Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh
Tam tạng Cưu Ma La Thập xứ Quy Từ nước Diêu Tần biên dịch.
Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Phật ở tại rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc, nước Xá-vệ. Cùng đi với Ngài có một ngàn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ-kheo và năm trăm vị Bồ-tát Ma-ha-tát, đều là bậc đại trí đức mà mọi người đều biết tiếng.
Bấy giờ Thế Tôn nương nơi thành lớn Xá-vệ, được các vua, đại thần, Bà-la-môn, cư sĩ cùng quyến thuộc cung kính, tôn trọng, ngợi khen và cúng dường đầy đủ các vật dụng như y phục, thức ăn, giường nằm và thuốc men. Ngài là bậc Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Ngài thành tựu trọn vẹn về nơi sinh, dòng dõi, tam-muội, trí tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Ngài đầy đủ mười lực, bốn vô sở úy và mười tám pháp bất cộng của Phật; diễn thuyết chính pháp từ chặng đầu, chặng giữa đến chặng cuối đều thiện lành, văn nghĩa mỹ diệu, phạm hạnh thanh tịnh. Ngài có đủ năm mắt: nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn; thấu suốt nơi chốn của thế gian này và thế gian khác.
Khi ấy, Thế Tôn đã khéo hàng phục các ngoại đạo như Ni-kiền-đà Nhã-đề-tử; Phật pháp hưng thịnh, hàng nhân thiên đều tôn kính. Đến giờ, Thế Tôn đắp y bưng bát, cùng các Tỳ-kheo vây quanh, đi vào thành Xá-vệ khất thực. Dáng vẻ Ngài đi đứng, ra vào đều uy nghi, thư thái, nhìn ngó đoan nghiêm. Thân vàng diệu tướng tỏa ánh sáng rực rỡ như đống lửa lớn, như ngọc quý, như mặt trăng mặt trời soi sáng đêm tối. Ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm thân Ngài. Khi bước chân vàng của Ngài chạm lên ngưỡng cửa thành, lúc đó thành Xá-vệ hiện ra các điềm lạ chưa từng có, như bài kệ nói rằng:
Kệ ngôn
Bậc Tiên trong loài người,
Sư tử họ Thích Ca.
Bước chân lên ngưỡng cửa,
Hiện muôn chuyện kỳ hà.
Mù được sáng mắt xem,
Điếc nghe tiếng gần xa.
Kẻ trần có y phục,
Người cuồng tâm an hòa.
Chắp tay lòng hớn hở,
Chiêm bái Phật không rời.
Trống nhạc tự vang rền,
Tiếng sáo lừng khắp nơi.
Chim muông hót dịu ngọt,
Của báu tự hiện đời.
Đất sáu cách rúng động,
Lòng tịnh sạch thảnh thơi.
Bậc Thắng Giác bước xuống,
Sen báu đỡ gót hồng.
Chúng sinh hưởng an lạc,
Thác sinh cõi Thiên cung.
Sản phụ dứt khổ đau,
Sinh con tướng lạ lùng.
Tham sân si vắng lặng,
Cha mẹ trẻ tương phùng.
Bậc thềm hoa báu rụng,
Bệnh tật thảy tiêu tan.
Thiện Thệ vào trong thành,
Cả thế gian bình an.
Diễn thơ lục bát
Khi người tiên cảnh ghé chân,
Chúa sư tử Thích bước gần ngưỡng môn.
Lạ lùng hiện dấu linh hồn,
Lòng thanh tịnh lắng nguồn cơn rạch ròi.
Mắt mù bỗng thấy gương soi,
Tai điếc bỗng được nghe lời xa xăm.
Áo xiêm che kẻ trần nằm,
Người điên nay bỗng nhất tâm thanh nhàn.
Chắp tay chiêm ngưỡng tôn nhan,
Trống không gõ nhạc cung đàn tự vang.
Cầm nhàn hòa điệu nhịp nhàng,
Đất trời rúng động huy hoàng sáu phương.
Sen hồng nâng bước đạo sư,
Chúng sinh thoát khổ thiên đường dạo chơi.
Mẹ hiền chẳng nhọc lâm bơi,
Con thơ diện mạo rạng ngời thanh cao.
Dứt tình tham oán tiêu hao,
Thành Xá-vệ rợp hoa đào trời mưa.
Bấy giờ Thế Tôn ở trong thành Xá-vệ thứ lớp khất thực, đến giữa đường thấy một chỗ đất trống có đứa bé bị bỏ rơi. Đứa trẻ diện mạo đoan nghiêm, trắng trẻo, đang tự mút ngón tay phải. Nơi đây nhiều cáo, sói, chó dữ, nhưng thấy đứa bé đều liếm chân rồi đi, không dám xâm hại. Đứa bé này là người có phúc đức, đã trồng căn lành từ lâu. Nhiều người đi qua dừng lại xem, lấy làm lạ trước vẻ đáng yêu của nó. Thế Tôn thấy đám đông vây quanh, liền hỏi thị giả A-nan rằng: "Ông hãy lại xem họ đang làm gì thế?".
A-nan vâng lời lại xem, thấy đứa trẻ dung mạo như tượng báu, mắt nhìn mọi người không chớp. Ông về bạch lại với Phật. Thế Tôn khởi lòng bi mẫn, biết căn lành của đứa trẻ đã chín muồi, có thể hiểu được pháp Ngài nói, liền đến bên đứa bé và nói bài kệ:
Kệ ngôn
Ác nghiệp xưa đã tạo,
Nay chịu báo ứng này.
Bị bỏ nơi đồng trống,
Khổ thay đứa trẻ gầy!
Diễn thơ lục bát
Nghiệp xưa nay đã đến kỳ,
Quả báo hiện thực tránh đi đường nào.
Hoang vu đất trống tiêu tao,
Thân nhi thơ dại chịu bao nỗi nàn.
Bấy giờ đứa bé nhờ thần lực của Phật và sức thiện căn của mình, dùng kệ đáp lại:
Kệ ngôn
Cù-đàm vẫn còn đó,
Tưởng bị bỏ chỗ không.
Lúc Ngài ngồi Đạo tràng,
Có biết "tưởng" này không?
Diễn thơ lục bát
Thế Tôn sao vẫn còn vương,
Cái tâm phân biệt bên đường bỏ rơi.
Đạo tràng xưa ngự giữa trời,
Cái "tưởng" thuở ấy có rời được chăng?
Thế Tôn lại dùng kệ đáp:
Kệ ngôn
Ta đã biết rõ "tưởng",
Nhưng Ta mãi không tưởng.
Vì lòng lân mẫn ngươi,
Nên đến chỗ không tưởng.
Diễn thơ lục bát
Tưởng kia Ta thấu ngọn nguồn,
Nhưng lòng chẳng chút dập dồn tưởng điên.
Xót thương đứa trẻ nghèo hèn,
Nên Ta tìm đến dưới miền quạnh hiu.
Đứa bé lại nói kệ:
Kệ ngôn
Nếu chẳng có chúng sinh,
Rốt ráo không thể được.
Ngài lân mẫn với ai?
Lòng bi chuyển thế nào?
Diễn thơ lục bát
Nếu rằng thực thể chẳng còn,
Chúng sinh vốn dĩ vẫn hoàn hư không.
Lòng từ Ngài hướng về đâu,
Ai người thọ nhận tâm đầu xót thương?
Thế Tôn lại nói kệ:
Kệ ngôn
Chúng sinh chẳng biết pháp,
Vô ngã, không, tịch diệt.
Để đánh thức họ dậy,
Ta dạo khắp thành đô.
Diễn thơ lục bát
Chúng sinh mờ mịt chưa thông,
Cái thân vô ngã cái lòng tịch liêu.
Muốn cho thức tỉnh ít nhiều,
Dấu chân Phật mới dập dìu thành đô.
Đứa bé lại nói kệ:
Kệ ngôn
Đã hiểu không tịch diệt,
Rõ biết không tịch diệt.
Sao còn tưởng chúng sinh,
Như Lai chưa đoạn tuyệt?
Diễn thơ lục bát
Nếu đà thấu suốt hư không,
Tâm kia tịch diệt trong lòng lặng trang.
Sao còn tưởng chúng mê hoang,
Như Lai đoạn diệt chưa màng hết sao?
Thế Tôn lại nói kệ:
Kệ ngôn
Lực bi Phật như thế,
Dẫu hiểu rõ không không.
Vì giáo hóa muôn loài,
Đạo sư diễn pháp mầu.
Diễn thơ lục bát
Sức bi Phật vốn diệu kỳ,
Dẫu rằng không tướng vẫn trì pháp môn.
Vì người lạc bước mê hồn,
Mới đem giáo pháp gột dồn trần ai.
Bấy giờ đứa bé lại nói kệ rằng:
Kệ ngôn
Vẫn còn có điên đảo,
Như Lai chưa đoạn sao?
Chẳng tưởng chúng sinh sinh,
Lòng bi sao khởi trào?
Diễn thơ lục bát:
Điên đảo sao vẫn còn vương,
Như Lai đoạn tuyệt luân thường hay chưa?
Chúng sinh không tưởng bao giờ,
Lòng bi sao lại khởi bờ xót thương?
Bấy giờ Thế Tôn lại nói kệ đáp:
Kệ ngôn
Phật ra sức hộ trì,
Bồ-tát sinh tinh tiến.
Vì kẻ chưa đạt thông,
Nhân Tôn hiện trang nghiêm.
Diễn thơ lục bát:
Phật đà dốc sức hộ trì,
Để lòng Bồ-tát kiên trì tiến tu.
Vì người chưa thoát bến mê,
Trang nghiêm thị hiện lối về quang minh.
Bấy giờ đứa bé lại nói kệ rằng:
Kệ ngôn
Đây là si trang nghiêm,
Nếu chẳng đắc nơi vật.
Nếu pháp phi là vật,
Do đâu khởi trang nghiêm?
Diễn thơ lục bát:
Trang nghiêm ấy thực là si,
Vật không đắc được lấy gì điểm tô?
Pháp thân vốn dĩ hư vô,
Cớ sao lại khởi mơ hồ trang nghiêm?
Bấy giờ Thế Tôn lại nói kệ đáp:
Kệ ngôn
Sức thần đại bi này,
Điều ngự thế như vậy.
Dẫu chẳng dính mắc vật,
Vì chúng sinh thuyết pháp.
Diễn thơ lục bát:
Lòng bi thần lực cao sâu,
Khéo léo điều ngự nhiệm mầu thế gian.
Dẫu không vật chất buộc ràng,
Vì người thuyết pháp dẫn đường mê say.
Bấy giờ đứa bé lại nói kệ rằng:
Kệ ngôn
Pháp không có văn tự,
Sao có thể diễn thuyết?
Thế gian chịu bại vong,
Phi pháp nói làm pháp.
Diễn thơ lục bát:
Pháp kia văn tự vốn không,
Lấy chi diễn thuyết cho thông lòng người.
Thế gian bại hoại khắp nơi,
Chẳng phải là pháp lại mời gọi tên.
Bấy giờ Thế Tôn lại nói kệ đáp:
Kệ ngôn
Ta không hoại thế gian,
Ta chẳng nói phi pháp.
Chúng sinh tự đảo hoặc,
Ta cởi nút thắt kia.
Diễn thơ lục bát:
Ta nào làm hoại thế gian,
Chẳng đem phi pháp luận bàn thị phi.
Chúng sinh tự chuốc mê si,
Ta vào tháo gỡ những khi buộc ràng.
Bấy giờ đứa bé lại nói kệ rằng:
Kệ ngôn
Kết sử không gốc rễ,
Cũng chẳng có nơi chốn.
Chẳng ở trong hay ngoài,
Lấy đâu cởi nút thắt?
Diễn thơ lục bát:
Gốc không, kết sử cũng không,
Chốn nao cư ngụ mà hòng tìm ra.
Trong ngoài nào thấy bóng tà,
Thắt đâu mà gỡ cho qua nợ nần?
Bấy giờ Thế Tôn lại nói kệ đáp:
Kệ ngôn
Từ nơi vọng tưởng sinh,
Cùng điên đảo đồng hành.
Vì đoạn trừ vọng tưởng,
Này nhi, Ta nói pháp.
Diễn thơ lục bát:
Chẳng qua vọng tưởng sinh ra,
Đi cùng điên đảo mịt mờ chân mây.
Để cho vọng tưởng dứt dây,
Này nhi, Ta giảng pháp này cho nghe.
Bấy giờ đứa bé lại nói kệ rằng:
Kệ ngôn
Tâm tính vốn thường tịnh,
Trong đó không nhơ thắt.
Dẫu cho nhiều vọng tưởng,
Tính tịnh chẳng sinh nhơ.
Diễn thơ lục bát:
Tính tâm vốn dĩ thanh nhàn,
Nút thắt nhơ bẩn chẳng màng trú ngụ.
Dẫu cho vọng tưởng mịt mù,
Bản tâm vẫn tịnh ngàn thu chẳng mờ.
Bấy giờ Thế Tôn lại nói kệ đáp:
Kệ ngôn
Đúng như lời ngươi nói,
Tâm tính vốn thường tịnh.
Bụi phiền não khách sang,
Kẻ không trí sinh nhiễm.
Diễn thơ lục bát:
Ngươi vừa thưa thốt chẳng sai,
Tâm kia tính tịnh chưa phai sắc màu.
Bụi trần khách trú từ đâu,
Người không trí tuệ nhuốm màu nhiễm ô.
Bấy giờ đứa bé lại nói kệ rằng:
Kệ ngôn
Kết sử không nơi chốn,
Chẳng phải nơi chốn được.
Sao gọi là có sinh?
Xin vì con diễn thuyết.
Diễn thơ lục bát:
Nút kia chẳng định phương nao,
Tìm phương hướng ấy có bao giờ tường.
Cớ sao sinh khởi nhiễu nhương,
Cầu xin diễn thuyết dẫn đường cho con.
Bấy giờ Thế Tôn lại nói kệ đáp:
Kệ ngôn
Như mây trên không trung,
Thấy được nhưng chẳng thực.
Kết sử sinh như thế,
Dẫu thấy nhưng chẳng thực.
Diễn thơ lục bát:
Tựa như mây rạng trời xanh,
Mắt trông rõ đó nhưng hình có đâu.
Nút kia sinh khởi một màu,
Thấy thì thấy thế nhưng đâu thực hình.
Bấy giờ đứa bé lại nói kệ rằng:
Kệ ngôn
Pháp đồng đẳng như như,
Tính sinh tức là như.
Nếu pháp là chân thực,
Phi như chẳng thể đắc.
Diễn thơ lục bát:
Pháp kia vốn dĩ như như,
Cái sinh tính ấy thực hư vốn đồng.
Chân thực nếu đã bên lòng,
Như như chẳng thể thoát vòng đó đâu.
Bấy giờ Thế Tôn lại nói kệ đáp:
Kệ ngôn
Hết thảy pháp phi như,
Đều trụ ở trong như.
Đã hiểu rõ như này,
Không lỗi không công đức.
Diễn thơ lục bát:
Hết thảy những pháp phi như,
Thảy đều an trụ chân như chẳng rời.
Thấu rồi chân lý của đời,
Công cùng với tội bỗng rời khỏi thân.
Bấy giờ đứa bé lại nói kệ rằng:
Kệ ngôn
Nếu chẳng đắc chúng sinh,
Cù-đàm hòa hợp ai?
Trước xem gốc của pháp,
Từ đâu có phiền não?
Diễn thơ lục bát:
Chúng sinh nếu thực chẳng còn,
Thì Ngài hòa hợp sắt son với người?
Gốc xưa soi rạng tơi bời,
Cái phiền não ấy từ nơi đâu về?
Bấy giờ Thế Tôn lại nói kệ đáp:
Kệ ngôn
Quá khứ và vị lai,
Cùng với đời hiện tại.
Phật biết rõ rành rành,
Vì chúng sinh thuyết pháp.
Diễn thơ lục bát:
Xưa nay rồi đến mai sau,
Ba đời soi thấu một màu tinh anh.
Phật đà hiểu rõ ngọn ngành,
Vì người thuyết giảng lòng thành thiết tha.
Bấy giờ đứa bé lại nói kệ rằng:
Kệ ngôn
Nói về cả ba đời,
Lại nói Ta biết rõ.
Ấy chính là đại mạn,
Là tự khen chính mình.
Diễn thơ lục bát:
Rằng là thấu suốt ba đời,
Rằng là hiểu biết tận nơi tận cùng.
Lời kia ngạo mạn lạ lùng,
Khen mình như thế có trung thực gì?
Bấy giờ Thế Tôn lại nói kệ đáp:
Kệ ngôn
Ta chẳng tự khen mình,
Cũng chẳng khinh mạn khác.
Như như hiện bình đẳng,
Nên gọi là Như Lai.
Diễn thơ lục bát:
Ta nào tự huyễn mình cao,
Cũng không khinh mạn người nào thế gian.
Như như hiện hữu rõ ràng,
Như Lai tên gọi muôn vàn kính tin.
Bấy giờ đứa bé lại nói kệ rằng:
Kệ ngôn
Như vốn không thể đắc,
Chẳng tương ứng lời nói.
Chẳng dùng lời nói lời,
Thì đó chẳng là như.
Diễn thơ lục bát:
Như như chẳng thể đắc gì,
Lời năng lời sở có khi nào cùng.
Chẳng dùng tiếng nói tương phùng,
Thì sao gọi đúng là cùng chân như?
Bấy giờ Thế Tôn lại nói kệ đáp:
Kệ ngôn
Phàm phu theo nơi tưởng,
Trong như sinh vọng tưởng.
Để đoạn trừ ngã tưởng,
Như Lai xuất hiện đời.
Diễn thơ lục bát:
Phàm phu vướng bận tưởng điên,
Chân như lại hóa ra miền vọng hư.
Muốn trừ ngã tưởng từ từ,
Như Lai hiện giữa cõi mờ độ dân.
Bấy giờ đứa bé lại nói kệ rằng:
Kệ ngôn
Chính Giác không xuất thế,
Khéo tu vì không sinh.
Trong pháp không sinh ấy,
Phật hiện chẳng tương ưng.
Diễn thơ lục bát:
Chính Giác vốn chẳng ra đời,
Bởi vì vô tự chẳng lời nào sinh.
Trong nguồn pháp tính u minh,
Phật xuất hiện thế thực tình chẳng thông.
Bấy giờ Thế Tôn lại nói kệ đáp:
Kệ ngôn
Không sinh hiện có sinh,
Phật xuất thế hiển hiện.
Đây lời theo thế đế,
Chẳng phải đệ nhất nghĩa.
Diễn thơ lục bát:
Chỗ không bỗng hiện ra hình,
Phật đà thị hiện độ sinh giúp đời.
Tục đế mượn tạm ý lời,
Nghĩa huyền chưa phải thấu trời cao xa.
Bấy giờ đứa bé lại nói kệ rằng:
Kệ ngôn
Vẫn còn có hai tưởng,
Thế đế, đệ nhất nghĩa.
Trong đạo nhất thừa ấy,
Cù-đàm nói nghịch nhau.
Diễn thơ lục bát:
Vẫn còn hai tưởng phân ly,
Thế gian cùng với huyền vi khác lòng.
Một đường đạo cả thong dong,
Cớ sao Ngài lại nói vòng ngược xuôi?
Bấy giờ Thế Tôn lại nói kệ đáp:
Kệ ngôn
Ta chẳng nói trái ngược,
Ta trụ không trái ngược.
Vì chúng sinh trái ngược,
Đứa bé hãy biết thế.
Diễn thơ lục bát:
Ta nào có nói ngược xuôi,
Vốn Ta an trụ giữa nơi chẳng rời.
Ngược xuôi là tại lòng người,
Đứa bé hãy hiểu những lời này đi.
Bấy giờ đứa bé lại nói kệ rằng:
Kệ ngôn
Sám hối bậc Chính Giác,
Lời con đã thưa qua.
Đều nhờ sức Phật hộ,
Nên nói được như vầy.
Diễn thơ lục bát:
Cúi đầu sám hối tôn sư,
Lời con thưa thốt thực hư bao nàn.
Chính nhờ Phật lực bảo toàn,
Mới tuôn lời ngọc rỡ ràng hôm nay.
Bấy giờ Thế Tôn từ trong chéo y đưa cánh tay sắc vàng nâng đứa bé dậy. Đứa bé nắm lấy ngón tay Phật mà đứng lên. Thế Tôn dẫn đứa bé từ nơi đất trống đi ra đường cái. Lúc ấy đại chúng thấy việc chưa từng có, đối với Thế Tôn càng thêm phần kính lễ, khen rằng: "Thật hy hữu thay! Như Lai Thế Tôn đắc thành pháp mầu nhiệm đến thế, lại có thể khiến kẻ cực kỳ khổ sở này an trụ trong chính pháp."
Thế Tôn bảo đứa bé: "Nghiệp hành của ngươi đã tận, ngươi hãy nhớ lại căn lành xưa kia đã trồng, khiến cho đại chúng sinh lòng hy hữu, hãy hiển hiện đại thần lực đi."
Tức thì, đứa bé bay vọt lên hư không, cao quá bảy thân cây đa-la, thân phóng ánh sáng rực rỡ. Ánh sáng này chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Nhờ ánh sáng ấy, các vị Phạm Thiên, Đế Thích, Hộ Thế và trăm ngàn Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-gia khi thấy quang minh này liền tìm đến chỗ Phật. Đến nơi, họ đảnh lễ chân Phật, dùng hoa trời rải cúng dường Ngài, rồi bạch rằng: "Ánh sáng của vị Bồ-tát này thật không thể nghĩ bàn, thân xuất hào quang chiếu khắp cõi Phật, khiến vô lượng chúng sinh đắc lợi ích khôn lường. Vậy nên đặt tên đứa bé này là Bất Tư Nghị Quang."
Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni liền chấp thuận: "Đứa bé này sẽ tên là Bất Tư Nghị Quang."
Bấy giờ đứa bé Bất Tư Nghị Quang từ trên không hạ xuống đất, nhờ thần lực của Phật và sức mạnh căn lành của mình, hình dáng bỗng biến thành một đồng tử tám tuổi. Khi ấy, Đế Thích Thiên Chủ đem thiên y (áo trời) tặng cho đứa bé và nói: "Này nhi đồng, nay ngươi hãy vì thương xót bọn ta mà nhận lấy thiên y này, chớ nên để thân trần như thế."
Đứa bé Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát bảo Đế Thích rằng: "Này Kiều-thi-ca, Bồ-tát không lấy y phục làm đẹp, mà lấy pháp phục để trang nghiêm. Kiều-thi-ca, hãy nghe cho kỹ về những món y phục mà Bồ-tát mặc:
Này Kiều-thi-ca, Tâm Bồ-đề là áo của Bồ-tát, cho đến khi thành tựu mọi Phật pháp nơi đạo tràng. Lòng hổ thẹn (tàm quý) là áo của Bồ-tát. Điều phục chúng sinh và khiến họ không mắc lỗi lầm, giữ vững lời thề trang nghiêm là áo của Bồ-tát để làm xong mọi việc. Tính chất phác không dối trá là áo của Bồ-tát để dứt sạch hư ngụy. Cần cù tinh tiến là áo của Bồ-tát để làm tròn mọi căn lành. Chí nguyện vui vẻ là áo của Bồ-tát để đầy đủ các Phật pháp. Lìa bỏ kiêu mạn là áo của Bồ-tát để thành tựu các thiền định. Ưa pháp nghe pháp là áo của Bồ-tát để tròn đầy trí tuệ bát-nhã. Không khởi trí mạn (kiêu ngạo về kiến thức) là áo của Bồ-tát để thành tựu trí vô sở chấp. Làm việc lợi ích là áo của Bồ-tát vì thương xót và thấu hiểu chúng sinh. Xả bỏ mọi vật là áo của Bồ-tát để đầy đủ các tướng hảo. Hộ trì tịnh giới là áo của Bồ-tát để thành tựu tâm nguyện. Hòa hợp nhẫn nhục là áo của Bồ-tát để đạt đến giọng nói thanh tịnh (Phạm âm). Tinh tiến kiên cường không thối lui là áo của Bồ-tát để vượt qua mọi sự. Chứng đắc thiền định giải thoát tam-muội là áo của Bồ-tát để thành tựu đại thần thông trí tuệ. Trí tuệ không hư hoại là áo của Bồ-tát để dứt sạch mọi kết sử và chướng ngại của kiến thức. Trí phương tiện lớn là áo của Bồ-tát để giáo hóa chúng sinh. Lòng Đại Từ là áo của Bồ-tát để cứu giúp muôn loài. Lòng Đại Bi là áo của Bồ-tát để không mệt mỏi trong vòng sinh tử. Lòng Đại Hỷ là áo của Bồ-tát để đầy đủ pháp hỷ. Lòng Đại Xả là áo của Bồ-tát để lìa bỏ tâm yêu ghét. Không não hại chúng sinh là áo của Bồ-tát để không làm khổ mình và người. Diễn thuyết chính pháp là áo của Bồ-tát để không tự khen mình chê người. Đúng như lời thuyết mà tu hành là áo của Bồ-tát để đoạn trừ các kết sử. Kiều-thi-ca, nên biết đó là pháp phục của Bồ-tát, dùng pháp trang nghiêm thì sinh ra đời không phải để thân trần."
Đế Thích Thiên Chủ nghe xong càng thêm cung kính, thưa với Phật: "Bạch Thế Tôn, xin Ngài rủ lòng thương khiến đứa bé này nhận lấy y phục của con."
Thế Tôn bảo Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát nhận áo của Đế Thích. Ngài dùng tay phải cầm áo trao cho đứa bé. Đứa bé quỳ gối phải sát đất, nhận lấy áo và mặc vào. Sau đó, Thế Tôn dẫn Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát vào thành Xá-vệ thứ lớp khất thực. Bấy giờ đại chúng, nam nữ lớn nhỏ, các trưởng giả cư sĩ, Sát-đế-lợi Bà-la-môn, vua và đình thần đều thấy Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát, lấy làm hy hữu, kéo đến tập hợp để đảnh lễ cúng dường Phật.
Đức Thế Tôn thứ lớp khất thực, đi đến trước cửa nhà mẹ đẻ của Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát. Vị Bồ-tát ấy liền bước vào trong nhà, đến trước mặt mẹ mình mà nói bài kệ.
Kệ ngôn
Mẹ chẳng có lỗi gì,
Hãy tự lòng vui hỷ.
Chính con do ác nghiệp,
Nên sinh vào bụng mẹ.
Mẹ chính là phúc điền,
Xót thương ơn dưỡng dục.
Mẹ chớ sinh hổ thẹn,
Hãy mau đến chỗ Phật.
Mẹ nay được lợi lớn,
Vì đã mang thai con.
Công đức lớn thế nào,
Hãy đến hỏi Đạo sư.
Diễn thơ lục bát:
Mẹ ơi lỗi chẳng tại người,
Hãy nên hỷ lạc vui tươi trong lòng.
Nghiệp xưa con tự gieo trồng,
Mượn nơi bụng mẹ nương vòng tử sinh.
Mẹ là phúc đất anh linh,
Công ơn dưỡng dục cao hình núi non.
Thẹn thùng xin chớ vương lòng,
Mau về bên Phật thong dong bước đường.
Nhờ mang thai nghén con thương,
Mẹ nay phúc báo đo lường được đâu.
Muốn tường công đức nhiệm mầu,
Hỏi xin bậc Thánh thấu đầu nguồn cơn.
Bấy giờ Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát bảo Thích Đề Hoàn Nhân rằng: "Này Kiều-thi-ca, hãy đem hương hoa, y phục và các vật dụng cho tôi, để tôi dâng lên mẹ. Mẹ tôi sẽ dùng những thứ này cúng dường Phật, rồi phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề."
Khi ấy Thích Đề Hoàn Nhân liền đem hoa Mạn-đà-la cõi trời cùng hương trời, y phục trời trao cho Bồ-tát. Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát lại hướng về mẹ mình mà nói bài kệ:
Kệ ngôn
Nhận hoa đẹp vừa ý,
Mạn-đà-la cõi trời.
Hương thơm và y phục,
Dâng cúng bậc Thích Tiên.
Chẳng phải thức ăn, báu,
Báo được ơn mẹ cha.
Dẫn dắt vào chính pháp,
Mới là báo song thân.
Cúng dường Lưỡng Túc Tôn,
Phát tâm đạo cao thượng.
Con bao đời khuyên nhủ,
Thường tinh tiến siêng năng.
Diễn thơ lục bát:
Hoa trời tươi đẹp lòng người,
Mạn-đà-la rạng nụ cười thiên hương.
Áo xiêm ngan ngát mùi thơm,
Dâng lên cúng bậc Thích tôn thánh hiền.
Của ngon vật báu bạc tiền,
Báo sao cho trọn thảo hiền mẹ cha.
Dắt dìu vào đạo Thích Ca,
Ấy là báo đáp mới là chân tu.
Cúng dường bậc Thánh tối ưu,
Phát tâm cao thượng giải chu kiếp nàn.
Bấy lâu con khuyên bảo ban,
Cần chuyên tinh tiến chẳng màng khó khăn.
Mẹ Ngài sinh lòng vui mừng, rốt ráo không còn thấy hổ thẹn. Bà liền đi đến chỗ Nhân Tiên (Phật), đảnh lễ xong đứng sang một bên. Bà rải hoa lên mình Như Lai, dâng hoa và y phục cúng dường. Nơi Phật đã gieo trồng căn lành, bà liền phát tâm Bồ-đề. Bà đứng vững trong tâm Bồ-đề ấy mà hỏi Chúa Sư Tử họ Thích rằng:
"Mang thai bậc chúng sinh thanh tịnh, cúi nguyện Ngài nói về phúc báo này."
Đức Phật đáp:
Kệ ngôn
Ngươi nhờ thiện nghiệp này,
Chẳng sinh vào nẻo khổ.
Cúng dường ức Phật rồi,
Sẽ được thành Phật đạo.
Diễn thơ lục bát:
Thiện căn nghiệp báu của người,
Nẻo tà dứt bước, rạng ngời đường chân.
Cúng dường vạn ức Phật thân,
Mai sau quả mãn, thánh thân hiện tiền.
Bấy giờ Thế Tôn ở trong thành lớn Xá-vệ thứ lớp khất thực xong, cùng với Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát và các đại chúng ra khỏi thành lớn Vương Xá, hướng về rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Thế Tôn thọ trai xong, tự mình tẩy tịnh súc miệng, rồi lên tòa diễn thuyết chính pháp.
Lúc ấy, vua Ba-tư-nặc nước Kiều-tát-la nghe danh Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát đồng tử có đại thần thông không thể nghĩ bàn; nghe xong liền trang nghiêm bốn loại binh chủng, hướng đến rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc mà đến chỗ Thế Tôn. Đến nơi, vua đảnh lễ chân Phật rồi ngồi sang một bên. Vua Ba-tư-nặc bạch Thế Tôn rằng: "Bạch đức Thế Tôn đại đức! Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát đồng tử hiện ở nơi nào? Con nghe vị ấy có sức thần thông không thể nghĩ bàn như thế."
Tức thì, Phật chỉ cho vua Ba-tư-nặc thấy Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát đồng tử. Khi ấy vua thấy đồng tử hình sắc đoan nghiêm, đặc biệt hơn cả chư Thiên, không hề sợ hãi, đầy đủ Giới Định Huệ để tự trang nghiêm. Thấy vậy rồi, vua bèn khởi niệm rằng: "Chẳng biết vị này đã trồng căn lành gì, tu tập phúc đức gì mà có được thân tướng nhiệm mầu như thế?"
Bấy giờ đồng tử Bất Tư Nghị Quang vâng lĩnh thần lực của Phật, biết được tâm niệm của vua nước Kiều-tát-la, liền hướng về đại vương mà nói bài kệ rằng:
Kệ ngôn
Thường tu lòng từ tịnh chúng sinh,
Chẳng thô uế ác giữ chính niệm.
Nhiếp thân khẩu ý tịnh phạm hạnh,
Vị ấy có được thân diệu tịnh.
Xa lìa kẻ ác chẳng tự làm,
Tăng trưởng tu tập vô lượng thiện.
Xả bỏ hết thảy ác tranh tụng,
Vị ấy có được thân diệu tịnh.
Cung kính Phật Pháp cùng Thánh Tăng,
Thường hằng dâng cúng mọi vật quý.
Chẳng hủy mắng người không bức não,
Vị ấy có được thân diệu tịnh.
Đùa cợt la mắng cùng chê bai,
Đối với người khác chẳng khởi lòng.
Khen ngợi điều thiện chẳng nói ác,
Vị ấy có được thân diệu tịnh.
Bỏ bỏ bỏ tham mạn ganh tị,
Xét kỹ hạnh mình chẳng hủy người.
Vị ấy có được thân diệu tịnh.
Diễn thơ lục bát:
Lòng từ tắm gội chúng sinh,
Chẳng vương uế tạp, giữ mình chính chuyên.
Ý thân lời nói dịu hiền,
Thân vàng diệu tịnh hiện tiền rạng cao.
Ác nhân lánh mặt chẳng giao,
Thiện căn vô lượng vun vào sớm trưa.
Tranh giành thưa kiện đều chừa,
Thân kia tịnh diệu nắng mưa chẳng sờn.
Phật, Tăng, Pháp bảo đội ơn,
Hương hoa phẩm vật cung vờn kính dâng.
Chẳng hề mắng nhiếc bâng quơ,
Thân hình thanh khiết như tờ giấy hoa.
Cợt đùa, quát tháo lìa xa,
Chẳng đem ác ý gieo ra cho người.
Thấy thiện liền nở nụ cười,
Thân mầu tịnh khiết rạng ngời nghìn thu.
Tham sân kiêu mạn chẳng lưu,
Xét mình soi hạnh, không mưu hại đời.
Trang nghiêm thân tướng rạng ngời,
Chân như tịnh diệu đời đời ngát hương.
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc bạch Thế Tôn rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Đứa bé Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát này thành tựu đại pháp thắng diệu như thế, nhưng có nghiệp chướng gì mà lại sinh vào bụng dâm nữ, rồi bị quăng bỏ nơi đất trống như vậy?"
Phật bảo đại vương: "Vào thuở quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp, có đức Phật hiệu là Tỳ-bà-thi xuất hiện ở đời. Đại vương nên biết, trong giáo pháp của Phật Tỳ-bà-thi khi ấy có hai vị Bồ-tát: một tên là Hiền Thiên, hai tên là Nhiêu Tài. Hiền Thiên Bồ-tát đối với đạo vô thượng đã đắc bất thối chuyển, được đà-la-ni và biện tài không ngại, chứng vô sinh nhẫn, có phúc đức uy thế, ít muốn ít việc, thường vui nơi độc cư, đắc các thần thông. Lúc bấy giờ, Nhiêu Tài Bồ-tát tu tập hạnh đầu đà, làm kẻ cấp sử (người giúp việc) cho Hiền Thiên Bồ-tát. Người này hằng đi lại các tụ lạc, thành ấp, làm nhiều công việc tạp vụ. Hiền Thiên Bồ-tát mới quở trách, dạy bảo rằng: 'Cớ sao ông làm nhiều việc tạp vụ như thế mà không lo đoạn trừ?' Vì bị dạy bảo quở trách nhiều lần, người ấy liền sinh lòng sân hận, không vui. Do lòng phẫn nộ ấy mà hủy hoại thân tâm, rồi buông lời mắng nhiếc rằng: 'Đồ con của dâm nữ hèn hạ, quân tư thông mà đẻ ra, không biết cha, chẳng biết mẹ, huống chi ông lại có được giới, văn, định, huệ!'
Sau khi sân hận mắng nhiếc xong, người ấy không hề hối lỗi, cũng chẳng xả bỏ, bị kết sử trói buộc, hằng giữ lòng phẫn nộ sân hận với Hiền Thiên Bồ-tát. Hiền Thiên Bồ-tát khi ấy liền xả bỏ người đó. Đã bị xả bỏ, người ấy càng tăng thêm sân hế, mắng nhiếc rêu rao điều ác. Do nhân duyên ác nghiệp không thiện ấy, khi thân hoại mạng chung liền sinh vào thai dâm nữ. Nhờ được Hiền Thiên Bồ-tát hộ trì nên không sa vào địa ngục. Nhưng khi dâm nữ sinh ra thì hằng thường quăng bỏ, để cho cáo, sói, chó dữ ăn thịt. Đại vương! Vì nhân duyên đó mà chín mươi mốt kiếp thường chịu cái chết như vậy, đời đời thường bị bỏ rơi, bị nhiều người mắng nhiếc là con của dâm nữ, bị quăng nơi đất trống cho loài thú ăn. Đại vương chớ nghi ngờ, Nhiêu Tài Bồ-tát mắng nhiếc Bồ-tát khi xưa chính là Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát ngày nay vậy. Nay ác nghiệp đã tận, nhờ sức thiện nghiệp mà tâm kết sử thanh tịnh, đẹp lòng Phật ý, người này vĩnh viễn lìa xa ác đạo. Đại vương! Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát này đã từng gặp gỡ sáu mươi bốn ức đức Phật, cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen, ở nơi các đức Phật thường tu phạm hạnh, siêng năng cầu pháp. Nhờ sức thiện căn bản này mà đắc được thần thông và sự việc như thế. Đại vương! Nghiệp đen nghiệp trắng cuối cùng không hề mất đi, cho nên người trí nên khéo giữ thân, khẩu và ý nghiệp, thà bỏ thân mạng chứ không tạo nghiệp ác."
Vua Ba-tư-nặc bạch rằng: "Bạch Thế Tôn! Vị Hiền Thiên Bồ-tát kia nay đã thành tựu Nhất thiết trí chưa, hay vẫn còn tu tập Bồ-tát hạnh?"
Phật bảo: "Đại vương! Hiền Thiên Bồ-tát ấy nay ở cõi Phật A-súc tu Bồ-tát hạnh, hiệu là Đức Tạng."
Vua Ba-tư-nặc bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Hàng thiện nam tử, thiện nữ nhân thường nên thân cận bậc thiện tri thức. Vì sao thế? Vì gần gũi thiện tri thức thì được cung kính vây quanh, lắng nghe thiện pháp. Nghe thiện pháp rồi đắc được tâm lành, có tâm lành thì tu hạnh lành, tạo nghiệp lành, hướng về nơi lành và gặp được thiện tri thức. Nhờ có bạn tốt nên không làm các việc ác, tu tập các việc thiện. Tu các việc thiện rồi thì tự mình không bức rứt nóng nảy, cũng không làm khổ người khác. Nếu Bồ-tát tự hộ mình và hộ người thì có thể đắc Bồ-đề. Nếu đã trụ nơi đạo, có đại thế lực thì có thể làm lợi ích."
Phật dạy: "Lành thay đại vương! Ông nói lời ấy thật đúng lắm. Đại vương! Bồ-tát thân cận thiện tri thức thì đầy đủ tất cả công đức thiện pháp."
Bấy giờ, Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát bạch rằng: "Bạch Thế Tôn! Bồ-tát thành tựu mấy pháp thì mau đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề và được Tịnh pháp nhẫn?"
Phật bảo đứa bé: "Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì mau đắc đạo chính chân vô thượng và Tịnh pháp nhẫn. Những gì là bốn? Một là giải ngộ nhân duyên nhẫn, xa lìa đoạn và thường. Hai là giải ngộ không có ngã, nhân, chúng sinh, thọ mạng. Ba là thấu hiểu không tịch. Bốn là tu hành nơi không. Ấy là bốn.
Lại có bốn pháp: Một là quá khứ tịch diệt. Hai là vị lai không có cái biết về sự đến. Ba là hiện tại không dừng trụ. Bốn là ba đời bình đẳng. Ấy là bốn.
Lại có bốn pháp: gọi là tự tịnh, tịnh chúng sinh, tịnh pháp, tịnh thiền định. Ấy là bốn.
Lại có bốn pháp: gọi là tịch thân, tịch tâm, tịch đạo, tịch pháp. Ấy là bốn.
Lại có bốn pháp: gọi là lấy pháp quán Phật chẳng lấy sắc, lấy lìa quán pháp chẳng lấy ngã, lấy vô vi quán Tăng chẳng lấy chúng, tịnh nơi huệ nhãn. Ấy là bốn.
Lại có bốn pháp: gọi là viên mãn các ba-la-mật, không bỏ bốn nhiếp pháp, khéo biết phương tiện, nói không chúng sinh mà hành đại bi. Ấy là bốn.
Này đứa bé! Đó là Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì mau đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề và thâm pháp nhẫn."
Khi thuyết pháp này, Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát đắc Vô sinh pháp nhẫn, vui mừng hớn hở bay vọt lên hư không cao bảy thân cây đa-la. Lúc đó tam thiên đại thiên thế giới sáu cách rúng động, ánh sáng lớn chiếu khắp, trời rải các thứ hoa, trăm ngàn âm nhạc không đánh tự kêu.
Bấy giờ Thế Tôn biết được tâm niệm của Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát rồi, Ngài liền mỉm cười. Theo thường pháp của chư Phật, khi Ngài mỉm cười thì có trăm ngàn luồng sáng đủ màu phóng ra từ nơi diện môn: xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng và màu pha lê. Ánh sáng ấy chiếu khắp vô lượng vô biên thế giới, che lấp cung ma cùng ánh sáng nhật nguyệt, đoạn trừ khổ nạn nơi địa ngục, ngạ quỷ, thấu lên đến cõi Phạm Thiên, rồi quay quanh Phật ba vòng và nhập vào đỉnh tướng của Ngài.
Lúc ấy, Đại đức A-nan rời tòa đứng dậy, vắt áo vai phải, quỳ gối phải sát đất, chắp tay hướng về Phật mà nói kệ hỏi rằng:
Kệ ngôn
Sắc tướng rất nhiệm mầu,
Trăm đức nghiêm thân báu.
Hào quang hiện điềm lành,
Do duyên gì Phật cười?
Giới hạnh bậc Vô Úy,
Định Huệ thắng trang nghiêm.
Hiện quả giải thoát bền,
Do duyên gì Phật cười?
Nhẫn lực và mười lực,
Dũng tiến khó lay động.
Chỉ dạy đạo Bốn Đế,
Do duyên gì Phật cười?
Thân kim cương kiên cố,
Sức Na-la-diên tận.
Phạm âm nghe vui lòng,
Nguyện thuyết ý cười này.
Phạm Thiên ở trên cao,
Chẳng thấy được đỉnh Phật.
Thứ lớp kính chắp tay,
Do duyên gì Phật cười?
Dưới cây hàng phục ma,
Đắc đạo tịnh không cấu.
Biết rõ hạnh chúng sinh,
Nguyện hiển duyên cười này.
Chuyển pháp luân vô thượng,
Nói vô thường động đất.
Điều phục người, rồng, thiên,
Đại đức sao Ngài cười?
Chiếu sáng trừ đêm tối,
Mắt thanh tịnh không nhơ.
Công đức như hư không,
Do duyên gì Phật cười?
Diễn thơ lục bát:
Sắc thân mầu nhiệm rạng ngời,
Trang nghiêm tướng hảo tuyệt vời trần gian.
Hào quang soi rạng mười phương,
Cớ sao Đức Phật bỗng dưng mỉm cười?
Giới cao, Định Huệ rạng ngời,
Giải thoát quả vị rạng soi đạo đài.
Nhẫn vàng, mười lực chẳng phai,
Bốn chân lý thánh độ đời lầm than.
Thân vàng kiên cố đá vàng,
Phạm âm thanh thoát dịu dàng thiết tha.
Cõi trời Phạm thế xa xăm,
Đỉnh đầu đức Phật khó ngăn mắt nhìn.
Chắp tay cung kính đức tin,
Nguyện xin Phật thuyết nguyên nhân nụ cười.
Cội bồ hàng phục ma quân,
Xoay vần pháp bảo hồng ân rạng ngời.
Mắt từ soi thấu muôn nơi,
Công dày đức rộng tựa trời hư không.
Bấy giờ Thế Tôn bảo A-nan rằng: "Ông có thấy Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát đang trụ giữa hư không, cách đất bảy thân cây đa-la chăng?"
A-nan bạch rằng: "Con đã thấy, bạch Thế Tôn."
"Này A-nan, Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát này trải qua trăm ngàn a-tăng-tỳ kiếp nữa sẽ được thành Phật, cũng hiệu là Bất Tư Nghị Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Nước tên là Tịnh Khiết, kiếp tên là Vô Cữu. Này A-nan, cõi Phật Tịnh Khiết ấy cực kỳ thanh tịnh, giống như cung điện của chư Thiên cõi Tha Hóa Tự Tại. Đức Phật ấy thọ hai mươi trung kiếp. Chúng đại Thanh văn có tám vạn vị, chúng Bồ-tát có ba vạn hai ngàn vị.
Này A-nan, vì duyên cớ gì mà kiếp ấy tên là Vô Cữu? Đó là bởi trước đó có trăm ngàn kiếp không có Phật ra đời, Bất Tư Nghị Quang Phật là vị đầu tiên thành Phật trong kiếp ấy. Chư Thiên cõi Tịnh Cư vui mừng tán thán rằng: 'Kiếp này không lỗi (Vô Cữu)! Kiếp này không lỗi! Vì có Như Lai xuất hiện ở đời.' Do đó nên tên kiếp là Vô Cữu."
Khi thuyết về Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát, có ba vạn hai ngàn chúng sinh phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề; sáu vạn Bồ-tát đắc Vô sinh pháp nhẫn; năm trăm Tỳ-kheo đoạn tuyệt các kiết lậu, tâm đắc tự tại thành bậc A-la-hán.
Bấy giờ Phật bảo A-nan: "Ông hãy lãnh thọ kinh này, trì tụng và giảng nói, ở trong đại chúng rộng tuyên dương ra, khiến chính pháp của Ta lâu dài ở đời, đem lại nhiều lợi ích cho các Bồ-tát đời vị lai."
Đại đức A-nan bạch rằng: "Bạch Thế Tôn, con đã thụ trì. Bạch Thế Tôn, kinh này tên gọi là gì và thụ trì như thế nào?"
Phật bảo: "Này A-nan, kinh này tên là Trừ Tịnh Nghiệp Chướng, cũng tên là Thần Lực Sở Trì Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết. Hãy thụ trì như vậy.
Này A-nan, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào suốt đời phụng thờ các Như Lai, cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen, dùng hoa đủ màu chất cao như núi Tu-di, đốt hương, rải hương, dùng phướn lọng báu để cúng dường; lại có người thụ trì kinh pháp do Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát nói này, đọc tụng thông suốt, ở trong đại chúng rộng vì người mà giảng thuyết, tu hành đúng như lời dạy, thì phúc đức của người này còn nhiều hơn người kia. Này A-nan, nếu muốn dùng pháp cúng dường Như Lai, muốn có ánh sáng đại trí tuệ, thì nên thụ trì đọc tụng kinh này."
Phật thuyết kinh này xong, Bất Tư Nghị Quang Bồ-tát, Đại đức A-nan cùng tất cả đại chúng, trời, người, rồng, quỷ, Càn-thát-bà, A-tu-la... nghe lời Phật dạy đều hết sức vui mừng.
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.