Biên dịch:Hán thư/Quyển 028
Tựa (序)
[sửa]Xưa thời Hoàng Đế (黃帝), chế ra thuyền xe để giúp việc không thông suốt, đi khắp thiên hạ, quản chế 10.000 dặm, vẽ cõi chia châu, được 10.000 khu nước 100 dặm. Thế nên Kinh Dịch (易) chép: "Bậc tiên vương lấy đó để dựng muôn nước, thân với chư hầu", Kinh Thư (書) nói: "Hợp hòa muôn nước", chính là ý này. Vua Nghiêu (堯) gặp nạn nước lụt, nước ngập núi cao, thiên hạ chia cắt, chia làm 12 châu, sai Vũ (禹) trị thủy. Nước đất đã bình định, đổi chế độ thành 9 châu, liệt ra 5 phục, tùy đất mà định cống phẩm. Rằng:
Vũ (禹) chia đất, theo núi mà đốn cây, định rõ núi cao sông lớn.
Ký Châu (冀州), đã chở từ Hồ Khẩu (壺口), trị núi Lương (梁) và núi Kỳ (岐). Đã sửa Thái Nguyên (太原), đến phía nam Nhạc Sơn (嶽陽). Vùng Đạm Hoài (覃懷) đạt thành tích, đến Hoành Chương (衡章). Đất đó là đất xốp trắng. Thuế hạng 1 xen hạng 2, ruộng hạng 5. Sông Hằng (恆), sông Vệ (衛) đã thuận dòng, đầm Đại Lục (大陸) đã khai phá. Người Điểu Di (鳥夷) mặc áo da. Kẹp bên phải đá Kiệt Thạch (碣石), vào sông Hoàng Hà (河).
Giữa sông Tế (泲) và sông Hoàng Hà (河) là Yên Châu (兗州). 9 dòng sông đã thông, đầm Lôi Hạ (雷夏) đã đọng nước, sông Ung (雍), sông Thư (沮) hội tụ, đất dâu đã nuôi tằm, nên xuống gò cao mà ở đất bằng. Đất đen màu mỡ, cỏ cây tươi tốt. Ruộng hạng 6, thuế hạng 9, làm 13 năm mới đồng nhất. Cống sơn, tơ, giỏ tre đựng lụa vân. Thuyền đi trên sông Tế (泲), sông Tháp (漯), thông vào sông Hoàng Hà (河).
Biển và núi Thái Sơn (岱) là Thanh Châu (青州). Vùng Ngung Di (嵎夷) đã bình định, sông Duy (惟), sông Tư (甾) đã thông dòng. Đất trắng màu mỡ, ven biển rộng đất mặn. Ruộng hạng 3, thuế hạng 4. Cống muối, vải sắn, vật biển các loại, tơ ở khe núi Thái Sơn (岱畎), gai, chì, thông, đá lạ, người Lai Di (萊夷) chăn thả, giỏ tre đựng tơ thô. Thuyền đi trên sông Vấn (汶), đến sông Tế (泲).
Biển, núi Thái Sơn (岱) và sông Hoài (淮) là Từ Châu (徐州). Sông Hoài (淮), sông Nghi (沂) đã trị xong, núi Mông (蒙), núi Vũ (羽) đã canh tác. Đầm Đại Dã (大野) đã đọng nước, đồng Đông Nguyên (東原) bằng phẳng. Đất sét đỏ màu mỡ, cỏ cây rậm rạp. Ruộng hạng 2, thuế hạng 5. Cống đất 5 sắc, lông chim trĩ Hạ Địch ở khe núi Vũ (羽畎), gỗ ngô đồng núi Diệp Dương (嶧陽), đá khánh ven sông Tứ (泗), ngọc trai và cá của người Hoài Di (淮夷), giỏ tre đựng lụa đen và lụa trắng mịn. Thuyền đi trên sông Hoài (淮), sông Tứ (泗), đến sông Hoàng Hà (河).
Sông Hoài (淮) và biển là Dương Châu (揚州). Đầm Bành Lặc (彭蠡) đã đọng nước, chim phương nam đến ở. 3 dòng sông đã vào biển, đầm Chấn Lặc (震澤) đã định. Tre nhỏ tre lớn đã mọc, cỏ tươi cây cao. Đất bùn lầy. Ruộng hạng 9, thuế hạng 7 xen hạng 8. Cống vàng 3 loại, ngọc dao, ngọc côn, tre nhỏ tre lớn, ngà voi, da thú, lông chim, người Điểu Di (鳥夷) mặc áo cỏ, giỏ tre đựng vải vỏ sò, vật đóng gói là quýt, bưởi, khi có lệnh thì dâng. Thuận theo sông biển, thông vào sông Hoài (淮), sông Tứ (泗).
Núi Kinh (荊) và phía nam núi Hành (衡) là Kinh Châu (荊州). Sông Trường Giang (江), sông Hán (漢) chảy về biển. 9 dòng sông rất sâu, sông Đà (沱), sông Tiềm (灊) đã thông, đầm Vân Mộng (雲夢) đất đã canh tác. Đất bùn lầy. Ruộng hạng 8, thuế hạng 3. Cống lông chim, đuôi bò, ngà voi, da thú, vàng 3 loại, gỗ xuân, gỗ cán, gỗ quát, gỗ bách, đá mài mịn, đá mài thô, đá làm mũi tên, thuốc đan, tre quân, tre khổ, 3 nước dâng cống vật danh tiếng, vật đóng gói là cỏ tranh bao rễ, giỏ tre đựng vải đỏ đen và ngọc cơ, 9 dòng sông nộp rùa lớn. Thuyền đi trên sông Trường Giang (江), sông Đà (沱), sông Tiềm (灊), sông Hán (漢), vượt qua sông Lạc (洛), đến phía nam sông Hoàng Hà (河).
Núi Kinh (荊) và sông Hoàng Hà (河) là Dự Châu (豫州). Sông Y (伊), Lạc (雒), Triền (瀍), Giản (澗) đã vào sông Hoàng Hà (河), đầm Huỳnh (滎), Ba (波) đã đọng nước, thông đầm Hà (荷), lấn đầm Minh Chư (盟豬). Đất xốp, đất thấp đen màu mỡ. Ruộng hạng 4, thuế hạng 2 xen hạng 1. Cống sơn, gai, vải sắn, vải đay, giỏ tre đựng tơ mịn, lụa tơ tằm, nộp đá khánh đá mài. Thuyền đi trên sông Lạc (洛), vào sông Hoàng Hà (河).
Phía nam núi Hoa (華) và Hắc Thủy (黑水) là Lương Châu (梁州). Núi Mân (岷), núi Phan (嶓) đã canh tác, sông Đà (沱), sông Tiềm (灊) đã thông dòng, núi Thái (蔡), núi Mông (蒙) đã bằng phẳng, người Hòa Di (和夷) đạt thành tích. Đất đen xanh. Ruộng hạng 7, thuế hạng 8 hạng 9 xen hạng 7. Cống ngọc cầu, sắt, bạc, thép, đá làm mũi tên, đá khánh, da gấu, beo, cáo, cầy làm áo. Từ núi Tây Khuynh (西頃) theo sông Hoàn (桓) mà đến, thuyền đi trên sông Tiềm (灊), vượt qua sông Miện (沔), vào sông Vị (渭), xuôi dòng vào sông Hoàng Hà (河).
Hắc Thủy (黑水) và Tây Hà (西河) là Ung Châu (雍州). Sông Nhược Thủy (弱水) đã chảy về tây, sông Kinh (涇) thuộc dòng sông Vị (渭). Sông Tất (漆), sông Thư (沮) đã thuận dòng, sông Phong (酆) đã hội tụ. Núi Kinh (荊), núi Kỳ (岐) đã bằng phẳng, núi Chung Nam (終南), núi Đôn Vật (惇物), đến núi Điểu Thử (鳥鼠). Đất cao đất thấp đạt thành tích, đến đầm Chư Dã (豬野). Vùng Tam Nguy (三危) đã định cư, người Tam Miêu (三苗) đã trật tự. Đất xốp vàng. Ruộng hạng 1, thuế hạng 6. Cống ngọc cầu, ngọc lâm, ngọc lang can. Thuyền đi từ Tích Thạch (積石), đến Long Môn (龍門) ở Tây Hà (西河), hội tụ ở dòng sông Vị (渭). Đồ da dệt của người Côn Lôn (昆崙), Tích Chi (析支), Cừ Sưu (渠叟), người Tây Nhung (西戎) đã quy thuận.
Thông núi Khiên (岍) và núi Kỳ (岐), đến núi Kinh (荊), vượt qua sông Hoàng Hà (河); Hồ Khẩu (壺口), Lôi Thủ (雷首), đến Đại Nhạc (大嶽); Để Trụ (厎柱), Tích Thành (析城), đến Vương Ốc (王屋); Thái Hành (太行), Hằng Sơn (恆山), đến Kiệt Thạch (碣石), vào biển.
Tây Khuynh (西傾), Chu Ngữ (朱圉), Điểu Thử (鳥鼠), đến Thái Hoa (太華); Hùng Nhĩ (熊耳), Ngoại Phương (外方), Đồng Bách (桐柏), đến Bội Vĩ (倍尾).
Thông núi Phan Chủng (嶓冢), đến núi Kinh (荊); Nội Phương (內方), đến Đại Biệt (大別); phía nam núi Mẫn (崏山), đến núi Hành (衡), qua 9 dòng sông (九江), đến Phu Thiển Nguyên (敷淺原).
Thông sông Nhược Thủy (弱水), đến Hợp Lê (合藜), sóng dư vào Lưu Sa (流沙).
Thông sông Hắc Thủy (黑水), đến Tam Nguy (三危), vào biển Nam Hải (南海).
Thông sông Hoàng Hà (河) từ Tích Thạch (積石), đến Long Môn (龍門), nam đến Hoa Âm (華陰), đông đến Để Trụ (厎柱), lại đông đến Minh Tân (盟津), đông qua Lạc Nhuế (洛汭), đến Đại Phi (大伾), bắc qua Giáng Thủy (降水), đến Đại Lục (大陸), lại bắc chia làm 9 dòng sông (九河), cùng làm Nghịch Hà (逆河), vào biển.
Núi Phan Chủng (嶓冢) thông sông Dạng (漾), chảy về đông làm sông Hán (漢), lại đông làm sông Thương Lãng (滄浪), qua Tam Thệ (三澨), đến Đại Biệt (大別), nam vào sông Trường Giang (江), đông tụ đầm làm Bành Lặc (彭蠡), đông làm Bắc Giang (北江), vào biển.
Núi Mẫn (崏山) thông sông Trường Giang (江), đông chia làm sông Đà (沱), lại đông đến sông Lễ (醴), qua 9 dòng sông (九江), đến Đông Lăng (東陵), chếch về đông bắc hội tụ ở đầm, đông làm Trung Giang (中江), vào biển.
Thông sông Diễn Thủy (沇水), chảy về đông làm sông Tế (泲), vào sông Hoàng Hà (河), tràn làm đầm Huỳnh (滎), đông ra phía bắc Đào Khâu (陶丘), lại đông đến đầm Hà (荷), lại đông bắc hội ở sông Vấn (汶), lại bắc đông vào biển.
Thông sông Hoài (淮) từ Đồng Bách (桐柏), đông hội ở sông Tứ (泗), sông Nghi (沂), đông vào biển.
Thông sông Vị (渭) từ Điểu Thử Đồng Huyệt (鳥鼠同穴), đông hội ở sông Phong (酆), lại đông đến sông Kinh (涇), lại đông qua sông Tất (漆), sông Thư (沮), vào sông Hoàng Hà (河).
Thông sông Lạc (洛) từ Hùng Nhĩ (熊耳), đông bắc hội ở sông Giản (澗), sông Triền (灍), lại đông hội ở sông Y (伊), lại đông bắc vào sông Hoàng Hà (河).
9 châu đã đồng nhất, 4 cõi đã định cư, 9 ngọn núi đã khai khẩn, 9 dòng sông đã khơi nguồn, 9 đầm đã đắp đê, 4 biển hội tụ. 6 kho tàng (lúa, củi, nước, lửa, kim loại, đất) rất chỉnh đề, các loại đất đều chính xác, cẩn trọng thuế tài vật, đều theo 3 hạng đất mà định thuế. Trung Quốc ban đất và họ, kính theo đức lớn, không chống lại hành trình của trẫm.
500 dặm Điện phục (甸服): 100 dặm nộp lúa cả bó, 200 dặm nộp bông lúa, 300 dặm nộp lúa còn rơm, 400 dặm nộp thóc, 500 dặm nộp gạo.
500 dặm Hầu phục (侯服): 100 dặm là đất phục dịch của quan, 200 dặm là nước nhỏ hạng nam, 300 dặm là nước của chư hầu.
500 dặm Tuy phục (綏服): 300 dặm suy tính văn giáo, 200 dặm chấn hưng võ vệ.
500 dặm Yếu phục (要服): 300 dặm là đất người Di (夷), 200 dặm là đất thái phạt.
500 dặm Hoang phục (荒服): 300 dặm là đất người Man (蠻), 200 dặm là đất lưu đày.
Đông thấm đến biển, tây phủ đến Lưu Sa (流沙), phía bắc và nam đều đạt tới, tiếng tăm giáo hóa cùng khắp 4 biển. Vũ (禹) được ban ngọc huyền khuê, báo cáo việc thành công.
Sau nhận chuyển nhượng ngôi từ Ngu (虞), làm Hạ Hậu thị (夏后氏). Nhà Ân (殷) theo nhà Hạ, không có gì thay đổi. Nhà Chu (周) sau khi thắng Ân, xem xét hai đời trước mà giảm bớt hay thêm vào, định quan phân chức, đổi hai châu Từ (徐), Lương (梁) của Vũ (禹) hợp vào Ung (雍), Thanh (青), chia đất Ký Châu (冀州) để làm U (幽), Tịnh (并). Thế nên quan chế nhà Chu có chức Phương thị, nắm đất đai thiên hạ, phân biệt các nước trong 9 châu:
Đông nam gọi là Dương Châu (揚州): núi là Hội Khê (會稽), đầm là Cụ Khu (具區), sông là Tam Giang (三江), nước đọng là Ngũ Hồ (五湖); lợi ích là vàng, thiếc, trúc, tên; dân 2 nam 5 nữ; vật nuôi hợp chim thú, ngũ cốc hợp lúa gạo.
Chính nam gọi là Kinh Châu (荊州): núi là Hành (衡), đầm là Vân Mộng (雲夢), sông là Giang (江), Hán (漢), nước đọng là Dĩnh (潁), Trạm (湛); lợi ích là thuốc đan, bạc, ngà voi, da thú; dân 1 nam 2 nữ; vật nuôi và ngũ cốc hợp như Dương Châu.
Phía nam sông Hoàng Hà gọi là Dự Châu (豫州): núi là Hoa (華), đầm là Phụ Điền (圃田), sông là Huỳnh (滎), Lạc (雒), nước đọng là Ba (波), Tả (溠); lợi ích là gỗ, sơn, tơ, gai; dân 2 nam 3 nữ; vật nuôi hợp 6 loài thuần dưỡng, ngũ cốc hợp 5 loại hạt.
Chính đông gọi là Thanh Châu (青州): núi là Nghi (沂), đầm là Mạnh Chư (孟諸), sông là Hoài (淮), Tứ (泗), nước đọng là Nghi (沂), Thuật (沭); lợi ích là cỏ bồ, cá; dân 2 nam 3 nữ; vật nuôi hợp gà, chó, ngũ cốc hợp lúa gạo, lúa mạch.
Phía đông sông Hoàng Hà gọi là Yên Châu (兗州): núi là Đại (岱), đầm là Thái Dã (泰野), sông là Hà (河), Tế (泲), nước đọng là Lư (盧), Duy (濰); lợi ích là cỏ bồ, cá; dân 2 nam 3 nữ; vật nuôi hợp 6 loài thuần dưỡng, ngũ cốc hợp 4 loại hạt.
Chính tây gọi là Ung Châu (雍州): núi là Nhạc (嶽), đầm là Huyền Bồ (弦蒲), sông là Kinh (涇), Nhuế (汭), nước đọng là Vị (渭), Lạc (洛); lợi ích là ngọc, đá; dân 3 nam 2 nữ; vật nuôi hợp bò, ngựa, ngũ cốc hợp lúa nếp, lúa tắc.
Đông bắc gọi là U Châu (幽州): núi là Y Vô Lư (醫無閭), đầm là Hy Dưỡng (豯養), sông là Hà (河), Tế (泲), nước đọng là Tư (菑), Thời (時); lợi ích là cá, muối; dân 1 nam 3 nữ; vật nuôi hợp 4 loài thuần dưỡng, ngũ cốc hợp 3 loại hạt.
Trong sông Hoàng Hà gọi là Ký Châu (冀州): núi là Hoắc (霍), đầm là Dương Hư (揚紆), sông là Chương (漳), nước đọng là Phần (汾), Lộ (潞); lợi ích là thông, bách; dân 5 nam 3 nữ; vật nuôi hợp bò, cừu, ngũ cốc hợp lúa nếp, lúa tắc.
Chính bắc gọi là Tịnh Châu (并州): núi là Hằng Sơn (恆山), đầm là Chiêu Dư Kỳ (昭餘祁), sông là Hô Trì (虖池), Âu Di (嘔夷), nước đọng là Lai (淶), Dịch (易); lợi ích là vải vóc; dân 2 nam 3 nữ; vật nuôi hợp 5 loài thuần dưỡng, ngũ cốc hợp 5 loại hạt.
Mà chức Bảo Chương thị nắm thiên văn, dùng tinh tú phân biệt đất đai 9 châu, các vùng phong tước đều có sao tương ứng để xem xét cát hung.
Tước nhà Chu có 5 bậc, mà đất có 3 hạng: Công (公), Hầu (侯) 100 dặm, Bá (伯) 70 dặm, Tử (子), Nam (男) 50 dặm; không đủ mức đó gọi là phụ dung, có khoảng 1800 nước. Mà hậu duệ Thái Hạo (太昊), Hoàng Đế (黃帝), các bậc Hầu Bá thời Đường (唐), Ngu (虞) vẫn còn, đồ tịch của Đế Vương kế thừa nhau mà có thể biết được. Nhà Chu đã suy, lễ nhạc chinh phạt từ chư hầu mà ra, xoay vần nuốt chửng lẫn nhau, trong vài trăm năm, các nước liệt quốc hao mòn hết. Đến thời Xuân Thu, còn vài chục nước, Ngũ Bá (五伯) thay nhau trỗi dậy, đứng đầu minh hội. Suy đồi đến thời Chiến Quốc, thiên hạ chia làm 7, hợp tung liên hoành, trải mấy chục năm. Tần (秦) bèn thâu tóm bốn biển. Cho rằng chế độ nhà Chu yếu kém, cuối cùng bị chư hầu làm mất, nên không lập phong tước một thước đất, chia thiên hạ làm quận huyện, quét sạch hậu duệ các thánh hiền trước, không còn ai sót lại.
Nhà Hán (漢) hưng thịnh, theo chế độ nhà Tần, sùng bái ân đức, thực hành giản dị để vỗ về trong biển. Đến thời Vũ Đế (武帝) đánh đuổi Hồ (胡), Việt (越), mở mang đất đai, phía nam đặt Giao Chỉ (交阯), phía bắc đặt châu Sóc Phương (朔方), kiêm cả chế độ các châu Từ (徐), Lương (梁), U (幽), Tịnh (并) thời Hạ, Chu, đổi Ung (雍) gọi là Lương (涼), đổi Lương (梁) gọi là Ích (益), phàm 13 quận [thực tế là bộ], đặt Thứ sử. Dấu tích tiên vương đã xa, địa danh lại nhiều lần thay đổi, thế nên thu thập tin tức cũ, khảo xét dấu vết trong Thi, Thư, suy xét núi sông, để nối tiếp Vũ Cống (禹貢), Chu Quan (周官), Xuân Thu (春秋), xuống đến Chiến Quốc, Tần, Hán vậy.
Tên các quận (phần thượng)
[sửa]Kinh Triệu Doãn (京兆尹), năm Nguyên Thủy (元始) thứ 2 (năm 2), 195.702 hộ, 682.468 khẩu. 12 huyện: Trường An (長安), Tân Phong (新豐), Thuyền Ty Không (船司空), Lam Điền (藍田), Hoa Âm (華陰), Trịnh (鄭), Hồ (湖), Hạ Khuê (下邽), Nam Lăng (南陵), Phụng Minh (奉明), Bá Lăng (霸陵), Đỗ Lăng (杜陵).
Tả Phùng Dực (左馮翊), 235.101 hộ, 917.822 khẩu. 24 huyện: Cao Lăng (高陵), Lịch Dương (櫟陽), Địch Đạo (翟道), Trì Dương (池陽), Hạ Dương (夏陽), Nha (衙), Túc Ấp (粟邑), Cốc Khẩu (谷口), Liên Thược (蓮勺), Tần Dương (頻陽), Lâm Tấn (臨晉), Trọng Tuyền (重泉), Cáp Dương (郃陽), Đới Hủ (祋祤), Vũ Thành (武城), Thẩm Dương (沈陽), Hoài Đức (褱德), Trưng (徵), Vân Lăng (雲陵), Vạn Niên (萬年), Trường Lăng (長陵), Dương Lăng (陽陵), Vân Dương (雲陽).
Hữu Phù Phong (右扶風), 216.377 hộ, 836.070 khẩu. 21 huyện: Vị Thành (渭城), Hồi Lý (槐里), Hộ (鄠), Chu Chí (盩厔), Thai (斄), Úc Di (郁夷), Mỹ Dương (美陽), Mi (郿), Ung (雍), Tất (漆), Tuân Ấp (栒邑), Du Mi (隃麋), Trần Thương (陳倉), Đỗ Dương (杜陽), Khiên (汧), Hảo Trĩ (好畤), Quắc (虢), An Lăng (An Lăng), Mậu Lăng (茂陵), Bình Lăng (平陵), Vũ Công (武功).
Quận Hoằng Nông (弘農郡), 118.091 hộ, 475.954 khẩu. 11 huyện: Hoằng Nông (弘農), Lư Thị (盧氏), Thiểm (陝), Nghi Dương (宜陽), Mãnh Trì (黽池), Đan Thủy (丹水), Tân An (新安), Thương (商), Tích (析), Lục Hồn (陸渾), Thượng Lạc (上雒).
Quận Hà Đông (河東郡), 236.896 hộ, 962.912 khẩu. 24 huyện: An Ấp (安邑), Đại Dương (大陽), Y Thị (猗氏), Giải (解), Bồ Phản (蒲反), Hà Bắc (河北), Tả Ấp (左邑), Phần Âm (汾陰), Văn Hỷ (聞喜), Hoạch Trạch (濩澤), Đoan Thị (端氏), Lâm Phần (臨汾), Viên (垣), Bì Thị (皮氏), Trường Tu (長脩), Bình Dương (平陽), Tương Lăng (襄陵), Trệ (彘), Dương (楊), Bắc Khuất (北屈), Bồ Tử (蒲子), Giáng (絳), Hồ Chiết (狐讘), Kỳ (騏).
Quận Thái Nguyên (太原郡), 169.863 hộ, 680.488 khẩu. 21 huyện: Tấn Dương (晉陽), Tuấn Nhân (葰人), Giới Hưu (界休), Du Thứ (榆次), Trung Đô (中都), Vu Ly (于離), Tư Thị (茲氏), Lang Mạnh (狼孟), Ổ (鄔), Vu (盂), Bình Đào (平陶), Phần Dương (汾陽), Kinh Lăng (京陵), Dương Khúc (陽曲), Đại Lăng (大陵), Nguyên Bình (原平), Kỳ (祁), Thượng Ngải (上艾), Lự Ty (慮虒), Dương Ấp (陽邑), Quảng Vũ (廣武).
Quận Thượng Đảng (上黨郡), 73.798 hộ, 337.766 khẩu. 14 huyện: Trường Tử (長子), Đồn Lưu (屯留), Dư Ngô (余吾), Đồng Đê (銅鞮), Triêm (沾), Niết Thị (涅氏), Tương Viên (襄垣), Hồ Quan (壺關), Huyền Thị (泫氏), Cao Đô (高都), Lộ (潞), Y Thị (陭氏), Dương A (陽阿), Cốc Viễn (穀遠).
Quận Hà Nội (河內郡), 241.246 hộ, 1.067.097 khẩu. 18 huyện: Hoài (懷), Cấp (汲), Vũ Đức (武德), Ba (波), Sơn Dương (山陽), Hà Dương (河陽), Châu (州), Cộng (共), Bình Cao (平皋), Triều Ca (朝歌), Tu Vũ (脩武), Ôn (溫), Dã Vương (野王), Hoạch Gia (獲嘉), Chỉ (軹), Thẩm Thủy (沁水), Long Lự (隆慮), Đãng Âm (蕩陰).
Quận Hà Nam (河南郡), 276.444 hộ, 1.740.279 khẩu. 22 huyện: Lạc Dương (雒陽), Huỳnh Dương (滎陽), Yển Sư (偃師), Kinh (京), Bình Âm (平陰), Trung Mâu (中牟), Bình (平), Dương Vũ (陽武), Hà Nam (河南), Câu Thị (緱氏), Quyển (卷), Nguyên Vũ (原武), Củng (鞏), Cốc Thành (穀成), Cố Thị (故市), Mật (密), Tân Thành (新成), Khai Phong (開封), Thành Cao (成皋), Uyển Lăng (苑陵), Lương (梁), Tân Trịnh (新鄭).
Quận Đông (東郡), 401.297 hộ, 1.659.028 khẩu. 22 huyện: Bộc Dương (濮陽), Phán Quan (畔觀), Liêu Thành (聊城), Đốn Khâu (頓丘), Phát Can (發干), Phạm (范), Tra Bình (茬平), Đông Vũ Dương (東武陽), Bác Bình (博平), Lê (黎), Thanh (清), Đông A (東阿), Ly Hồ (離狐), Lâm Ấp (臨邑), Lợi Miêu (利苗), Tu Xương (須昌), Thọ Lương (壽良), Nhạc Xương (樂昌), Dương Bình (陽平), Bạch Mã (白馬), Nam Yến (南燕), Lẫm Khâu (廩丘).
Quận Trần Lưu (陳留郡), 296.284 hộ, 1.509.050 khẩu. 17 huyện: Trần Lưu (陳留), Tiểu Hoàng (小黃), Thành An (成安), Ninh Lăng (寧陵), Ung Khâu (雍丘), Toan Tảo (酸棗), Đông Hôn (東昏), Tương Ấp (襄邑), Ngoại Hoàng (外黃), Phong Khâu (封丘), Trường La (長羅), Út Thị (尉氏), Yên (傿), Trường Viên (長垣), Bình Khâu (平丘), Tế Dương (濟陽), Tuấn Nghi (浚儀).
Quận Dĩnh Xuyên (潁川郡), 432.491 hộ, 2.210.973 khẩu. 20 huyện: Dương Địch (陽翟), Côn Dương (昆陽), Dĩnh Dương (潁陽), Định Lăng (定陵), Trường Xã (長社), Tân Cấp (新汲), Tương Thành (襄城), Yển (郾), Giáp (郟), Vũ Dương (舞陽), Dĩnh Âm (潁陰), Sùng Cao (崇高), Hứa (許), Yên Lăng (傿陵), Lâm Dĩnh (臨潁), Phụ Thành (父城), Thành An (成安), Chu Thừa Hưu (周承休), Dương Thành (陽城), Luân Thị (綸氏).
Quận Nhữ Nam (汝南郡), 461.587 hộ, 2.596.148 khẩu. 37 huyện: Bình Dư (平輿), Dương An (陽安), Dương Thành (陽城), Lệ Cường (郦強), Phú Ba (富波), Nữ Dương (女陽), Chu Dương (鮦陽), Ngô Phòng (吳房), An Thành (安成), Nam Đốn (南頓), Lãng Lăng (朗陵), Tế Dương (細陽), Nghi Xuân (宜春), Nữ Âm (女陰), Tân Thái (新蔡), Tân Tức (新息), Trạc Dương (灈陽), Kỳ Tư (期思), Thận Dương (慎陽), Thận (慎), Triệu Lăng (召陵), Dực Dương (弋陽), Tây Bình (西平), Thượng Thái (上蔡), Tẩm (浸), Tây Hoa (西華), Trường Bình (長平), Nghi Lộc (宜祿), Hạng (項), Tân Thê (新郪), Quy Đức (歸德), Tân Dương (新陽), An Xương (安昌), An Dương (安陽), Bác Dương (博陽), Thành Dương (成陽), Định Lăng (定陵).
Quận Nam Dương (南陽郡), 359.116 hộ, 1.942.051 khẩu. 36 huyện: Uyển (宛), Sưu (犨), Đỗ Diễn (杜衍), Toản (酇), Dục Dương (育陽), Bác Sơn (博山), Niết Dương (涅陽), Âm (陰), Đổ Dương (堵陽), Trĩ (雉), Sơn Đô (山都), Thái Dương (蔡陽), Tân Giã (新野), Trúc Dương (筑陽), Kích Dương (棘陽), Vũ Đương (武當), Vũ Âm (舞陰), Tây Ngạc (西鄂), Nhượng (穰), Lệ (酈), An Chúng (安眾), Quan Quân (冠軍), Tỉ Dương (比陽), Bình Thị (平氏), Tùy (隨), Diệp (葉), Đặng (鄧), Triều Dương (朝陽), Lỗ Dương (魯陽), Xuân Lăng (舂陵), Tân Đô (新都), Hồ Dương (湖陽), Hồng Dương (紅陽), Nhạc Thành (樂成), Bác Vọng (博望), Phục Dương (復陽).
Quận Nam (南郡), 125.579 hộ, 718.540 khẩu. 18 huyện: Giang Lăng (江陵), Lâm Thư (臨沮), Di Lăng (夷陵), Hoa Dung (華容), Nghi Thành (宜城), Dĩnh (郢), Trí (踬), Đương Dương (當陽), Trung Lư (中盧), Chi Giang (枝江), Tương Dương (襄陽), Biên (編), Tỷ Quy (秭歸), Di Đạo (夷道), Châu Lăng (州陵), Nhược (若), Vu (巫), Cao Thành (高成).
Quận Giang Hạ (江夏郡), 56.844 hộ, 219.218 khẩu. 14 huyện: Tây Lăng (西陵), Cánh Lăng (竟陵), Tây Dương (西陽), Tương (襄), Chu (邾), Đới (軑), Ngạc (鄂), An Lục (安陸), Sa Tiện (沙羨), Kỳ Xuân (蘄春), Manh (鄳), Vân Đỗ (雲杜), Hạ Trĩ (下雉), Chung Vũ (鍾武).
Quận Lư Giang (廬江郡), 124.383 hộ, 457.333 khẩu. 12 huyện: Thư (舒), Cư Sào (居巢), Long Thư (龍舒), Lâm Hồ (臨湖), Vu Lâu (雩婁), Tương An (襄安), Tùng Dương (樅陽), Tầm Dương (尋陽), Tiềm (灊), Hoàn (睆), Hồ Lăng Ấp (湖陵邑), Tùng Tư (松茲).
Quận Cửu Giang (九江郡), 150.052 hộ, 780.525 khẩu. 15 huyện: Thọ Xuân Ấp (壽春邑), Tuấn Du (浚遒), Thành Đức (成德), Thác Cao (橐皋), Âm Lăng (陰陵), Lịch Dương (歷陽), Đương Đồ (當塗), Chung Ly (鍾離), Hợp Phì (合肥), Đông Thành (東城), Bác Hương (博鄉), Khúc Dương (曲陽), Kiến Dương (建陽), Toàn Tiêu (全椒), Phụ Lăng (阜陵).
Quận Sơn Dương (山陽郡), 172.847 hộ, 801.288 khẩu. 23 huyện: Xương Ấp (昌邑), Nam Bình Dương (南平陽), Thành Vũ (成武), Hồ Lăng (湖陵), Đông Nương (東嬢), Phương Dữ (方與), Thác (橐), Cự Dã (鉅野), Đơn Phụ (單父), Bạc (薄), Đô Quan (都關), Thành Đô (城都), Hoàng (黃), Viên Thích (爰戚), Cáo Thành (郜成), Trung Hương (中鄉), Bình Nhạc (平樂), Trịnh (鄭), Hà Khâu (瑕丘), Ty Hương (甾鄉), Lật Hương (栗鄉), Khúc Hương (曲鄉), Tây Dương (西陽).
Quận Tế Âm (濟陰郡), 292.005 hộ, 1.386.278 khẩu. 9 huyện: Định Đào (定陶), Oan Cú (冤句), Lã Đô (呂都), Gia Mật (葭密), Thành Dương (成陽), Quyên Thành (鄄城), Cú Dương (句陽), Thác (秺), Thừa Thị (乘氏).
Quận Phái (沛郡), 409.079 hộ, 2.030.480 khẩu. 37 huyện: Tương (相), Long Kháng (龍亢), Trúc (竹), Cốc Dương (穀陽), Tiêu (蕭), Hướng (向), Trật (銍), Quảng Thích (廣戚), Hạ Thái (下蔡), Phong (豐), Đan (鄲), Tiêu (譙), Kỳ (蘄), Chuyên (颛), Triếp Dữ (輒與), Sơn Tang (山桑), Công Khâu (公丘), Phù Ly (符離), Kính Khâu (敬丘), Hạ Khâu (夏丘), Hào (洨), Phái (沛), Mang (芒), Kiến Thành (建成), Thành Phụ (城父), Kiến Bình (建平), Toản (酇), Lật (栗), Phù Dương (扶陽), Cao (高), Cao Sài (高柴), Phiêu Dương (漂陽), Bình A (平阿), Đông Hương (東鄉), Lâm Đô (臨都), Nghĩa Thành (義成), Kỳ Hương (祈鄉).
Quận Ngụy (魏郡), 212.849 hộ, 909.655 khẩu. 18 huyện: Nghiệp (鄴), Quán Đào (館陶), Xích Khâu (斥丘), Sa (內), Nội Hoàng (內黃), Thanh Uyên (清淵), Ngụy (魏), Phồn Dương (繁陽), Nguyên Thành (元城), Lương Kỳ (梁期), Lê Dương (黎陽), Tức Bùi (即裴), Vũ Thủy (武始), Hàm Hội (邯會), Âm An (陰安), Bình Ân (平恩), Hàm Câu (邯溝), Vũ An (武安).
Quận Cự Lộc (鉅鹿郡), 155.951 hộ, 827.177 khẩu. 20 huyện: Cự Lộc (鉅鹿), Nam Độc (南讀), Quảng A (廣阿), Tượng Thị (象氏), Anh Đào (廮陶), Tống Tử (宋子), Dương Thị (楊氏), Lâm Bình (臨平), Hạ Khúc Dương (下曲陽), Thải (貰), Khu (郻), Tân Thị (新巿), Đường Dương (堂陽), An Định (安定), Kính Vũ (敬武), Lịch Hương (歷鄉), Nhạc Tín (樂信), Vũ Đào (武陶), Bách Hương (柏鄉), An Hương (安鄉).
Quận Thường Sơn (常山郡), 141.741 hộ, 677.956 khẩu. 18 huyện: Nguyên Thị (元氏), Thạch Ấp (石邑), Tang Trung (桑中), Linh Thọ (靈壽), Phù Ngô (蒲吾), Thượng Khúc Dương (上曲陽), Cửu Môn (九門), Tỉnh Hình (井陘), Phòng Tử (房子), Trung Khâu (中丘), Phong Tư (封斯), Quan (關), Bình Cực (平棘), Hạo (鄗), Nhạc Dương (樂陽), Bình Đài (平臺), Đô Hương (都鄉), Nam Hành Đường (南行唐).
Quận Thanh Hà (清河郡), 201.774 hộ, 875.422 khẩu. 14 huyện: Thanh Dương (清陽), Đông Vũ Thành (東武城), Dịch Mạc (繹幕), Linh (靈), Thố (厝), Thư (鄃), Bối Khâu (貝丘), Tín Thành (信成), Sấn Đề (衬題), Đông Dương (東陽), Tín Hương (信鄉), Liêu (繚), Tảo Cường (棗彊), Phục Dương (復陽).
Quận Trác (涿郡), 195.607 hộ, 782.764 khẩu. 29 huyện: Trác (涿), Nãi (迺), Cốc Khâu (穀丘), Cố An (故安), Nam Thâm Trạch (南深澤), Phạm Dương (范陽), Ly Ngô (蠡吾), Dung Thành (容城), Dịch (易), Quảng Vọng (廣望), Mạc (鄚), Cao Dương (高陽), Châu Hương (州鄉), An Bình (安平), Phàn Dư (樊輿), Thành (成), Lương Hương (良鄉), Lợi Hương (利鄉), Lâm Hương (臨鄉), Ích Xương (益昌), Dương Hương (陽鄉), Tây Hương (西鄉), Nhiêu Dương (饒陽), Trung Thủy (中水), Vũ Viên (武垣), A Lăng (阿陵), A Vũ (阿武), Cao Quách (高郭), Tân Xương (新昌).
Quận Bột Hải (勃海郡), 256.377 hộ, 905.119 khẩu. 26 huyện: Phù Dương (浮陽), Dương Tín (陽信), Đông Quang (東光), Phụ Thành (阜城), Thiên Đồng (千童), Trọng Hợp (重合), Nam Bì (南皮), Định (定), Chương Vũ (章武), Trung Ấp (中邑), Cao Thành (高成), Cao Lạc (高樂), Tham Hộ (參戶), Thành Bình (成平), Liễu (柳), Lâm Nhạc (臨樂), Đông Bình Thư (東平舒), Trọng Bình (重平), An Thứ (安次), Tu Thị (脩市), Văn An (文安), Cảnh Thành (景成), Thúc Châu (束州), Kiến Thành (建成), Chương Hương (章鄉), Bồ Lĩnh (蒲領).
Quận Bình Nguyên (平原郡), 154.387 hộ, 664.543 khẩu. 19 huyện: Bình Nguyên (平原), Cách (鬲), Cao Đường (高唐), Trọng Khâu (重丘), Bình Xương (平昌), Vũ (羽), Bàn (般), Nhạc Lăng (樂陵), Chúc A (祝阿), Viện (瑗), A Dương (阿陽), Tháp Âm (漯陰), Lặc (朸), Phú Bình (富平), An Đức (安德), Hợp Dương (合陽), Lâu Hư (樓虛), Long Đậu (龍哣), An (安).
Quận Thiên Thừa (千乘郡), 116.727 hộ, 490.720 khẩu. 15 huyện: Thiên Thừa (千乘), Đông Trâu (東鄒), Thấp Ốc (溼沃), Bình An (平安), Bác Xương (博昌), Liệu Thành (蓼城), Kiến Tín (建信), Địch (狄), Lang Hòe (琅槐), Nhạc An (樂安), Bị Dương (被陽), Cao Xương (高昌), Phồn An (繁安), Cao Uyển (高宛), Diên Hương (延鄉).
Quận Tế Nam (濟南郡), 140.761 hộ, 642.884 khẩu. 14 huyện: Đông Bình Lăng (東平陵), Trâu Bình (鄒平), Đài (臺), Lương Trâu (梁鄒), Thổ Cổ (土鼓), Ư Lăng (於陵), Dương Khâu (陽丘), Bàn Dương (般陽), Gian (菅), Triều Dương (朝陽), Lịch Thành (歷城), Hào (猇), Thi (蓍), Nghi Thành (宜成).
Quận Thái Sơn (泰山郡), 172.086 hộ, 726.604 khẩu. 24 huyện: Phụng Cao (奉高), Bác (博), Tra (茬), Lư (盧), Phì Thành (肥成), Xà Khâu (蛇丘), Cương (剛), Sài (柴), Cái (蓋), Lương Phụ (梁父), Đông Bình Dương (東平陽), Nam Vũ Dương (南武陽), Lai Vu (萊蕪), Cự Bình (鉅平), Doanh (嬴), Mưu (牟), Mông Âm (蒙陰), Hoa (華), Ninh Dương (寧陽), Thừa Khâu (乘丘), Phú Dương (富陽), Đào Sơn (桃山), Đào Hương (桃鄉), Thức (式).
Quận Tề (齊郡), 154.826 hộ, 554.444 khẩu. 12 huyện: Lâm Ty (臨淄), Xương Quốc (昌國), Lợi (利), Tây An (西安), Cự Định (鉅定), Quảng (廣), Quảng Nhiêu (廣饒), Chiêu Nam (昭南), Lâm Cù (臨朐), Bắc Hương (北鄉), Bình Quảng (平廣), Đài Hương (臺鄉).
Quận Bắc Hải (北海郡), 127.000 hộ, 593.159 khẩu. 26 huyện: Doanh Lăng (營陵), Kịch Khôi (劇魁), An Khâu (安丘), Chấp (瓡), Thuần Vu (淳于), Ích (益), Bình Thọ (平壽), Kịch (劇), Đô Xương (都昌), Bình Vọng (平望), Bình Đích (平的), Liễu Tuyền (柳泉), Thọ Quang (壽光), Nhạc Vọng (樂望), Nhiêu (饒), Châm (斟), Tang Độc (桑犢), Bình Thành (平城), Mật Hương (密鄉), Dương Thạch (羊石), Nhạc Đô (樂都), Thạch Hương (石鄉), Thượng Hương (上鄉), Tân Thành (新成), Thành Hương (成鄉), Kiều Dương (膠陽).
Quận Đông Lai (東萊郡), 103.292 hộ, 502.693 khẩu. 17 huyện: Dịch (掖), Thùy (腄), Bình Độ (平度), Hoàng (黃), Lâm Cù (臨朐), Khúc Thành (曲成), Mưu Bình (牟平), Đông Mưu (東牟), Cháng (脏), Dục Lê (育犁), Xương Dương (昌陽), Bất Dạ (不夜), Đương Lợi (當利), Lư Hương (Lư Hương), Dương Nhạc (陽樂), Dương Thạch (陽石), Từ Hương (徐鄉).
Quận Lang Da (琅邪郡), 228.960 hộ, 1.079.100 khẩu. 51 huyện: Đông Vũ (東武), Bất Kỳ (不其), Hải Khúc (海曲), Cống Du (贛榆), Chu Hư (朱虛), Chư (諸), Ngô Thành (梧成), Linh Môn (靈門), Cô Mạc (姑幕), Hư Thủy (虛水), Lâm Nguyên (臨原), Lang Da (琅邪), Phất (祓), Cự (柜), Bình (缾), Phu (邞), Vu Đoạn (雩段), Kiềm Tâu (黔陬), Vân (雲), Kế Cân (計斤), Đạo (稻), Cao Ngu (皋虞), Bình Xương (平昌), Trường Quảng (長廣), Hoành (橫), Đông Oản (東莞), Ngụy Kỳ (魏其), Xương (昌), Tư Hương (茲鄉), Cơ (箕), Bì (椑), Cao Quảng (高廣), Cao Hương (高鄉), Nhu (柔), Tức Lai (即來), Lệ (麗), Vũ Hương (武鄉), Y Hương (伊鄉), Tân Sơn (新山), Cao Dương (高陽), Côn Sơn (昆山), Tham Phong (參封), Chiết Tuyền (折泉), Bác Thạch (博石), Phòng Sơn (房山), Thận Hương (慎鄉), Tứ Vọng (駟望), An Khâu (安丘), Cao Lăng (高陵), Lâm An (臨安), Thạch Sơn (石山).
Quận Đông Hải (東海郡), 358.414 hộ, 1.559.357 khẩu. 38 huyện: Đàm (郯), Lan Lăng (蘭陵), Tương Phí (襄賁), Hạ Bì (下邳), Lương Thành (良成), Bình Khúc (平曲), Thích (戚), Cù (朐), Khai Dương (開陽), Phí (費), Lợi Thành (利成), Hải Khúc (海曲), Lan Kỳ (蘭祺), Tăng (繒), Nam Thành (南成), Sơn Hương (山鄉), Kiến Hương (建鄉), Tức Khâu (即丘), Chúc Kỳ (祝其), Lâm Nghi (臨沂), Hậu Khâu (厚丘), Dung Khâu (容丘), Đông An (東安), Hợp Hương (合鄉), Thừa (承), Kiến Dương (建陽), Khúc Dương (曲陽), Tư Ngô (司吾), Vu Hương (于鄉), Bình Khúc (平曲), Đô Dương (都陽), Âm Bình (陰平), Ngô Hương (郚鄉), Vũ Dương (武陽), Tân Dương (新陽), Kiến Lăng (建陵), Xương Lự (昌慮), Đô Bình (都平).
Quận Lâm Hoài (臨淮郡), 268.283 hộ, 1.237.764 khẩu. 29 huyện: Từ (徐), Thủ Lự (取慮), Hoài Phố (淮浦), Hu Di (盱眙), Cửu Do (厹猶), Đồng (僮), Xạ Dương (射陽), Khai Dương (開陽), Chuế Kỳ (贅其), Cao Sơn (高山), Tuy Lăng (睢陵), Diêm Độc (鹽瀆), Hoài Âm (淮陰), Hoài Lăng (淮陵), Hạ Tương (下相), Phú Lăng (富陵), Đông Dương (東陽), Bá Tinh (播旌), Tây Bình (西平), Cao Bình (高平), Khai Lăng (開陵), Xương Dương (昌陽), Quảng Bình (廣平), Lan Dương (蘭陽), Tương Bình (襄平), Hải Lăng (海陵), Dư (輿), Đường Ấp (堂邑), Nhạc Lăng (樂陵).
Quận Hội Khê (會稽郡), 223.038 hộ, 1.032.604 khẩu. 26 huyện: Ngô (吳), Khúc A (曲阿), Ô Thương (烏傷), Tỳ Lăng (毗陵), Dư Ký (餘暨), Dương Tiện (陽羨), Chư Ký (諸暨), Vô Tích (無錫), Sơn Âm (山陰), Đan Đồ (丹徒), Dư Diêu (餘姚), Lâu (婁), Thượng Ngu (上虞), Hải Diêm (海鹽), Thiểm (剡), Do Quyền (由拳), Đại Mạt (大末), Ô Trình (烏程), Cú Chương (句章), Dư Hàng (餘杭), Ngân (鄞), Tiền Đường (錢唐), Mậu (鄮), Phú Xuân (富春), Dã (冶), Hồi Phố (回浦).
Quận Đan Dương (丹揚郡), 107.541 hộ, 405.171 khẩu. 17 huyện: Uyển Lăng (宛陵), Ư Kiều (於驕), Giang Thừa (江乘), Xuân Cốc (春穀), Mạt Lăng (秣陵), Cố Chương (故鄣), Cú Dung (句容), Kinh (涇), Đan Dương (丹陽), Thạch Thành (石城), Hồ Thục (胡孰), Lăng Dương (陵陽), Vu Hồ (蕪湖), Yêu (黝), Lật Dương (溧陽), Hấp (歙), Tuyên Thành (宣城).
Quận Dự Chương (豫章郡), 67.462 hộ, 351.965 khẩu. 18 huyện: Nam Xương (南昌), Lư Lăng (廬陵), Bành Trạch (彭澤), Bà Dương (鄱陽), Lịch Lăng (歷陵), Dư Hãn (餘汗), Sài Tang (柴桑), Ngải (艾), Cống (贛), Tân Càn (新淦), Nam Thành (南城), Kiến Thành (建成), Nghi Xuân (宜春), Hải Hôn (海昏), Vu Đô (雩都), Kiêu Dương (鄡陽), Nam Dã (南野), An Bình (安平).
Quận Quế Dương (桂陽郡), 28.119 hộ, 156.488 khẩu. 11 huyện: Sâm (郴), Lâm Vũ (臨武), Tiện (便), Nam Bình (南平), Lỗi Dương (耒陽), Quế Dương (桂陽), Dương Sơn (陽山), Khúc Giang (曲江), Hàm Khoáng (含洭), Trinh Dương (湞陽), Âm Sơn (陰山).
Quận Vũ Lăng (武陵郡), 34.177 hộ, 185.758 khẩu. 13 huyện: Tác (索), Sàn Lăng (孱陵), Lâm Nguyên (臨沅), Nguyên Lăng (沅陵), Thiểm Thành (鐔成), Vô Dương (無陽), Thiên Lăng (遷陵), Thần Dương (辰陽), Dậu Dương (酉陽), Nghĩa Lăng (義陵), Ngần Sơn (佷山), Linh Dương (零陽), Sung (充).
Quận Linh Lăng (零陵郡), 21.092 hộ, 139.378 khẩu. 10 huyện: Linh Lăng (零陵), Doanh Đạo (營道), Thủy An (始安), Phu Di (夫夷), Doanh Phố (營浦), Đô Lương (都梁), Lãnh Đạo (泠道), Tuyền Lăng (泉陵), Thao Dương (洮陽), Chung Vũ (鍾武).
Quận Hán Trung (漢中郡), 101.570 hộ, 300.614 khẩu. 12 huyện: Tây Thành (西城), Tuân Dương (旬陽), Nam Trịnh (南鄭), Bảo Trung (褒中), Phòng Lăng (房陵), An Dương (安陽), Thành Cố (成固), Miện Dương (沔陽), Tích (鍚), Vũ Lăng (武陵), Thượng Dung (上庸), Trường Lợi (長利).
Quận Quảng Hán (廣漢郡), 167.499 hộ, 662.249 khẩu. 13 huyện: Tử Đồng (梓潼), Trấp Phương (汁方), Phù (涪), Lạc (雒), Miên Trúc (綿竹), Quảng Hán (廣漢), Gia Minh (葭明), Thê (郪), Tân Đô (新都), Điện Đê Đạo (甸氐道), Bạch Thủy (白水), Cương Đê Đạo (剛氐道), Âm Bình Đạo (陰平道).
Quận Thục (蜀郡), 268.279 hộ, 1.245.929 khẩu. 15 huyện: Thành Đô (成都), Bì (郫), Phồn (繁), Quảng Đô (廣都), Lâm Cùng (臨邛), Thanh Y (青衣), Giang Nguyên (江原), Nghiêm Đạo (嚴道), Miên Ty (綿虒), Mạo Ngưu (旄牛), Tỉ (徙), Tiễn Đê Đạo (湔氐道), Vấn Giang (汶江), Quảng Nhu (廣柔), Tàm Lăng (蠶陵).
Quận Kiền Vi (犍為郡), 109.419 hộ, 489.486 khẩu. 12 huyện: Bức Đạo (僰道), Giang Dương (江陽), Vũ Dương (武陽), Nam An (南安), Tư Trung (資中), Phù (符), Ngưu Bì (牛鞞), Nam Quảng (南廣), Hán Dương (漢陽), Ẩn Tuyển (瘾癣), Chu Đề (朱提), Đường Lang (堂琅).
Quận Việt Tuy (越嶲郡), 61.208 hộ, 408.405 khẩu. 15 huyện: Cùng Đô (邛都), Toại Cửu (遂久), Linh Quan Đạo (靈關道), Đài Đăng (臺登), Định Tác (定莋), Hội Vô (會無), Tác Tần (莋秦), Đại Tác (大莋), Cô Phục (姑復), Tam Giáng (三絳), Tô Thị (蘇示), Lan (闌), Ti Thủy (卑水), Cám Nhai (绀街), Thanh Linh (青蛉).
Quận Ích Châu (益州郡), 81.946 hộ, 580.463 khẩu. 24 huyện: Điền Trì (滇池), Song Bách (雙柏), Đồng Lao (同勞), Đồng Lại (銅瀨), Liên Nhiên (連然), Du Nguyên (俞元), Thu Mi (收靡), Cốc Xương (穀昌), Tần Tang (秦臧), Tà Long (邪龍), Vị (味), Côn Trạch (昆澤), Diệp Du (葉榆), Luật Cao (律高), Bất Vi (不韋), Vân Nam (雲南), Tuy Đường (嶲唐), Lộng Đống (弄棟), Tỉ Tô (比蘇), Bí Cổ (賁古), Vô Thiết (毋棳), Thắng Hưu (勝休), Kiện Linh (健伶), Lai Duy (來唯).
Quận Tường Kha (牂柯郡), 24.219 hộ, 153.360 khẩu. 17 huyện: Cố Thả Lan (故且蘭), Thiểm Phong (鐔封), Bi (鄨), Lậu Ngọa (漏臥), Bình Di (平夷), Đồng Tịnh (同並), Đàm Chỉ (談指), Uyển Ôn (宛溫), Vô Liễm (毋斂), Dạ Lang (夜郎), Vô Đơn (毋單), Lậu Giang (漏江), Tây Tùy (西隨), Đô Mộng (都夢), Đàm Cảo (談稿), Tiến Tang (進桑), Cú Đinh (句町).
Quận Ba (巴郡), 158.643 hộ, 708.148 khẩu. 11 huyện: Giang Châu (江州), Lâm Giang (臨江), Chỉ (枳), Lãng Trung (閬中), Điệm Giang (墊江), Cù Nhẫn (朐忍), An Hán (安漢), Đãng Cừ (宕渠), Ngư Phục (魚復), Sung Quốc (充國), Phù Lăng (涪陵).
Tên các quận (phần hạ)
[sửa]Quận Vũ Đô (武都郡), năm Nguyên Thủy (元始) thứ 2 (năm 2), 51.376 hộ, 235.560 khẩu. 9 huyện: Vũ Đô (武都), Thượng Lộc (上祿), Cố Đạo (故道), Hà Trì (河池), Bình Lạc Đạo (平樂道), Thư (沮), Gia Lăng Đạo (嘉陵道), Tuần Thành Đạo (循成道), Hạ Biện Đạo (下辨道).
Quận Lũng Tây (隴西郡), 53.964 hộ, 236.824 khẩu. 11 huyện: Địch Đạo (狄道), Thượng Khuê (上邽), An Cố (An Cố), Đê Đạo (氐道), Thủ Dương (首陽), Dư Đạo (予道), Đại Hạ (大夏), Khương Đạo (羌道), Tương Vũ (襄武), Lâm Thao (臨洮), Tây (西).
Quận Kim Thành (金城郡), 38.470 hộ, 149.648 khẩu. 13 huyện: Du Ngô (允吾), Hạo Môn (浩亹), Lệnh Cư (令居), Chi Dương (枝陽), Kim Thành (金城), Du Trung (榆中), Bào Hãn (枹罕), Bạch Thạch (白石), Hà Quan (河關), Phá Khương (破羌), An Di (安夷), Du Nhai (允街), Lâm Khương (臨羌).
Quận Thiên Thủy (天水郡), 60.370 hộ, 261.348 khẩu. 16 huyện: Bình Tương (平襄), Nhai Tuyền (街泉), Nhung Ấp Đạo (戎邑道), Vọng Viên (望垣), Hãn Khiên (罕幵), Miên Chư Đạo (綿諸道), A Dương (阿陽), Lược Dương Đạo (略陽道), Ký (冀), Dũng Sĩ (勇士), Thành Kỷ (成紀), Thanh Thủy (清水), Phụng Tiệp (奉捷), Lũng (隴), Hoàn Đạo (豲道), Lan Can (蘭干).
Quận Vũ Uy (武威郡), 17.581 hộ, 76.419 khẩu. 10 huyện: Cô Tang (姑臧), Trương Dịch (張掖), Vũ Uy (武威), Hưu Đồ (休屠), Tu Thứ (揟次), Loan Điểu (鸞鳥), Phác Loạn (撲峦), Ẩu Vi (媼圍), Thương Điên (蒼巅), Tuyên Uy (宣威).
Quận Trương Dịch (張掖郡), 24.352 hộ, 88.731 khẩu. 10 huyện: Lặc Đắc (觻得), Chiêu Vũ (昭武), San Đan (刪丹), Đê Trì (氐池), Ốc Lan (屋蘭), Viết Lặc (曰勒), Ly Càn (驪靬), Phiên Hòa (番和), Cư Diên (居延), Hiển Mỹ (顯美).
Quận Tửu Tuyền (酒泉郡), 18.137 hộ, 76.726 khẩu. 9 huyện: Lộc Phúc (祿福), Biểu Thị (表是), Nhạc Quán (樂涫), Thiên Loan (天孪), Ngọc Môn (玉門), Hội Thủy (會水), Trì Đầu (池頭), Tuy Di (綏彌), Kiền Tề (乾齊).
Quận Đôn Hoàng (敦煌郡), 11.200 hộ, 38.335 khẩu. 6 huyện: Đôn Hoàng (敦煌), Minh An (冥安), Hiệu Cốc (效穀), Uyên Tuyền (淵泉), Quảng Chí (廣至), Long Lặc (龍勒).
Quận An Định (安定郡), 42.725 hộ, 143.294 khẩu. 21 huyện: Cao Bình (高平), Phục Lũ (復累), An Tỉ (安俾), Phủ Di (撫夷), Triều Na (朝那), Kinh Dương (涇陽), Lâm Kinh (臨涇), Lỗ (鹵), Ô Thị (烏氏), Âm Mật (陰密), An Định (安定), Tham Độc (參讀), Tam Thủy (三水), Âm Bàn (陰槃), An Vũ (安武), Tổ Lệ (祖厲), Viên Đắc (爰得), Huyến Quyển (眴卷), Bành Dương (彭陽), Thuần Âm (鶉陰), Nguyệt Chi Đạo (月支道).
Quận Bắc Địa (北地郡), 64.461 hộ, 210.688 khẩu. 19 huyện: Mã Lĩnh (馬領), Trực Lộ (直路), Linh Vũ (靈武), Phú Bình (富平), Linh Châu (靈州), Húc Diễn (昫衍), Phương Cừ (方渠), Trừ Đạo (除道), Ngũ Nhai (五街), Thuần Cô (鶉孤), Quy Đức (歸德), Hồi Hoạch (回獲), Lược Phán Đạo (略畔道), Nê Dương (泥陽), Úc Trật (郁郅), Nghĩa Cừ Đạo (義渠道), Dặc Cư (弋居), Đại Nghĩa (大呓), Liêm (廉).
Quận Thượng (上郡), 103.683 hộ, 606.658 khẩu. 23 huyện: Phu Thi (膚施), Độc Nhạc (獨樂), Dương Chu (陽周), Mộc Hòa (木禾), Bình Đô (平都), Thiển Thủy (淺水), Kinh Thất (京室), Lạc Đô (洛都), Bạch Thổ (白土), Tương Lạc (襄洛), Nguyên Đô (原都), Tất Viên (漆垣), Sa Diên (奢延), Điêu Âm (雕陰), Thôi Tà (推邪), Trinh Lâm (楨林), Cao Vọng (高望), Điêu Âm Đạo (雕陰道), Cưu Tư (龜茲), Định Dương (定陽), Cao Nô (高奴), Vọng Tùng (望松), Nghi Đô (宜都).
Quận Tây Hà (西河郡), 136.390 hộ, 698.836 khẩu. 36 huyện: Phú Xương (富昌), Sưu Ngu (騶虞), Hộc Trạch (鵠澤), Bình Định (平定), Mỹ Tắc (美稷), Trung Dương (中陽), Nhạc Nhai (樂街), Đồ Kinh (徒經), Cao Lang (皋狼), Đại Thành (大成), Quảng Điền (廣田), Hoàn Âm (圜陰), Ích Lan (益闌), Bình Chu (平周), Hồng Môn (鴻門), Lận (藺), Tuyên Vũ (宣武), Thiên Chương (千章), Tăng Sơn (增山), Hoàn Dương (圜陽), Quảng Diễn (廣衍), Vũ Xa (武車), Hổ Mãnh (虎猛), Ly Thạch (離石), Cốc La (穀羅), Nhiêu (饒), Phương Lợi (方利), Tập Thành (隰成), Lâm Thủy (臨水), Thổ Quân (土軍), Tây Đô (西都), Bình Lục (平陸), Âm Sơn (陰山), Nghê Thị (觬是), Bác Lăng (博陵), Diêm Quan (鹽官).
Quận Sóc Phương (朔方郡), 34.338 hộ, 136.628 khẩu. 10 huyện: Tam Phong (三封), Sóc Phương (朔方), Tu Đô (修都), Lâm Hà (臨河), Hô Tiều (呼遒), Dụ Hỗn (窳渾), Cừ Sưu (渠搜), Ốc Dã (沃野), Quảng Mục (廣牧), Lâm Nhung (臨戎).
Quận Ngũ Nguyên (五原郡), 39.322 hộ, 231.328 khẩu. 16 huyện: Cửu Nguyên (九原), Cố Lăng (固陵), Ngũ Nguyên (五原), Lâm Ốc (臨沃), Văn Quốc (文國), Hà Âm (河陰), Bồ Trạch (蒱澤), Nam Hưng (南興), Vũ Đô (武都), Nghi Lương (宜梁), Mạn Bách (曼柏), Thành Nghi (成宜), Cố Dương (稒陽), Mạc Bàng (莫庞), Tây An Dương (西安陽), Hà Mục (河目).
Quận Vân Trung (雲中郡), 38.303 hộ, 173.270 khẩu. 11 huyện: Vân Trung (雲中), Hàm Dương (咸陽), Đào Lâm (陶林), Trinh Lăng (楨陵), Độc Hòa (犢和), Sa Lăng (沙陵), Nguyên Dương (原陽), Sa Nam (沙南), Bắc Dư (北輿), Vũ Tuyền (武泉), Dương Thọ (陽壽).
Quận Định Tương (定襄郡), 38.559 hộ, 163.144 khẩu. 12 huyện: Thành Nhạc (成樂), Đồng Quá (桐過), Đô Vũ (都武), Vũ Tiến (武進), Tương Âm (襄陰), Vũ Cao (武皋), Lạc (駱), Định Đào (定陶), Vũ Thành (武城), Vũ Yếu (武要), Định Tương (定襄), Phục Lục (復陸). Vương Mãng (莽) gọi là Văn Vũ (聞武).
Quận Nhạn Môn (鴈門郡), 73.138 hộ, 293.454 khẩu. 14 huyện: Thiện Vô (善無), Ốc Dương (沃陽), Phồn Tr畤 (繁畤), Trung Lăng (中陵), Âm Quán (陰館), Lâu Phiền (樓煩), Vũ Châu (武州), Tần Đào (鬓陶), Kịch Dương (劇陽), Quách (崞), Bình Thành (平城), Liệt (埒), Mã Ấp (馬邑), Cường Âm (彊陰).
Quận Đại (代郡), 56.771 hộ, 278.754 khẩu. 18 huyện: Tang Càn (桑乾), Đạo Nhân (道人), Đương Thành (當城), Cao Liễu (高柳), Mã Thành (馬城), Ban Thị (班氏), Diên Lăng (延陵), Ngân Thị (狋氏), Thả Như (且如), Bình Ấp (平邑), Dương Nguyên (陽原), Đông An Dương (東安陽), Tham Hợp (參合), Bình Thư (平舒), Đại (代), Linh Khâu (靈丘), Quảng Xương (廣昌), Lỗ Thành (鹵城).
Quận Thượng Cốc (上谷郡), 36.008 hộ, 117.762 khẩu. 15 huyện: Tử Dương (沮陽), Tuyền Thượng (泉上), Phan (潘), Quân Đô (軍都), Cư Dung (居庸), Cấu Mạo (雊瞀), Di Dư (夷輿), Ninh (寧), Xương Bình (昌平), Quảng Ninh (廣寧), Trác Lộc (涿鹿), Thả Cư (且居), Như (茹), Nữ Kỳ (女祈), Hạ Lạc (下落).
Quận Ngư Dương (漁陽郡), 68.802 hộ, 264.116 khẩu. 12 huyện: Ngư Dương (漁陽), Hồ Nô (狐奴), Lộ (路), Ung Nô (雍奴), Tuyền Châu (泉州), Bình Cốc (平谷), An Lạc (安樂), Đề Hề (厗奚), Quảng Bình (獷平), Yếu Dương (要陽), Bạch Đàn (白檀), Hoạt Diêm (滑鹽).
Quận Hữu Bắc Bình (右北平郡), 66.689 hộ, 320.780 khẩu. 16 huyện: Bình Cương (平剛), Vô Chung (無終), Thạch Thành (石成), Đình Lăng (廷陵), Tuấn Di (俊靡), Ty (薋), Từ Vô (徐無), Tự (字), Thổ Ngân (土垠), Bạch Lang (白狼), Tịch Dương (夕陽), Xương Thành (昌城), Ly Thành (驪成), Quảng Thành (廣成), Tụ Dương (聚陽), Bình Minh (平明).
Quận Liêu Tây (遼西郡), 72.654 hộ, 352.325 khẩu. 14 huyện: Thả Lự (且慮), Hải Dương (海 Dương), Tân An Bình (新安平), Liễu Thành (柳城), Lệnh Chi (令支), Phì Như (肥如), Tân Tòng (賓從), Giao Lê (交黎), Dương Nhạc (陽樂), Hồ Tô (狐蘇), Đồ Hà (徒河), Văn Thành (文成), Lâm Du (臨渝), Lũy (絫).
Quận Liêu Đông (遼東郡), 55.972 hộ, 272.539 khẩu. 18 huyện: Tương Bình (襄平), Tân Xương (新昌), Vô Lự (無慮), Vọng Bình (Vọng 平), Phòng (房), Hầu Thành (候城), Liêu Đội (遼隊), Liêu Dương (遼陽), Hiểm Độc (險瀆), Cư Tựu (居就), Cao Hiển (高顯), An Thị (安市), Vũ Thứ (武次), Bình Quới (平郭), Tây An Bình (西安平), Văn (文), Phiên Hãn (番汗), Đạp Thị (沓氏).
Quận Huyền Thố (玄菟郡), 45.006 hộ, 221.845 khẩu. 3 huyện: Cao Câu Ly (高句驪), Thượng Ân Đài (上殷台), Tây Cái Mã (西蓋馬).
Quận Lạc Lãng (樂浪郡), 62.812 hộ, 406.748 khẩu. 25 huyện: Triều Tiên (朝鮮), Niêm Hàm (俨邯), Phái Thủy (浿水), Hàm Tư (含資), Niêm Thiền (黏蟬), Toại Thành (遂成), Tăng Địa (增地), Đới Phương (帶方), Tứ Vọng (駟望), Hải Minh (海冥), Liệt Khẩu (列口), Trường Sầm (長岑), Truân Hữu (屯有), Chiêu Minh (昭明), Lũ Phương (鏤方), Đề Hề (提奚), Hồn Di (渾彌), Thôn Liệt (吞列), Đông Đặng (東傥), Bất Nhi (不而), Tàm Đài (蠶台), Hoa Lệ (華麗), Tà Đầu Muội (邪頭昧), Tiền Mạc (前莫), Phu Tô (夫租).
Quận Nam Hải (南海郡), 19.613 hộ, 94.253 khẩu. 6 huyện: Phiên Ngung (番禺), Bác La (博羅), Trung Túc (中宿), Long Xuyên (龍川), Tứ Hội (四會), Yết Dương (揭陽).
Quận Uất Lâm (鬱林郡), 12.415 hộ, 71.162 khẩu. 12 huyện: Bố Sơn (布山), An Quảng (安廣), A Lâm (阿林), Quảng Uất (廣鬱), Trung Lưu (中留), Quế Lâm (桂林), Đàm Trung (潭中), Lâm Trần (臨塵), Định Chu (定周), Tăng Thực (增食), Lĩnh Phương (領方), Ung Kê (雍雞).
Quận Thương Ngô (蒼梧郡), 24.379 hộ, 146.160 khẩu. 10 huyện: Quảng Tín (廣信), Tạ Mộc (謝沐), Cao Yếu (高要), Phong Dương (封陽), Lâm Hạ (臨賀), Đoan Khê (端谿), Phùng Thừa (馮乘), Phú Xuyên (富川), Lệ Bồ (荔蒲), Mãnh Lăng (猛陵).
Quận Giao Chỉ (交趾郡), 92.440 hộ, 746.237 khẩu. 10 huyện: Luy Lâu (羸啮), Định An (安定), Cẩu Lậu (苟龈), Mê Linh (麊泠), Khúc Dương (曲昜), Bắc Đái (北帶), Kê Từ (稽徐), Tây Vu (西于), Long Biên (龍編), Chu Diên (朱觏).
Quận Hợp Phố (合浦郡), 15.398 hộ, 78.980 khẩu. 5 huyện: Từ Văn (徐聞), Cao Lương (高涼), Hợp Phố (合浦), Lâm Duẫn (臨允), Chu Lư (朱盧).
Quận Cửu Chân (九真郡), 35.743 hộ, 166.013 khẩu. 7 huyện: Tư Phố (胥浦), Cư Phong (居風), Đô Bàng (都龐), Dư Phát (餘發), Hàm Hoan (咸驩), Vô Thiết (無切), Vô Biên (無編).
Quận Nhật Nam (日南郡), 15.460 hộ, 69.485 khẩu. 5 huyện: Chu Ngô (朱吾), Tỉ Cảnh (比景), Lô Dung (盧容), Tây Quyển (西捲), Tượng Lâm (象林).
Tên các nước
[sửa]Nước Triệu (趙國), năm Nguyên Thủy (元始) thứ 2 (năm 2), 84.202 hộ, 349.952 khẩu. 4 huyện: Hàm Đan (邯鄲), Dịch Dương (易陽), Bách Nhân (柏人), Tương Quốc (襄國).
Nước Quảng Bình (廣平國), 27.984 hộ, 198.558 khẩu. 16 huyện: Quảng Bình (廣平), Trương (張), Triều Bình (朝平), Nam Hòa (南和), Liệt Nhân (列人), Xích Chương (斥章), Nhậm (任), Khúc Chu (曲周), Nam Khúc (南曲), Khúc Lương (曲梁), Quảng Hương (廣鄉), Bình Lợi (平利), Bình Hương (平鄉), Dương Đài (陽臺), Quảng Niên (廣年), Thành Hương (城鄉).
Nước Chân Định (真定國), 37.126 hộ, 178.616 khẩu. 4 huyện: Chân Định (真 định), Cảo Thành (稿城), Phì Lũy (肥纍), Miên Man (綿曼).
Nước Trung Sơn (中山國), 160.873 hộ, 668.080 khẩu. 14 huyện: Lư Nô (盧奴), Bắc Bình (北平), Bắc Tân Thành (北新成), Đường (唐), Thâm Trạch (深澤), Khổ Hình (苦陘), An Quốc (安國), Khúc Nghịch (曲逆), Vọng Đô (望都), Tân Thị (新市), Tân Xứ (新處), Vô Cực (毋極), Lục Thành (陸成), An Hiểm (安險).
Nước Tín Đô (信都國), 65.556 hộ, 304.384 khẩu. 17 huyện: Tín Đô (信都), Lịch (歷), Phù Liễu (扶柳), Tịch Dương (辟陽), Nam Cung (南宮), Hạ Bác (下博), Vũ Ấp (武邑), Quan Tân (觀津), Cao Đê (高隄), Quảng Xuyên (廣川), Nhạc Hương (樂鄉), Bình Đê (平隄), Đào (桃), Tây Lương (西梁), Xương Thành (昌成), Đông Chương (東昌), Tu (脩).
Nước Hà Gian (河間國), 45.043 hộ, 187.662 khẩu. 4 huyện: Nhạc Thành (樂成), Hầu Tỉnh (候井), Vũ Toại (武隧), Cung Cao (弓高).
Nước Quảng Dương (廣陽國), 20.740 hộ, 70.658 khẩu. 4 huyện: Kế (薊), Phương Thành (方城), Quảng Dương (廣陽), Âm Hương (陰鄉).
Nước Tư Xuyên (甾川國), 50.289 hộ, 227.031 khẩu. 3 huyện: Kịch (劇), Đông An Bình (東安平), Lâu Hương (樓鄉).
Nước Kiều Đông (膠東國), 72.002 hộ, 323.331 khẩu. 8 huyện: Tức Mặc (即墨), Xương Vũ (昌武), Hạ Mật (下密), Tráng Vũ (壯武), Úc Trật (郁秩), Đĩnh (挺), Quan Dương (觀陽), Trâu Lư (鄒盧).
Nước Cao Mật (高密國), 40.531 hộ, 192.536 khẩu. 5 huyện: Cao Mật (高密), Xương An (昌安), Thạch Tuyền (石泉), Di An (夷安), Thành Hương (成鄉).
Nước Thành Dương (城陽國), 56.642 hộ, 205.784 khẩu. 4 huyện: Cử (莒), Dương Đô (陽都), Đông An (東安), Lự (慮).
Nước Hoài Dương (淮陽國), 135.544 hộ, 981.423 khẩu. 9 huyện: Trần (陳), Khổ (苦), Dương Hạ (陽夏), Ninh Bình (寧平), Phù Câu (扶溝), Cố Thủy (固始), Ngữ (圉), Tân Bình (新平), Trác (柘).
Nước Lương (梁國), 38.709 hộ, 106.752 khẩu. 8 huyện: Đãng (碭), Tư (甾), Trữ Thu (杼秋), Mông (蒙), Kỷ Thị (已氏), Ngu (虞), Hạ Ấp (下邑), Tuy Dương (睢陽).
Nước Đông Bình (東平國), 131.753 hộ, 607.976 khẩu. 7 huyện: Vô Diêm (無鹽), Nhậm Thành (任城), Đông Bình Lục (東平陸), Phú Thành (富城), Chương (章), Kháng Phụ (亢父), Phàn (樊).
Nước Lỗ (魯國), 118.045 hộ, 607.381 khẩu. 6 huyện: Lỗ (魯), Biện (卞), Vấn Dương (汶陽), Phiên (蕃), Trâu (騶), Tiết (薛).
Nước Sở (楚國), 114.738 hộ, 497.804 khẩu. 7 huyện: Bành Thành (彭城), Lưu (留), Ngô (梧), Phó Dương (傅陽), Lã (呂), Vũ Nguyên (武原), Tư Khâu (甾丘).
Nước Tứ Thủy (泗水國), 25.025 hộ, 119.114 khẩu. 3 huyện: Lăng (淩), Tứ Dương (泗陽), Vu (于).
Nước Quảng Lăng (廣陵國), 36.773 hộ, 140.722 khẩu. 4 huyện: Quảng Lăng (廣陵), Giang Đô (江都), Cao Bưu (高郵), Bình An (平安).
Nước Lục An (六安國), 38.345 hộ, 178.616 khẩu. 5 huyện: Lục (六), Liệu (蓼), An Phong (安豐), An Phong (安風), Dương Tuyền (陽泉).
Nước Trường Sa (長沙國), 43.470 hộ, 235.825 khẩu. 13 huyện: Lâm Tương (臨湘), La (羅), Liên Đạo (連道), Ích Dương (益陽), Hạ Tuyển (下雋), Thu (收), Linh (酃), Thừa Dương (承陽), Tương Nam (湘南), Chiêu Lăng (昭陵), Trà Lăng (荼陵), Dung Lăng (容陵), An Thành (安成).
Luận
[sửa]Vốn đời Tần (秦) đặt kinh sư làm Nội Sử (內史), chia thiên hạ làm 36 quận. Nhà Hán (漢) hưng thịnh, vì các quận đó quá lớn nên dần mở mang đặt thêm, lại lập các vương quốc chư hầu. Vũ Đế (武帝) mở rộng ba phía biên cương. Cho nên từ Cao Tổ (高祖) tăng thêm 26, Văn Đế (文) và Cảnh Đế (景) mỗi đời tăng 6, Vũ Đế (武帝) tăng 28, Chiêu Đế (昭) tăng 1, cho đến đời Hiếu Bình (孝平), phàm có 103 quận quốc, 1.314 huyện ấp, 32 đạo, 241 hầu quốc.
Đất đai đông tây dài 9.302 dặm, nam bắc dài 13.368 dặm. Tổng diện tích đất phong là 145.136.405 khoảnh, trong đó 102.528.889 khoảnh là nơi cư ngụ, đường xá, núi sông rừng đầm đều không thể canh tác, còn lại 32.290.947 khoảnh bao gồm đất có thể canh tác và không thể canh tác, số ruộng thực tế canh tác là 8.270.536 khoảnh. Dân số có 12.233.062 hộ, 59.594.978 khẩu. Nhà Hán cực thịnh vậy.
Phàm là dân đều mang bản tính ngũ thường, nhưng sự cương nhu chậm gấp, âm thanh khác nhau đều phụ thuộc vào phong khí của thủy thổ, nên gọi là "Phong" (風); sự yêu ghét lấy bỏ, động tĩnh không thường, thuận theo tình dục của bậc quân thượng, nên gọi là "Tục" (俗). Khổng Tử (孔子) nói: "Dời đổi phong phong tục, không gì tốt bằng âm nhạc." Nghĩa là thánh vương ở trên, thống trị luân lý con người, tất phải dời đổi cái gốc mà thay đổi cái ngọn, khiến thiên hạ cùng quy về sự trung hòa, sau đó vương giáo mới thành. Nhà Hán kế thừa sau 100 năm loạn lạc, quốc thổ biến đổi, dân cư di dời, thời Thành Đế (成帝), Lưu Hướng (劉向) đã tóm lược sự phân chia khu vực, Thừa tướng Trương Vũ (張禹) sai thuộc hạ là Chu Cống (朱贛) người quận Dĩnh Xuyên (潁川) điều tra phong tục, nhưng vẫn chưa thấu đáo, nay thu thập mà luận bàn, ghi chép bản mạt vào chương này.
Đất Tần 秦地
[sửa]Đất Ngụy 魏地
[sửa]Đất Chu 周地
[sửa]Đất Hàn 韓地
[sửa]Đất Triệu 趙地
[sửa]Đất Yên 燕地
[sửa]Đất Tề 齊地
[sửa]Đất Lỗ 魯地
[sửa]Đất Tống 宋地
[sửa]Đất Vệ 衛地
[sửa]Đất Sở 楚地
[sửa]Đất Sở (楚), thuộc phân dã của sao Dực (翼) và Chẩn (軫). Các quận Nam Quận (南郡), Giang Hạ (江夏), Linh Lăng (零陵), Quế Dương (桂陽), Vũ Lăng (武陵), Trường Sa (長沙) cùng với Hán Trung (漢中), Nhữ Nam (汝南) ngày nay đều thuộc địa phận của Sở.
Thời Chu Thành Vương (周成王), phong cho chắt của Dục Hùng (鬻熊) – tiên sư của Văn Vương và Vũ Vương – là Hùng Dịch (熊繹) ở đất Kinh Man (荊蠻), tước Sở tử, cư ngụ tại Đan Dương (丹陽). Sau hơn 10 đời đến Hùng Đạt (熊達), tức Vũ Vương (武王), bắt đầu cường thịnh. Sau 5 đời đến Trang Vương (莊王), thống lĩnh chư hầu, xem binh ở nhà Chu, thôn tính vùng giữa sông Giang và sông Hán, bên trong diệt các nước Trần (陳), Lỗ (魯). Sau hơn 10 đời, Khoảnh Tương Vương (頃襄王) dời đô về phía đông đến đất Trần (陳).
Đất Sở có cái giàu có của sông Giang, sông Hán, đầm hồ, núi rừng. Đất Giang Nam rộng lớn, có nơi canh tác bằng cách đốt cỏ làm phân, dùng nước làm cỏ (hỏa canh thủy nậu). Dân ăn cá và lúa, lấy nghề đánh cá, săn bắn, đốn củi làm nghiệp; các loại hoa quả, ốc hến, thức ăn luôn đầy đủ. Vì thế dân có tính lười nhác, ham sống tạm bợ, không có tích trữ, ăn uống vừa đủ, không lo đói rét, cũng không có nhà giàu ngàn vàng. Tin vào phù thủy và quỷ thần, coi trọng việc tế lễ quá mức. Riêng vùng Hán Trung thì phóng túng, phong tục giống với Ba Thục. Vùng Nhữ Nam thì tính tình nóng nảy, có khí thế. Giang Lăng (江陵) vốn là đô thành Dĩnh (郢), phía tây thông với Vu (巫), Ba (巴), phía đông có cái giàu của đầm Vân Mộng (雲夢), cũng là một đô thị lớn vậy.
Đất Ngô 吳地
[sửa]Đất Ngô (吳), thuộc phân dã của sao Đẩu (斗). Các quận Hội Khê (會稽), Cửu Giang (九江), Đan Dương (丹陽), Dự Chương (豫章), Lư Giang (廬江), Quảng Lăng (廣陵), Lục An (六安), Lâm Hoài (臨淮) ngày nay đều thuộc địa phận của Ngô.
Đạo nhà Ân (殷) đã suy, Chu Thái Vương Cổ Công Đản Phụ (亶父) hưng khởi ở đất Kỳ Lương. Con trưởng là Thái Bá (大伯), con thứ là Trọng Ung (仲雍), con út là Công Quý (公季). Công Quý có con thánh đức là Xương (昌), Thái Vương muốn truyền ngôi cho người này. Thái Bá và Trọng Ung bèn cáo từ đi hái thuốc, rồi chạy đến đất Kinh Man (荊蠻). Công Quý nối ngôi, đến đời Xương làm Tây Bá (西伯), nhận mệnh trời mà xưng vương. Thế nên Khổng Tử (孔子) ca ngợi rằng: "Thái Bá có thể gọi là bậc chí đức vậy! Ba lần nhường thiên hạ, dân không còn lời nào để khen ngợi cho xiết." Lại nói: "Ngu Trọng (Trọng Ung), Di Dật ở ẩn phóng ngôn, thân giữ được sự thanh cao, bị phế mà vẫn giữ được quyền biến." Thái Bá mới đến Kinh Man, dân địa phương theo về, hiệu là Câu Ngô (句吳). Thái Bá mất, Trọng Ung lập, đến chắt là Chu Chương (周章) thì Vũ Vương (武王) thắng Ân, nhân đó phong cho. Lại phong em của Chu Chương là Trọng (中) ở phía bắc sông Hoàng Hà, gọi là Bắc Ngô, đời sau gọi là nước Ngu (虞), truyền 12 đời bị nước Tấn (晉) diệt. Sau 2 đời, Ngô tử ở đất Kinh Man là Thọ Mộng (壽夢) cường thịnh, xưng vương. Con út là Quý Trát (季札) có tài hiền đức. Các anh muốn truyền ngôi, Trát nhường mà không nhận. Từ đời Thọ Mộng xưng vương đến đời thứ 6, Hạp Lư (闔廬) cử Ngũ Tử Tư (伍子胥), Tôn Vũ (孫武) làm tướng, chiến thắng công chiếm, lừng danh bá chủ với chư hầu. Đến con là Phù Sai (夫差), giết Tử Tư, dùng Tể Phỉ (宰嚭), bị Việt vương Câu Tiễn (句踐) diệt.
Vua nước Ngô, Việt đều hiếu dũng, nên dân đến nay vẫn thích dùng kiếm, coi nhẹ cái chết, dễ nổi nóng.
Nước Việt sau khi gộp nước Ngô, sau 6 đời bị nước Sở (楚) diệt. Sau đó nước Tần (秦) lại đánh Sở, dời đô đến Thọ Xuân (壽春), đến đời con thì bị Tần diệt.
Thọ Xuân (壽春), Hợp Phì (合肥) nhận nguồn hàng da thú, cá khô, gỗ từ các hồ phía nam bắc, cũng là một đô thị lớn. Xưa có hiền thần nước Sở là Khuất Nguyên (屈原) bị gièm pha mà đi đày, soạn các bài phú *Ly Tao* (離騷) để tự đau xót. Sau có bọn Tống Ngọc (宋玉), Đường Lặc (唐勒) ngưỡng mộ mà viết tiếp, đều nổi danh. Nhà Hán hưng, Cao Tổ (高祖) phong cháu gọi bằng bác là Tị (濞) làm vương đất Ngô, chiêu mộ các tử đệ du hiệp thiên hạ, bọn Mai Thừa (枚乘), Trâu Dương (鄒陽), Nghiêm Phu tử (嚴夫子) hưng khởi vào khoảng đời Văn Đế, Cảnh Đế. Mà Hoài Nam Vương An (安) cũng đóng đô ở Thọ Xuân, chiêu khách viết sách. Ở Ngô có Nghiêm Trợ (嚴助), Chu Mãi Thần (朱買臣), quý hiển tại triều đình nhà Hán, văn từ cùng phát đạt, nên đời truyền tụng Sở Từ (楚辭). Cái dở là quá xảo diệu mà thiếu sự chân thực. Ban đầu Hoài Nam Vương ra lệnh trong nước nhà nào có con gái thì gả cho du sĩ để giữ chân họ, nên đến nay vùng này nhiều nữ ít nam. Vốn đất Ngô, Việt tiếp giáp nước Sở, nhiều lần sáp nhập lẫn nhau nên phong tục gần giống.
Phía đông Ngô có đồng ở núi Chương Sơn (章山) huyện Hải Muối (海鹽), có cái lợi của Tam Giang, Ngũ Hồ, cũng là một đô thị của Giang Đông. Quận Dự Chương (豫章) có vàng, nhưng sản vật ít ỏi, khai thác không đủ bù chi phí. Giang Nam thấp ướt, đàn ông thường yểu mệnh.
Ngoài biển quận Hội Khê có người Đông Đề (東鯷), chia làm hơn 20 nước, hằng năm theo mùa đến cống hiến.
Đất Việt 粵地
[sửa]Đất Việt (粵), thuộc phân dã của sao Khiên Ngưu (牽牛) và Vụ Nữ (婺女). Các quận Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交阯), Cửu Chân (九真), Nam Hải (南海), Nhật Nam (日南) ngày nay đều thuộc địa phận của Việt.
Vua nước ấy là hậu duệ của vua Vũ (禹), là con thứ của vua Thiếu Khang (少康), được phong ở Hội Khê (會稽), xăm mình cắt tóc để tránh cái hại của giao long. Sau 20 đời, đến Câu Tiễn (句踐) xưng vương, đánh nhau với Ngô vương Hạp Lư (闔廬), đánh bại quân Ngô ở Tuyển Lý (雋李). Phù Sai (夫差) lên ngôi, Câu Tiễn thừa thắng lại đánh Ngô, bị quân Ngô đánh bại, phải rút về núi Hội Khê, xin hàng phục làm thần tử. Sau dùng kế của Phạm Lãi (范蠡), Đại phu Chủng (種), bèn đánh diệt nước Ngô, thâu tóm đất đai. Câu Tiễn vượt sông Hoài hội cùng chư hầu Tề, Tấn, dâng lễ vật lên nhà Chu. Chu Nguyên Vương (周元王) sai sứ ban mệnh phong làm Bá, chư hầu đều chúc mừng. Sau 5 đời thì bị nước Sở diệt, con cháu phân tán, thủ lĩnh phải thần phục nước Sở. Sau 10 đời, đến Mân quân Dao (搖), giúp chư hầu bình định nhà Tần. Nhà Hán hưng thịnh, lại lập Dao làm Việt vương. Lúc bấy giờ, Hiệu úy quận Nam Hải của nhà Tần là Triệu Đà (趙佗) cũng tự xưng vương, truyền quốc đến thời Vũ Đế (武帝) thì bị diệt hẳn, chia đất làm quận.
Nơi đây gần biển, là nơi hội tụ của nhiều sừng tê, voi, đồi mồi, châu ngọc, bạc, đồng, hoa quả, vải vóc, thương nhân Trung Hoa đến đây buôn bán nhiều người trở nên giàu có. Phiên Ngung (番禺) là một đô thị lớn ở đó.
Từ cảng Từ Văn (徐聞), Hợp Phố (合浦) đi về phía nam vào biển, có đảo lớn (đảo Hải Nam), vuông vức nghìn dặm, năm Nguyên Phong (元封) thứ 1 (năm 110 TCN) thời Vũ Đế đánh chiếm được, đặt làm quận Đạm Nhĩ (儋耳) và Châu Nhai (珠崖). Dân đều mặc vải như tấm chăn đơn, khoét ở giữa để chui đầu vào (áo chui đầu). Đàn ông cày cấy, trồng lúa, gai nanh; đàn bà nuôi tằm dệt vải. Nơi ấy không có ngựa và hổ, dân nuôi 5 loài gia súc, trong núi nhiều hươu nai. Binh khí có giáo, thuẫn, đao, cung nỏ bằng gỗ, mũi tên bằng tre hoặc xương. Từ khi mới đặt quận huyện, quan lại binh lính người Trung Hoa thường xâm lấn dân bản địa, nên cách vài năm dân lại phản kháng một lần. Thời Nguyên Đế (元帝), bèn bãi bỏ các quận này.
Từ chướng tắc Nhật Nam, Từ Văn, Hợp Phố đi thuyền khoảng 5 tháng thì đến nước Đô Nguyên (都元); lại đi thuyền khoảng 4 tháng có nước Ấp Lư Một (邑盧沒); lại đi thuyền hơn 20 ngày có nước Thâm Ly (諶離); đi bộ hơn 10 ngày có nước Phu Cam Đô Lư (夫甘都盧). Từ nước Phu Cam Đô Lư đi thuyền hơn 2 tháng có nước Hoàng Chi (黃支), phong tục dân nơi đó gần giống với đảo Châu Nhai. Đất ấy rộng lớn, dân đông, nhiều sản vật lạ, từ thời Vũ Đế đã sang cống nạp. Có chức Dịch trưởng thuộc Hoàng môn, cùng những người ứng mộ ra biển mua minh châu, bích lưu ly, đá quý và vật lạ; họ mang theo vàng và các loại lụa màu để trao đổi. Những nơi đi qua đều được cung cấp thức ăn, dùng thuyền buôn của người Man Di để chuyển tống đi. Việc giao dịch cũng có lợi nhưng cũng có kẻ cướp giết. Lại khổ vì gặp sóng gió chết đuối, nếu không thì phải vài năm mới về. Ngọc trai lớn có vòng tròn đến 2 thốn. Thời Bình Đế (平帝), năm Nguyên Thủy (元始) (năm 1 - 5), Vương Mãng (王莽) phụ chính, muốn phô trương uy đức, đã đem lễ vật hậu hĩnh tặng vua nước Hoàng Chi, khiến nước này sai sứ dâng tê ngưu sống. Từ nước Hoàng Chi đi thuyền khoảng 8 tháng thì đến Bì Tông (皮宗); đi thuyền khoảng 8 tháng nữa thì đến biên giới Nhật Nam, Tượng Lâm (象林). Phía nam nước Hoàng Chi có nước Dĩ Trình Bất (已程不), sứ giả phiên dịch của nhà Hán từ đây thì quay về.
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.