Bước tới nội dung

Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh/quyển hạ

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh

Tam tạng Sa môn Nghĩa Tịnh trong chùa Phật Quang nước Đại Đường biên dịch.

Bấy giờ, Phật bảo Man Thù Thất Lợi: "Những nguyện lớn mà đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai đã phát khi hành đạo Bồ-tát, cùng với sự công đức trang nghiêm nơi cõi Phật ấy, Ta có nói trong một kiếp hay hơn một kiếp cũng không thể hết được. Nhưng cõi Phật kia thuần một vẻ thanh tịnh, không có các dục nhiễm, cũng không có người nữ và ba đường ác cùng tiếng khổ não; lấy lưu ly trong suốt làm đất, thành quách, cung điện cho đến hàng hiên, cửa sổ, lưới giăng thảy đều bằng bảy báu hợp thành, cũng như sự công đức trang nghiêm của thế giới Cực Lạc phương Tây. Trong nước ấy có hai vị Bồ-tát, một tên là Nhật Quang Biến Chiếu, hai tên là Nguyệt Quang Biến Chiếu, ở trong vô lượng chúng Bồ-tát làm bậc thượng thủ, có thể giữ gìn kho tàng chính pháp của đức Phật kia. Thế nên, Man Thù Thất Lợi! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân có lòng tin trong sạch, đều nên phát nguyện sinh về thế giới của đức Phật ấy.

Lại nữa, Man Thù Thất Lợi! Nếu có chúng sinh không biết thiện ác, chỉ ôm lòng tham tiếc, không biết việc bố thí và quả báo của bố thí, ngu si thiếu trí, không có lòng tin; tích trữ nhiều tài bảo, nhọc nhằn canh giữ, thấy người đến xin thì lòng không vui; giả sử bất đắc dĩ phải đem bố thí thì như cắt thịt mình, sinh lòng xót tiếc sâu sắc. Lại có vô lượng hữu tình bỏn xẻn tham lam, tích góp của cải, ngay cả bản thân mình còn không dám dùng, huống là cung cấp cho cha mẹ, vợ con, nô tì, người làm và người đến xin? Những hữu tình ấy sau khi mạng chung sẽ sinh vào hàng ngã quỷ hoặc loài bàng sinh. Do thuở trước ở nhân gian từng nghe danh hiệu đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nên dầu ở đường ác vẫn nhớ lại được danh hiệu đức Như Lai kia, liền từ nơi đó mạng chung, sinh lại trong cõi người, đắc trí túc mệnh, nhớ sợ khổ đau đường ác nên không ưa ngũ dục, thích hành bố thí, ca ngợi người bố thí, đối với mọi tài vật không có lòng tham tiếc, dần dần đến cả đầu mắt, tay chân, máu thịt, thân mình còn có thể bố thí cho người đến cầu xin, huống là của cải dư thừa?

Lại nữa, Man Thù Thất Lợi! Nếu lại có người quy y Thế Tôn, thọ các giới điều mà phá hoại giới luật uy nghi, hoặc phá hoại chính kiến; hoặc có người giữ giới và chính kiến nhưng không cầu đa văn, đối với nghĩa sâu trong kinh Phật nói không thể hiểu rõ; hoặc tuy đa văn mà ôm lòng kiêu mạn, do lòng mạn ấy mà cho mình là đúng người khác là sai, chê bai phỉ báng chính pháp, làm bạn với ma. Những kẻ ngu si như thế tự mình hành theo tà kiến, lại khiến cho vô lượng trăm ngàn câu-chi hữu tình sa vào hố hiểm lớn. Các hữu tình này đọa vào địa ngục, bàng sinh, ngã quỷ; nếu từng nghe danh hiệu đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai này, do uy lực bản nguyện của đức Như Lai kia, ở trong địa ngục nhớ đến danh hiệu Phật, từ nơi đó mạng chung, sinh lại nhân gian. Có chính kiến và tinh tấn, ý chí vui vẻ điều thiện, bỏ tục xuất gia, ở trong Phật pháp thọ trì giới điều mà không hủy phạm, chính kiến đa văn, hiểu nghĩa sâu xa, lìa bỏ kiêu mạn, không báng chính pháp, không làm bạn với ma, dần dần tu hành các hạnh Bồ-tát, cho đến khi thành tựu Bồ-đề."

"Lại nữa, Man Thù Thất Lợi! Nếu có các hữu tình lòng bỏn xẻn tham lam, ganh ghét, tạo các nghiệp ác, tự khen mình chê người, khi mạng chung sẽ đọa vào trong ba đường ác, trải qua vô lượng ngàn năm chịu các khổ cực độ; sau khi ở đó mạng chung, sinh lại nhân gian, hoặc làm trâu, ngựa, lạc đà, lừa, thường bị roi vọt, đói khát dày vò, thân thường chở nặng, khốn khổ mệt nhọc cực kỳ; nếu được làm người thì sinh vào hàng hạ tiện, nô tì, người làm, bị kẻ khác sai bảo, hằng không được tự tại. Do thuở trước ở trong nhân gian từng nghe danh hiệu đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nhờ sức mạnh thiện căn đó, nay lại nhớ niệm, chí tâm quy y, dùng thần lực của Phật mà được giải thoát mọi khổ đau, các căn thông lợi, trí tuệ đa văn, hằng cầu pháp thù thắng, thường gặp bạn tốt, vĩnh viễn đoạn tuyệt lưới ma, phá tan vỏ trứng vô minh, tát cạn sông phiền não, giải thoát tất cả sinh già bệnh chết, ưu bi khổ não, cho đến khi thành tựu Bồ-đề.

Lại nữa, Man Thù Thất Lợi! Nếu có các hữu tình ưa thích sự chia rẽ, tranh đấu kiện tụng lẫn nhau, làm não loạn cả mình và người, dùng thân ngữ ý tạo các nghiệp ác, xoay vần thường làm những việc chẳng lợi ích, mưu hại lẫn nhau; cầu khẩn các thần núi rừng, cây cối, mồ mả, giết hại chúng sinh, lấy máu thịt cúng tế các thần Dược-xoa, La-sát, viết tên người oán hận hoặc làm hình tượng, dùng ác chú thuật mà nguyền rủa, dùng bùa chú, độc trùng, chú niệm thây ma đứng dậy để đoạn mạng sống hoặc hủy hoại thân thể người kia. Những hữu tình ấy, nếu được nghe danh hiệu đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai này, thì các ác duyên kia thảy đều không thể làm hại, tất cả xoay vần đều khởi lòng từ bi, lợi ích an lạc, không có ý tổn hại và lòng hiềm hận, đối với những gì mình có thường sinh lòng vui vẻ biết đủ.

Lại nữa, Man Thù Thất Lợi! Nếu có bốn chúng: Bí-sô, Bí-sô-ni, cận sự nam, cận sự nữ, và những thiện nam tử, thiện nữ nhân có lòng tin trong sạch khác, nếu có thể thọ trì tám chi trai giới, hoặc trải qua một năm, hoặc lại ba tháng, thọ trì các học xứ, dùng thiện căn này nguyện sinh về thế giới Cực Lạc phương Tây để thấy đức Vô Lượng Thọ Phật. Nếu nghe danh hiệu đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, lúc lâm chung có tám vị Bồ-tát dùng thần thông đến chỉ dẫn đường đi, liền ở trong các loài hoa báu nhiều màu sắc nơi thế giới kia mà tự nhiên hóa sinh. Hoặc có người nhờ đó mà sinh lên cõi trời, tuy sinh cõi trời nhưng thiện căn xưa kia cũng không cùng tận, không còn phải sinh vào các đường ác khác. Khi thọ mệnh cõi trời đã hết, sinh lại nhân gian, hoặc làm Chuyển luân vương, thống lĩnh bốn châu, uy đức tự tại, khuyên bảo giáo hóa vô lượng trăm ngàn hữu tình tu tập theo mười đạo thiện; hoặc sinh vào dòng Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, cư sĩ, quý tộc, nhiều của cải vật báu, kho tàng đầy ắp, hình tướng đoan nghiêm, quyến thuộc thịnh đạt, thông minh trí tuệ, dũng mãnh oai phong, có sức mạnh lớn. Nếu là người nữ, được nghe danh hiệu đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, chí tâm thọ trì, thì về sau không còn phải thụ thân nữ nữa.

Lại nữa, Man Thù Thất Lợi! Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai kia khi đắc đạo Bồ-đề, do sức bản nguyện mà quan sát các hữu tình gặp phải các bệnh khổ: gầy mòn, sốt rét, khô héo, vàng da... hoặc bị bùa chú, độc trùng làm hại, hoặc bị đoản mệnh, hoặc bị chết dữ, Ngài muốn khiến cho những bệnh khổ ấy tiêu trừ, mọi mong cầu được viên mãn.

Khi ấy, đức Thế Tôn nhập vào Tam-ma-địa tên là Diệt Trừ Nhất Thiết Chúng Sinh Khổ Não. Sau khi nhập định, từ trong nhục kế phóng ra hào quang lớn, trong hào quang diễn nói bài đại Đà-la-ni chú rằng:

南謨薄伽伐帝 鞞殺社寠嚕 薜琉璃鉢喇婆 曷囉闍也 呾他揭多也 阿囉喝帝 三藐三勃陀也呾姪他唵 鞞殺逝鞞殺逝 鞞殺社三沒揭帝 莎訶

'Nam mô bạc già phạt đế, tì sát xã, cụ lỗ bế lưu ly, bát lạt bà, hắt ra xà dã, đát tha yết đa dã, a ra hắt đế, tam miệu tam bột đà dã, đát điệt tha, án, tì sát thệ, tì sát thệ, tì sát xã tam một yết đế, ta ha.'

Bấy giờ trong hào quang nói chú này xong, đại địa chấn động, phóng ánh sáng lớn, tất cả chúng sinh bệnh khổ đều trừ, hưởng niềm vui an ổn.

Man Thù Thất Lợi! Nếu thấy người nam người nữ nào có bệnh khổ, nên vì người bệnh đó nhất tâm thanh tịnh tắm gội súc miệng, hoặc dùng thức ăn, hoặc thuốc, hoặc nước sạch không có trùng, chú nguyện 108 biến rồi cho họ dùng, thì các bệnh khổ thảy đều tiêu diệt. Nếu có mong cầu gì, chí tâm niệm tụng đều được như ý, không bệnh sống lâu, sau khi mạng chung sinh về thế giới kia, đắc bất thối chuyển, cho đến khi thành tựu Bồ-đề. Thế nên, Man Thù Thất Lợi! Nếu có người nam người nữ nào đối với đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai kia mà chí tâm ân trọng, cung kính cúng dường, thì nên thường trì chú này, chớ để quên mất.

Lại nữa, Man Thù Thất Lợi! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân có lòng tin trong sạch được nghe danh hiệu của bảy đức Phật, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác như trên, nghe rồi tụng trì, buổi sớm đánh răng súc miệng thanh tịnh, dùng các thứ hương hoa, hương bột, thắp hương, hương thoa, tấu nhạc khí mà cúng dường hình tượng; đối với kinh điển này, hoặc tự mình chép, hoặc bảo người chép, nhất tâm thọ trì, lắng nghe nghĩa lý; đối với vị pháp sư đó nên tu tập cúng dường, tất cả các đồ dùng sinh hoạt thảy đều dâng hiến, chớ để thiếu thốn. Như thế liền được chư Phật hộ niệm, mọi mong cầu đều viên mãn, cho đến khi thành tựu Bồ-đề."

Bấy giờ, Man Thù Thất Lợi Đồng tử bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Con ở thời mạt pháp thề dùng đủ thứ phương tiện khiến cho các thiện nam tử, thiện nữ nhân có lòng tin trong sạch được nghe danh hiệu của bảy đức Phật Như Lai, cho đến trong giấc ngủ cũng dùng danh hiệu Phật khiến họ giác ngộ. Bạch Thế Tôn! Nếu đối với kinh này mà thọ trì đọc tụng, hoặc lại vì người khác mà diễn nói khai thị, nếu tự mình chép, hoặc bảo người chép, cung kính tôn trọng, dùng các thứ hoa hương, hương thoa, hương bột, thắp hương, tràng hoa, chuỗi ngọc, phướn lọng, âm nhạc mà cúng dường, dùng lụa năm màu mà bọc lại, quét dọn nơi thanh tịnh, đặt trên tòa cao.

Lúc đó, bốn vị thiên vương cùng quyến thuộc và vô lượng trăm ngàn thiên chúng khác thảy đều đến nơi đó cúng dường thủ hộ. Bạch Thế Tôn! Nếu nơi nào kinh báu này lưu hành, và những người thọ trì, nhờ công đức bản nguyện của bảy đức Phật Như Lai và uy thần lực của việc nghe danh hiệu, phải biết nơi đó không còn chết dữ, cũng không bị các quỷ thần ác đoạt lấy tinh khí, giả sử đã bị đoạt thì lại được phục hồi như cũ, thân tâm an lạc."

Phật bảo Man Thù Thất Lợi: "Đúng thế! Đúng thế! Như lời ông nói. Man Thù Thất Lợi! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân có lòng tin trong sạch, muốn cúng dường bảy đức Như Lai kia, trước hết nên thành kính tạo hình tượng bảy đức Phật, đặt trên tòa cao mầu nhiệm thanh tịnh, rắc hoa, thắp hương, dùng các tràng phướn trang nghiêm nơi đó; trong bảy ngày bảy đêm, thọ trì tám giới trai, ăn thức ăn thanh tịnh, tắm gội thân thể, mặc y phục mới sạch; lòng không cấu bẩn, cũng không giận dữ hại người, đối với các hữu tình thường khởi lòng lợi lạc, từ bi hỷ xả, bình đẳng; đánh trống ca hát, xưng tán công đức, đi quanh tượng Phật về phía phải; niệm các bản nguyện của đức Như Lai kia, đọc tụng kinh này, suy ngẫm nghĩa lý, diễn nói khai thị. Tùy theo mong cầu, cầu sống lâu được sống lâu, cầu giàu sang được giàu sang, cầu quan vị được quan vị, cầu con cái được con cái, thảy đều như ý.

Nếu lại có người bỗng nằm mộng xấu, thấy các ác tướng, hoặc chim lạ đến đậu, hoặc nơi nhà mình xuất hiện trăm điều quái dị; người này nếu dùng đồ dùng thượng diệu, cung kính cúng dường các đức Phật kia, thì mộng xấu, ác tướng, mọi điều không tốt thảy đều ẩn mất, không thể gây hại. Hoặc có những nỗi sợ như nước, lửa, đao độc, vách đá, đường hiểm, voi dữ, sư tử, hổ lang, gấu dữ, rắn rết, rết độc; nếu có thể chí tâm ức niệm đức Phật kia, cung kính cúng dường, mọi nỗi khiếp sợ thảy đều giải thoát. Nếu nước khác xâm lăng, trộm cướp phản loạn, người nào ức niệm cung kính đức Như Lai kia thì mọi quân thù thảy đều thối tán.

Lại nữa, Man Thù Thất Lợi! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân có lòng tin trong sạch, cho đến trọn đời không thờ các thiên thần khác, chỉ một lòng quy y Phật, Pháp, Tăng, thọ trì cấm giới, như năm giới, mười giới, hai mươi tư giới Bồ-tát, hai trăm năm mươi giới Bí-sô, năm trăm giới Bí-sô-ni; trong các giới đó nếu có hủy phạm, sợ đọa đường ác, mà có thể chuyên niệm danh hiệu đức Phật kia, cung kính cúng dường, thì nhất định không sinh vào trong ba đường ác. Hoặc có người nữ khi sắp sinh nở phải chịu cực khổ, nếu có thể chí tâm xưng danh hiệu, lễ tán cung kính cúng dường bảy đức Như Lai, thì mọi nỗi khổ thảy đều trừ sạch, con sinh ra hình dáng đoan chính, người thấy vui mừng, căn tính thông minh, ít bệnh an lạc, không bị các loài phi nhân đoạt mất tinh khí."

Lúc ấy, Thế Tôn bảo ngài A Nan rằng: "Như Ta đã ca ngợi công đức danh hiệu bảy đức Như Lai kia, đó là cảnh giới cực kỳ sâu xa của chư Phật, khó thể hiểu thấu, ông chớ sinh lòng nghi."

Ngài A Nan bạch rằng: "Bạch Thế Tôn! Đối với nghĩa sâu trong khế kinh của Như Lai nói, con không sinh lòng nghi hoặc. Vì sao thế? Vì thân, ngữ, ý nghiệp của tất cả Như Lai thảy đều không hư vọng. Bạch Thế Tôn! Vầng nhật nguyệt này có thể khiến rơi xuống; núi Diệu Cao vương có thể khiến lung lay; nhưng lời chư Phật nói thì rốt ráo không bao giờ sai khác. Bạch Thế Tôn! Tuy nhiên có những chúng sinh tín căn không đầy đủ, nghe nói cảnh giới sâu xa của chư Phật thì suy nghĩ thế này: 'Làm sao chỉ niệm danh hiệu bảy đức Phật mà lại được nhiều công đức lợi ích như thế?' Do không tin nên sinh lòng phỉ báng. Những người ấy ở trong đêm dài tăm tối bị mất lợi lạc lớn, đọa vào các đường ác."

Phật bảo A Nan: "Những hữu tình ấy nếu được nghe qua tai danh hiệu chư Phật mà còn đọa đường ác thì không có lẽ đó, duy chỉ trừ những người có định nghiệp không thể chuyển. A Nan! Đây là cảnh giới sâu xa của chư Phật, khó thể tin hiểu. Ông có thể tin nhận, phải biết đều là nhờ uy lực của Như Lai. A Nan! Tất cả hàng Thanh văn và Độc giác thảy đều không thể biết, duy chỉ trừ Bồ-tát nhất sinh bổ xứ. A Nan! Thân người khó đắc; nơi Tam bảo biết tin kính tôn trọng cũng khó có được; được nghe danh hiệu bảy đức Như Lai lại khó hơn thế. A Nan! Những đức Như Lai kia có vô lượng hạnh Bồ-tát, vô lượng phương tiện khéo léo, vô lượng nguyện rộng lớn; những hành nguyện và phương tiện khéo léo như thế, nếu Ta nói trong một kiếp hay hơn một kiếp cũng không thể hết được."

Bấy giờ trong chúng có một vị Bồ-tát Ma-ha-tát tên là Cứu Thoát, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trễ vai áo bên phải, quỳ gối phải sát đất, chắp tay hướng về Phật mà bạch rằng: "Bạch Thế Tôn! Vào thời mạt thế khi Tượng pháp khởi lên, nếu có chúng sinh bị các bệnh khổ bức bách, thân hình gầy yếu, không thể ăn uống, môi cổ khô rang, mắt nhìn tối sầm, tướng chết hiện tiền, cha mẹ, thân thuộc, bạn bè, quen biết than khóc vây quanh. Thân nằm một chỗ, thấy sứ giả của Diêm Ma Pháp Vương dẫn thần thức người đó đưa đến chỗ vua. Nhưng các hữu tình vốn có thần Câu Sinh, tùy theo nghiệp thiện ác người đó đã làm mà ghi chép đầy đủ rồi dâng lên vị vua kia; vua liền theo pháp mà hỏi những việc đã làm, tùy theo tội phúc của người đó mà định đoạt. Lúc bấy giờ, thân quyến và người quen của bệnh nhân nếu có thể vì người đó mà quy y chư Phật, dùng các thứ trang nghiêm, cúng dường đúng pháp. Khi ấy thần thức kia, hoặc trải qua bảy ngày, mười bốn ngày, cho đến bốn mươi chín ngày, như từ giấc mộng tỉnh dậy, phục hồi tinh thần, đều tự nhớ biết quả báo nhận được từ nghiệp thiện và không thiện; do tự mình chứng thấy nghiệp báo không hư vọng, nên cho đến khi gặp nạn đến tính mạng cũng không tạo ác. Thế nên, các thiện nam tử, thiện nữ nhân có lòng tin trong sạch đều nên thọ trì danh hiệu bảy đức Phật, tùy theo sức mình mà cung kính cúng dường."

Bấy giờ, cụ thọ A Nan hỏi Bồ-tát Cứu Thoát rằng: "Thưa thiện nam tử! Cung kính cúng dường bảy đức Như Lai kia thì pháp thức như thế nào?"

Bồ-tát Cứu Thoát nói: "Bạch Đại đức! Nếu có người bệnh hoặc gặp tai ách khác muốn được thoát khỏi, nên vì người đó trong bảy ngày bảy đêm trì giữ tám giới trai; nên dùng thức ăn uống và các đồ dùng sinh hoạt tùy theo khả năng của mình mà cúng dường Phật và Tăng; sáu thời ngày đêm cung kính lễ bái bảy đức Như Lai, đọc tụng kinh này bốn mươi chín biến; thắp bốn mươi chín ngọn đèn, tạo bảy pho tượng hình đức Như Lai kia, trước mỗi pho tượng đặt bảy ngọn đèn, mỗi ngọn đèn hình tròn như bánh xe, cho đến bốn mươi chín đêm ánh sáng không dứt; làm bốn mươi chín lá phướn bằng lụa ngũ sắc và một lá phướn dài bốn mươi chín thước; phóng sinh bốn mươi chín loài sinh vật. Làm như thế thì có thể lìa được tai ách, không bị các nạn chết dữ và quỷ ác hãm hại. Bạch Đại đức A Nan! Đó là pháp thức cúng dường Như Lai. Nếu ở trong bảy đức Phật này mà tùy theo một đức Phật nào để xưng danh cúng dường thì đều được vô lượng công đức như thế, mọi mong cầu đều viên mãn, huống là có thể cúng dường đầy đủ tất cả?

Lại nữa, bạch Đại đức A Nan! Nếu các vị vua Sát-đế-lợi đã làm lễ quán đỉnh khi gặp tai nạn khởi lên, như là: nạn dịch bệnh trong nhân dân, nạn nước khác xâm lấn, nạn phản nghịch trong nước, nạn tinh tú biến quái, nạn nhật thực nguyệt thực, nạn gió mưa trái mùa, nạn quá thời không mưa; các vị vua Sát-đế-lợi ấy bấy giờ nên đối với tất cả hữu tình khởi lòng từ bi, ban lệnh đại xá, tha cho các tội nhân bị giam cầm khổ não, rồi theo pháp thức như trước mà cúng dường chư Phật. Do thiện căn này và nhờ sức bản nguyện của đức Như Lai kia khiến cho quốc giới liền được an ổn, mưa thuận gió hòa, mùa màng chín tốt, chúng sinh trong nước không bệnh an lạc, lại không có các thần Dược-xoa bạo ác quấy nhiễu, tất cả ác tướng thảy đều ẩn mất. Các vị vua Sát-đế-lợi ấy thảy đều được tăng thêm tuổi thọ, sắc lực, không bệnh tự tại.

Bạch Đại đức A Nan! Nếu các hoàng hậu, phi tần, thái tử, vương tử, đại thần, phụ tướng, cung nữ, trăm quan, dân chúng bị bệnh khổ hành hạ hoặc gặp các ách nạn khác, cũng nên kính tạo hình tượng bảy đức Phật, đọc tụng kinh này, thắp đèn làm phướn, phóng sinh các mạng sống, chí thành cúng dường, thắp hương rắc hoa, thì sẽ được bệnh khổ tiêu trừ, giải thoát các nạn."

Bấy giờ, cụ thọ A Nan hỏi Bồ-tát Cứu Thoát rằng: "Thưa thiện nam tử! Làm sao mạng sống đã tận mà có thể tăng thêm được?"

Bồ-tát Cứu Thoát nói: "Bạch Đại đức! Ngài há chẳng nghe Như Lai nói có chín thứ chết dữ (hoành tử) sao? Vì thế Thế Tôn mới nói ra thần chú và thuốc thang, tùy sự cứu chữa, thắp đèn làm phướn, tu các phúc nghiệp; nhờ tu phúc mà được kéo dài tuổi thọ."

A Nan hỏi rằng: "Chín thứ chết dữ là những gì?"

Bồ-tát Cứu Thoát nói: "Một là nếu các hữu tình bị bệnh tuy nhẹ nhưng không có thầy thuốc và người chăm sóc, hoặc gặp thầy thuốc nhưng không cho đúng thuốc, thực ra không đáng chết mà lại chết dữ; lại tin theo tà ma ngoại đạo, thầy yêu nghiệt thế gian, nói bừa họa phúc rồi sinh sợ hãi, lòng không tự chính, bói khoa cát hung, giết các chúng sinh để cầu thần giải tấu, gọi mời vọng lượng để thỉnh phúc cầu ân, mong muốn kéo dài tuổi thọ mà rốt cuộc chẳng được, do ngu si mê muội, điên đảo kiến giải nên bị chết dữ, đọa vào địa ngục không có ngày ra. Hai là chết dữ vì bị vương pháp xử tử. Ba là săn bắn vui chơi, sa đà dâm dục rượu chè, phóng dật không chừng mực nên bị loài phi nhân đoạt mất tinh khí mà chết dữ. Bốn là chết dữ vì bị lửa thiêu. Năm là chết dữ vì bị chết đuối. Sáu là chết dữ vì bị các thú dữ ăn thịt. Bảy là chết dữ vì rơi xuống núi sâu đại vực. Tám là chết dữ vì bị thuốc độc, bùa chú, nguyền rủa, quỷ nhập thây ma làm hại. Chín là bị đói khát khốn đốn, không có ăn uống mà phải chết dữ. Đó là Như Lai nói lược qua chín thứ chết dữ như vậy, ngoài ra còn có vô số các nạn chết dữ khác khó có thể nói hết.

Lại nữa, A Nan! Vua Diêm Ma kia giữ sổ ghi chép tên tuổi của tất cả mọi người trên thế gian. Nếu các hữu tình bất hiếu, phạm tội ngũ nghịch, phỉ báng Tam bảo, phá hoại phép quân thần, phá hủy cấm giới, vua Diêm Ma sẽ tùy theo tội nhẹ nặng mà khảo phạt. Thế nên nay tôi khuyên các hữu tình thắp đèn làm phướn, phóng sinh tu phúc để vượt qua khổ ách, không gặp các tai nạn."

Lúc bấy giờ trong chúng có mười hai vị đại tướng Dược-xoa cùng ngồi trong hội. Tên của các vị là:

Cung Tì La đại tướng, Bạt Chiết La đại tướng, Mê Xí La đại tướng, Át Nễ La đại tướng, Mạt Nễ La đại tướng, Ta Nễ La đại tướng, Nhân Đà La đại tướng, Ba Di La đại tướng, Bạc Hô La đại tướng, Chân Đạt La đại tướng, Chu Đỗ La đại tướng, Tì Yết La đại tướng. Mười hai vị đại tướng Dược-xoa này mỗi vị đều có bảy ngàn dược-xoa làm quyến thuộc.

Tất cả đồng thanh bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Chúng con nay nhờ uy lực của Phật được nghe danh hiệu của bảy đức Như Lai nên đối với các đường ác không còn sợ hãi. Chúng con cùng nhau một lòng, cho đến trọn đời quy y Phật, Pháp, Tăng, thề nguyện gánh vác tất cả hữu tình, làm việc nghĩa lợi, đem lại an lạc. Bất cứ nơi nào trong thành ấp, tụ lạc hay chốn rừng vắng, nếu có kinh này lưu bố đọc tụng hoặc có người thọ trì danh hiệu bảy đức Phật, cung kính cúng dường, thì chúng con và quyến thuộc sẽ hộ vệ người đó, khiến họ thoát khỏi các nạn, mọi mong cầu thảy đều mãn nguyện. Nếu có bệnh tật tai ách muốn cầu thoát khỏi, cũng nên đọc tụng kinh này, dùng chỉ ngũ sắc kết thành tên của chúng con, sau khi được như nguyện rồi mới tháo kết."

Bấy giờ, Thế Tôn khen các vị đại tướng Dược Xoa rằng: "Hay thay! Hay thay! Các vị đại tướng Dược Xoa! Các ông biết nhớ báo đáp ân đức của bảy đức Như Lai, thì nên thường làm lợi ích, an lạc cho tất cả hữu tình như thế."

Lúc ấy, trong hội có nhiều thiên chúng trí tuệ ít ỏi, sinh lòng suy nghĩ rằng: "Tại sao các đức Như Lai hiện đang ở các thế giới cách đây nhiều như cát sông Hằng, mà chỉ cần tạm nghe danh hiệu liền được công đức thù thắng không bờ bến?"

Bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai biết tâm niệm của các thiên chúng, liền nhập vào định sâu xa gọi là Cảnh Triệu Nhất Thiết Như Lai. Vừa nhập định xong, tất cả ba ngàn đại thiên thế giới sáu cách rúng động, mưa hoa trời mầu nhiệm và bột hương trời. Bảy đức Như Lai kia thấy điềm lành ấy, mỗi Ngài từ cõi nước mình đến thế giới Ta Bà, cùng đức Thích Ca Như Lai chào hỏi lẫn nhau.

Khi đó, các đức Thế Tôn do sức bản nguyện từ đời trước, mỗi Ngài tùy chỗ ngồi an nhiên trên tòa sư tử trang nghiêm bằng báu trời. Các chúng Bồ-tát, thiên long bát bộ, người và không phải người, cùng quốc vương, vương tử, cung phi, thái nữ và các đại thần, bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ, trước sau vây quanh để nghe thuyết pháp.

Lúc ấy, các thiên chúng thấy các đức Như Lai thảy đều hội tụ như mây, sinh lòng hy hữu chưa từng có, mọi nghi hoặc đều tan biến. Đại chúng tán thán việc chưa từng thấy, đồng thanh khen rằng: "Hay thay! Hay thay! Đức Thích Ca Như Lai! Ngài đã làm lợi ích cho chúng con, vì trừ nghi niệm mà khiến các đức Như Lai thảy đều đến đây." Khi đó, đại chúng mỗi người tùy theo sức mình, dùng hoa hương mầu nhiệm, chuỗi ngọc và âm nhạc trời cúng dường Như Lai, đi quanh bảy vòng về bên phải, chắp tay lễ kính, khen rằng: "Hy hữu! Hy hữu! Cảnh giới sâu xa của chư Phật Như Lai thật không thể nghĩ bàn, do nguyện lực xưa kia và phương tiện khéo léo mà cùng hiện ra tướng trạng kỳ lạ như thế." Bấy giờ, đại chúng mỗi người đều phát nguyện, nguyện cho các chúng sinh đều đắc được định thù thắng của Như Lai như vậy.

Lúc đó, Man Thù Thất Lợi liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính, đi quanh Phật bảy vòng, lễ dưới chân Ngài rồi bạch rằng: "Bạch Thế Tôn! Hay thay! Hay thay! Định lực của Như Lai thật không thể nghĩ bàn, do sức bản nguyện, phương tiện khéo léo mà thành tựu chúng sinh. Chỉ nguyện Ngài vì chúng con mà thuyết đại lực thần chú, có thể khiến cho chúng sinh phúc mỏng đời sau bị bệnh khổ vây bủa, gặp các ách nạn của nhật nguyệt tinh tú, dịch bệnh oán thù, hoặc khi đi đường hiểm, gặp mọi sợ hãi, làm nơi quy y cho họ, khiến được yên ổn. Các chúng sinh ấy đối với thần chú này, nếu tự chép, dạy người chép, thọ trì đọc tụng, rộng vì người khác mà diễn nói, thì thường được chư Phật hộ niệm, chính đức Phật hiện thân khiến cho nguyện ước viên mãn, không đọa đường ác, cũng không bị chết dữ."

Khi ấy, các đức Như Lai khen Man Thù Thất Lợi rằng: "Hay thay! Hay thay! Đây là nhờ uy thần lực của chúng Ta khiến ông khuyến thỉnh, vì thương xót chúng sinh rời xa các khổ nạn mà nói thần chú. Ông nên chú ý lắng nghe, suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ông mà nói. Man Thù Thất Lợi! Có đại thần chú tên là Như Lai Định Lực Lưu Ly Quang. Nếu có người nam người nữ nào biên chép, đọc tụng, cung kính cúng dường, đối với các loài hữu tình khởi lòng đại bi, thì mọi mong cầu thảy đều mãn nguyện, chư Phật hiện thân hộ niệm, lìa các chướng nạn khổ não, sẽ được sinh về cõi Phật."

Lúc đó, bảy đức Như Lai cùng một tiếng, liền nói chú rằng:

但姪他 具謎具謎[醫-酉+言]尼謎膩呬(上) 末底末底 馺[多*頁]怛他揭多三摩地頞提瑟恥帝 頞帝末帝波例 波跛輸但儞 薩婆波跛那世也 勃睇勃圖 唱答謎隖謎矩謎 佛鐸器怛羅 鉢里輸但儞曇謎昵曇謎 謎嚕謎嚕 謎嚧尸朅囇薩婆哥羅 蜜栗覩(丁庾) 尼婆[口*賴]儞 勃提蘇勃睇 佛陀陀頞提瑟侘泥娜曷[口*洛]叉覩謎 薩婆提婆 三謎頞三謎三曼捼(奴和)漢[口*闌]覩謎薩婆佛陀菩提薩埵 苫謎苫謎 鉢喇苦謎曼 覩謎 薩婆伊底隖波達婆薩婆毘何大也 薩婆薩埵難者晡[口*闌]泥晡[口*闌]泥(去)晡[口*闌]也謎 薩婆阿舍 薜琉璃也 鉢唎底婆細 薩婆波跛 著楊羯囇莎訶

"Đát điệt tha, cụ mê cụ mê, y nê mê nị hễ, mạt để mạt để, tát đa đát tha yết đa tam ma địa át đề sắt sỉ đế, át đế mạt đế ba lệ, ba bả du đan nễ, tát bà ba bả na thế dã, bột đề bột đồ, xướng đáp mê ổ mê cụ mê, phật đà khí đát la, bát lý du đan nễ đàm mê nịch đàm mê, mê rô mê rô, mê lô thi khiết lệ tát bà ca la, mật lật đổ, nê bà lạt nễ, bột đề tô bột đề, phật đà đà át đề sắt sá nê na hắt lạc xoa tử mê, tát bà đề bà, tam mê át tam mê tam mạn nỏa hán lan đổ mê tát bà phật đà bồ tát đỏa, thiêm mê thiêm mê, bát lạt khổ mê mạn, đổ mê, tát bà y đế ổ ba đáp bà tát bà tì hà đại dã, tát bà tát đỏa nạm giả bố lan nê bố lan nê bố lan dã mê, tát bà a xá, bệ lưu ly dã, bát rị để bà tế, tát bà ba bả, trước dương yết lệ ta ha."

Bấy giờ, khi bảy đức Phật nói thần chú này, hào quang chiếu khắp, đại địa chấn động, các thứ thần biến nhất thời đều hiện ra. Lúc ấy, đại chúng thấy sự việc này, mỗi người tùy theo sức mình, dùng hoa hương trời, hương thoa, hương bột dâng lên đức Phật, thảy đều khen rằng "Hay thay!" và đi quanh bên phải bảy vòng.

Các đức Thế Tôn đồng thanh nói rằng: "Tất cả nhân thiên đại chúng các ông nên biết như thế này: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, hoặc quốc vương, vương tử, phi hậu, đại thần, quan lại dân chúng, nếu đối với thần chú này mà thụ trì, đọc tụng, nghe nhận, diễn nói, dùng hoa hương mầu nhiệm cúng dường kinh quyển, mặc y phục mới sạch, ở nơi thanh tịnh trì giữ tám giới trai, đối với các loài hữu tình thường sinh lòng từ mẫn, cúng dường như thế sẽ được phúc đức vô lượng. Nếu lại có người có điều cầu nguyện, nên tạo hình tượng bảy đức Phật này, ở nơi thanh vắng dùng các hoa hương, treo phướn lọng, dâng thức ăn uống thượng diệu và âm nhạc mà cúng dường, lại cúng dường các vị Bồ-tát và chư Thiên; ở trước tượng Phật ngồi ngay ngắn tụng chú, trong bảy ngày trì giữ tám giới trai, tụng mãn một ngàn lẻ tám biến, thì các đức Như Lai và các vị Bồ-tát thảy đều hộ niệm; Bồ-tát Chấp Kim Cang cùng các vị Phạm Thiên, Đế Thích, Bốn Thiên Vương cũng đến bảo vệ người này. Tất cả tội năm gian và mọi nghiệp chướng thảy đều tiêu diệt, không bệnh sống lâu, không bị chết dữ và các bệnh dịch; giặc cướp phương khác muốn đến xâm lấn, các việc tranh đấu chiến trận, kiện tụng oán thù, đói kém hạn hán lụt lội, những nỗi sợ hãi như thế thảy đều trừ sạch; mọi người cùng khởi lòng từ như cha mẹ, có điều mong cầu gì không gì không như ý."

Bấy giờ, Bồ-tát Chấp Kim Cang, Phạm Thiên, Đế Thích và Bốn Thiên Vương từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính, lễ dưới chân đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà bạch rằng: "Bạch Thế Tôn! Đại chúng chúng con thảy đều đã được nghe công đức bản nguyện thù thắng của chư Phật, và thấy chư Phật từ bi đến mức này, cho chúng sinh chúng con được thân cận cúng dường. Bạch Thế Tôn! Nếu ở nơi nào có kinh điển này cùng danh hiệu bảy đức Phật và pháp môn Đà-la-ni này lưu thông cúng dường, cho đến biên chép, chúng con thảy đều thừa uy lực của Phật mà đến nơi đó ủng hộ. Khiến cho quốc vương đại thần, thành ấp tụ lạc, nam tử nữ nhân, không bị các khổ não và bệnh tật quấy nhiễu, thường được an ổn, giàu túc dư ăn. Đó chính là cách chúng con báo đáp ơn Phật. Bạch Thế Tôn! Chúng con ở trước Phật tự lập lời thề: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân có lòng tin trong sạch nhớ niệm đến chúng con, thì nên tụng chú này." Liền nói chú rằng:

但姪他 惡寠莫寠 呾羅寠 麼麼寠具曬 訶呼(去) 醯(去) 末囉末囉末囉 緊樹曬布曬 莎訶

"Đát điệt tha, ác cụ mạc cụ, đát la cụ, ma ma cụ cụ sái, ha hô, hê, mạt ra mạt ra mạt ra, khẩn thụ sái bố sái, ta ha."

"Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, quốc vương, vương tử, đại thần, phụ tướng, cung phi, thái nữ, tụng danh hiệu bảy đức Phật và thần chú này, đọc tụng biên chép, cung kính cúng dường, thì đời hiện tại thảy đều không bệnh sống lâu, lìa mọi khổ não, không đọa ba đường ác, đắc bất thối chuyển cho đến khi thành tựu Bồ-đề. Tùy ý thọ sinh vào các cõi Phật kia, thường được thấy Phật, đắc trí túc mệnh, niệm định tổng trì không gì không đầy đủ. Nếu mắc bệnh sốt rét do quỷ làm hại, nên viết chú này đeo sau khuỷu tay, khi bệnh khỏi rồi thì đặt ở nơi thanh tịnh."

Bấy giờ, Bồ-tát Chấp Kim Cang đến trước bảy đức Phật, đi quanh bên phải ba vòng, mỗi Ngài đều dâng lễ kính rồi bạch rằng: "Bạch Thế Tôn! Duy nguyện từ bi hộ niệm cho con, con nay vì muốn làm lợi ích cho người nam người nữ đời vị lai trì kinh này, con xin nói thêm thần chú Đà-la-ni."

Khi ấy, bảy đức Phật khen vị Chấp Kim Cang rằng: "Hay thay! Hay thay! Chấp Kim Cang! Chúng Ta gia hộ cho ông, ông có thể nói thần chú để bảo vệ người trì kinh đời vị lai, khiến họ không gặp khổ não, mọi mong cầu đều viên mãn."

Bấy giờ, Bồ-tát Chấp Kim Cang liền nói chú rằng:

南麼馺多喃 三藐三佛陀喃 南麼薩婆跋折囉達囉喃呾姪他 唵跋折曬 跋折曬 莫訶跋折曬 跋折囉波捨 陀[口*賴]儞三麼三麼 三曼[多*頁] 阿鉢[口*賴]底喝多 跋折曬 苫麼苫麼 鉢囉苫曼覩謎 薩婆毘阿大也 矩嚕矩嚕 薩婆羯麼 阿伐[口*賴]拏儞叉也 三麼也末奴三末囉薄伽畔跋折囉波儞薩婆舍謎鉢哩 脯[口*賴]也 莎訶

"Nam ma tát đa nẫm, tam miệu tam phật đà nẫm. Nam ma tát bà bạt chiết ra đạt ra nẫm. Đát điệt tha, án, bạt chiết sái, bạt chiết sái, mạc ha bạt chiết sái, bạt chiết ra ba xá, đà lạt nễ tam ma tam ma, tam mạn đa, a bát lạt đế hắt đa, bạt chiết sái, thiêm ma thiêm ma, bát lạt thiêm mạn đổ mê, tát bà tì a đại dã, cụ rô cụ rô, tát bà yết ma, a phạt lạt nã nễ xoa dã, tam ma dã mạt nô tam mạt ra bạc già phạn bạt chiết ra ba nễ tát bà xá mê bát rị, phủ lạt dã, ta ha."

"Bạch Thế Tôn! Nếu lại có người trì danh hiệu bảy đức Phật, ức niệm công đức bản nguyện của các Ngài, lại trì chú này, đọc tụng diễn nói, con sẽ khiến người đó mong cầu mãn nguyện, không gì thiếu thốn. Nếu muốn thấy con để hỏi về việc thiện ác, nên biên chép kinh này, tạo tượng bảy đức Phật và tượng Bồ-tát Chấp Kim Cang, nơi thân tượng thảy đều an trí xá-lợi Phật, ở trước các tượng này theo như cách nói ở trên mà tu tập các thứ cúng dường, lễ bái nhiễu quanh. Đối với chúng sinh khởi lòng từ bi, trì giữ tám giới trai, mỗi ngày ba thời tắm gội sạch sẽ, ba thời thay y phục khác nhau, từ ngày mùng tám đến ngày rằm tháng giêng (hoặc tháng có trăng sáng), mỗi ngày tụng chú một trăm lẻ tám biến, tâm không tán loạn. Con sẽ ở trong giấc mộng mà hiện thân, cùng người đó trò chuyện, tùy theo điều họ cầu xin thảy đều khiến cho mãn nguyện."

Lúc đó, trong đại hội có các vị Bồ-tát thảy đều khen rằng: "Hay thay! Hay thay! Chấp Kim Cang! Đà-la-ni thật không thể nghĩ bàn, thật là khéo nói."

Khi ấy, bảy đức Như Lai nói thế này: "Chúng Ta hộ trì thần chú mà ông đã nói, vì muốn làm lợi ích cho tất cả chúng sinh thảy đều được an lạc, mọi mong cầu viên mãn, không để thần chú này ẩn mất ở thế gian."

Bấy giờ, bảy đức Phật bảo các vị Bồ-tát, Phạm Vương, Đế Thích, Bốn Thiên Vương rằng: "Ta nay đem thần chú này phó chúc cho các ông, cùng với quyển kinh này, vào đời vị lai, sau năm trăm năm khi Pháp sắp diệt, các ông thảy đều nên hộ trì kinh này. Uy lực và lợi ích của kinh này rất nhiều, có thể trừ các tội lỗi, khiến mọi nguyện lành đều toại ý. Đừng trao kinh này cho những chúng sinh phúc mỏng, phỉ báng chính pháp, hủy hoại hiền thánh, kẻo khiến Pháp mau diệt."

Lúc ấy, bảy đức Thế Tôn ở phương Đông thấy đại chúng việc làm đã xong, cơ duyên đầy đủ, không còn lòng nghi hoặc, mỗi Ngài liền trở về bản độ, trên tòa ngồi bỗng nhiên không hiện nữa.

Bấy giờ, cụ thọ Ananda liền từ chỗ ngồi đứng dậy, lễ dưới chân Phật, quỳ gối phải sát đất, chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Nên gọi kinh này là tên gì? Chúng con thụ trì như thế nào?"

Phật bảo Ananda: "Kinh này tên là Thất Phật Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Bản Nguyện Công Đức Thù Thắng Trang Nghiêm, cũng tên là Man Thù Thất Lợi Sở Vấn, cũng tên là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức, cũng tên là Chấp Kim Cang Bồ Tát Phát Nguyện Yếu Kỳ, cũng tên là Tịnh Trừ Nhất Thiết Nghiệp Chướng, cũng tên là Sở Hữu Nguyện Cầu Giai Đắc Viên Mãn, cũng tên là Thập Nhị Đại Tướng Phát Nguyện Hộ Trì. Các tên như thế, ông nên thụ trì."

Khi đức Bạc Già Phạm nói kinh này xong, các vị đại Bồ-tát và chúng Thanh văn, cùng thiên, long, dược-xoa, càn-thác-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và không phải người, tất cả đại chúng nghe lời Phật dạy thảy đều đại hoan hỷ, tin nhận và phụng hành.

 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.