Biên dịch:Hán thư/Quyển 095
Tây Nam Di (西南夷)
[sửa]Thủ lĩnh Nam Di có hàng chục người, Dạ Lang (夜郎) lớn nhất. Phía tây có các thuộc chi Mĩ Mặc (靡莫) hàng chục người, Điền (滇) lớn nhất. Từ Điền về bắc có hàng chục thủ lĩnh, Quỳnh Đô (邛都) lớn nhất. Những nơi này đều búi tóc hình dùi, cày ruộng, có ấp tụ. Bên ngoài, tây từ Đồng Sư (桐師) về đông, bắc đến Diệp Du (葉楡), tên gọi là Tuy (巂), Côn Minh (昆明), tết tóc, dời đổi theo gia súc, không nơi ở cố định, không thủ lĩnh, đất đai rộng vài ngàn dặm. Từ Tuy về đông bắc có hàng chục thủ lĩnh, Sỷ (徙), Tạc Đô (莋都) lớn nhất. Từ Tạc về đông bắc có hàng chục thủ lĩnh, Nhiễm Mang (冉駹) lớn nhất. Phong tục ở đó hoặc định cư, hoặc di cư. Ở phía tây Thục (蜀). Từ Mang về đông bắc có hàng chục thủ lĩnh, Bạch Mã (白馬) lớn nhất, đều thuộc loại Đê (氐). Đây đều là Man Di bên ngoài phía tây nam Ba (巴), Thục.
Bắt đầu từ thời Sở Uy Vương (楚威王), sai tướng quân Trang Kiểu (莊蹻) dẫn binh theo sông đi lên, chiếm Ba, Kiềm Trung (黔中) về phía tây. Trang Kiểu là hậu duệ Sở Trang Vương (楚莊王). Kiểu đến Điền Trì (滇池), vuông 300 dặm, bên cạnh là đất bằng màu mỡ vài ngàn dặm, dùng binh uy định đoạt thuộc Sở. Muốn về báo tin, gặp lúc Tần đánh chiếm quận Ba, Kiềm Trung của Sở, đường sá tắc nghẽn, bèn dùng quân đó làm vương ở Điền, thay trang phục, theo phong tục để cai trị. Thời Tần từng đánh phá, lược thông đường Ngũ Xích (五尺道), đặt quan lại ở các nước này. Hơn 10 năm, Tần diệt. Đến khi Hán hưng, đều bỏ các nước này mà đóng cửa biên giới cũ của Thục. Dân Ba, Thục có người lén ra buôn bán, lấy ngựa Tạc, tôi tớ Bộc (僰), bò mao, nhờ đó Ba, Thục giàu có.
Năm Kiến Nguyên thứ 6 (135 TCN), Đại hành Vương Khôi (王恢) đánh Đông Việt (東粵), Đông Việt giết Vương Dĩnh (王郢) để báo đáp. Khôi nhân binh uy sai lệnh huyện Phiên Dương là Đường Mông (唐蒙) dụ bảo Nam Việt (南粵). Nam Việt cho Mông ăn món tương củ của Thục, Mông hỏi từ đâu đến, nói rằng: "Theo sông Tường Kha (牂柯江) phía tây bắc, sông rộng vài dặm, chảy xuống dưới thành Phiên Ngung (番禺)". Mông về đến Trường An (長安), hỏi người buôn Thục, chỉ Thục mới có tương củ, thường lén mang ra chợ Dạ Lang bán. Dạ Lang nằm sát sông Tường Kha, sông rộng hơn 100 bước, đủ để đi thuyền. Nam Việt dùng tài vật sai khiến Dạ Lang, tây đến Đồng Sư, nhưng cũng không thể bắt làm tôi tớ. Mông bèn dâng thư thuyết phục vua rằng: "Nam Việt vương dùng xe mui vàng cờ tiết tả, đất đai đông tây hơn 10.000 dặm, danh nghĩa là ngoại thần, thực chất là chủ một châu. Nay từ Trường Sa (長沙), Dự Chương (豫章) đi tới, đường thủy nhiều chỗ đứt đoạn, khó đi. Trộm nghe Dạ Lang có 100.000 tinh binh có thể dùng được, thả thuyền sông Tường Kha, xuất kỳ bất ý, đây là một mưu lạ để chế ngự Việt. Thực sự lấy sức mạnh của Hán, sự giàu có của Ba Thục, thông đường Dạ Lang, đặt quan lại, rất dễ". Vua chấp thuận. Bèn bái Mông làm Lang trung tướng, dẫn 1.000 người, dân phu vận lương hơn 10.000 người, từ cửa Phù Quan (符關) thuộc Ba tiến vào, gặp Dạ Lang hầu Đa Đồng (多同). Ban thưởng hậu hĩnh, dụ bằng uy đức, ước định đặt quan lại, cho con trai ông ta làm lệnh. Các ấp nhỏ cạnh Dạ Lang đều tham gấm vóc của Hán, cho rằng đường Hán hiểm trở, cuối cùng không thể chiếm giữ, nên tạm nghe theo ước định của Mông. Về báo cáo, bèn đặt làm quận Kiền Vi (犍爲). Điều quân Ba, Thục trị đường, từ Bộc Đạo (僰道) hướng đến sông Tường Kha. Người Thục là Tư Mã Tương Như (司馬相如) cũng nói Tây Di là Quỳnh, Tạc có thể đặt quận. Sai Tương Như làm Lang trung tướng đi dụ, đều như Nam Di, đặt 1 đô úy, hơn 10 huyện, thuộc Thục. Khi đó, các quận phía tây Ba Thục thông đường Tây Nam Di, vận chuyển lương thực cho nhau. Vài năm, đường không thông, sĩ tốt đói mệt, bị nóng ẩm, người chết rất đông. Tây Nam Di lại nhiều lần phản, phát binh đánh dẹp, hao phí không công. Vua lo lắng, sai Công Tôn Hoằng (公孫弘) đi xem xét. Về báo nói không tiện. Đến khi Hoằng làm Ngự sử đại phu, lúc đó đang xây Sóc Phương (朔方), chiếm giữ sông đuổi Hồ, Hoằng bèn nói Tây Nam Di gây hại, có thể tạm bãi bỏ, tập trung sức đánh Hung Nô (匈奴). Vua chấp thuận, bãi bỏ Tây Di, chỉ đặt 2 huyện và 1 đô úy ở Nam Di, dần để Kiền Vi tự bảo vệ.
Đến năm Nguyên Thụ thứ 1 (122 TCN), Bác Vọng hầu Trương Khiên (張騫) nói khi đi sứ Đại Hạ (大夏), thấy vải Thục, gậy trúc Quỳnh, hỏi từ đâu đến, nói: "Từ nước Thân Độc (身毒) phía đông nam, cách vài ngàn dặm, mua của người buôn Thục ở chợ". Lại nghe phía tây Quỳnh khoảng 2.000 dặm có nước Thân Độc. Khiên nhân đó nói hết lời rằng Đại Hạ ở phía tây nam Hán, ngưỡng mộ Trung Quốc, lo Hung Nô ngăn đường, nếu thông đường Thục, đường đến Thân Độc rất gần lại không có hại. Thế là Thiên tử sai Vương Nhiên Vu (王然子), Bách Thủy Xương (柏始昌), Lữ Việt Nhân (呂越人) hơn 10 đoàn lén đi ngả Tây Nam Di, hướng tìm nước Thân Độc. Đến Điền, Điền vương Đương Khương (當羌) giữ lại để tìm đường. Hơn 4 năm, đều bị Côn Minh chặn, không thể thông. Điền vương hỏi sứ Hán: "Hán với ta ai lớn hơn?". Đến Dạ Lang hầu cũng vậy, mỗi người tự làm vương một châu, không biết Hán rộng lớn. Sứ giả về, nhân đó ráng sức nói rằng Điền là nước lớn, đáng để kết thân. Thiên tử chú ý tới đó.
Đến khi Nam Việt phản, vua sai Trì Nghĩa hầu nhân đó điều binh Nam Di ở Kiền Vi. Thủ lĩnh Thả Lan (且蘭) sợ đi xa, nước lân cận bắt người già yếu, bèn cùng quân phản lại, giết sứ giả và Thái thú Kiền Vi. Hán bèn phát 8 hiệu úy dẫn tội nhân Ba Thục đáng lẽ đi đánh Nam Việt để đánh nơi này. Gặp lúc Việt đã phá, 8 hiệu úy Hán chưa xuống phía nam, Trung lang tướng Quách Xương (郭昌), Vệ Quảng (衞廣) dẫn binh về, giết kẻ ngăn đường Điền là Thả Lan, chém đầu vài vạn, bình định Nam Di làm quận Tường Kha. Dạ Lang hầu lúc đầu dựa vào Nam Việt, Nam Việt đã diệt, Hán quay lại giết kẻ phản, Dạ Lang bèn vào chầu, vua phong làm Dạ Lang vương. Sau khi Nam Việt phá, Hán giết Thả Lan, Quỳnh quân, giết cả Tạc hầu, Nhiễm Mang đều run sợ, xin làm thần đặt quan lại, lấy Quỳnh Đô làm quận Việt Tuy (粵巂), Tạc Đô làm quận Thẩm Lê (沈黎), Nhiễm Mang làm quận Văn Sơn (文山), Bạch Mã ở tây Quảng Hán làm quận Võ Đô (武都).
Sai Vương Nhiên Vu dùng uy thế đánh phá Việt và giết Nam Di để dụ Điền vương vào triều. Điền vương có quân vài vạn người, đông bắc có Lao Thâm (勞深), Mĩ Mặc đều cùng họ nương tựa nhau, chưa chịu nghe. Lao, Mặc nhiều lần xâm phạm sứ giả quan quân. Năm Nguyên Phong thứ 2 (109 TCN), Thiên tử phát binh Ba Thục đánh diệt Lao Thâm, Mĩ Mặc, đem quân áp sát Điền. Điền vương ban đầu có ý thiện, nên không bị giết. Điền vương tách khỏi Tây Di, Điền cả nước đầu hàng, xin đặt quan lại vào triều, thế là đặt làm quận Ích Châu (益州), ban ấn vương cho Điền vương, cho tiếp tục cai quản dân. Thủ lĩnh Tây Nam Di có hàng trăm người, chỉ Dạ Lang, Điền nhận ấn vương. Điền tuy là ấp nhỏ nhưng được sủng ái nhất.
23 năm sau, năm Thủy Nguyên thứ 1 (86 TCN) thời Hiếu Chiêu, dân Liêm Đầu (廉頭), Cô Tăng (姑繒) ở Ích Châu phản, giết quan lại. 24 ấp gồm Tường Kha, Đàm Chỉ (談指), Đồng Tịnh (同並), tổng cộng hơn 30.000 người đều phản. Sai Thủy hành đô úy điều động hơn 10.000 quân tình nguyện quận Thục, Kiền Vi đánh Tường Kha, đại phá quân giặc. 3 năm sau, Cô Tăng, Diệp Du lại phản, sai Thủy hành đô úy Lữ Tích Hồ (呂辟胡) dẫn quân quận đánh. Tích Hồ không tiến, Man Di bèn giết Thái thú Ích Châu, thừa thắng đánh với Tích Hồ, sĩ tốt tử trận và chết đuối hơn 4.000 người. Năm sau, lại sai Quân chính Vương Bình (王平) cùng Đại hồng lư Điền Quảng Minh (田廣明) cùng tiến quân, đại phá Ích Châu, chém đầu bắt sống hơn 50.000 cấp, thu gia súc hơn 100.000 con. Vua nói: "Câu Đinh hầu Vong Ba (亡波) dẫn các thủ lĩnh và nhân dân trong ấp đánh kẻ phản, chém đầu bắt sống có công, lập Vong Ba làm Câu Đinh vương (鉤町王). Đại hồng lư Quảng Minh ban tước Quan nội hầu, hưởng lộc 300 hộ". 1 năm sau, người Đê ở Võ Đô phản, sai Chấp kim ngô Mã Thích Kiến (馬適建), Long Ngạch hầu Hàn Tăng (韓增) cùng Đại hồng lư Quảng Minh dẫn binh đánh dẹp.
Đến giữa niên hiệu Hà Bình (28 TCN - 25 TCN) thời Thành Đế, Dạ Lang vương Hưng (興) cùng Câu Đinh vương Vũ (禹), Lậu Ngọa hầu Du (兪) lại cử binh đánh nhau. Thái thú Tường Kha xin phát binh giết Hưng, người bàn luận cho rằng đường xa không thể đánh, bèn sai Thái trung đại phu quận Thục là Trương Khuông (張匡) cầm tiết đi hòa giải. Hưng không nghe lệnh, khắc gỗ hình quan Hán, dựng bên đường mà bắn. Đỗ Khâm (杜欽) thuyết phục Đại tướng quân Vương Phượng (王鳳) rằng: "Thái trung đại phu Khuông đi hòa giải vương hầu Man Di, vương hầu nhận chiếu rồi lại đánh nhau, coi thường sứ Hán, không sợ uy quốc gia, hiệu quả đã thấy rõ. Sợ người bàn luận nhu nhược, lại giữ việc hòa giải, Thái thú quan sát động tĩnh thấy biến mới báo. Như thế lại lãng phí thời gian, vương hầu có dịp thu tập quân chúng, củng cố mưu đồ, bè đảng đông đảo, mỗi bên không nén được giận, tất tiêu diệt lẫn nhau. Tự biết tội đã thành, điên cuồng phạm vào quan thủ úy, trốn xa nơi độc hại nóng bức, dù có tướng như Tôn, Ngô, sĩ tốt như Phẫn, Dục, nếu vào nước lửa, đi tất chết cháy, trí dũng không chỗ thi triển. Đồn điền canh giữ thì chi phí không thể lường hết. Nên nhân lúc tội ác chưa thành, chưa nghi ngờ nhà Hán gia hình, ngầm sắc lệnh quan thủ úy quận lân cận luyện quân mã, Đại tư nông điều lương thực tích trữ nơi yếu hại, chọn Thái thú đảm đương chức vụ đi đến, đợi lúc thu mát tiến vào, giết vương hầu kẻ bất bành nhất. Nếu cho là đất không mọc cỏ, dân không dùng được, thánh vương không làm nhọc Trung Quốc, thì nên bãi quận, từ bỏ dân, cắt đứt với vương hầu không thông sứ nữa. Nếu cho rằng công lao nhiều đời tiền đế lập nên không thể đổ nát, cũng nên nhân lúc mới mầm mống mà sớm cắt đứt, đợi đến khi đã thành hình mới đánh, thì vạn dân bị hại".
Đại tướng quân Phượng bèn tiến cử Kim Thành tư mã Trần Lập (陳立) làm Thái thú Tường Kha. Lập là người Lâm Cùng (臨邛), trước làm huyện trưởng Liên Nhiên (連然), huyện lệnh Bất Vi (不韋), Man Di sợ ông ta. Đến Tường Kha, dụ bảo Dạ Lang vương Hưng, Hưng không nghe lệnh, Lập xin giết đi. Chưa thấy báo về, bèn dẫn vài chục thuộc hạ đi tuần huyện, đến đình Thả Đồng (且同亭) thuộc nước của Hưng, triệu Hưng đến. Hưng dẫn vài ngàn người đến đình, dẫn vài chục thủ lĩnh vào gặp Lập. Lập kể tội, nhân đó chém đầu. Các thủ lĩnh nói: "Tướng quân giết kẻ vô đạo, trừ hại cho dân, nguyện ra bảo cho quân chúng". Đem đầu Hưng cho xem, đều bỏ khí giới đầu hàng. Câu Đinh vương Vũ, Lậu Ngọa hầu Du run sợ, nộp 1.000 hộc thóc, trâu cừu để thăng thưởng quan quân. Lập về quận, cha vợ Hưng là Ông Chỉ (翁指) cùng con Hưng là Tà Vụ (邪務) thu quân còn lại, ép 22 ấp lân cận phản. Đến mùa đông, Lập tâu xin chiêu mộ các tộc Di cùng Đô úy, Trưởng sử chia quân đánh Ông Chỉ. Ông Chỉ dựa nơi hiểm yếu làm lũy, Lập dùng kỳ binh cắt đường lương, dùng phản gián dụ quân chúng. Đô úy Vạn Niên (萬年) nói: "Đánh lâu không quyết, chi phí không chịu nổi". Dẫn binh tiến riêng, bị bại chạy về doanh trại Lập. Lập giận, quát thủ hạ định chém. Đô úy lại quay lại đánh, Lập dẫn binh cứu. Lúc đó trời đại hạn, Lập đánh cắt đường nước. Man Di cùng chém Ông Chỉ, cầm đầu ra hàng. Lập đã bình định Tây Di, được triệu về kinh sư. Gặp lúc quận Ba có đạo tặc, lại lấy Lập làm Thái thú quận Ba, hưởng lương Trung 2.000 thạch, ban tước Tả thứ trưởng. Dời làm Thái thú Thiên Thủy (天水), khuyến khích nông tang giỏi nhất thiên hạ, ban 40 cân vàng. Vào triều làm Tả tào Vệ tướng quân, Hộ quân đô úy rồi mất khi đang chức.
Vương Mãng (王莽) cướp ngôi, đổi chế độ nhà Hán, giáng Câu Đinh vương xuống làm hầu. Vương Hàm (王邯) oán hận, Đại doãn Tường Kha là Chu Khâm (周欽) lừa giết Hàm. Em Hàm là Thừa (承) đánh giết Khâm, châu quận đánh không phục được. Man Di ba biên giới khổ sở nhiễu loạn đều phản, lại giết Đại doãn Ích Châu là Trình Long (程隆). Mãng sai Bình Man tướng quân Phùng Mậu (馮茂) phát quân lại Ba, Thục, Kiền Vi, vơ vét của dân cho đủ để đánh Ích Châu. Ra vào 3 năm, người chết vì dịch bệnh 7/10, Ba Thục xao động. Mãng triệu Mậu về giết đi. Lại sai Ninh Thủy tướng quân Liêm Đan (廉丹) cùng Ung bộ mục Sử Hùng (史熊) điều động lớn kỵ sĩ Thiên Thủy, Long Tây (隴西), quân dân Quảng Hán, Ba, Thục, Kiền Vi 100.000 người, người vận chuyển tổng cộng 200.000 người để đánh. Mới đến chém vài ngàn đầu, sau đó lương quân trước sau không tiếp ứng được, sĩ tốt đói bệnh, hơn 3 năm chết vài vạn người. Mà Man Di Việt Tuy là Nhậm Quý (任貴) cũng giết Thái thú Mai Căn (枚根), tự lập làm Quỳnh Cốc vương (邛谷王). Gặp lúc Mãng bại Hán hưng, giết Quý, khôi phục tước hiệu cũ.
Nam Việt (南粵)
[sửa]Vũ Vương Triệu Đà (武王 趙佗)
[sửa]Nam Việt vương Triệu Đà là người Chân Định (眞定). Tần sáp nhập thiên hạ, đánh dẹp vùng Dương Việt (揚粵), đặt các quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng Quận (象郡), đưa dân bị đày đến ở lẫn với người Việt. 13 năm sau, đến thời Nhị Thế (二世) [209 TCN], Nam Hải úy Nhậm Hiêu (任囂) ốm sắp chết, gọi huyện lệnh Long Xuyên (龍川) là Triệu Đà đến bảo: "Nghe tin bọn Trần Thắng (陳勝) làm loạn, hào kiệt phản Tần tự lập, Nam Hải hẻo lánh, sợ quân trộm cướp đánh đến đây. Ta muốn dấy binh cắt đứt đường mới mở, tự phòng bị chờ biến động của chư hầu, nhưng bệnh nặng. Vả lại Phiên Ngung (番禺) lưng dựa núi hiểm, nam bắc đông tây vài ngàn dặm, có người Trung Quốc giúp sức, đây cũng là chủ một châu, có thể lập nước. Trong quận các quan lại không ai đủ sức cùng bàn mưu, nên gọi ông đến bảo". Liền trao cho Đà văn thư, thực hiện quyền hành Nam Hải úy. Hiêu chết, Đà liền gửi hịch báo các cửa quan Hoành Phố (橫浦), Dương Sơn (陽山), Hoàng Khê (湟溪) rằng: "Quân cướp sắp đến, gấp cắt đường tụ binh tự giữ". Nhân đó dần dùng luật giết các quan lại do Tần đặt, lấy vây cánh của mình làm thủ giả. Tần đã diệt, Đà liền đánh chiếm cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Võ Vương (南粵武王).
Hán Cao Đế (高帝) đã định thiên hạ, vì Trung Quốc khổ cực nên bỏ qua cho Đà không giết. Năm thứ 11 (196 TCN), sai Lục Giả (陸賈) lập Đà làm Nam Việt vương, cùng trao phù tiết thông sứ giả, khiến hòa hợp bách Việt, đừng làm hại biên giới phía nam, tiếp giáp với Trường Sa (長沙).
Thời Cao Hậu (高后) [187 TCN - 180 TCN], hữu tư xin cấm cửa quan Việt buôn bán đồ sắt. Đà nói: "Cao Hoàng Đế lập ta, thông sứ vật dụng, nay Cao Hậu nghe lời sàm thần, phân biệt Man Di, ngăn cách khí vật, đây tất là kế của Trường Sa vương, muốn dựa vào Trung Quốc đánh diệt Nam Hải để kiêm tính làm vương, tự lập công vậy". Thế là Đà tự tôn hiệu làm Nam Võ Đế (南武帝), phát binh đánh biên giới Trường Sa, phá vài huyện. Cao Hậu sai tướng quân Long Lự hầu Tào (竈) đánh, gặp lúc nóng ẩm, sĩ tốt bị dịch bệnh lớn, quân không qua được cột mốc. Hơn 1 năm, Cao Hậu băng, liền bãi binh. Đà nhân đó dùng binh uy tài vật hối lộ Mân Việt (閩粵), Tây Âu Lạc (西甌駱), bắt phục dịch thuộc quyền. Đất đai đông tây hơn 10.000 dặm. Bèn dùng xe mui vàng cờ tiết tả, xưng chế, ngang hàng với Trung Quốc.
Năm Văn Đế (文帝) thứ 1 (179 TCN), mới trấn phủ thiên hạ, sai người báo cho chư hầu bốn phương về ý định lên ngôi từ đất Đại (代), dụ bảo đức lớn. Bèn đặt hộ giữ ấp cho mộ thân tộc của Đà ở Chân Định, cúng tế hàng năm. Gọi anh em họ của Đà, phong quan cao thưởng hậu để sủng ái. Gọi Thừa tướng Trần Bình (平) cử người có thể đi sứ Việt, Bình nói Lục Giả thời Tiên đế từng đi sứ Việt. Vua gọi Giả làm Thái trung đại phu, một người Yết giả làm phó sứ, ban thư cho Đà rằng:
"Hoàng đế cẩn trọng hỏi thăm Nam Việt vương, rất khổ tâm lao ý. Trẫm là con vợ lẽ của Cao Hoàng Đế, bị bỏ rơi bên ngoài giữ phiên dậu phía bắc ở đất Đại, đường sá xa xôi, nghẽn lấp ngu mộc, chưa từng gửi thư. Cao Hoàng Đế bỏ quần thần, Hiếu Huệ Hoàng đế qua đời, Cao Hậu tự thân trị sự, không may có bệnh, ngày càng trầm trọng, vì thế việc cai trị sai lầm bạo ngược. Các nhà họ Lã gây biến loạn pháp, không thể một mình chế ngự, bèn lấy con họ khác làm người nối dõi Hiếu Huệ Hoàng đế. Nhờ linh thiêng tông miếu, sức lực công thần, đã giết sạch bọn chúng. Trẫm vì vương hầu quan lại không buông tha, nên không thể không lập, nay lên ngôi. Vừa rồi nghe Vương gửi thư cho tướng quân Long Lự hầu, tìm anh em thân tộc, xin bãi hai tướng quân ở Trường Sa. Trẫm vì thư của Vương đã bãi tướng quân Bác Dương hầu; anh em thân tộc ở Chân Định đã sai người thăm hỏi, tu sửa mộ tiền nhân. Trước đây nghe Vương phát binh ở biên giới, làm giặc gây tai họa không dứt. Khi đó, Trường Sa khổ sở, Nam Quận càng nặng, dù là nước của Vương, lẽ nào độc lợi sao! Tất giết nhiều sĩ tốt, thương tổn tướng giỏi quan hay, làm vợ người ta góa bụa, con người ta mồ côi, cha mẹ người ta đơn chiếc, được 1 mất 10, trẫm không nỡ làm vậy. Trẫm muốn định lại đất đai xen kẽ như răng chó, hỏi quan lại, họ nói 'đó là nơi Cao Hoàng Đế phân giới đất Trường Sa', trẫm không được tự tiện thay đổi. Quan lại nói: 'Được đất của Vương không đủ để làm lớn, được tài vật của Vương không đủ để làm giàu, từ núi Lĩnh về nam, Vương tự trị lấy'. Tuy nhiên, hiệu của Vương là Đế. Hai Đế cùng lập, không có một sứ giả đi xe thông đường, ấy là tranh giành; tranh mà không nhường, người nhân không làm. Nguyện cùng Vương bỏ qua hiềm khích trước, từ nay về sau thông sứ như cũ. Nên sai Giả ruổi ngựa báo Vương ý của trẫm, Vương cũng nhận lấy, đừng làm giặc gây tai họa nữa. Ban cho Vương 50 bộ áo lớp trên, 30 bộ áo lớp giữa, 20 bộ áo lớp dưới. Nguyện Vương nghe nhạc giải sầu, thăm hỏi nước láng giềng".
Lục Giả đến, Nam Việt vương sợ, bèn dập đầu tạ tội, nguyện phụng minh chiếu, mãi làm thần phiên dậu, giữ chức dâng nộp. Thế là hạ lệnh trong nước rằng: "Ta nghe hai hùng không cùng lập, hai hiền không cùng đời. Hán Hoàng đế là bậc thiên tử hiền. Từ nay về sau, bỏ đế chế xe mui vàng cờ tiết tả".
Nhân đó làm thư xưng: "Man Di đại trưởng lão phu thần Đà mạo chết lạy hai lạy dâng thư Hoàng đế bệ hạ: Lão phu vốn là quan lại cũ của Việt, Cao Hoàng Đế may mắn ban cho thần Đà ấn tỷ làm Nam Việt vương, cho làm ngoại thần, thời kỳ vào cống nộp. Hiếu Huệ Hoàng đế lên ngôi, nghĩa không nỡ dứt, ban cho lão phu rất hậu. Cao Hậu tự thân nắm quyền, gần gũi kẻ tiểu nhân, tin sàm thần, phân biệt Man Di, ra lệnh rằng: 'Không cho Man Di ngoài Việt kim loại và đồ nông cụ; ngựa, trâu, cừu nếu cho thì cho con đực, không cho con cái'. Lão phu ở nơi hẻo lánh, ngựa cừu đã già, tự nghĩ việc tế tự không tu sửa, có tội chết, sai Nội sử Phiên, Trung úy Cao, Ngự sử Bình tổng cộng 3 đoàn dâng thư tạ lỗi, đều không thấy về. Lại nghe phong thanh mồ mả cha mẹ lão phu đã bị phá hủy, anh em tông tộc đã bị giết sạch. Quan lại cùng bàn rằng: 'Nay trong không được lòng Hán, ngoài không lấy gì tự cao khác biệt'. Nên đổi hiệu làm Đế, tự xưng Đế ở nước mình, không dám gây hại thiên hạ vậy. Cao Hoàng hậu nghe tin đại nộ, xóa tên Nam Việt trong sổ tịch, khiến sứ giả không thông. Lão phu trộm nghi Trường Sa vương là sàm thần, nên mới dám phát binh đánh biên giới. Vả lại phương nam thấp ướt, trong đám Man Di phía tây có Tây Âu, dân chúng gầy yếu, cũng xưng vương; phía đông có Mân Việt, dân chúng vài ngàn người, cũng xưng vương; phía tây bắc có Trường Sa, một nửa là Man Di, cũng xưng vương. Lão phu vì thế mới dám trộm lấy đế hiệu, tạm để tự vui. Thân lão phu định đoạt đất 100 ấp, đông tây nam bắc vài chục triệu dặm, quân mặc giáp hơn 1.000.000 người, nhưng vẫn ngoảnh mặt về bắc thờ Hán làm thần, vì sao? Vì không dám phản lại tiền nhân. Lão phu ở Việt 49 năm, đến nay đã bế cháu. Vậy mà thức khuya dậy sớm, ngủ không yên chiếu, ăn không ngon vị, mắt không nhìn sắc đẹp, tai không nghe tiếng chuông trống, vì không được thờ Hán vậy. Nay bệ hạ may mắn thương xót, cho khôi phục hiệu cũ, thông sứ với Hán như trước, lão phu dù chết xương không nát, đổi hiệu không dám làm Đế nữa! Kính cẩn ngoảnh mặt về bắc nhờ sứ giả dâng một đôi bạch ngọc bích, 1.000 chim thúy, 10 sừng tê, 500 vỏ sò tím, một khí cụ sâu quế, 40 đôi thúy sống, 2 đôi công. Mạo chết lạy hai lạy, dâng lên Hoàng đế bệ hạ".
Lục Giả về báo, Văn Đế rất mừng. Sau đó đến thời Hiếu Cảnh (孝景) [157 TCN - 141 TCN], Đà xưng thần sai sứ vào triều cống. Nhưng khi ở trong nước, vẫn trộm dùng đế hiệu như cũ; khi sứ giả đến chỗ Thiên tử thì xưng vương nhận mệnh như chư hầu.
Văn Vương Triệu Hồ (文王 趙胡)
[sửa]Đến năm Kiến Nguyên thứ 4 (137 TCN) thời Vũ Đế, cháu của Đà là Hồ làm Nam Việt vương. Lên ngôi được 3 năm, Mân Việt vương Dĩnh (郢) hưng binh đánh các ấp biên thùy phía nam. Việt sai người dâng thư nói: "Hai nước Việt đều là thần phiên dậu, không được tự tiện hưng binh công kích lẫn nhau. Nay Đông Việt tự ý dấy binh xâm phạm thần, thần không dám hưng binh, chỉ mong Thiên tử ra chiếu chỉ". Thế là Thiên tử khen Nam Việt có nghĩa, giữ đúng chức trách ước định, bèn vì đó mà hưng sư, sai hai tướng quân đi tiễu phạt Mân Việt. Quân chưa vượt núi Lĩnh, em trai Mân Việt vương là Dư Thiện (餘善) đã giết Dĩnh để hàng, thế là bãi binh.
Thiên tử sai Nghiêm Trợ (嚴助) sang dụ bảo ý chỉ, Nam Việt vương Hồ dập đầu nói: "Thiên tử vì thế mà hưng binh giết Mân Việt, thần chết cũng không báo đáp hết ơn đức!". Sai Thái tử Anh Tề (嬰齊) vào làm Túc vệ. Bảo Trợ rằng: "Nước mới bị giặc đánh, sứ giả hãy đi trước. Hồ đang ngày đêm thu xếp để vào kiến diện Thiên tử". Sau khi Trợ đi, các đại thần can Hồ rằng: "Hán hưng binh giết Dĩnh, cũng là hành động để làm kinh động Nam Việt. Vả lại Tiên vương dặn rằng thờ Thiên tử cốt ở chỗ không thất lễ, tóm lại không thể vì ham lời nói ngọt mà vào chầu. Vào chầu thì không được trở về nữa, đó là thế mất nước vậy". Thế là Hồ cáo bệnh, rốt cuộc không vào chầu. Hơn 10 năm sau, Hồ thực sự bệnh nặng, Thái tử Anh Tề xin về nước. Hồ mất, thụy hiệu là Văn Vương.
Minh Vương Triệu Anh Tề (明王 趙嬰齊)
[sửa]Anh Tề (嬰齊) nối ngôi, liền cất đi ấn tỷ của tiền nhân là Võ Đế và Văn Đế. Khi Anh Tề ở Trường An (長安), lấy người con gái họ Cưu (摎氏) ở Hàm Đan (邯鄲), sinh con là Hưng (興). Đến khi lên ngôi, dâng thư xin lập người con gái họ Cưu làm Hậu, Hưng làm người kế vị. Hán nhiều lần sai sứ giả dụ bảo, Anh Tề vẫn còn ham thích việc tự tiện giết chóc phóng túng, sợ vào chầu sẽ bị buộc dùng pháp luật nhà Hán, ngang hàng với các chư hầu nội địa, nên nhất quyết cáo bệnh, rốt cuộc không vào chầu. Sai con thứ là Công (公) vào làm Túc vệ. Anh Tề mất, thụy hiệu là Minh Vương.
Ai Vương Triệu Hưng (哀王 趙興)
[sửa]Thái tử Hưng (興) nối ngôi, mẹ là Thái hậu. Thái hậu từ lúc chưa làm vợ Anh Tề (嬰齊), từng thông dâm với người Bá Lăng (霸陵) là An Quốc Thiếu Quý (安國少季). Đến sau khi Anh Tề mất, năm Nguyên Đỉnh thứ 4 (113 TCN), Hán sai An Quốc Thiếu Quý dụ Vương và Vương thái hậu vào chầu, lệnh cho biện sĩ Gián đại phu Chung Quân (終軍) tuyên lời dụ, dũng sĩ Ngụy Thần (魏臣) phò trợ quyết đoán, Vệ úy Lộ Bác Đa (路博多) dẫn binh đóng ở Quế Dương (桂陽) đợi sứ giả. Vương còn trẻ, Thái hậu là người Trung Quốc, An Quốc Thiếu Quý đến lại cùng tư thông, người trong nước đều biết, nhiều người không phục Thái hậu. Thái hậu sợ loạn nổi lên, cũng muốn dựa vào uy thế nhà Hán, khuyên Vương cùng các sủng thần cầu xin nội thuộc. Liền nhân sứ giả dâng thư, xin ngang hàng với chư hầu nội địa, 3 năm một lần vào chầu, bãi bỏ cửa quan biên giới. Thế là Thiên tử chấp thuận, ban ấn bạc cho Thừa tướng Lữ Gia (呂嘉), cùng ấn Nội sử, Trung úy, Thái phó, còn lại được tự đặt. Bãi bỏ các hình phạt gọt đầu, xẻo mũi cũ, dùng luật nhà Hán. Các sứ giả đều ở lại vỗ về. Vương và Vương thái hậu sửa soạn hành trang cùng trọng bảo để chuẩn bị vào chầu.
Thừa tướng Lữ Gia tuổi đã cao, làm tướng qua 3 đời vương, tông tộc làm quan quý hiển đến chức trưởng lại hơn 70 người, con trai đều lấy con gái vương, con gái đều gả cho vương tử và tôn thất, lại có liên kết với Thương Ngô Tần vương (蒼梧秦王). Gia ở trong nước rất trọng vọng, người Việt tin theo, nhiều kẻ làm tai mắt, được lòng dân hơn cả Vương. Vương dâng thư, Gia nhiều lần can ngăn nhưng Vương không nghe. Gia có lòng phản nghịch, nhiều lần cáo bệnh không gặp sứ giả Hán. Sứ giả chú ý đến Gia nhưng thế chưa thể giết ngay. Vương và Vương thái hậu cũng sợ bọn Gia phát động trước, muốn mượn quyền thế sứ giả để mưu giết bọn Gia. Bèn đặt tiệc mời sứ giả, đại thần đều ngồi hầu rượu. Em Gia là tướng, dẫn quân đóng ngoài cung. Tiệc rượu đang hành, Thái hậu bảo Gia: "Nam Việt nội thuộc là cái lợi của nước, mà tướng quân lại khổ sở cho là không tiện, vì sao vậy?" nhằm kích nộ sứ giả. Sứ giả nghi ngại nhìn nhau, rốt cuộc không dám ra tay. Gia thấy tai mắt không ổn, liền vội vã đi ra. Thái hậu giận, muốn dùng giáo đâm Gia, Vương ngăn lại. Gia bèn ra ngoài, mượn binh của em về nhà, cáo bệnh, không chịu gặp Vương và sứ giả. Sau đó âm mưu làm loạn. Vương vốn không có ý giết Gia, Gia biết vậy nên qua nhiều tháng vẫn không phát động. Chỉ một mình Thái hậu muốn giết bọn Gia nhưng sức lại không đủ.
Thiên tử nghe tin, trách tội sứ giả khiếp nhược không quyết đoán. Lại cho rằng Vương và Vương thái hậu đã theo Hán, chỉ một mình Lữ Gia làm loạn, không đáng để hưng binh lớn, muốn sai Trang Tham (莊參) dẫn 2.000 người đi. Tham nói: "Đi bằng hòa hảo thì vài người là đủ; đi bằng võ lực thì 2.000 người không đủ làm gì". Tham từ chối, Thiên tử bãi binh của Tham. Tráng sĩ đất Giáp là nguyên Tế Bắc tướng Hàn Thiên Thu (韓千秋) hăng hái nói: "Với một nước Việt nhỏ bé, lại có Vương hưởng ứng, chỉ một mình Thừa tướng Lữ Gia gây hại, nguyện được 300 dũng sĩ, tất chém Gia để báo đáp". Thế là Thiên tử sai Thiên Thu cùng em Thái hậu là Cưu Lạc (摎樂) dẫn 2.000 người đi. Vào đến biên giới Việt, Lữ Gia bèn thực sự phản nghịch, hạ lệnh trong nước rằng: "Vương còn trẻ. Thái hậu là người Trung Quốc, lại cùng sứ giả gian dâm, chuyên quyền muốn nội thuộc, đem hết báu vật của Tiên vương dâng cho Thiên tử để lấy lòng, dẫn theo nhiều người đến Trường An, bắt bán làm tôi tớ. Chỉ lo cái lợi nhất thời cho bản thân mà không màng đến xã tắc họ Triệu, không lo kế vạn đời". Bèn cùng em dẫn quân đánh giết Thái hậu và Vương, giết sạch sứ giả Hán, sai người báo cho Thương Ngô Tần vương cùng các quận huyện, lập con trưởng của Minh Vương là Thuật Dương hầu Kiến Đức (建德) - người có mẹ là người Việt - lên làm Vương. Khi quân của Hàn Thiên Thu tiến vào, phá được vài ấp nhỏ. Sau đó người Việt giả vờ mở đường cấp lương, khi chưa đến Phiên Ngung 40 dặm, Việt dùng binh đánh Thiên Thu và thuộc cấp, diệt sạch. Sai người đem phù tiết của sứ giả Hán bỏ vào hòm đặt nơi biên giới, dùng lời lẽ dối trá để tạ tội, rồi phát binh giữ nơi yếu hại. Thế là Thiên tử nói: "Hàn Thiên Thu dù không thành công nhưng cũng là người đứng đầu quân phong. Phong con là Diên Niên làm Thành An hầu. Cưu Lạc có chị là Vương thái hậu, trước hết nguyện thuộc Hán, phong con là Quảng Đức làm Long hầu". Bèn xá thiên hạ, nói: "Thiên tử suy vi, chư hầu dùng sức cai trị, chê cười thần tử không đánh kẻ tặc. Lữ Gia, Kiến Đức phản nghịch, tự lập ung dung, lệnh cho người Việt và 100.000 quân lâu thuyền từ phía nam Giang Hoài đến thảo phạt".
Thuật Dương hầu Triệu Kiến Đức (術陽侯 趙建德)
[sửa]Mùa thu năm Nguyên Đỉnh thứ 5 (112 TCN), Vệ úy Lộ Bác Đa (路博多) làm Phục Ba tướng quân, ra khỏi Quế Dương (桂陽), xuôi dòng Hoàng Thủy (湟水); Chủ tước Đô úy Dương Phục (楊僕) làm Lâu Thuyền tướng quân, ra khỏi Dự Chương (豫章), xuôi dòng Hoành Phố (橫浦); hai người nguyên là Quy Nghĩa Việt hầu làm Qua Thuyền tướng quân và Hạ Lại tướng quân, ra khỏi Linh Lăng (零陵), người xuôi dòng Ly Thủy (離水), người đến Thương Ngô (蒼梧); sai Trì Nghĩa hầu nhân điều động tội nhân Ba Thục, phát binh Dạ Lang (夜郎), xuôi dòng sông Tường Kha (牂柯江); tất cả hội quân tại Phiên Ngung (番禺).
Mùa đông năm thứ 6 (111 TCN), Lâu Thuyền tướng quân dẫn tinh binh trước tiên chiếm được Tầm Hiệp (尋陿), phá Thạch Môn (石門), thu được thuyền lương của Việt, nhân đó tiến lên phía trước, làm nhụt nhuệ khí quân Việt, lấy vài vạn quân Việt đợi Phục Ba tướng quân. Phục Ba tướng quân dẫn tội nhân, đường xa nên đến muộn, khi hội quân với Lâu Thuyền chỉ có hơn 1.000 người, bèn cùng tiến quân. Lâu Thuyền đi trước, đến Phiên Ngung, Kiến Đức và Gia đều cố thủ trong thành. Lâu Thuyền tự chọn chỗ thuận lợi, đóng quân ở mặt đông nam, Phục Ba đóng ở mặt tây bắc. Gặp lúc trời tối, Lâu Thuyền đánh bại người Việt, phóng lửa đốt thành. Người Việt vốn nghe danh Phục Ba nhưng không biết binh lính nhiều ít thế nào. Phục Ba bèn lập doanh trại, sai sứ chiêu hàng, ban ấn thụ, lại thả cho họ đi chiêu dụ nhau. Lâu Thuyền ra sức đánh đốt quân địch, quân địch lại bị xua chạy vào trong doanh trại Phục Ba. Đến tảng sáng, trong thành đều hàng Phục Ba. Lữ Gia, Kiến Đức cùng bộ hạ vài trăm người nhân đêm tối trốn ra biển. Phục Ba lại hỏi kẻ hàng, biết chỗ Gia đi, sai người đuổi theo. Thế là hiệu ty tư mã là Tô Hoằng (蘇弘) bắt được Kiến Đức, phong làm Hải Thường hầu; quan lang người Việt là Đô Kê (都稽) bắt được Gia, phong làm Lâm Thái hầu.
Thương Ngô vương Triệu Quang (蒼梧王 趙光)
[sửa]Thương Ngô vương Triệu Quang (趙光) cùng họ với Việt vương, nghe tin quân Hán đến thì đầu hàng, được phong làm Tùy Đào hầu (隨桃侯). Đến khi huyện lệnh Yết Dương (揭陽) của Việt là Sử Định (史定) hàng Hán, được phong làm An Đạo hầu (安道侯). Tướng Việt là Tất Thủ (畢取) đem quân hàng, được phong làm Liêu hầu (膫侯). Giám quận Quế Lâm (桂林) của Việt là Cư Ông (居翁) dụ bảo hơn 400.000 dân Âu Lạc (甌駱) đầu hàng, được phong làm Tương Thành hầu (湘城侯). Quân của Qua Thuyền tướng quân, Hạ Lại tướng quân và binh Dạ Lang (夜郎) do Trì Nghĩa hầu điều động chưa kịp xuống thì Nam Việt đã bình định xong. Bèn lấy đất đó đặt làm 9 quận: Đạm Nhĩ (儋耳), Châu Nhai (珠崖), Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Úc Lâm (郁林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交阯), Cửu Chân (九眞), Nhật Nam (日南). Phục Ba tướng quân được tăng thêm thực ấp. Lâu Thuyền tướng quân nhờ công đi đầu phá địch mà được phong làm Tương Lương hầu (將梁侯).
Từ thời Úy Đà (尉佗) làm vương trải qua 5 đời, tổng cộng 93 năm thì mất nước.
Mân Việt (閩粵), Đông Âu (東歐)
[sửa]Vua Mân Việt là Vô Chư (無諸) và vua Đông Hải vùng Việt là Dao (搖), tiên tổ đều là hậu duệ của Việt vương Câu Tiễn (勾踐), họ Ôn (騶). Tần sáp nhập thiên hạ, phế xuống làm quân trưởng, lấy đất đó đặt làm quận Mân Trung (閩中). Đến khi chư hầu phản Tần, Vô Chư và Dao dẫn người Việt theo huyện lệnh Phiên Dương là Ngô Nhuế (吴芮), tức là người được gọi là Phiên quân, theo chư hầu diệt Tần. Lúc bấy giờ, Hạng Vũ (項羽) nắm quyền bính, không phong vương cho họ, vì thế họ không giúp Sở. Hán đánh Hạng Tịch (項籍), Vô Chư và Dao dẫn người Việt giúp Hán. Năm Hán thứ 5 (202 TCN), phục lập Vô Chư làm Mân Việt vương, làm vương đất cũ Mân Trung, đóng đô ở Dã (冶). Năm Hiếu Huệ thứ 3 (192 TCN), xét công lao người Việt thời Cao Đế, nói rằng Mân quân Dao công nhiều, dân chúng tin theo, bèn lập Dao làm Đông Hải vương, đóng đô ở Đông Âu (東歐), đời đời gọi là Đông Âu vương.
Sau đó mấy đời, năm Hiếu Cảnh thứ 3 (154 TCN), Ngô vương Tị (濞) phản, muốn lôi kéo Mân Việt, Mân Việt không chịu theo, chỉ có Đông Âu đi theo. Đến khi quân Ngô bại, Đông Âu nhận tiền thưởng của Hán, giết Ngô vương ở Đan Đồ (丹徒), nhờ đó mà không bị tội.
Con trai Ngô vương là Câu (駒) chạy sang Mân Việt, oán hận Đông Âu giết cha mình, thường khuyên Mân Việt đánh Đông Âu. Năm Kiến Nguyên thứ 3 (138 TCN), Mân Việt phát binh vây Đông Âu, Đông Âu sai người báo cấp với Thiên tử. Thiên tử hỏi Thái úy Điền Phấn (田蚡), Phấn đáp rằng: "Người Việt đánh nhau vốn là chuyện thường, không đáng để làm phiền Trung Quốc đến cứu". Trung đại phu Nghiêm Trợ (嚴助) chất vấn Phấn, nói rằng nên cứu. Thiên tử sai Trợ điều binh quận Hội Khê (會稽) vượt biển đi cứu, lời lẽ chi tiết nằm ở bản truyện về Trợ. Quân Hán chưa đến, Mân Việt đã rút binh đi. Đông Âu xin đem cả nước dời vào Trung Quốc, bèn đưa toàn bộ quân dân đến ở vùng giữa sông Giang và sông Hoài.
Năm thứ 6 (135 TCN), Mân Việt đánh Nam Việt, Nam Việt giữ đúng ước định với Thiên tử, không dám tự ý phát binh mà báo lên trên. Vua sai Đại hành Vương Khôi (王恢) ra ngả Dự Chương (豫章), Đại tư nông Hàn An Quốc (韓安國) ra ngả Hội Khê, đều làm tướng quân. Quân chưa vượt núi Lĩnh, Mân Việt vương Dĩnh (郢) phát binh giữ nơi hiểm yếu. Em trai là Dư Thiện (餘善) cùng tông tộc mưu rằng: "Vương vì tự ý phát binh, không xin phép, nên quân Thiên tử đến giết. Quân Hán đông mạnh, dù may mắn thắng được thì sau này lại đến càng nhiều, diệt nước mới thôi. Nay giết Vương để tạ tội với Thiên tử, Thiên tử bãi binh, nước nhà vững toàn. Không nghe thì ra sức đánh, không thắng tất phải trốn ra biển". Mọi người đều nói: "Phải". Liền dùng giáo đâm chết Vương, sai sứ dâng đầu đến chỗ Đại hành. Đại hành nói: "Mục đích đến đây là để giết Vương. Đầu Vương đã đến, không đánh mà giặc đổ, lợi không gì bằng". Bèn tùy nghi đóng quân lại, báo cho quân của Đại tư nông, rồi sai sứ mang đầu Vương ruổi ngựa báo về Thiên tử. Có chiếu bãi binh của hai tướng quân, nói rằng: "Dĩnh là kẻ cầm đầu tội ác, chỉ có cháu Vô Chư là Dao quân Sửu (醜) không tham dự mưu đồ". Bèn sai Lang trung tướng lập Sửu làm Việt Dao vương (粵繇王), lo việc tế tự Mân Việt.
Dư Thiện nhờ giết Dĩnh mà uy quyền bao trùm trong nước, dân chúng nhiều người theo về, bèn lén tự lập làm vương, Dao vương không thể chế ngự. Vua nghe tin, cho rằng Dư Thiện không đáng để lại hưng sư, nói: "Dư Thiện đi đầu giết Dĩnh, khiến quân ta không phải vất vả". Nhân đó lập Dư Thiện làm Đông Việt vương (東粵王), cùng trị vì với Dao vương.
Đến năm Nguyên Đỉnh thứ 5 (112 TCN), Nam Việt phản, Dư Thiện dâng thư xin dẫn 8.000 binh theo Lâu Thuyền tướng quân đánh Lữ Gia. Binh đến Yết Dương (揭陽), lấy cớ gió bão trên biển để trì hoãn, không đi, bắt cá hai tay, ngầm sai sứ sang Nam Việt. Đến khi Hán phá được Phiên Ngung (番禺), Lâu Thuyền tướng quân Dương Phục (楊僕) dâng thư xin dẫn binh đánh Đông Việt. Vua cho rằng sĩ tốt mệt mỏi nên không hứa. Bãi binh, lệnh cho các hiệu úy đóng quân ở Mai Lĩnh (梅領) thuộc Dự Chương đợi mệnh.
Mùa thu năm sau (111 TCN), Dư Thiện nghe tin Lâu Thuyền tướng quân xin giết mình, quân Hán lại đóng ở biên giới sắp tiến sang, bèn phát binh chặn đường quân Hán, phong các tướng như Ôn Lực (騶力) làm "Thôn Hán tướng quân" (呑漢將軍), đánh vào Bạch Sa (白沙), Võ Lâm (武林), Mai Lĩnh, giết 3 hiệu úy của Hán. Lúc đó, Hán sai Đại tư nông Trương Thành (張成), nguyên Sơn Châu hầu Xỉ (齒) dẫn quân đóng giữ, nhưng không dám đánh, lùi lại tìm nơi thuận lợi, đều bị tội sợ hãi nhu nhược mà bị giết. Dư Thiện khắc ấn "Võ Đế" (武帝) tự lập, dối gạt dân chúng, nói lời xằng bậy. Vua sai Hoành Hải tướng quân Hàn Thuyết (韓説) ra ngả Cú Chương (句章), vượt biển đi từ phía đông; Lâu Thuyền tướng quân Phục ra ngả Võ Lâm, Trung úy Vương Ôn Thư (王温舒) ra ngả Mai Lĩnh, Việt hầu làm Qua Thuyền và Hạ Lại tướng quân ra ngả Như Tà (如邪), Bạch Sa, mùa đông năm Nguyên Phong thứ 1 (110 TCN), tất cả tiến vào Đông Việt. Đông Việt vốn phát binh giữ nơi hiểm yếu, sai Tuần Bắc tướng quân giữ Võ Lâm, đánh bại vài hiệu úy của quân Lâu Thuyền, giết Trưởng sử. Sĩ tốt quân Lâu Thuyền là Viên Chung Cổ (榬終古) người Tiền Đường chém được Tuần Bắc tướng quân, được phong làm Ngữ Mạo hầu (語皃侯). Từ đó quân không tiến nữa.
Nguyên Việt Diễn hầu Ngô Dương (呉陽) trước ở Hán, Hán sai về dụ Dư Thiện nhưng không nghe. Đến khi quân Hoành Hải tới, Dương dẫn 700 người ở ấp mình phản lại, đánh quân Việt tại Hán Dương (漢陽). Sau đó nguyên Việt Kiến Thành hầu Ngạo (敖) cùng Dao vương Cư Cổ (居股) mưu tính, cùng giết Dư Thiện, đem quân chúng hàng quân Hoành Hải. Phong Cư Cổ làm Đông Thành hầu, 10.000 hộ; phong Ngạo làm Khai Lăng hầu; phong Dương làm Mão Thạch hầu; Hoành Hải tướng quân Thuyết làm Án Đạo hầu, Hoành Hải hiệu úy Phúc (福) làm Liễu Anh hầu. Phúc là con trai Thành Dương vương, trước làm Hải Thường hầu, phạm pháp mất tước, theo quân lập công, nhờ là tông thất nên được lại tước hầu. Đến khi tướng Đông Việt là Đa Quân (多軍) thấy quân Hán tới, bỏ quân đầu hàng, được phong làm Vô Tích hầu. Nguyên tướng Âu Lạc (甌駱) là Tả Hoàng Đồng (左黃同) chém Tây Vu vương (西于王), được phong làm Hạ Phu hầu.
Thế là Thiên tử nói: "Đông Việt nhỏ hẹp nhiều hiểm trở, dân Mân Việt hung hãn, nhiều lần phản phúc", ra chiếu cho quân lại đem toàn bộ dân chúng dời đến ở vùng giữa sông Giang và sông Hoài. Đất Đông Việt từ đó bỏ trống.
Triều Tiên (朝鮮)
[sửa]Vua Triều Tiên tên Mãn (滿) là người Yên (燕). Từ thời nước Yên mới bắt đầu, từng chiếm thuộc các vùng Chân Phiên (眞番), Triều Tiên, đặt quan lại và xây đắp công sự. Tần diệt Yên, nơi này thuộc về cõi ngoài của Liêu Đông (遼東). Nhà Hán hưng thịnh, vì nơi đó xa xôi khó giữ nên lại tu sửa cửa ải cũ ở Liêu Đông, lấy sông Phái (浿水) làm ranh giới, thuộc về nước Yên. Yên vương Lư Quán (盧綰) phản Hán chạy sang Hung Nô, Mãn phải vong mệnh, tụ tập đồ đảng hơn 1.000 người, búi tóc hình dùi, mặc trang phục Man Di, chạy về phía đông ra khỏi cửa ải, vượt sông Phái, ở tại đất trống cũ của nhà Tần là Thượng Hạ Chướng, dần bắt các tộc Man Di ở Chân Phiên, Triều Tiên cùng những người vong mệnh từ Yên, Tề (齊) cũ phải phục dịch rồi làm vương, đóng đô ở Vương Hiểm (王險).
Gặp lúc Hiếu Huệ, Cao Hậu thiên hạ mới định, Thái thú Liêu Đông liền ước định Mãn làm ngoại thần, bảo vệ Man Di ngoài biên ải, không được để chúng cướp bóc biên thùy; thủ lĩnh các tộc Man Di muốn vào kiến diện Thiên tử thì không được ngăn cấm. Báo lên trên, vua chấp thuận, vì thế Mãn dựa vào binh uy và tài vật để xâm chiếm, hàng phục các ấp nhỏ lân cận, Chân Phiên và Lâm Đồn (臨屯) đều đến thần phục, đất rộng vài ngàn dặm.
Truyền ngôi đến đời cháu là Hữu Cừ (右渠), lôi kéo người Hán trốn sang ngày càng nhiều, lại chưa từng vào chầu; nước Chân Phiên, nước Thần (辰國) muốn dâng thư kiến diện Thiên tử cũng bị ngăn trở không thông. Năm Nguyên Phong thứ 2 (109 TCN), Hán sai Thiệp Hà (渉何) trách dụ Hữu Cừ, nhưng Hữu Cừ rốt cuộc không chịu phụng chiếu. Hà đi đến biên giới, sát sông Phái, sai người đánh xe đâm chết người tiễn đưa là Triều Tiên tỳ vương Trường (長), liền vượt sông, ruổi ngựa vào cửa ải, về báo Thiên tử rằng "đã giết tướng Triều Tiên". Vua cho đó là danh tiếng tốt nên không trách tội, phong Hà làm Liêu Đông đông bộ đô úy. Triều Tiên oán hận Hà, phát binh đánh tập kích, giết chết Hà.
Thiên tử chiêu mộ tội nhân đánh Triều Tiên. Mùa thu năm đó, sai Lâu Thuyền tướng quân Dương Phục (楊僕) từ nước Tề vượt biển Bột Hải, binh lực 50.000 người; Tả tướng quân Tuân Trệ (荀彘) ra ngả Liêu Đông, để giết Hữu Cừ. Hữu Cừ phát binh giữ nơi hiểm yếu. Sĩ tốt của Tả tướng quân phần lớn là quân Liêu Đông đi tiên phong trước, bị bại trận tan tác. Những kẻ chạy về đều bị xử trảm theo luật. Lâu Thuyền tướng quân dẫn 7.000 quân Tề đến Vương Hiểm trước. Hữu Cừ cố thủ trong thành, biết quân Lâu Thuyền ít, liền ra đánh, quân Lâu Thuyền bại chạy. Tướng quân Phục lạc mất quân chúng, trốn trong núi hơn 10 ngày, dần thu thập tàn binh rồi tụ họp lại. Tả tướng quân đánh quân Triều Tiên ở phía tây sông Phái nhưng chưa phá được.
Thiên tử thấy hai tướng chưa có lợi thế, bèn sai Vệ Sơn (衞山) nhân binh uy sang dụ Hữu Cừ. Hữu Cừ gặp sứ giả, dập đầu tạ lỗi: "Nguyện đầu hàng, chỉ sợ các tướng lừa giết thần; nay thấy tin vật phù tiết, xin phục tùng". Sai Thái tử vào tạ ơn, dâng 5.000 thớt ngựa và tiếp tế quân lương. Quân đi theo hơn 10.000 người có mang binh khí, đang lúc chuẩn bị vượt sông Phái, sứ giả và Tả tướng quân nghi họ làm phản, bảo Thái tử đã hàng thì nên lệnh cho người không được mang binh khí, Thái tử cũng nghi sứ giả và Tả tướng quân lừa mình, bèn không vượt sông mà dẫn quân về. Sơn về báo, Thiên tử giết Sơn.
Tả tướng quân đánh bại quân địch trên sông Phái rồi tiến đến dưới thành, vây phía tây bắc. Lâu Thuyền cũng đến hội quân, đóng ở phía nam thành. Hữu Cừ kiên trì giữ thành, vài tháng chưa hạ được.
Tả tướng quân vốn là thị trung, được sủng ái, dẫn quân các vùng Yên, Đại (代) hung hãn, thừa thắng nên quân nhiều kẻ kiêu ngạo. Lâu Thuyền dẫn quân Tề, đi đường biển đã nhiều người chết mất, trước đó đánh Hữu Cừ lại bị khốn nhục lạc mất quân, sĩ tốt đều sợ hãi, tướng trong lòng hổ thẹn, nên khi vây Hữu Cừ thường giữ thái độ hòa hoãn. Tả tướng quân gấp rút đánh, các đại thần Triều Tiên bèn ngầm sai người riêng ước định hàng Lâu Thuyền, qua lại bàn bạc nhưng chưa quyết định. Tả tướng quân nhiều lần hẹn Lâu Thuyền cùng đánh, Lâu Thuyền muốn theo ước định hàng kia nên không đến hội quân. Tả tướng quân cũng sai người tìm khe hở để dụ Triều Tiên hàng, nhưng họ không chịu, lòng chỉ muốn theo Lâu Thuyền. Vì thế hai tướng không hòa hợp. Tả tướng quân ngờ rằng Lâu Thuyền trước có tội làm mất quân, nay lại giao hảo với Triều Tiên mà họ không hàng, nghi có mưu phản nhưng chưa dám động thủ. Thiên tử nói: "Các tướng không tiến lên được, sai Vệ Sơn dụ hàng Hữu Cừ, hắn không thể tự quyết, lại cùng Tả tướng quân gây sai lầm, làm hỏng ước định. Nay hai tướng vây thành lại bất hòa, vì thế lâu không quyết định". Sai nguyên Thái thú Tế Nam là Công Tôn Toại (公孫遂) đến chấn chỉnh, tùy nghi xử lý. Toại đến, Tả tướng quân nói: "Triều Tiên đáng lẽ hạ được từ lâu, sở dĩ chưa hạ là vì Lâu Thuyền nhiều lần hẹn mà không đến". Liền đem hết những điều nghi ngờ bấy lâu báo với Toại rằng: "Nay nếu không bắt hắn, sợ sẽ gây họa lớn, không chỉ một mình Lâu Thuyền, mà hắn lại cùng Triều Tiên diệt quân ta". Toại cũng cho là phải, bèn dùng phù tiết triệu Lâu Thuyền tướng quân vào quân doanh Tả tướng quân bàn việc, rồi lệnh cho thuộc hạ của Tả tướng quân bắt trói Lâu Thuyền tướng quân, sáp nhập quân đội của hắn. Báo về kinh, Thiên tử giết Toại.
Tả tướng quân đã hợp nhất hai quân, liền gấp rút đánh Triều Tiên. Tướng bang Triều Tiên là Lộ Nhân (路人), tướng bang Hàn Đào (韓陶), tướng bang Ni Khê là Tham (參), tướng quân Vương Hiệp (王唊) cùng mưu rằng: "Ban đầu muốn hàng Lâu Thuyền, nay Lâu Thuyền đã bị bắt, một mình Tả tướng quân nắm quyền, đánh càng gấp, sợ không chống nổi, mà Vương lại không chịu hàng". Đào, Hiệp, Lộ Nhân đều bỏ trốn hàng Hán. Lộ Nhân chết dọc đường. Mùa hè năm Nguyên Phong thứ 3 (108 TCN), tướng bang Ni Khê là Tham sai người giết vua Triều Tiên Hữu Cừ rồi đến hàng. Thành Vương Hiểm chưa hạ được, đại thần cũ của Hữu Cừ là Thành Kỷ (成已) lại phản, quay lại đánh quan lại. Tả tướng quân sai con Hữu Cừ là Trường và con Lộ Nhân là Tối đến dụ dân chúng, giết chết Thành Kỷ. Nhờ đó bình định xong Triều Tiên, đặt làm 4 quận: Chân Phiên, Lâm Đồn, Lạc Lãng (樂浪), Huyền Thố (玄菟). Phong Tham làm Hoạch Thanh hầu, Đào làm Thu Thư hầu, Hiệp làm Bình Châu hầu, Trường làm Cơ hầu. Tối vì cha chết và có chút công lao nên làm Thư Dương hầu. Tả tướng quân về triều, bị khép tội tranh công ghen ghét gây sai kế, bị xử chém bêu đầu ngoài chợ. Lâu Thuyền tướng quân cũng bị khép tội khi quân đến Liệt Khẩu (列口) đáng lẽ phải đợi Tả tướng quân lại tự tiện tiến trước, tổn thất nhiều, đáng tội chết, cho nộp tiền chuộc làm thường dân.
Lời bàn (贊 tán)
[sửa]Tiên tổ của Sở và Việt trải qua nhiều đời đều có đất đai. Đến khi nhà Chu suy vi, đất Sở rộng 5.000 dặm, mà Câu Tiễn (勾踐) cũng xưng bá ở Việt. Tần diệt chư hầu, chỉ riêng đất Sở còn có Điền vương (滇王). Hán giết Tây Nam Di, độc nhất nước Điền lại được sủng ái. Đến khi Đông Việt mất nước phải dời dân đi, bọn Dao vương Cư Cổ (居股) vẫn được làm Vạn hộ hầu. Việc khai mở ba phương đều bắt nguồn từ những bề tôi hiếu sự. Cho nên, Tây Nam Di bắt đầu từ Đường Mông (唐蒙), Tư Mã Tương Như (司馬相如); hai nước Việt khởi đầu từ Nghiêm Trợ (嚴助), Chu Mãi Thần (硃買臣); Triều Tiên do Thiệp Hà (渉何) mà ra. Gặp lúc đời giàu thịnh, động binh đều có thể thành công, nhưng đã rất nhọc nhằn rồi. Xem lại việc Thái Tông [Hán Văn Đế] vỗ về Úy Đà (尉佗), há chẳng phải cái gọi là "dùng lễ thu phục kẻ ly tâm, lấy đức vỗ về người phương xa" của người xưa đó sao!
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.