩn" trong Thập di ở bộ Mộc.
  • Tên gọi khác: Trúc manh (Nhĩ nhã), Trúc nha (Duẩn phổ), Trúc thai (Thuyết văn), Trúc tử (Thần dị kinh).
  • Giải thích tên gọi: Thời Trân nói: Chữ Duẩn (筍) gồm bộ Trúc (竹) và chữ Tuần (旬 - 10 ngày). Lục Điền nói: Trong vòng 10 ngày thì là Măng (Duẩn), ngoài 10 ngày thì thành Tre (Trúc). Người nay gọi tre là "cỏ đố kỵ mẹ", vì măng sinh ra 16 ngày đã cao bằng tre mẹ. Các tên gọi khác như Manh, Nhược, Truyết, Sơ hoàng đều mang nghĩa là mầm non mới nhú.
  • Tập giải:
    • Hoằng Cảnh nói: Các loài tre rất nhiều. Măng của loại tre đặc ruột (Thực trung trúc) và tre Hoàng trúc là tốt nhất. Trong thuốc ít dùng.
    • Tô Tụng nói: Các nhà đều cho rằng măng Khổ trúc (tre đắng) là quý nhất. Khổ trúc có 2 loại: Loại ở Giang Tây và Mân Trung củ rất to, vị cực đắng không ăn được; loại ở Giang Chiết thịt dày lá rộng, vị hơi đắng, tục gọi là măng đắng ngọt (tiềm khổ duẩn), dùng làm thực phẩm rất tốt, cũng không thấy dùng làm thuốc.
    • Thời Trân nói: Đới Cải Chi (đời Tấn) và Tăng Tán Ninh (đời Tống) đều viết Trúc phổ, ghi hơn 60 loại. Nơi sản sinh và mùa mọc măng khác nhau. Măng có loại ăn được và không ăn được. Miền Bắc ít tre, miền Nam (Tần, Thục, Ngô, Sở) thì rất nhiều. Tre có đực cái, cứ xem cành đầu tiên ở gốc nếu mọc đôi thì là tre cái, tất sẽ có măng. Người địa phương đào lấy mầm non khi rễ tre (roi tre) đang bò gọi là Tiên duẩn (măng roi). Vùng Giang Nam, Hồ Nam đào dưới gốc tre lớn vào mùa đông khi măng chưa nhú khỏi mặt đất gọi là Đông duẩn (măng đông), dùng ăn tươi là trân phẩm. Các loại khác người phương Nam phơi khô gọi là Ngọc bản duẩn, Minh duẩn, Hỏa duẩn; muối chua gọi là Diêm duẩn, đều dùng làm rau ăn.
    • Tăng Tán Ninh nói: Ăn măng như dùng thuốc, đúng phép thì lợi, sai phép thì hại. Hái măng nên tránh gió nắng (gặp gió thì gốc dai, gặp nước thì thịt cứng), để cả vỏ mà luộc thì giữ được vị, dùng dao cắt sống thì mất độ mềm. Phải nấu lâu, ăn sống hại người. Măng đắng phải nấu thật lâu. Hấp là ngon nhất, nướng cũng rất tốt. Loại có vị chát (ngứa) gây kích ứng họng thì nên luộc qua nước tro rồi mới nấu lại. Hoặc bỏ vài lá bạc hà vào nấu cùng để khử vị chát.
CÁC LOẠI MĂNG TRE (NÓI CHUNG)
[sửa]
  • Khí vị: Vị ngọt, tính hơi hàn, không độc.
    • Tàng Khí nói: Các loại măng đều làm phát sinh khí và khí lạnh trong máu (lãnh huyết).
    • Thụy nói: Măng ăn cùng gan cừu làm người ta bị mù mắt.
  • Chủ trị: Tiêu khát, lợi thủy đạo (thông tiểu), ích khí, có thể ăn lâu dài (Biệt lục). Thông cách hạ khí, hóa nhiệt tiêu đờm, làm mát dạ dày (Ninh Nguyên).
KHỔ TRÚC DUẨN (MĂNG TRE ĐẮNG)
[sửa]

Tên khoa học: Pleioblastus amarus (Keng) Keng f.

  • Khí vị: Vị đắng, ngọt, tính hàn.
  • Chủ trị: Trị mất ngủ, khử nhiệt vàng trên mặt, mắt và lưỡi, tiêu khát, làm sáng mắt, giải độc rượu, trừ nhiệt khí, làm người khỏe mạnh (Tàng Khí). Trị tâm phiền muộn, ích khí lực, lợi tiểu, hạ khí hóa đờm, trị phong nhiệt cước khí; dùng chưng hoặc luộc ăn (Tâm kính). Trị trúng phong mất tiếng khi ra mồ hôi. Loại khô đốt thành than trộn muối, xát vào trị cam răng (Thời Trân).
TRÚC DUẨN (MĂNG TRE THƯỜNG)
[sửa]

Tên khoa học: Phyllostachys edulis (măng sào/măng mạnh tông)

  • Chủ trị: Tiêu khát phong nhiệt, ích khí lực, tiêu đầy bụng; chưng, luộc, xào đều tốt.
ĐẠM TRÚC DUẨN (MĂNG TRE NGỌT/TRE PHẤN)
[sửa]

Tên khoa học: Phyllostachys nigra var. henonis

  • Khí vị: Vị ngọt, tính hàn.
  • Chủ trị: Tiêu đờm, trừ nhiệt cuồng, sốt cao, đau đầu, phong đầu, phụ nữ chóng mặt, ngã kinh sợ, ôn dịch mê man, trẻ em kinh giản (co giật).
ĐÔNG DUẨN & BIÊN DUẨN (MĂNG ĐÔNG & MĂNG ROI)
[sửa]
  • Khí vị: Vị ngọt, tính hàn.
  • Chủ trị: Trẻ em đậu chẩn không mọc ra được, nấu cháo ăn để giải độc, giúp đậu chẩn phát ra.

PHÁT MINH & KIÊNG KỴ

  • Lý Thời Trân dẫn lời Tăng Tán Ninh: Măng tuy ngon nhưng làm trơn đại tràng, không ích gì cho tì, tục gọi là "cái lược nạo ruột" (quát tràng bi). Chỉ có gừng sống và dầu mè mới giải được độc của măng. Các thầy thuốc tục thường cho trẻ uống canh măng để thúc đậu chẩn mọc, nhưng không biết rằng đậu chẩn kỵ đại tràng trơn nát, làm vậy là âm thầm hại người. Phải hết sức răn đe.
  • Tông Thích nói: Măng khó tiêu, không có lợi cho người bệnh tì. Từng có đứa trẻ ăn măng khô bị nghẹn ở họng, phát sốt thở gấp như kinh phong, uống thuốc không khỏi, sau nôn măng ra mới hết.
ĐÀO TRÚC DUẨN (MĂNG TRE ĐÀO)
[sửa]
  • (Trích: Thập di) Tên khoa học: Sinocalamus affinis (hoặc các loài tre nứa nhỏ)
  • Tên gọi khác: Hoàng duẩn (măng vàng).
  • Khí vị: Vị đắng, có độc nhỏ. Phải luộc bằng nước tro mới ăn được, nếu không sẽ gây ngứa họng.
  • Chủ trị: Trị dòi trong vết thương của gia súc: giã nát đắp vào, dòi sẽ chui ra hết.
THỨ TRÚC DUẨN (MĂNG TRE GAI)
[sửa]

Tên khoa học: Bambusa stenostachya Hack.

  • Đặc điểm: Thân có gai, người Di trồng làm thành lũy, gốc to như nan bánh xe.
  • Khí vị: Vị ngọt, đắng, có độc nhỏ. Ăn vào làm rụng tóc (Trúc phổ).

TOAN DUẨN (MĂNG CHUA)

[sửa]
  • (Trích: Cương mục)
  • Tập giải: Xuất xứ từ vùng 粵南 Việt (Quảng Đông) Nam. Măng to như cánh tay, nhúng nước sôi khử vị đắng, ngâm nước giếng lạnh 2-3 ngày rồi lấy ra xé sợi như dây thừng, nấu với giấm mà ăn.
  • Khí vị: Vị chua, tính mát, không độc.
  • Chủ trị: Nấu canh ăn giúp chỉ khát (hết khát), giải say rượu, lợi lồng ngực.
 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.