Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 24
Mã Viện 馬援
[sửa]Mã Viện (馬援), tự Văn Uyên (文淵), người huyện Mậu Lăng (茂陵) thuộc Phù Phong (扶風). Tổ tiên là Triệu Xa (趙奢), làm tướng nước Triệu, hiệu là Mã Phục quân (馬服君), con cháu bèn lấy đó làm họ. Thời Võ Đế (武帝), vì có người làm lại hưởng lộc hai nghìn thạch nên dời nhà từ Hàm Đan (邯郸) đến đó. Tằng tổ phụ là Mã Thông (馬通), nhờ lập công được phong Trọng Hợp hầu, sau vì anh là Hà La (何羅) làm phản nên bị giết, do đó hai đời sau nhà Mã Viện không hiển đạt. Mã Viện có ba người anh là Mã Huống (馬況), Mã Dư (馬余), Mã Viên (馬員), đều có tài năng, thời Vương Mãng (王莽) đều làm quan đến bậc hai nghìn thạch.
Mã Viện mồ côi năm 12 tuổi, từ nhỏ đã có chí lớn, các anh đều thấy kỳ lạ. Từng học Tề Thi (齊詩), nhưng ý không chịu gò bó vào từng chương cú, bèn từ biệt Mã Huống, muốn đến vùng biên quận làm ruộng chăn nuôi. Huống nói: "Chú là bậc đại tài, ắt sẽ thành công muộn. Thợ giỏi không đưa cho người xem khúc gỗ mộc, hãy cứ theo ý thích của mình". Gặp lúc Huống mất, Viện chịu tang một năm, không rời khỏi mộ; kính cẩn thờ chị dâu góa bụa, không đội mũ chỉnh tề thì không vào nhà. Sau làm Đốc bưu của quận, áp giải tù nhân đến phủ Tư mệnh, thấy tù nhân mang trọng tội, Viện thương xót mà thả đi, rồi trốn đến Bắc Địa (北地). Gặp lúc có lệnh ân xá, bèn ở lại đó chăn nuôi, tân khách tìm về nương tựa rất đông, thống lĩnh đến mấy trăm nhà. Ông đi lại vùng Lũng, Hán, thường bảo với khách rằng: "Trượng phu giữ chí, lúc khốn cùng thì càng phải kiên cường, lúc già yếu thì càng phải tráng kiện" (Chí đương ích kiên, lão đương ích tráng). Nhờ làm ruộng chăn nuôi mà có đến mấy nghìn đầu bò, ngựa, dê và mấy vạn hộc thóc. Thế rồi ông than rằng: "Phàm là kẻ tích trữ tài sản, quý ở chỗ có thể đem ra cứu tế, bằng không chỉ là tên nô lệ giữ tiền mà thôi". Bèn đem hết tán phát cho anh em bạn cũ, còn mình thì chỉ mặc áo cừu da cừu, quần da thú.
Cuối thời Vương Mãng, bốn phương binh biến, em họ Mãng là Vệ tướng quân Lâm (林) rộng chiêu mộ hào kiệt, bèn vời Viện và người cùng huyện là Nguyên Thiệp (原涉) làm thuộc lại, tiến cử với Mãng. Mãng dùng Thiệp làm Trấn Nhung đại doãn, Viện làm Tân Thành đại doãn. Khi Mãng bại vong, anh Viện là Mã Viên bấy giờ đang làm Tăng Sơn liên suất, cùng Viện bỏ quận, lại lánh đến Lương Châu (涼州). Khi Thế Tổ (Quang Vũ Đế) lên ngôi, Mã Viên đến Lạc Dương trước, vua sai Viên về quận cũ, rồi mất khi đang tại chức. Viện bèn ở lại Tây Châu, Lôi Hiêu (隗囂) rất kính trọng ông, dùng làm Tuy Đức tướng quân, cùng bàn định mưu sách.
Bấy giờ, Công Tôn Thuật (公孫述) xưng đế ở đất Thục, Hiêu sai Viện đến xem xét. Viện vốn cùng làng với Thuật, lại thân thiết từ trước, nghĩ rằng đến nơi sẽ được tay bắt mặt mừng như lúc bình sinh, thế nhưng Thuật lại bày biện nghi vệ lộng lẫy, mời Viện vào kinh. Lễ bái xong, Thuật cho Viện ra nghỉ ở quán xá, lại may cho Viện bộ đơn y bằng vải đô bố, mũ giao nhượng, hội họp trăm quan ở tông miếu, đặt Viện vào vị trí bạn cũ. Thuật ngồi xe loan nghi trượng rầm rộ, lính kỵ dẹp đường, khom người cung kính bước vào, bày tiệc thết đãi thuộc hạ rất hậu, muốn phong Viện làm đại tướng quân. Các tân khách đi theo đều muốn ở lại, Viện bảo họ rằng: "Thiên hạ còn chưa định rõ ai hùng ai nhường, Công Tôn Thuật không biết 'nhả cơm đón kẻ quốc sĩ' để cùng mưu tính bại thành, ngược lại chỉ lo trang điểm bề ngoài như con rối. Kẻ này sao đủ để giữ chân kẻ sĩ thiên hạ lâu dài!" Bèn từ tạ ra về, nói với Lôi Hiêu rằng: "Tử Dương (tên tự của Thuật) chỉ là con ếch ngồi đáy giếng mà thôi, đã thế còn vọng tự tôn đại, không bằng ông hãy chuyên tâm hướng về phương Đông (nhà Hán)".
Mùa đông năm Kiến Vũ thứ 4 (năm 28), Hiêu sai Viện dâng thư đến Lạc Dương. Viện đến nơi, được dẫn vào diện kiến ở điện Tuyên Đức. Thế Tổ cười bảo Viện rằng: "Khanh ngao du giữa hai vua (Hiêu và Thuật), nay gặp khanh, khiến ta thấy thẹn quá". Viện dập đầu thưa rằng: "Đời nay không chỉ vua chọn tôi, mà tôi cũng chọn vua vậy. Thần với Công Tôn Thuật cùng huyện, từ nhỏ đã thân nhau. Trước thần đến Thục, Thuật bày binh lính cầm kích rồi mới cho thần vào. Nay thần từ xa đến, bệ hạ sao biết thần không phải thích khách gian nhân mà lại đón tiếp giản dị như thế này?" Vua lại cười đáp: "Khanh không phải thích khách, chỉ là thuyết khách mà thôi". Viện nói: "Thiên hạ biến loạn, kẻ mượn danh hiệu nhiều không đếm xuể. Nay thấy bệ hạ rộng lượng bao dung, giống hệt Cao Tổ, mới biết đế vương tự có chân mệnh vậy". Vua rất khen ngợi khí phách ấy. Viện theo vua nam chinh đến Lê Binh, chuyển sang Đông Hải. Khi về, được làm Đãi chiếu, vua sai Thái trung đại phu Lai Hấp (來歙) cầm tiết tiễn đưa Viện về phía tây Lũng Hữu.
Lôi Hiêu cùng Viện nằm ngồi ăn ở chung, hỏi về những lời đồn ở phương Đông và sự đắc thất ở kinh sư. Viện thuyết phục Hiêu rằng: "Trước đây tôi đến triều đình, hoàng thượng dẫn vào diện kiến hàng chục lần, mỗi khi yến tiệc trò chuyện là từ chiều đến sáng, tài minh dũng lược không ai địch nổi. Lại mở lòng chân thành, không chút giấu giếm, phóng khoáng có đại tiết, lược cũng như Cao Đế vậy. Về kinh học thì uyên bác, chính sự văn biện tiền thế không ai sánh bằng". Hiêu hỏi: "Thế so với Cao Đế thì thế nào?" Viện đáp: "Không bằng vậy. Cao Đế có thể làm bất cứ việc gì; còn hoàng thượng nay hiếu trị sự, cử động đều có phép tắc, lại không thích uống rượu". Hiêu lòng không vui, nói: "Như lời khanh nói, thế chẳng phải còn giỏi hơn sao?" Nhưng vì vốn tin Viện, nên Hiêu bèn gửi con trưởng là Tuân (恂) vào kinh làm con tin. Viện bèn dẫn gia thuộc theo Tuân về Lạc Dương. Ở được vài tháng nhưng không có chức phận gì. Viện thấy vùng Tam Phụ đất rộng màu mỡ, mà tân khách đi theo quá đông, bèn thượng thư xin đồn điền ở vườn Thượng Lâm, vua chấp thuận.
Gặp lúc Lôi Hiêu nghe mưu của Vương Nguyên (王元), lòng càng thêm nghi hoặc, Viện nhiều lần viết thư trách móc và khuyên bảo, Hiêu oán Viện phản mình, xem thư càng giận thêm, sau đó bèn phát binh chống lại nhà Hán. Viện bèn thượng sớ nói: "Thần là Viện tự xét mình quy thuận thánh triều, phụng sự bệ hạ, vốn không nhờ một lời tiến cử của công khanh, cũng chẳng có tả hữu giúp đỡ. Nếu thần không tự trình bày, bệ hạ sao nghe thấy được. Kẻ ở trước không làm người ta kính, ở sau không làm người ta nể, gây oán cho người mà không làm người ta lo, đó là điều thần lấy làm hổ thẹn. Vì vậy dám liều phạm tội kỵ, liều chết bày tỏ lòng thành. Thần với Lôi Hiêu vốn là bạn cũ. Ban đầu, Hiêu sai thần sang Đông, bảo rằng: 'Vốn muốn theo Hán, mong túc hạ đi xem xét. Nếu ông thấy được, tôi sẽ chuyên tâm'. Đến khi thần về, báo lại bằng lòng đỏ chí thành, thực muốn dẫn dắt hắn theo điều thiện, không dám lừa dối làm việc phi nghĩa. Nhưng Hiêu tự ôm lòng gian, ghét chủ như kẻ trộm, tình oán độc bèn đổ lên đầu thần. Thần định không nói, nhưng nếu vậy sẽ không thể bẩm lên trên. Xin được đến hành tại, trình bày hết thuật diệt Hiêu, dốc cạn lòng dạ, hiến kế ngu hèn, sau đó xin về làm ruộng, chết cũng không hối tiếc". Vua bèn triệu Viện đến bàn việc, Viện trình bày mọi mưu kế. Nhân đó sai Viện dẫn 5000 đột kỵ, đi lại du thuyết các tướng của Hiêu như Cao Tuấn (高峻), Nhiệm Vũ (任禹) cùng các hào trưởng người Khương, phân tích họa phúc để ly gián vây cánh của Hiêu.
Mã Viện lại viết thư cho tướng của Lôi Hiêu là Dương Quảng (楊廣), nhờ người này khuyên bảo Hiêu rằng:[1]
"Xuân Khanh (tên tự của Dương Quảng) bình an chứ? Từ hồi chia tay ở phía nam huyện Ký, bặt tin không có thư từ qua lại. Viện tôi vừa qua có về Trường An, rồi ở lại vườn Thượng Lâm. Trộm thấy bốn biển đã định, muôn dân đồng lòng, vậy mà Quý Mạnh (tên tự của Lôi Hiêu) lại đóng cửa chống đối, làm mục tiêu cho thiên hạ oán ghét. Tôi thường sợ thiên hạ nghiến răng căm phẫn, muốn phân thây xẻ thịt các ông, nên mới viết thư này trong nỗi quyến luyến, dâng lên kế sách trắc ẩn. Lại nghe tin Quý Mạnh đổ tội cho tôi, nghe theo lời sàm tấu tà mỵ của Vương Du Ông (tức Vương Nguyên), tự cho rằng vùng phía tây Hàm Cốc hễ nhấc chân là bình định được. Nhìn vào tình hình nay, rốt cuộc ra sao rồi?
Viện tôi vừa đến Hà Nội, ghé thăm Bá Xuân (con trai Dương Quảng), thấy người nô bộc tên Cát từ phía tây trở về. Anh ta kể rằng Trọng Thư (em nhỏ của Bá Xuân) hễ nhìn thấy Cát là muốn hỏi thăm Bá Xuân có bình an không, nhưng nghẹn ngào không nói thành lời, ngày đêm gào khóc, lăn lộn trong bụi bặm. Lại kể cảnh nhà bi sầu, không sao nói hết. Phàm là oán thù, có thể đâm chém chứ không nên hủy hoại danh dự, Viện tôi nghe chuyện đó mà không tự chủ được nước mắt rơi. Tôi vốn biết Quý Mạnh là người hiếu thảo, Tăng Sâm, Mẫn Tử Khiên cũng không hơn được. Đã hiếu với cha mẹ, lẽ nào lại không từ ái với con cái? Có ai nỡ để con mình phải mang xiềng xích (ba lớp gỗ cùm) mà bản thân lại làm càn làm bậy, tự đẩy mình vào cảnh 'chia bát canh thịt con'[2] hay không?
Quý Mạnh bình sinh tự nói sở dĩ cầm quân là muốn bảo toàn đất nước của cha mẹ, giữ vẹn mồ mả, lại nói chỉ mong đối đãi hậu hĩnh với sĩ phu mà thôi. Thế nhưng nay những thứ muốn bảo toàn thì sắp tan vỡ, những thứ muốn giữ vẹn thì sắp bị hủy hoại, những người muốn hậu đãi thì sắp bị làm cho khốn đốn. Quý Mạnh từng khinh rẻ Tử Dương (Công Tôn Thuật) mà không nhận tước vị của hắn, nay lại lúng túng muốn đến dựa dẫm vào hắn, mặt mũi nào mà làm thế? Nếu hắn đòi con tin nặng nề, lấy đâu ra con trai nữa mà nộp cho hắn?
Trước kia Tử Dương muốn đãi ông bằng lễ Vương, Tướng mà Xuân Khanh đã cự tuyệt; nay lúc tuổi già, chẳng lẽ lại muốn cúi đầu cùng lũ trẻ con ăn chung máng cỏ[3], đứng kề vai nép mình nơi triều đình của kẻ oán thù sao? Nam nhi có chết đuối cũng chẳng sao, hà tất phải chịu cảnh gò bó, lông bông như vậy! Nay quốc gia đối đãi với Xuân Khanh rất sâu nặng, ông nên bảo Ngưu Nhũ Khanh cùng các vị bô lão đại nhân cùng khuyên bảo Quý Mạnh. Nếu kế hoạch không được nghe theo, thật có thể 'vươn cổ' (rời bỏ) mà đi vậy.
Trước tôi mở bản đồ địa lý, thấy thiên hạ có 106 quận quốc, cớ sao lại muốn dùng hai bang nhỏ bé để chống lại 104 quận của vùng Hoa Hạ? Xuân Khanh thờ Quý Mạnh, ngoài có nghĩa quân thần, trong có đạo bạn bè. Nói về quân thần, vốn nên can gián; nói về bạn bè, nên có sự mài giũa lẫn nhau. Lẽ nào biết việc không thành mà cứ rụt rè ngậm miệng, khoanh tay đứng nhìn cả họ bị diệt vong sao? Ngay lúc này lập kế (quy thuận) vẫn còn tốt chán; quá lúc này thì chẳng còn vị gì đâu. Vả lại Lai Quân Thúc (Lai Hấp) là bậc tín sĩ thiên hạ, triều đình trọng dụng, ý của ông ấy rất lưu luyến, thường một mình nói tốt cho vùng Tây Châu. Tôi trộm nghĩ triều đình rất muốn lập chữ tín ở đây, chắc chắn sẽ không phụ ước. Viện tôi không được ở lại lâu, mong sớm có thư hồi đáp."
Dương Quảng rốt cuộc không trả lời.
Năm thứ 8 (năm 32), vua tự thân tây chinh Lôi Hiêu, đến đất Tất (漆), các tướng đa phần cho rằng quân vương là trọng, không nên tiến sâu vào nơi hiểm trở, bàn tính mãi chưa quyết. Gặp lúc triệu Viện đến, ông tới nơi vào đêm tối, vua rất mừng, cho mời vào rồi đem ý kiến của quần thần ra hỏi. Viện bèn thuyết rằng tướng soái của Lôi Hiêu đang có thế đất lở, quân ta tiến lên ắt sẽ phá được. Ông lại ở trước mặt vua chụm gạo làm thành núi thung lũng[4], chỉ vẽ hình thế, chỉ rõ đường lối các quân nên theo để đi lại, phân tích những khúc quanh co, hiển hiện rõ ràng dễ hiểu. Vua phán: "Giặc đã nằm gọn trong mắt ta rồi!". Sáng sớm hôm sau, bèn tiến quân đến Đệ Nhất (第一), quân của Hiêu đại bại.
Năm thứ 9 (năm 33), bái Viện làm Thái trung đại phu, làm phó cho Lai Hấp giám sát chư tướng bình định Lương Châu. Từ cuối thời Vương Mãng, người Tây Khương cướp phá biên thùy, rồi vào cư ngụ trong biên ải, các huyện thuộc Kim Thành đa phần bị giặc chiếm. Lai Hấp tâu rằng vùng Lũng Tây bị xâm hại tàn phá, không có Mã Viện thì không thể dẹp yên. Mùa hè năm thứ 11 (năm 35), vua ban chiếu phong Viện làm Thái thú Lũng Tây. Viện bèn điều 3000 bộ kỵ, đánh phá quân Tiên Linh Khương tại Lâm Thao (臨洮), chém vài trăm thủ cấp, thu được ngựa, bò, dê hơn vạn con. Các giống Khương giữ ải hơn 8000 người đến hàng Viện, lại có giống khác quân số vài vạn, đóng tụ cướp bóc, ngăn giữ cửa ải Hạo Ái (浩隘). Viện cùng Dương Võ tướng quân Mã Thành (馬成) tiến đánh. Người Khương bèn đem vợ con rưỡi xe dời đến hang Doãn Ngô (允吾谷) hiểm trở, Viện bèn đi ngầm đường tắt, bất thình lình tập kích doanh trại của chúng. Người Khương đại kinh hãi, lại dời đi xa vào trong hang Đường Dực (唐翼谷), Viện lại đuổi theo thảo phạt. Người Khương dẫn tinh binh tụ tập trên núi phía Bắc, Viện dàn quân hướng về phía núi, rồi chia quân sai vài trăm kỵ binh vòng ra đánh úp phía sau, nhân đêm tối đốt lửa, đánh trống hò reo, giặc bèn đại bại, chém tổng cộng hơn nghìn thủ cấp. Viện vì quân ít, không thể đuổi cùng giết tận, bèn thu giữ lương thảo gia súc rồi rút về. Viện bị trúng tên xuyên qua bắp chân, vua ban chiếu thư an ủi, ban cho mấy nghìn con bò, dê, Viện đem chia hết cho các tân khách.
Bấy giờ, triều thần cho rằng đất Phá Khương (破羌) ở phía tây Kim Thành đường sá xa xôi lại nhiều giặc, bàn nhau muốn bỏ vùng đó. Viện dâng lời rằng: Phá Khương về phía tây thành quách đa phần còn nguyên vẹn kiên cố, dễ bề dựa vào để cố thủ; đất đai ở đó màu mỡ, hệ thống tưới tiêu lưu thông. Nếu để người Khương ở vùng Hoàng Trung (湟中) thì họa hại không dứt, không thể bỏ được. Vua cho là đúng, bèn hạ chiếu cho Thái thú Võ Uy, lệnh cho tất cả lưu dân của Kim Thành trở về. Người về có hơn 3000 miệng, khiến họ ai nấy về lại ấp cũ. Viện tâu xin đặt quan lại, sửa sang thành quách, dựng đồn canh, khơi dẫn nước vào ruộng, khuyến khích cày cấy chăn nuôi, trong quận dân cư lạc nghiệp. Lại sai hào trưởng người Khương là Dương Phong (楊封) đi thuyết phục người Khương ngoài biên ải, tất cả đều đến hòa thân. Lại có người Đê ở Võ Đô bỏ Công Tôn Thuật đến hàng, Viện đều tâu xin khôi phục tước hầu, vương, quân trưởng và ban ấn thụ cho họ, vua đều nghe theo. Bèn bãi binh của Mã Thành.
Năm thứ 13 (năm 37), người Tham Lang Khương (參狼羌) ở Võ Đô cùng các giống ngoài biên ải làm loạn, giết quan lại. Viện dẫn hơn 4000 người đi đánh, đến huyện Đê Đạo (氐道縣), người Khương ở trên núi, quân của Viện chiếm giữ địa lợi, đoạt lấy nguồn nước cỏ, không giao chiến, người Khương bèn rơi vào cảnh khốn cùng, các hào soái dẫn mấy chục vạn hộ chạy ra ngoài biên ải, các giống khác hơn vạn người đều xin hàng, từ đó vùng Lũng Hữu thanh bình.
Mã Viện chủ trương dùng ơn nghĩa và uy tín, đối đãi khoan dung với cấp dưới, giao phó đúng chức trách cho thuộc lại, bản thân chỉ nắm giữ những việc đại thể mà thôi. Tân khách và người quen cũ ngày nào cũng chật cửa. Các thuộc viên thỉnh thoảng bẩm báo việc bên ngoài, Viện đều nói: "Đó là việc của Huyện thừa, Huyện duyện, hà tất phải làm phiền ta. Hãy thương cho ông già này, để ta được tiêu dao chút ít. Nếu có đại tộc xâm hại dân lành, hay quân Khương xảo quyệt muốn chống đối, đó mới là việc của Thái thú vậy."
Có lần huyện bên có kẻ báo thù, quan dân hoảng hốt bảo là quân Khương phản loạn, bách tính lũ lượt chạy vào thành quách. Huyện trưởng Địch Đạo đến tận cửa phủ, xin đóng cửa thành và phát binh. Viện lúc đó đang uống rượu cùng tân khách, cười lớn bảo: "Lũ giặc bị đốt phá kia sao dám phạm ta lần nữa! Bảo Huyện trưởng Địch Đạo về giữ công đường đi, nếu thực sự sợ quá thì có thể chui xuống gầm giường mà trốn." Sau đó tình hình yên định, cả quận đều nể phục ông. Tại chức sáu năm, ông được triệu về kinh làm Hổ bôn Trung lang tướng.
Trước đó, khi Mã Viện ở Lũng Tây có thượng thư nói nên theo lệ cũ mà đúc tiền Ngũ thù. Việc giao xuống Tam phủ (ba phủ đầu triều), Tam phủ tâu rằng chưa thể cho phép, thế là việc bị gác lại. Đến khi Viện về, ông tìm lại bản tâu trước kia của Công phủ, thấy có hơn mười điều phản đối, bèn căn cứ vào đó mà giải thích từng điểm một, rồi lại dâng biểu trình bày kỹ lưỡng. Vua nghe theo, thiên hạ đều được hưởng cái tiện lợi của việc đó. Mã Viện từ khi về kinh sư thường xuyên được vào diện kiến. Ông là người có râu tóc đẹp, lông mày mắt sáng như vẽ, thạo việc đối đáp, đặc biệt giỏi thuật lại chuyện xưa. Mỗi khi nói đến các bậc trưởng giả vùng Tam Phụ, cho đến những thiếu niên nơi xóm làng, chuyện nào cũng đáng nghe. Từ Hoàng thái tử đến các vương hầu đứng hầu bên cạnh, ai nấy đều lắng tai nghe quên cả mệt mỏi. Ông lại giỏi binh sách, vua thường bảo: "Phục Ba[5] luận binh rất hợp ý ta", hễ có mưu tính gì vua cũng đều dùng đến.
Trước đó, người huyện Quy là Duy Tự dùng lời yêu quái tự xưng là thần, có đồ đệ hàng trăm người, bị tội chết. Sau đó đồ đệ là Lý Quảng tung tin Tự đã hóa thần không chết để lừa dối bách tính. Năm thứ 17 (năm 41), chúng tụ tập đồ đảng, đánh chiếm thành Hoàn, giết Hoàn hầu Lưu Mẫn, tự xưng là "Nam Nhạc đại sư". Vua sai Yết giả Trương Tông dẫn vài nghìn quân đi đánh, nhưng lại bị Quảng đánh bại. Thế là sai Mã Viện điều động binh sĩ các quận, tổng cộng hơn vạn người, đánh tan bọn Quảng, chém chết hết.
Lại có người đàn bà ở Giao Chỉ là Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị làm phản, đánh chiếm các quận, người Man Di ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, chiếm đóng hơn sáu mươi thành ở vùng Lĩnh Ngoại, Trắc tự lập làm vương. Thế là vua ban chiếu phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, lấy Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó, đốc thúc Lâu thuyền tướng quân Đoạn Chí cùng đi xuống nam đánh Giao Chỉ. Quân đến Hợp Phố thì Đoạn Chí bệnh mất, chiếu cho Viện nắm luôn quân đó. Viện bèn men theo đường biển mà tiến, dựa theo núi mà mở đường hơn nghìn dặm.
Mùa xuân năm thứ 18 (năm 42), quân đến Lãng Bạc, giao chiến với giặc, phá tan chúng, chém vài nghìn thủ cấp, kẻ hàng hơn vạn người. Viện đuổi theo chị em Trưng Trắc đến Cấm Khê, nhiều lần đánh bại, giặc bèn tan chạy. Tháng Giêng năm sau, chém được Trưng Trắc, Trưng Nhị, truyền đầu về Lạc Dương. Phong Viện làm Tân Tức hầu, thực ấp ba nghìn hộ.
Viện bèn mổ bò rót rượu, khao thưởng quân sĩ. Ông thong thả bảo các quan thuộc rằng: "Em họ ta là Thiếu Du thường thương ta tính khảng khái nhiều chí lớn, nói rằng: 'Kẻ sĩ sinh ra ở đời, chỉ cần có đủ cơm áo, đi xe hạ trạch (xe thấp đi vùng đầm lầy), cưỡi ngựa khoản đoạn (ngựa đi chậm mà chắc), làm viên quan nhỏ trong quận, giữ gìn mồ mả, xóm giềng khen là người thiện, thế là đủ rồi. Cố cầu cho dư dật chỉ tự làm khổ mình mà thôi'. Khi ta ở giữa vùng Lãng Bạc (浪泊), Tây Lý (西裏), lúc giặc chưa diệt xong, dưới thì lụt lội trên thì sương mù, khí độc bốc lên dữ dội, ngẩng trông chim diều bay mà rơi thẳng xuống nước (điểu diên trát trát đọa thủy trung)[6], nằm nghĩ lại lời nói bình sinh của Thiếu Du, sao mà khó có được lúc như thế! Nay nhờ sức của các vị đại phu, lại mong ơn lớn của bề trên, ta lạm chức đứng đầu các ông, đeo ấn vàng dây tím, vừa mừng vừa thẹn vậy." Quan sĩ đều sụp lạy hô vạn tuế.
Viện dẫn hơn hai nghìn chiếc thuyền lớn nhỏ, hơn hai vạn chiến sĩ, tiến đánh tàn dư của Trưng Trắc là Đô Dương ở Cửu Chân, từ Vô Công đến Cư Phong, chém và bắt hơn năm nghìn người, vùng Kiều Nam (phía nam núi Ngũ Lĩnh) đều yên định. Viện tâu rằng huyện Tây Vu có tới ba vạn hai nghìn hộ, biên giới xa cách trị sở hơn nghìn dặm, xin chia làm hai huyện Phong Khê và Vọng Hải, vua chấp thuận. Những nơi Viện đi qua đều sửa sang thành quách cho quận huyện, đào kênh dẫn nước tưới tiêu để lợi cho dân. Ông dâng sớ điều trần những điểm khác biệt giữa luật của Việt và luật của Hán hơn mười việc, cùng người Việt định rõ chế độ cũ để ràng buộc họ. Từ đó về sau, người Lạc Việt đều tuân theo những lệ cũ của Mã tướng quân.[7]
Mùa thu năm thứ 20 (năm 44), ông dẫn quân khải hoàn về kinh sư, quân lại chết vì chướng khí dịch bệnh, mười phần thì mất bốn năm phần. Vua ban cho Viện một chiếc xe binh, vị thứ khi triều kiến ngang hàng Cửu khanh.
Viện thích cưỡi ngựa, giỏi phân biệt ngựa quý. Tại Giao Chỉ đúc được trống đồng của người Lạc Việt, bèn nung chảy ra để đúc thành mẫu ngựa (mã thức), khi về dâng lên vua. Nhân đó dâng biểu rằng: "Trên trời không gì bằng rồng, dưới đất không gì bằng ngựa. Ngựa là gốc của giáp binh, là vật dụng lớn của quốc gia. Lúc an ninh thì dùng để phân biệt thứ bậc tôn ty, lúc biến loạn thì dùng để cứu giúp nạn xa gần. Xưa có ngựa Kỳ Ký ngày đi nghìn dặm, Bá Nhạc nhìn thấy là biết ngay không lầm. Đời gần đây có Tử Dư ở Tây Hà cũng giỏi thuật xem tướng ngựa. Tử Dư truyền cho Nghi Trường Nhu, Trường Nhu truyền cho Đinh Quân Đô ở Mậu Lăng, Quân Đô truyền cho Dương Tử A ở Thành Kỷ. Thần là Viện từng thờ Tử A làm thầy, tiếp nhận cốt pháp xem tướng ngựa. Nghiệm vào thực tế thấy đều linh ứng. Thần trộm nghĩ nghe truyền miệng không bằng tự mắt thấy, xem tranh vẽ không bằng xét hình thể. Nay muốn dùng ngựa sống làm mẫu thì cốt pháp khó bề đầy đủ, lại không thể truyền lại đời sau. Thời Hiếu Võ hoàng đế, người giỏi xem tướng là Đông Môn Kinh từng đúc mẫu ngựa đồng dâng lên, vua hạ chiếu đặt ngựa ở ngoài cửa Lỗ Ban, bèn đổi tên cửa Lỗ Ban thành Kim Mã Môn. Thần kính cẩn dựa theo phép xem đầu của họ Nghi, răng miệng của họ Trung Bạch, môi bờm của họ Tạ, thân mình của họ Đinh, gom góp cốt tướng của các nhà đó làm mẫu." Ngựa cao ba thước năm tấc, chu vi bốn thước năm tấc, vua hạ chiếu đặt ở dưới điện Tuyên Đức để làm mẫu cho ngựa quý.
Trước đó, khi quân của Viện trở về sắp đến nơi, bạn cũ phần đông ra đón rước hỏi han. Người huyện Bình Lăng là Mạnh Ký, vốn nổi tiếng có mưu mẹo, ở trong tiệc chúc mừng Viện. Viện bảo ông ta rằng: "Ta mong tử có lời hay, sao lại hùa theo đám đông thế? Xưa Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức mở mang bảy quận mà chỉ được phong vài trăm hộ; nay ta có chút công mọn mà được hưởng huyện lớn, công mỏng thưởng dày, sao có thể lâu dài được? Tiên sinh có gì để giúp ta không?" Ký đáp: "Kẻ ngu này không theo kịp". Viện nói: "Phương bắc nay Hung Nô, Ô Hoàn còn quấy nhiễu, ta muốn tự xin đi đánh. Nam nhi nên chết ở chốn biên thùy, lấy da ngựa bọc thây (mã cách khỏa thi)[8] về táng, sao có thể nằm trên giường bệnh trong tay lũ trẻ con cho được!" Ký khen: "Thật đúng là bậc liệt sĩ, nên như vậy vậy".
Về chưa đầy một tháng, gặp lúc Hung Nô, Ô Hoàn đánh vào Phù Phong, Viện thấy vùng Tam Phụ bị xâm nhiễu, lăng tẩm bị đe dọa, bèn xin đi chinh phạt, vua chấp thuận. Từ tháng chín về đến kinh sư, tháng mười hai lại ra quân trấn giữ Tương Quốc. Vua hạ chiếu cho trăm quan đưa tiễn tận đường. Viện bảo Hoàng môn lang Lương Tùng, Đậu Cố rằng: "Phàm làm người quý hiển, phải giữ mình sao cho dù có lúc bần tiện cũng vẫn được; như hạng các ngươi muốn sau này không bị khinh rẻ thì ở vị trí cao phải kiên trì giữ mình, hãy gắng nghĩ đến lời thô bỉ của ta". Lương Tùng sau này quả nhiên vì quyền quý quá mức mà chuốc họa, Đậu Cố cũng suýt không thoát khỏi.
Mùa thu năm sau, Viện dẫn ba nghìn kỵ binh ra Cao Liễu, đi tuần các đồn ải ở Nhạn Môn, Đại Quận, Thượng Cốc. Quân do thám Ô Hoàn thấy quân Hán đến, giặc bèn tan chạy, Viện không đánh được gì nên rút về.
Viện từng bị bệnh, Lương Tùng đến thăm, một mình bái lạy dưới giường nhưng Viện không đáp lễ. Tùng đi rồi, các con hỏi: "Lương Bá Tôn là phò mã, quyền quý trong triều, từ Cửu khanh trở xuống ai chẳng nể sợ, sao cha lại không đáp lễ?" Viện nói: "Ta là bạn của cha Tùng. Hắn tuy quý hiển, nhưng lẽ nào lại để mất trật tự bề trên kẻ dưới sao?" Tùng từ đó đem lòng oán hận ông.[9]
Năm thứ 24 (năm 48), Võ Uy tướng quân Lưu Thượng (劉尚) đánh giặc Man Di ở Ngũ Khê thuộc Võ Lăng, tiến sâu vào vùng địch rồi tử trận, quân bị tiêu diệt hoàn toàn. Mã Viện nhân đó lại xin đi chinh phạt. Bấy giờ ông đã 62 tuổi, vua thương ông già yếu nên chưa hứa cho đi. Viện tự xin rằng: "Thần vẫn còn có thể mặc giáp lên ngựa". Vua lệnh cho thử xem. Viện bám lấy yên ngựa, nhìn quanh đầy khí thế để chứng tỏ mình còn dùng được. Vua cười nói: "Quắc thước thay ông già này!" (Quắc thước tai thị ông dã). Bèn sai Viện thống suất Trung lang tướng Mã Võ (馬武), Cảnh Thư (耿舒), Lưu Khuông (劉匡), Tôn Vĩnh (孫永)... dẫn theo hơn 4 vạn mộ binh và lính được giảm án từ 12 quận đi đánh Ngũ Khê.
Đêm trước khi đi, Viện từ biệt bạn bè là Đỗ Âm (杜愔) rằng: "Ta thụ ơn dày, tuổi tác chẳng còn bao nhiêu, thường sợ không được chết vì việc nước. Nay đạt được tâm nguyện, thật cam lòng nhắm mắt, chỉ sợ đám con nhà quyền quý (trưởng giả gia nhi) hoặc ở bên cạnh, hoặc cùng làm việc, rất khó điều động, ta chỉ lo mỗi việc đó thôi".
Mùa xuân năm sau, quân đến Lâm Hương (臨鄉), gặp giặc đang đánh huyện, Viện nghênh chiến đánh tan chúng, chém và bắt hơn 2000 người, giặc đều tan chạy vào rừng trúc.
Ban đầu, quân dừng ở Hạ Tuyển (下雋), có hai con đường có thể đi: đi đường Hồ Đầu (壺頭) thì gần nhưng nước hiểm; đi đường Sung (充) thì bằng phẳng nhưng xa và khó vận chuyển lương thực. Vua ban đầu còn nghi ngại. Khi quân đến nơi, Cảnh Thư muốn đi đường Sung, Viện cho rằng như thế tốn thời gian phí lương thực, không bằng đánh vào Hồ Đầu, bóp nghẹt yết hầu của chúng thì giặc ở Sung tự tan. Viện dâng sớ trình bày, vua theo kế của Viện.
Tháng 3, quân tiến vào đóng trại ở Hồ Đầu. Giặc chiếm giữ nơi cao và các cửa ải, nước chảy xiết nên thuyền không lên được. Gặp lúc nắng gắt, sĩ tử đa phần bị dịch bệnh mà chết, Viện cũng nhiễm bệnh, lâm vào cảnh khốn quẫn, bèn đào hang bên bờ sông để ở cho tránh cái nóng hừng hực. Mỗi khi giặc lên chỗ hiểm đánh trống hò reo, Viện lại cố lết chân ra quan sát, thuộc hạ thương cái chí khí hào hùng ấy mà không ai cầm được nước mắt.
Cảnh Thư viết thư cho anh là Hảo Trù hầu Cảnh Yểm (耿弇) rằng: "Trước đây Thư đã thượng thư nói nên đánh đường Sung, lương dù khó vận chuyển nhưng binh mã dùng được, quân sĩ vạn người đều muốn lập công. Nay vào Hồ Đầu rốt cuộc không tiến được, đại quân uất ức chờ chết, thật đau xót thay. Trước đến Lâm Hương, giặc tự dẫn xác đến, nếu đêm đó đánh ngay là đã diệt sạch rồi. Phục Ba (Mã Viện) giống như bọn lái buôn người Hồ vùng Tây Vực, đến đâu là dừng lại đó, vì thế mà mất lợi thế. Nay quả nhiên dịch bệnh đúng như lời Thư nói". Yểm nhận thư bèn tâu lên vua. Vua sai Hổ bôn Trung lang tướng Lương Tùng (梁松) đi ngựa trạm đến trách hỏi Viện, nhân đó thay làm Giám quân.
Gặp lúc Viện bệnh mất, Lương Tùng vốn ôm lòng oán hận cũ, bèn nhân cơ hội đó mà vu hãm ông. Vua nổi giận lôi đình, thu hồi ấn thụ Tân Sức hầu của Mã Viện.
Trước đó, các con của anh Mã Viện là Mã Nghiêm (馬嚴), Mã Đôn (馬敦) đều thích châm chọc bàn luận người khác và kết giao với hạng hiệp khách khinh bạc. Viện lúc còn ở Giao Chỉ đã gửi thư về răn dạy rằng:
"Ta muốn các con nghe thấy lỗi lầm của người khác thì như nghe thấy tên cha mẹ mình, tai có thể nghe nhưng miệng không được nói ra. Thích bàn luận dài ngắn của người, vọng ngôn thị phi pháp luật, đó là điều ta ghét nhất, thà chết không muốn nghe con cháu có hành vi này. Các con biết ta ghét điều đó lắm rồi, sở dĩ ta phải nói lại lần nữa là để làm tròn lời răn dạy của cha mẹ, muốn các con không được quên.
Long Bá Cao (Long Thuật) là người đôn hậu chu đáo, miệng không nói lời thô, khiêm tốn tiết kiệm, liêm khiết công minh lại có uy phong, ta yêu trọng ông ấy, muốn các con học theo.
Đỗ Kế Lương (Đỗ Bảo) là người hào hiệp trọng nghĩa, lo nỗi lo của người, vui niềm vui của người, không phân biệt thanh đục, khi cha mất khách khứa mấy quận đều đến viếng, ta yêu trọng ông ấy nhưng không muốn các con học theo.
Học Bá Cao không thành, vẫn còn là kẻ sĩ cẩn thận, ấy là 'khắc hình chim hộc không thành còn giống con vịt' (khắc hộc bất thành thượng loại vụ). Học Kế Lương không thành, sẽ sa đọa thành kẻ khinh bạc trong thiên hạ, ấy là 'vẽ hổ không thành lại hóa ra chó' (họa hổ bất thành phản loại cẩu). Đến nay Kế Lương vẫn chưa biết ra sao, các tướng trong quận hễ nhắc tên là nghiến răng, châu quận lấy đó làm điều đàm tiếu, ta thường thấy lạnh lòng thay, vì thế không muốn con cháu học theo ông ta."
Kế Lương tên là Bảo, sau bị người tố cáo hành vi phù phiếm. Vua đọc thư răn dạy của Viện, bèn gọi Lương Tùng, Đậu Cố đến trách mắng, Tùng và Cố phải dập đầu chảy máu mới được thoát tội. Còn Bá Cao (Long Thuật) nhờ thế mà được bạt dụng làm Thái thú Linh Lăng.
Trước đó, khi Mã Viện ở Giao Chỉ, thường ăn hạt ý dĩ (ý dĩ thực) để nhẹ mình, bớt ham muốn và chống chọi khí chướng. Hạt ý dĩ phương Nam rất lớn, Viện muốn đem về làm giống nên khi quân về có chở một xe. Người thời đó cho là trân bảo lạ ở phương Nam, bọn quyền quý đều thèm muốn. Lúc Viện còn được sủng ái nên không ai dám nói gì.
Đến khi ông mất, có kẻ dâng sớ dèm pha rằng thứ xe đó chở về toàn là minh châu và sừng tê giác quý. Mã Võ và bọn Hầu Dục cũng tâu hùa theo. Vua càng thêm giận. Vợ con Mã Viện hoảng sợ, không dám đưa tang về nghĩa trang cũ, chỉ dám mua vài mẫu đất ở phía tây thành táng tạm qua loa. Bạn bè người quen không ai dám đến viếng.
Mã Nghiêm cùng vợ con Mã Viện phải dùng dây cỏ tự trói mình đến cửa khuyết xin tội. Vua đem thư của Lương Tùng ra cho xem, bấy giờ họ mới biết vì sao bị tội. Họ dâng sớ kêu oan, trước sau 6 lần sớ đi với lời lẽ vô cùng bi thiết, bấy giờ Mã Viện mới được minh oan và cải táng chính thức.
Lại có Chu Bột (朱勃), người cùng quận và nguyên là Huyện lệnh Vân Dương, đến cửa khuyết dâng thư rằng:
"Thần nghe vương đức của bậc thánh chính không bao giờ quên công lao của người khác, biết chọn lấy một điểm tốt mà không cầu toàn ở mọi mặt. Vì thế Cao Tổ xá tội cho Khoái Thông mà dùng lễ vương táng Điền Hoành, đại thần nhờ đó mà lòng dạ rộng mở, không ai tự nghi ngại mình. Phàm đại tướng ở ngoài, lời dèm pha ở trong, lỗi nhỏ thì bị ghi lại, công lớn lại chẳng được tính đến, đó thực là điều mà quốc gia nên thận trọng. Thế nên Chương Hàm vì sợ miệng lưỡi mà chạy sang Sở, tướng nước Yên chiếm cứ đất Liêu mà không chịu hạ vũ khí. Há họ cam lòng làm việc sai quấy sao? Chẳng qua là đau xót vì lời xảo trá làm hại người hiền mà thôi.
Trộm xem cố Phục Ba tướng quân Tân Sức hầu Mã Viện, từ Tây Châu đứng dậy, ngưỡng mộ thánh nghĩa, trải bao hiểm nạn, liều mình vạn chết, đứng lẻ loi giữa đám quyền quý, bên cạnh không một lời trợ giúp; xông pha vực thẳm, vào tận miệng hổ, há có màng tính toán cho mình! Lẽ nào ông ta tự biết mình sẽ được làm sứ giả bảy quận, hay cầu may cái phúc phong hầu sao? Năm thứ 8, xa giá tây thảo Lôi Hiêu, quốc kế còn nghi hoặc, quân đội chưa tập hợp đủ, Viện đã hiến kế nên tiến quân, cuối cùng phá được Tây Châu. Đến khi Ngô Hán xuống vùng Lũng, đường sá ở Ký bị cắt đứt, chỉ mình Địch Đạo vì nước kiên thủ, sĩ dân đói khát khốn cùng, mạng treo sợi tóc. Viện phụng chiếu đi sứ phương Tây, trấn an biên chúng, chiêu tập hào kiệt, thuyết phục người Khương, mưu kế như suối chảy, thế trận như bánh xe quay, cứu được cái cấp bách của vùng 'treo ngược', giữ được tòa thành sắp mất. Quân đội vẹn toàn tiến lên, lấy lương của địch, vùng Lũng, Ký nhờ đó mà bình định. Ông ta đơn độc giữ quận trống, động binh là có công, tiến quân là thắng lợi. Đánh dẹp bọn Tiên Linh, men vào thung lũng, giận dữ dốc lực chiến đấu, tên bay xuyên cả bắp chân.
Lại xuất chinh Giao Chỉ, đất nhiều chướng khí, Viện cùng vợ con sinh ly tử biệt, không chút hối tiếc, cuối cùng chém diệt Trưng Trắc, bình định một châu. Vừa rồi lại nam thảo, lập tức hạ được Lâm Hương, quân nghiệp đã thành, chưa xong đã chết. Lại sĩ tuy gặp dịch bệnh, nhưng Viện đâu có sống một mình! Phàm đánh trận có khi vì đánh lâu mà lập công, có khi vì đánh gấp mà dẫn đến bại; tiến sâu vị tất đã là hay, không tiến vị tất đã là dở. Nhân tình lẽ nào lại vui vẻ đóng quân lâu nơi tuyệt địa, không muốn sống mà về sao!
Duy chỉ thấy Viện thờ phụng triều đình 22 năm, bắc ra sa mạc, nam vượt trùng khơi, xông pha khí độc, phơi thây vì việc quân, thế mà danh bị diệt, tước bị tuyệt, đất phong không được truyền lại. Hải nội không biết lỗi của ông ở đâu, dân chúng chưa nghe lời hủy báng gì, bỗng gặp phải lời nói của 'ba kẻ thành hổ', ngang nhiên bị lời dèm pha vu khống. Gia thuộc đóng cửa, táng không về mộ, oán khích cùng dấy, tông thân sợ hãi. Người chết không thể tự thanh minh, người sống chẳng ai dám kêu oan, thần trộm đau xót cho ông vậy.
Bậc minh chủ nồng hậu khi dùng thưởng, tiết chế khi dùng hình. Cao Tổ từng cho Trần Bình bốn vạn cân vàng để ly gián quân Sở, không hỏi tiêu pha vào việc gì, há lại nghi ngờ việc dùng tiền gạo sao? Giữ lòng trung như Khổng Phụ mà không tự thoát khỏi lời dèm pha, đó là điều mà Nàng Dương lấy làm bi thương vậy. Kinh Thi nói: 'Bắt lấy kẻ dèm pha, ném cho hổ báo. Hổ báo không ăn, ném ra phương bắc. Phương bắc không nhận, ném lên trời xanh.' Ý nói muốn nhờ trời cao soi xét cái ác đó. Mong bệ hạ hãy lưu tâm suy xét lời của kẻ hèn mọn này, chớ để công thần phải ôm hận dưới hoàng tuyền. Thần nghe nghĩa của kinh Xuân Thu, tội có thể dùng công để trừ; tế lễ của thánh vương, bề tôi có năm nghĩa, thì trường hợp của Viện chính là hạng 'dùng cái chết để lo toan việc nước' vậy. Xin giao cho công khanh phân định công tội của Viện, nên dứt hay nên nối, để thỏa lòng mong mỏi của hải nội.
Thần năm nay đã 60, thường nằm nơi đồng nội, trộm cảm cái nghĩa Luan Bố khóc Bành Việt, liều mình bày tỏ nỗi bi phẫn, run rẩy nơi điện đình."
Sớ dâng lên, có chiếu trả lời, rồi Chu Bột về lại ruộng đồng.
Chu Bột tự Thúc Dương, 12 tuổi đã thuộc lòng Kinh Thi, Kinh Thư. Thường đến thăm anh của Mã Viện là Mã Huống. Bột mặc áo vuông (kiểu nho sĩ), đi đứng đúng lễ tắc, lời lẽ nhã nhặn. Viện bấy giờ mới biết chữ, thấy Bột thì tự cảm thấy thua kém (tự thất). Huống biết ý em, bèn rót rượu an ủi Viện rằng: "Chu Bột tài mọn chóng thành, cái trí chỉ đến thế thôi, sau này rốt cuộc sẽ phải học hỏi ở chú, đừng sợ." Khi Chu Bột chưa đầy 20 tuổi, quan Phù Phong đã xin cho ông làm giữ chức Huyện tể Vị Thành; đến khi Viện làm tướng quân, phong hầu, mà Bột chức vị không quá huyện lệnh. Viện sau này tuy quyền quý nhưng thường đối đãi theo ơn cũ và hay xem thường, nhạo báng Bột; Bột càng giữ mình thân cận. Đến khi Viện bị dèm pha, chỉ mình Bột lo cho ông đến cuối cùng. Đời Túc Tông lên ngôi, truy tặng cho con Bột hai nghìn hộc thóc.
Trước đó, con của Vương Bàn (con rể anh trai Mã Viện) là Vương Thạch, vốn là con của Bình A hầu Vương Nhân (em họ Vương Mãng). Mãng bại, Bàn ôm của cải giàu có cư trú tại quốc cũ, con người trọng khí tiết, yêu đất đai, thích ban phát, nổi danh vùng Giang Hoài, sau du ngoạn kinh sư, kết bạn thân với Vệ úy Âm Hưng, Đại tư không Chu Phù, Tề vương Lưu Chương. Viện bảo cháu là Tào Huấn rằng: "Họ Vương là họ đã bị phế bỏ. Tử Thạch (tên tự của Vương Thạch) đáng lẽ phải ẩn mình tự giữ, trái lại lại đi ngao du với những bậc trưởng giả ở kinh sư, dùng cái khí thế đó để tự hành sự, khinh lấn nhiều người, việc bại vong là chắc chắn." Hơn một năm sau, Bàn quả nhiên liên quan đến việc của Tư lệ hiệu úy Tô Diệp, Đinh Hồng mà chết trong ngục Lạc Dương. Nhưng con Bàn là Vương Túc vẫn ra vào Bắc cung và các phủ vương hầu. Viện bảo Tư mã Lã Chủng: "Năm đầu Kiến Vũ, thiên hạ mới mở mang lại. Từ nay về sau, hải nội ngày một yên ổn. Chỉ lo các hoàng tử đều đã lớn, mà các quy tắc phòng ngừa cũ chưa lập, nếu kết giao nhiều với tân khách, ắt đại ngục sẽ dấy khởi. Các ngươi phải răn mình thận trọng!" Đến khi Quách hậu băng, có người dâng thư cho rằng bọn Vương Túc là nhà có kẻ bị giết, sợ khách khứa nhân đó sinh loạn, e có biến loạn như Quán Cao, Nhâm Chương. Vua giận, bèn xuống lệnh quận huyện bắt bớ tân khách của các vương, dắt dây lẫn nhau, người chết đến hàng nghìn. Lã Chủng cũng gặp họa đó, lúc lâm chung than rằng: "Mã tướng quân thật là thần nhân vậy!"
Đầu năm Vĩnh Bình, con gái Mã Viện được lập làm Hoàng hậu (Mã Hoàng hậu). Hiển Tông (Minh Đế) vẽ tranh các danh thần, liệt tướng thời Kiến Vũ ở Vân Đài, vì cớ là người nhà ngoại (Tiêu phòng), nên riêng Mã Viện không được vẽ. Đông Bình vương Lưu Thương xem tranh, bảo vua rằng: "Cớ sao không vẽ hình tượng Phục Ba tướng quân?" Vua cười mà không nói. Đến năm thứ 17, phu nhân của Viện mất, vua mới cho tu sửa phần mộ, dựng từ đường.
Năm Kiến Sơ thứ 3, Túc Tông (Chương Đế) sai Ngũ quan trung lang tướng cầm tiết truy sách, ban thụy cho Viện là Trung Thành hầu. Ông có bốn con trai: Mã Liêu, Mã Phòng, Mã Quang, Mã Khách Khanh.
Mã Khách Khanh từ nhỏ đã thông minh khác thường, 6 tuổi đã có thể tiếp đãi các công khanh, đối đáp tân khách. Từng có kẻ mang tử tội đang lẩn trốn tìm đến, Khách Khanh che giấu đi không để ai biết. Bề ngoài như chậm nói nhưng bên trong trầm tĩnh, mẫn tiệp. Viện rất lấy làm kỳ, cho là bậc tài tướng tài tướng, nên lấy chữ "Khách Khanh" đặt tên tự. Sau khi Viện mất, Khách Khanh cũng yểu mệnh qua đời.
Lời luận của sử gia (Phạm Diệp):
Mã Viện lừng danh vùng Tam Phụ, ngao du giữa hai vua (Hiêu và Thuật), đến khi định chí lập mưu để phò tá minh chủ, ôm chí nguyện như Y Doãn (vác vạc dâng vua), ấy là gặp được cuộc kỳ ngộ nghìn năm vậy. Thế nhưng ông răn dạy người khác tránh họa thì thật là trí, mà chính mình lại không thoát khỏi lời dèm pha. Há chẳng phải ranh giới giữa công và danh vốn dĩ phải là như thế sao? Khi cái lợi không ở bản thân mình, thì mưu sự ắt sẽ sáng (trí); khi suy lo không vì riêng mình, thì quyết định nghĩa khí ắt sẽ mạnh mẽ (lệ). Nếu thực sự có thể xoay chuyển cái trí quan sát sự vật ấy để tự soi xét lại bản thân mình, nếu đem nó đối đãi với người thì có thể bao dung (thứ), tự mình soi xét tâm tình mình thì cũng sẽ sáng tỏ vậy.
Con trai Viện - Mã Liêu 廖
[sửa]Mã Liêu (馬廖), tự Kính Bình (敬平), từ nhỏ nhờ công lao của cha mà được làm Lang. Sau khi Minh Đức Hoàng hậu (con gái Mã Viện) được lập, Liêu được bái làm Vũ Lâm Tả giám, Hổ bôn Trung lang tướng. Khi Hiển Tông (Minh Đế) băng hà, Liêu nhận di chiếu thống lĩnh cấm quân, rồi thay Triệu Hy làm Vệ úy, Túc Tông (Chương Đế) cực kỳ tôn trọng ông.
Bấy giờ, Hoàng thái hậu (Minh Đức Mã hậu) thân hành thực hiện tiết kiệm, mọi việc đều theo lối giản dị. Liêu lo sợ sự nghiệp tốt đẹp này khó giữ được bền lâu, bèn dâng sớ lên cung Trường Lạc để khuyên nhủ hoàn thành đức chính, rằng:
"Thần xét chiếu lệnh đời trước, thấy bách tính túng thiếu đều do thói đời chuộng xa hoa, thế nên Nguyên Đế bãi bỏ quan phục sức, Thành Đế mặc áo giặt lại, Ai Đế bãi bỏ Nhạc phủ. Thế nhưng sự lãng phí vẫn không dứt, dẫn đến suy loạn, ấy là bởi bách tính đi theo việc làm chứ không đi theo lời nói vậy. Phàm muốn sửa chính thay phong, tất phải có cái gốc của nó. Truyện có câu: 'Vua Ngô thích kiếm khách, bách tính lắm sẹo đao; Vua Sở thích eo nhỏ, trong cung nhiều người chết đói'. Lời ở Trường An truyền rằng: 'Trong thành chuộng búi tóc cao, bốn phương cao thêm một thước; trong thành chuộng mày ngài rộng, bốn phương mày rộng nửa trán; trong thành chuộng tay áo lớn, bốn phương tốn cả xấp lụa'. Những lời này tuy như đùa, nhưng lại sát với thực tế.
Trước đây ban xuống chế độ không được bao lâu, sau đó dần dần không thi hành nữa. Dẫu có khi là do quan lại không phụng pháp, nhưng thực chất là do sự lơ là bắt nguồn từ kinh sư. Nay Bệ hạ mặc áo lụa thô, bỏ đi các trang sức lộng lẫy, sống an ổn trong sự giản khiết, ấy là phát tự tính thánh. Điều này thực trên hợp lòng trời, dưới thuận mong mỏi của dân, phúc đức lớn lao không gì bằng vậy. Bệ hạ đã có được đức ấy tự nhiên, thì càng nên gắng gỏi thêm, noi theo đức lớn của Thái Tông (Hán Văn Đế), lấy cái gương không trọn vẹn của Thành Đế, Ai Đế làm răn. Kinh Dịch nói: 'Đức chẳng kiên hằng, ắt chuốc lấy hổ thẹn'. Nếu khiến việc này được duy trì đến cùng, thì bốn biển tụng đức, tiếng vang động đất trời, cảm thông đến thần minh, khắc vào kim thạch, huống chi là thực hành lòng nhân, huống chi là ban hành chính lệnh! Nguyện xin đặt bản sớ này bên chỗ ngồi, để thay cho tiếng đọc đêm của kẻ mù (ý nói lời nhắc nhở thường xuyên)."
Thái hậu sâu sắc tiếp nhận lời đó. Mỗi khi triều đình có đại nghị, thường tìm đến hỏi ý kiến ông.
Mã Liêu tính tình chân thành, sợ hãi thận trọng, không màng quyền thế danh tiếng, hết lòng nộp lời trung, không màng đến lời khen chê. Hữu ty liên tục dựa vào điển cũ, tâu xin phong tước cho bọn Liêu, ông nhiều lần từ nhượng nhưng không được, năm Kiến Sơ thứ 4 (năm 79), ông thụ phong làm Thuận Dương hầu, hưởng tước Đặc tiến về phủ riêng. Mỗi khi có ban thưởng, ông đều từ chối không dám nhận, người ở kinh sư nhờ thế mà khen ngợi ông.
Con trai Liêu - Mã Dự 豫
[sửa]Dự làm chức Bộ binh Hiệu úy. Sau khi Thái hậu (Minh Đức Mã hậu) băng hà, thế lực họ Mã bắt đầu suy giảm. Mã Liêu tính tình khoan hòa, chậm chạp, không biết giáo huấn và răn đe con cháu, khiến Dự nảy sinh lòng bất mãn, viết thư dâng lên triều đình với lời lẽ oán trách, phỉ báng. Lại thêm bọn Mã Phòng, Mã Quang sống xa hoa, thích kết bè kéo cánh.
Năm [Kiến Sơ] thứ 8 (năm 83), hữu ty tâu xin bãi chức của Dự, đồng thời đưa bọn Liêu, Phòng, Quang về đất phong. Dự theo cha là Liêu về nước, sau đó bị tra hỏi và đánh đập đến chết (vật cố). Sau này, vua có chiếu triệu Mã Liêu về lại kinh sư. Năm Vĩnh Nguyên thứ 4 (năm 92), Liêu mất. Hòa Đế vì nể Liêu là cậu của tiên đế (Chương Đế), nên ban tặng đồ phúng viếng rất hậu, sai sứ giả đến viếng tế, các vương hầu công chúa đều đến dự tang, ban thụy hiệu là An hầu.
Con trai Dự - Mã Tuân 遵
[sửa]Con là Mã Tuân (馬遵) kế vị, được dời phong làm Trình Hương hầu. Tuân mất không có con nối dõi, đất phong bị bãi bỏ. Năm Nguyên Sơ thứ 3 (năm 116), Đặng Thái hậu hạ chiếu phong cho cháu nội của Mã Liêu là Mã Độ (馬度) làm Dĩnh Dương hầu.
Con trai Viện - em Liêu - Mã Phòng 防
[sửa]Mã Phòng, tự Giang Bình (江平). Năm Vĩnh Bình thứ 12 (năm 69), ông cùng em là Mã Quang đều làm Hoàng môn Thị lang. Khi Túc Tông (Chương Đế) lên ngôi, bái Phòng làm Trung lang tướng, sau thăng dần đến Thành môn Hiệu úy.
Năm Kiến Sơ thứ 2 (năm 77), người Khương ở Kim Thành, Lũng Tây vốn đã quy thuận nay đều làm phản. Triều đình bái Phòng làm Hành Xa kỵ tướng quân sự, lấy Trường thủy Hiệu úy Cảnh Cung làm phó, dẫn 5 cánh quân Bắc quân và quân xạ thủ các quận gồm 3 vạn người đi đánh. Khi quân đến huyện Ký, hào trưởng người Khương là Bố Kiều bao vây Nam bộ Đô úy tại Lâm Thao. Phòng muốn đi cứu, nhưng đường đến Lâm Thao hiểm trở, xe kỵ không thể đi song hàng được. Phòng bèn sai hai vị Tư mã dẫn vài trăm kỵ binh chia làm tiền quân và hậu quân, lập đại doanh cách Lâm Thao hơn 10 dặm, cắm nhiều cờ xí, phao tin rằng đại quân sáng sớm mai sẽ tiến đánh. Quân do thám của giặc thấy thế, chạy về báo rằng quân Hán rất đông, không thể chống lại. Sáng hôm sau, quân Hán đánh trống hò reo tiến lên, quân Khương kinh hãi bỏ chạy, nhân đó Phòng truy kích phá tan giặc, chém hơn 4.000 thủ cấp, giải vây cho Lâm Thao. Phòng dùng ơn nghĩa và uy tín để chiêu hàng, giống Thiêu Đương đều ra hàng, chỉ còn bọn Bố Kiều hơn 2 vạn người ở vùng Vọng Khúc Cốc phía tây nam Lâm Thao. Tháng 12, người Khương lại đánh bại Tư mã của Cảnh Cung và Trường sử Lũng Tây tại thung lũng Hòa La, khiến hàng trăm người tử trận.
Mùa xuân năm sau, Phòng sai Tư mã Hạ Tuấn dẫn 5.000 người đi đường lớn chặn phía trước, ngầm sai Tư mã Mã Bành dẫn 5.000 người đi đường tắt đâm thẳng vào tim phúc địch, lại lệnh cho Tướng binh Trường sử Lý Điều dẫn 4.000 người vòng sang phía tây. Ba đạo quân cùng đánh, lại phá tan quân giặc, chém và bắt hơn 1.000 người, thu được hơn 10 vạn bò dê. Người Khương tháo chạy, Hạ Tuấn đuổi theo nhưng lại bị giặc đánh bại. Phòng bèn dẫn binh quyết chiến tại Sách Tây, một lần nữa phá tan quân địch. Bố Kiều lâm vào đường cùng, dẫn hơn vạn người ra hàng. Vua hạ chiếu triệu Phòng về kinh, bái làm Xa kỵ tướng quân, vẫn kiêm Thành môn Hiệu úy như cũ.
Mã Phòng được sủng ái tột bậc, khi ngồi dự tiệc vị trí cách biệt hẳn với hàng Cửu khanh. Mã Quang cũng từ Việt kỵ Hiệu úy thăng làm Chấp kim ngô. Năm thứ 4, phong Phòng làm Dĩnh Dương hầu, Quang làm Hứa hầu, hai anh em mỗi người hưởng thực ấp 6.000 hộ. Phòng nhờ công lao chăm sóc thuốc men khi Hiển Tông (Minh Đế) lâm bệnh và công bình định Tây Khương mà được tăng thêm 1.350 hộ. Ông nhiều lần dâng biểu nhường chức, bèn được cho hưởng tước Đặc tiến về phủ riêng. Sau khi Hoàng thái hậu băng hà, năm sau, bái Phòng làm Quang lộc huân, Quang làm Vệ úy. Phòng thường hay bàn luận việc chính sự, đa phần được triều đình chấp thuận. Mùa đông năm ấy, triều đình bắt đầu thực hiện nghi lễ nhạc nghênh khí tháng 12 là do Phòng dâng sớ đề nghị. Con ông là Mã Cự 鉅 làm Thường tùng tiểu hầu. Tháng Giêng năm thứ 6, vì Cự đến tuổi đội mũ (quán lễ), vua đặc cách bái làm Hoàng môn Thị lang. Túc Tông thân hành đến điện dưới đài Chương Đài, bày biện lễ vật, tự mình đứng xem lễ đội mũ cho Cự. Năm sau, Phòng lại lấy cớ bệnh xin từ quan về hưu, vua ban cho ruộng vườn của cố Trung Sơn vương, cho hưởng tước Đặc tiến về tư dinh.
Anh em họ Mã lúc bấy giờ quyền quý cực thịnh, nô tỳ mỗi nhà hơn nghìn người, tài sản hàng ức vạn, đều mua ruộng tốt màu mỡ ở kinh sư. Lại xây dựng phủ đệ nguy nga, lầu các nối tiếp sát mặt đường, trải dài khắp các phố, tụ tập nhiều ca nhạc, khúc điệu sánh ngang với nhạc tế lễ ở giao miếu. Tân khách kéo đến nườm nượp từ bốn phương, hạng người như Đỗ Đốc vùng Kinh Triệu có đến hàng trăm người thường xuyên làm thực khách dưới trướng. Các chức Thứ sử, Thái thú, Huyện lệnh đa phần đều xuất thân từ nhà họ Mã. Hàng năm họ thường ban phát cứu trợ cho xóm giềng, bạn cũ ai nấy đều được chu cấp đủ đầy. Phòng lại nuôi nhiều ngựa và gia súc, còn thu thuế của người Khương, người Hồ. Vua không thích việc này, nhiều lần khiển trách và răn đe, đặt ra nhiều luật lệ ngăn cấm nghiêm ngặt. Từ đó quyền thế nhà họ Mã giảm sút, tân khách cũng thưa thớt dần. Năm thứ 8, nhân vụ con trai Mã Liêu là Mã Dự oán hận phỉ báng triều đình, hữu ty tâu rằng anh em Phòng, Quang sống xa hoa, vượt quá lễ chế, làm vẩn đục sự giáo hóa của thánh hiền, nên tất cả bị bãi chức và đưa về đất phong. Khi họ sắp lên đường, vua xuống chiếu rằng: "Nhà cậu ta đều phải về đất phong, bốn mùa nơi lăng miếu không còn ai giúp việc tế tự trước sau, trẫm rất lấy làm đau xót. Nay lệnh cho Hứa hầu (Mã Quang) được ở lại ruộng vườn để suy ngẫm lỗi lầm, hữu ty chớ có thỉnh cầu bắt đi nữa, để an ủi tình Vị Dương (tình cậu cháu) của trẫm."
Mã Quang tính tình cẩn trọng chu đáo, khi mẹ mất thì đau buồn quá độ, vua vì thế đặc biệt yêu mến, cho phục chức Đặc tiến. Con Quang là Mã Khang làm Hoàng môn Thị lang. Năm Vĩnh Nguyên thứ 2 (năm 90), Quang làm Thái bộc, Khang làm Thị trung. Đến khi Đậu Hiến bị giết, Quang vì có quan hệ thân thiết với Hiến nên lại bị bãi chức về đất phong. Sau đó, nô tỳ của Đậu Hiến vu cáo Quang cùng Hiến làm phản, Quang bèn tự sát, gia quyến bị đưa về quận cũ. Quận lại giết chết Mã Khang, còn Mã Phòng và Mã Tuân (con Mã Liêu) đều bị tội lây và dời phong đến Đan Dương. Phòng làm Địch Hương hầu, tiền thuế hàng năm giới hạn trong 3 triệu, không được coi dân là thần thuộc. Phòng sau này thấy vùng Giang Nam thấp ẩm, thượng thư xin về lại quận cũ, Hòa Đế chấp thuận. Năm thứ 10 (năm 98), ông mất.
Con là Mã Cự nối dõi, sau làm Trường thủy Hiệu úy. Năm Vĩnh Sơ thứ 7 (năm 113), Đặng Thái hậu hạ chiếu cho các con cháu họ Mã trở về kinh sư, tham dự các buổi triều hội theo bốn mùa như cũ, lại khôi phục tước phong cho con Mã Quang là Mã Lãng làm Hợp Hương hầu.
Cháu trai Mã Nghiêm 嚴
[sửa]Mã Nghiêm, tự Vi Khanh (威卿). Cha ông là Mã Dư, thời Vương Mãng làm Dương Châu Mục. Nghiêm mồ côi từ nhỏ, tính thích múa kiếm, thạo cưỡi ngựa bắn cung. Sau này ông thưa với chú là Mã Viện, rồi theo Dương Thái Bá ở Bình Nguyên để giảng học, chuyên tâm vào điển tịch, thông suốt kinh Xuân Thu Tả thị truyện, lại đọc khắp lời lẽ của bách gia, kết giao với các bậc anh hiền; các bậc đại nhân ở kinh sư đều coi trọng và cho ông là người kỳ tài. Khi làm Đốc bưu ở quận, Mã Viện thường cùng ông bàn bạc mưu kế, tin cẩn giao phó việc nhà cho ông. Em trai là Mã Đôn (馬敦), tự Nhũ Khanh, cũng có danh tiếng. Sau khi Mã Viện mất, Nghiêm cùng Đôn đều về quê ở An Lăng, cư ngụ tại Cự Hạ. Người vùng Tam Phụ khen ngợi nghĩa hạnh của họ, gọi là "Cự Hạ nhị Khanh" (Hai vị họ Khanh ở Cự Hạ).
Khi Minh Đức Hoàng hậu được lập, Nghiêm bèn đóng cửa tự giữ mình, lại lo sợ sẽ bị người đời dèm pha, nghi kỵ, nên dời nhà đến Bắc Địa, cắt đứt giao du với tân khách. Năm Vĩnh Bình thứ 15, Hoàng hậu hạ sắc lệnh khiến ông dời về Lạc Dương. Hiển Tông (Minh Đế) triệu kiến, thấy Nghiêm đối đáp nhã nhặn, thong thả, lấy làm lạ và rất hài lòng, bèn hạ chiếu cho ông ở lại cửa Nhân Thọ, cùng với các quan hiệu thư như Đỗ Phủ, Ban Cố soạn định sách Kiến Vũ chú ký. Ông thường cùng các tôn thất gần gũi như Lâm Ấp hầu Lưu Phục bàn luận chính sự, rất được vua sủng ái. Sau đó, ông được bái làm Tướng quân Trường sử, thống lĩnh quân sĩ ngũ hiệu của Bắc quân và 3.000 cấm binh Vũ Lâm, đến trấn thủ tại Mỹ Tắc thuộc Tây Hà để bảo vệ Nam Đơn Vu. Ông được phép đặt các chức Tư mã, Tòng sự; các quan Mục, Thủ (đứng đầu châu, quận) khi gặp ông đều phải kính cẩn như đối với bậc Tướng quân. Vua truyền lệnh cho Nghiêm đi qua Võ khố phải tế Xiâu Ưu, vua thân hành đến gác A Các để xem quân đội của ông, người thời bấy giờ lấy làm vinh hiển lắm.
Túc Tông (Chương Đế) lên ngôi, trưng triệu ông về bái làm Thị ngự sử Trung thừa, ban cho con trai ông là Mã Chuyên làm Lang để khuyến khích việc học trong triều. Mùa đông năm ấy xảy ra thiên tai nhật thực, Nghiêm dâng sớ kín rằng:
"Thần nghe mặt trời là bậc trưởng của các khí Dương, bị ăn (thực) là điềm báo của khí Âm xâm lấn. Kinh Thư nói: 'Chớ để trống các chức quan, hãy để người thay trời làm việc'. Ý nói bậc vương giả thay trời dùng người vậy. Cho nên việc khảo xét công tích, giáng chức hay thăng chức là để làm sáng tỏ sự khen chê. Nếu kẻ không công mà không bị giáng, ắt khí Âm sẽ lấn lướt khí Dương.
Thần thấy nay các quan Thứ sử, Thái thú trấn giữ các châu quận, không lo phụng sự hết lòng vì nước, mà chỉ lo dò xét thiên lệch, ban phát hay chiếm đoạt theo ý riêng; hễ ai cùng phe cánh thì khen ngợi là tài giỏi ưu tú, ai khác ý thì dùng hình pháp để hãm hại; bằng không thì cũng cúi đầu bịt tai để mưu cầu tài hối lộ. Nay Thứ sử Ích Châu là Chu Phô, Thứ sử Dương Châu là Nghê Thuyết, Thứ sử Lương Châu là Doãn Nghiệp... mỗi khi đi khảo xét công việc thường có người chết (vì bị tra khảo), lại bầu chọn người không đúng thực tế mà chưa từng bị khiển trách, giáng chức. Điều này khiến bề tôi có thể tự tiện tác oai tác phúc.
Theo lệ cũ, những người do châu quận tiến cử lên, quan Tư trực phải xét xem tài đức thế nào để trừng phạt kẻ hư danh, biểu dương người thực chất. Nay nên tăng cường kiểm tra, tuân thủ chế độ cũ. Trước đây, Thừa tướng và Ngự sử đích thân quản lý chức sự, chỉ có Bính Cát vì tuổi già nên sống thong dong, không xét lỗi quan lại, từ đó các phủ tể tướng tập thành thói quen, che giấu lẫn nhau để chuộng hư danh, có kẻ chưa hiểu rõ chức trách đã lại được thăng dời, thật không phải ý nghĩa của việc đặt quan phát lộc. Nên hạ lệnh chấn chỉnh bách quan, mỗi người phải chịu trách nhiệm về việc của mình, người do châu quận tiến cử phải thực sự tài đức. Nếu không biết nghe lời răn, hãy dùng pháp luật mà trị.
Truyện có câu: 'Đức cao nhất là lấy khoan dung phục dân, kế đó không gì bằng uy mãnh. Giống như lửa dữ thì người ta trông mà sợ nên ít bị bỏng; nước yếu mềm thì người ta khinh lờn nên hay bị chết đuối. Người làm chính trị phải lấy khoan dung giúp cho uy mãnh, lấy uy mãnh giúp cho khoan dung'. Được như vậy thì việc cai trị mới có thể thống, tai ương ắt sẽ tiêu tan."
Sớ dâng lên, vua nghe theo lời ông mà miễn chức của bọn Chu Phô.
Năm Kiến Sơ thứ nhất, ông thăng làm Ngũ quan Trung lang tướng, ba con trai của ông đều được làm Lang. Nghiêm nhiều lần tiến cử người hiền tài, giải quyết các vụ án oan ức, đa phần đều được vua nghe theo. Ông lại kiêm chức Ngũ quan Trung lang tướng hành Trường Lạc Vệ úy sự. Năm thứ hai, ông được bái làm Thái thú Trần Lưu. Khi chuẩn bị nhậm chức, Nghiêm thưa với vua rằng: "Xưa Hiển Thân hầu Đậu Cố lầm lẫn xin tiên đế xuất binh Tây Vực, lập đồn trú ở Y Ngô Lư, tốn kém mà không có lợi. Lại nữa, Đậu Huân bị tội chết, gia quyến hắn không nên để ở gần kinh sư."
Bấy giờ con gái của Đậu Huân đang làm Hoàng hậu (Đậu Hoàng hậu), họ Đậu đang lúc cực thịnh. Có kẻ nghe trộm lời của Nghiêm đem kể cho anh em Đậu Hiến, do đó ông bị phe quyền quý căm ghét. Nghiêm đến nhiệm sở, nghiêm minh thưởng phạt, vạch trần kẻ gian ác, khiến bờ cõi trong quận thanh bình. Khi ấy ở kinh sư có lời đồn giặc từ phương Đông kéo đến, bách tính bỏ chạy tán loạn, các quận đều hốt hoảng báo cáo về triều. Nghiêm xét thấy đó là lời đồn nhảm, một mình ông không phòng bị. Chiếu thư trách hỏi, sứ giả ngựa trạm nối đuôi nhau trên đường, nhưng Nghiêm vẫn kiên quyết khẳng định không có giặc, sau quả nhiên đúng như lời ông.
Trông coi quận được bốn năm, vì liên quan đến việc gửi gắm nhờ vả với Tông chính Lưu Dật và Thiếu phủ Đinh Hồng nên bị triệu về bái làm Thái trung Đại phu; mười ngày sau thăng làm Tương tác Đại tượng. Năm thứ 7, lại vì có lỗi mà bị miễn chức. Về sau vì bị họ Đậu căm ghét nên ông không còn được giữ chức vị nào nữa. Khi vua băng hà, Đậu Thái hậu lâm triều, Nghiêm lui về ẩn cư tự giữ mình, dạy bảo con cháu. Năm Vĩnh Nguyên thứ 10, ông mất tại nhà, thọ 82 tuổi.
Em trai ông là Mã Đôn, làm quan đến chức Hổ bôn Trung lang tướng.
Con trai Nghiêm 嚴 - Mã Tục 續
[sửa]Mã Nghiêm có bảy người con trai, duy chỉ có Mã Tục và Mã Dung 融 là nổi danh hơn cả.
Mã Tục, tự Quý Tắc (季則). 7 tuổi đã thông suốt kinh Luận Ngữ, 13 tuổi hiểu rõ kinh Thượng Thư, 16 tuổi nghiên cứu kinh Thi, xem rộng khắp các điển tịch, lại giỏi cả môn Cửu Chương Toán Thuật. Thời Thuận Đế, ông làm Hộ Khương hiệu úy, sau thăng làm Độ Liêu tướng quân; những nơi ông trấn nhậm đều được khen ngợi là có cả uy quyền lẫn ơn đức. (Mã Dung đã có truyện riêng).
Cháu trong họ - Mã Lăng 棱
[sửa]Mã Lăng, tự Bá Uy (伯威), là tộc tôn (cháu trong họ) của Mã Viện. Mồ côi từ nhỏ, Lăng nương tựa và chung sống, làm ăn cùng người anh họ là Mã Nghị, tình nghĩa gắn bó như anh em ruột thịt. Khi Nghị mất mà không có con nối dõi, Lăng giữ tâm tang (để tang trong lòng) suốt ba năm.
Những năm Kiến Sơ (76–84), Lăng làm Công tào ở quận, được cử hiếu liêm. Đến khi họ Mã bị phế truất [khỏi quyền lực ngoại thích], Túc Tông (Chương Đế) vì trọng hành vi nghĩa khí của Lăng nên đã trưng triệu và bái ông làm Yết giả. Năm Chương Hòa thứ nhất (năm 87), ông thăng làm Thái thú Quảng Lăng.
Bấy giờ thóc gạo đắt đỏ, dân chúng đói kém, Lăng dâng sớ xin bãi bỏ quan coi muối để nhường cái lợi đó cho trăm họ; ông cứu tế người nghèo yếu, giảm nhẹ thuế khóa, sửa sang khôi phục các ao hồ, tưới tiêu cho hơn hai vạn khoảnh ruộng. Quan dân trong quận đã khắc đá ghi nhớ công đức của ông.
Năm Vĩnh Nguyên thứ hai (năm 90), ông chuyển làm Thái thú Hán Dương, tiếng tăm uy nghiêm lẫy lừng. Khi Đại tướng quân Đậu Hiến đóng quân ở phía tây tại Võ Uy, Lăng vì phải cung ứng nhiều quân phí nên đã tăng thuế xâm phạm đến đời sống bách tính. Sau khi Đậu Hiến bị giết, Lăng cũng bị liên lụy mà chịu tội.
Vài năm sau, vùng sông hồ có nhiều giặc dữ, triều đình dùng Lăng làm Thái thú Đan Dương. Lăng điều binh tập kích bất ngờ, bắt sạch và diệt gọn bọn giặc. Sau chuyển làm Thái thú Hội Kê, việc cai trị cũng có danh tiếng. Tiếp đó chuyển làm Thái thú Hà Nội. Những năm Vĩnh Sơ (107–113), ông phạm lỗi mà bị luận tội, sau mất tại nhà.
Tán thán
[sửa]Tán rằng: Phục Ba ham lập công, bắt đầu từ đất Ký, Lũng. Phương Nam dẹp yên Lạc Việt, phương Tây tiêu diệt giống [Khương] Thiêu Hà. Năm tháng đã trôi đi, chí tráng vẫn còn dũng mãnh. Đức sáng [của Hoàng hậu] đã lên ngôi, phúc nhà nhờ đó mà hưng thịnh. [Con là] Liêu thiếu ba điều thú (1), [con là] Phòng lại sinh lòng kiêu ngạo lấn lướt.
Chú thích ý nghĩa:
(1) Liêu thiếu ba điều thú (廖乏三趣): "Ba điều thú" (tam thú - 三趣) ở đây nhắc đến một điển tích về Mã Liêu (con trưởng của Mã Viện). Khi Mã Liêu làm quan, ông không có đam mê hay thú vui đặc biệt nào để giữ mình thanh cao hoặc tạo ra sự nghiệp đặc sắc, tính cách có phần nhạt nhòa, không bì được với khí phách của cha.
Phòng toại kiêu lăng: Mã Phòng là con thứ của Mã Viện. Về sau, nhờ thế lực của chị là Mã Hoàng hậu, Mã Phòng và anh em họ Mã trở nên cực kỳ quyền quý. Tuy nhiên, Mã Phòng không giữ được sự khiêm tốn như lời cha dặn, dẫn đến việc kiêu ngạo, lấn lướt và cuối cùng khiến gia tộc rơi vào cảnh bị triều đình nghi kỵ, phải rời khỏi kinh sư.
Chú thích
- ▲ Mã Viện dùng tình cảm cá nhân (kể về nỗi khổ của con cái Dương Quảng) để lung lạc ý chí của tướng lĩnh dưới quyền Lôi Hiêu.
- ▲ Điển tích "Phân canh": Nhắc lại chuyện Hạng Vũ dọa nấu thịt cha Lưu Bang, nhằm chỉ trích sự nhẫn tâm của Lôi Hiêu khi đẩy người thân vào vòng nguy hiểm.
- ▲ Điển tích "Cùng máng cỏ": Ý nói việc cúi mình thờ kẻ hèn kém, chịu chung số phận thấp hèn.
- ▲ Điển tích "Tụ mễ vi sơn" (聚米爲山 - Chụm gạo làm núi) chính là khởi nguồn của sa bàn quân sự ngày nay. Mã Viện đã dùng những hạt gạo để mô phỏng địa hình hiểm trở vùng Lũng Tây giúp vua Quang Vũ hạ quyết tâm chinh phạt.
- ▲ Phục Ba tướng quân: "Phục Ba" có nghĩa là "dẹp yên sóng dữ", danh hiệu này gắn liền với sự nghiệp chinh chiến của Mã Viện.
- ▲ Điển tích "Chim diều rơi": Hình ảnh mô tả sự khắc nghiệt của khí hậu.
- ▲ Luật Mã tướng quân: Mã Viện không chỉ dùng binh mà còn dùng pháp luật để ổn định xã hội Lạc Việt sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
- ▲ Mã cách khỏa thi (Da ngựa bọc thây): Đây là câu nói kinh điển nhất của Mã Viện, thể hiện chí khí của một vị tướng trọn đời vì biên ải.
- ▲ Mối thâm thù với Lương Tùng: Sự chính trực, coi trọng tôn ti của Mã Viện vô tình gieo mầm họa sau này khi Lương Tùng gièm pha ông với vua.
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.