Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 86
Nam Man
[sửa]Xưa thời Cao Tân Thị (高辛氏) có giặc Khuyển Nhung (犬戎) quấy nhiễu, Đế lo buồn vì chúng xâm bạo mà chinh phạt không thắng. Bèn ban bảng cầu người trong thiên hạ, ai lấy được đầu Ngô tướng quân (吳將軍) của Khuyển Nhung sẽ thưởng 1000 dật vàng, phong 10000 hộ, lại gả con gái út cho. Khi ấy Đế có nuôi 1 con chó lông 5 màu tên là Bàn Hồ (槃瓠). Sau khi hạ lệnh, Bàn Hồ ngậm 1 đầu người đến cung khuyết, quần thần lạ lùng xem xét thì đúng là đầu Ngô tướng quân. Đế mừng rỡ nhưng tính rằng Bàn Hồ không thể lấy công chúa làm vợ, cũng không có đạo phong tước, bàn việc báo đáp mà chưa biết làm sao. Công chúa nghe chuyện cho rằng hoàng lệnh không thể thất tín nên xin đi. Đế bất đắc dĩ gả công chúa cho Bàn Hồ. Bàn Hồ cõng công chúa chạy vào Nam Sơn (南山), ở trong hang đá. Nơi đó hiểm trở tuyệt lộ, dấu chân người không đến được. Công chúa bỏ xiêm y, búi tóc kiểu tôi tớ, mặc quần áo tự dệt. Đế thương nhớ, sai sứ tìm kiếm nhưng đều gặp mưa gió sấm chớp mịt mù, sứ giả không tiến lên được. Qua 3 năm, sinh 12 người con, 6 trai 6 gái. Sau khi Bàn Hồ chết, chúng tự kết làm vợ chồng. Dệt vỏ cây, nhuộm bằng hạt cỏ, thích áo quần 5 màu, cắt may đều có hình đuôi. Người mẹ sau đó trở về kể lại với Đế, vua bèn cho đón các con tới. Áo quần sặc sỡ, ngôn ngữ khó hiểu, thích vào khe núi, không ưa đất bằng. Đế theo ý đó, ban cho núi danh tiếng đầm rộng lớn. Sau này nảy nở đông đúc, gọi là Man Di (蠻夷). Ngoài ngu ngơ trong xảo quyệt, bám đất trọng cũ. Vì cha có công, mẹ là con Đế, nên việc làm ruộng buôn bán không bị thu thuế quan ải hay tô thuế. Có lãnh chúa ở ấp, đều ban ấn thụ, mũ dùng da rái cá. Gọi thủ lĩnh là Tinh phu (精夫), gọi nhau là Ngang đồ (姎徒). Nay là Man ở Trường Sa (長沙), Vũ Lăng (武陵).
Thời Đường (唐), Ngu (虞), đặt họ ở vùng Yếu Chất, nên gọi là Yếu Phục (要服). Thời Hạ (夏), Thương (商), dần trở thành họa biên cương. Đến đời Chu (周), bè đảng càng thịnh. Tuyên Vương (宣王) trung hưng, sai Phương Thúc (方叔) nam chinh vùng Man, thi nhân nói Man Kinh lai uy (蠻荆來威). Lại nói Thuẩn nhĩ Man Kinh, đại bang vi thù (蠢爾蠻荆,大邦爲仇). Rõ là bè đảng đông đảo nên mới kháng cự lại các nước Hoa Hạ.
Bình Vương (平王) dời đô sang đông, người Man xâm bạo thượng quốc. Tấn Văn Hầu (晉文侯) phụ chính, dẫn Thái Cộng Hầu (蔡共侯) đánh tan. Đến thời Sở Võ Vương (楚武王), người Man cùng La Tử (羅子) đánh bại quân Sở, giết tướng Khuất Hà (屈瑕). Trang Vương (莊王) mới lập, dân đói binh yếu, lại bị cướp bóc. Sau khi quân Sở chấn hưng mới chịu hàng phục, từ đó thuộc về nước Sở. Trận Yên Lăng (鄢陵), người Man cùng Cung Vương (恭王) hợp binh đánh Tấn. Đến khi Ngô Khởi (吳起) làm tướng Điệu Vương (悼王), phía nam thôn tính Man Việt (蠻越), có vùng Động Đình (洞庭), Thương Ngô (蒼梧). Tần Chiêu Vương (秦昭王) sai Bạch Khởi (白起) đánh Sở, chiếm đất Man Di, bắt đầu đặt quận Kiềm Trung (黔中). Nhà Hán hưng lên, đổi thành Vũ Lăng (武陵). Mỗi năm lệnh cho người lớn nộp 1 xấp vải, trẻ nhỏ nộp 2 trượng, gọi là vải Tòng (賨布). Tuy thi thoảng làm giặc cướp nhưng không đủ làm họa cho quận quốc.
Quang Vũ (光武) trung hưng, Vũ Lăng Man Di đặc biệt hưng thịnh. Năm Kiến Vũ thứ 23 (năm 47), Tinh phu Tương Đơn Trình (相單程) dựa nơi hiểm yếu, đánh phá lớn các quận huyện. Sai Võ Uy tướng quân Lưu Thượng (劉尙) điều động hơn 10000 quân ở Nam Quận (南郡), Trường Sa (長沙), Vũ Lăng (武陵), đi thuyền ngược sông Nguyên Thủy (沅水), vào Vũ Khê (武谿) đánh giặc. Thượng khinh địch vào nơi hiểm, núi sâu nước chảy xiết, thuyền không lên được. Người Man biết Thượng ít lương lại vào sâu, không rõ đường xá, bèn tụ tập giữ chỗ hiểm. Thượng hết lương rút về, người Man men đường chặn đánh, quân Thượng đại bại, đều bị tiêu diệt. Năm Kiến Vũ thứ 24 (năm 48), Tương Đơn Trình xuống đánh Lâm Nguyên (臨沅), sai Yết giả Lý Tung (李嵩), Thái thú Trung Sơn (中山) là Mã Thành (馬成) đánh nhưng không thắng. Mùa xuân năm sau, sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援), Trung lang tướng Lưu Khuông (劉匡), Mã Võ (馬武), Tôn Vĩnh (孫永) dẫn binh đến Lâm Nguyên (臨沅) đánh tan giặc. Đơn Trình lâm cảnh đói khát xin hàng, gặp lúc Mã Viện bệnh chết, Yết giả Tông Quân (宗均) cho phép tất cả đầu hàng. Đặt chức lại ty cai quản, các nhóm người Man được dẹp yên.
Triều Túc Tông (肅宗), năm Kiến Sơ thứ 1 (năm 76), Vũ Lăng Lễ Trung Man (澧中蠻) là Trần Từ (陳從) phản bản, vào cõi Linh Dương Man (零陽蠻). Mùa đông năm đó, Ngũ Lý Tinh phu (五里精夫) của Linh Dương Man giúp quận đánh bại Trần Từ, bọn Từ đều hàng. Năm thứ 3 (năm 78) mùa đông, Lâu Trung Man (漊中蠻) là Đàm Nhi Kiện (覃兒健) lại phản, đánh phá Linh Dương (零陽), Tác Đường (作唐), Sàn Lăng (孱陵). Mùa xuân năm sau, điều 5000 quân và lệ sĩ từ 7 quận Kinh Châu (荆州) cùng Nhữ Nam (汝南), Dĩnh Xuyên (潁川) trấn thủ Linh Dương, mộ 4000 Tinh phu của Ngũ Lý Man (五里蠻) không phản để đánh giặc Lễ Trung. Mùa xuân năm thứ 5 (năm 80), Đàm Nhi Kiện xin hàng không được chấp thuận. Quân quận tiến đánh tại Hoành Hạ (宏下), đại phá giặc, chém đầu Nhi Kiện, dư chúng chạy về Lâu Trung, sau lại xin hàng mới nhận. Bèn bãi binh đồn trú ở Vũ Lăng, ban thưởng theo thứ bậc.
Triều Hòa Đế (和帝), năm Vĩnh Nguyên thứ 4 (năm 92) mùa đông, Man ở Lâu Trung, Lễ Trung là Đàm Nhung (潭戎) phản, đốt bưu đình, giết dân, quân quận đánh bại và thu hàng. Triều An Đế (安帝), năm Nguyên Sơ thứ 2 (năm 115), Lễ Trung Man do tô thuế không công bằng nên oán hận, kết liên với các giống ở Sung Trung (充中) hơn 2000 người đánh thành giết quan. Châu quận mộ binh Ngũ Lý Man, Lục Đình (六亭) đánh tan. Thưởng cho Cừ soái Ngũ Lý, Lục Đình vàng lụa theo thứ bậc. Mùa thu năm sau, 4000 Man ở Lâu Trung, Lễ Trung làm đạo tặc. Lại có Linh Lăng Man (零陵蠻) là Dương Tôn (羊孫), Trần Thang (陳湯) hơn 1000 người, đội khăn đỏ, xưng tướng quân, đốt quan tự, cướp bách tính. Châu quận mộ thiện Man đánh dẹp xong.
Triều Thuận Đế (順帝), năm Vĩnh Hòa thứ 1 (năm 136), Thái thú Vũ Lăng thượng thư rằng Man Di đã thuần phục, có thể ví như người Hán mà tăng thuế. Các quan nghị đều cho là được. Thượng thư lệnh Ngư Hủ (虞詡) can rằng: Xưa nay thánh vương không coi dị tục là thần dân, vì uy đức khó cưỡng được tâm thú tham lam, nếu ép tăng thuế tất phản. Đế không nghe. Mùa đông năm đó, Man ở Lễ Trung, Lâu Trung tranh chấp thuế vải, giết hương lại, cả giống phản nghịch. Mùa xuân năm sau, 20000 người Man vây Sung Thành (充城), 8000 người đánh Di Đạo (夷道). Thái thú Vũ Lăng là Lý Tiến (李進) đánh bại, chém vài trăm thủ cấp, còn lại đều hàng. Lý Tiến chọn quan giỏi cai trị, được lòng dân. Ở quận 9 năm, Lương thái hậu (梁太後) hạ chiếu tăng trật lên 2000 thạch, ban 200000 tiền. Triều Hoàn Đế (桓帝), năm Nguyên Gia thứ 1 (năm 151) mùa thu, Vũ Lăng Man là Chiêm Sơn (詹山) hơn 4000 người phản, bắt Huyện lệnh, đóng ở núi sâu. Đến năm Vĩnh Hưng thứ 1 (năm 153), Thái thú Ứng Phụng (應奉) dùng ân tín chiêu dụ, đều hàng tán.
Tháng 11 năm Vĩnh Thọ thứ 3 (năm 157), Trường Sa Man (長沙蠻) phản, đóng ở Ích Dương (益陽). Đến mùa thu năm Diên Hy thứ 3 (năm 160), cướp bóc trong quận, quân tới hơn 10000 người, giết quan lại. Linh Lăng Man cũng vào Trường Sa. Mùa đông, hơn 6000 Vũ Lăng Man đánh Giang Lăng (江陵), Thứ sử Kinh Châu là Lưu Độ (劉度), Yết giả Mã Mục (馬睦), Thái thú Nam Quận là Lý Túc (李肅) đều bỏ chạy. Chủ bạ của Túc là Hồ Sảng (胡爽) can ngăn bị Túc giết rồi chạy. Đế nghe tin, xử tử Lý Túc, Lưu Độ và Mã Mục giảm tội 1 bậc, nêu gương Hồ Sảng, ban chức Lang cho 1 người nhà. Bèn dùng Độ Thượng (度尙) làm Thứ sử Kinh Châu đánh dẹp xong. Lại sai Xa kỵ tướng quân Phùng Côn (馮緄) đánh Vũ Lăng Man, giặc đều hàng tán. Quân về, giặc lại đánh Quế Dương (桂陽), Thái thú Liêu Tích (瘳析) bỏ chạy. Vũ Lăng Man lại đánh quận, Thái thú Trần Phụng (陳奉) đánh bại, chém hơn 3000 thủ cấp, hàng hơn 2000 người. Đến năm Trung Bình thứ 3 (năm 186) đời Linh Đế (靈帝), Vũ Lăng Man lại phản, châu quận đánh bại.
Lễ Ký (禮記) chép: Phương nam gọi là Man, xăm trán chụm chân (雕題交阯). Tục nam nữ tắm chung sông nên gọi là Giao Chỉ (交阯). Phía tây có nước Đạm Nhân (噉人國), sinh con đầu lòng thì xẻ thịt ăn, gọi là nghi đệ (宜弟). Nếu ngon thì dâng vua, vua mừng thưởng cho cha. Cưới vợ đẹp thì nhường anh. Nay là người Ô Hú (烏滸).
Phía nam Giao Chỉ có nước Việt Thường (越裳國). Chu Công (周公) nhiếp chính năm thứ 6, chế lễ tác nhạc, thiên hạ thái bình, Việt Thường qua 3 lần thông ngôn dâng chim trĩ trắng. Thành Vương (成王) đưa cho Chu Công. Chu Công từ tốn không dám nhận là công mình. Sứ giả nói: Người già nước tôi bảo lâu rồi không có gió bão mưa lôi, ý là Trung Quốc có thánh nhân nên đến triều kiến. Chu Công bèn dâng lên vương, cúng tế miếu. Chu đức suy thì triều cống đứt quãng.
Đến khi Sở tử xưng bá, trăm Việt (百越) triều cống. Tần (秦) gộp thiên hạ, uy phục Man Di, mở mang ngoài cương lãnh, đặt các quận Nam Hải (南海), Quế Lâm (桂林), Tượng Quận (象郡). Nhà Hán hưng, Úy Đà (尉佗) tự lập làm Nam Việt Vương (南越王), truyền 5 đời. Đến năm Nguyên Đỉnh thứ 5 (năm 112 TCN) đời Võ Đế (武帝), diệt xong, chia đặt 9 quận, Giao Chỉ Thứ sử cai quản. Quận Châu Nhai (珠崖), Đạm Nhĩ (儋耳) ở đảo ngoài biển, rộng nghìn dặm. Tục quý tai dài, xỏ lỗ đeo vật nặng chảy xuống vai 3 tấc. Cuối đời Võ Đế, Thái thú Châu Nhai là Tôn Hạnh (孫幸) điều dịch quá mức bị Man giết. Con là Tôn Báo (孫豹) đánh bại giặc, tự lĩnh việc quận, năm sau thì bình định xong. Báo trả ấn thụ, vương lại phong Báo làm Thái thú. Trung Quốc tham của quý, hay xâm lấn nên Man thường phản. Năm Sơ Nguyên thứ 3 (năm 46 TCN) đời Nguyên Đế (元帝), bãi bỏ quận này. Tổng cộng đặt quận 65 năm.
Đến khi Vương Mãng (王莽) phụ chính, năm Nguyên Thủy thứ 2 (năm 2), nước Hoàng Chi (黃支國) phía nam Nhật Nam (日南) đến dâng tê ngưu. Các vùng Giao Chỉ thống lĩnh tuy đặt quận huyện nhưng ngôn ngữ khác biệt, phải qua nhiều lần dịch mới thông. Người như chim thú, không phân biệt già trẻ. Búi tóc đi chân đất, lấy vải đục lỗ chui đầu vào mặc. Sau này dời tội nhân Trung Quốc đến ở lẫn, mới dần biết ngôn ngữ và lễ hóa.
Quang Vũ (光武) trung hưng, Tích Quang (錫光) làm Thái thú Giao Chỉ (交阯), Nhâm Diên (任延) giữ quận Cửu Chân (九眞), bấy giờ mới dạy dân cày cấy, chế ra mũ giày, lần đầu đặt ra mai mối, dân mới biết cưới hỏi, lập trường học, dẫn dắt bằng lễ nghĩa.
Năm Kiến Vũ thứ 12 (năm 36), Man lý ở ngoài cõi Cửu Chân là Trương Du (張遊) dẫn chủng nhân mộ hóa quy thuộc, được phong làm Quy Hán Lý quân (歸漢里君). Sang năm, Man Di ngoài cõi Nam Việt dâng trĩ trắng, thỏ trắng. Đến năm thứ 16 (năm 40), người con gái Giao Chỉ là Trưng Trắc (徵側) cùng em gái là Trưng Nhị (徵貳) phản, đánh quận. Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh (麊泠), gả làm vợ người Chu Diên (硃珪) là Thi Sách (詩索), rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định (蘇定) dùng luật pháp trói buộc, Trắc phẫn nộ nên phản. Khi ấy Man lý ở Cửu Chân, Nhật Nam (日南), Hợp Phố (合浦) đều hưởng ứng, chiếm hơn 65 thành, tự lập làm vua. Thứ sử Giao Chỉ và các Thái thú chỉ giữ được thân. Quang Vũ bèn chiếu cho Trường Sa (長沙), Hợp Phố, Giao Chỉ chuẩn bị xe thuyền, sửa đường bắc cầu, thông khe suối, tích trữ lương cốc. Năm thứ 18 (năm 42), sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援), Lâu Thuyền tướng quân Đoạn Chí (段志), điều động hơn 10000 quân ở Trường Sa, Quế Dương (桂陽), Linh Lăng (零陵), Thương Ngô (蒼梧) đi đánh. Mùa hè tháng 4 năm sau, Mã Viện phá Giao Chỉ, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị, còn lại đều hàng tán. Tiến đánh giặc ở Cửu Chân là Đô Dương (都陽), phá và thu hàng. Dời hơn 300 Cừ soái đến Linh Lăng. Lĩnh biểu từ đó dẹp yên.
Triều Túc Tông (肅宗), năm Nguyên Hòa thứ 1 (năm 84), Man Di ngoài cõi Nhật Nam là hào trưởng ấp Cứu Bất Sự (究不事人) dâng tê ngưu sống, trĩ trắng. Triều Hòa Đế (和帝), tháng 4 mùa hè năm Vĩnh Nguyên thứ 12 (năm 100), Man Di ở Nhật Nam, Tượng Lâm (象林) hơn 2000 người cướp bóc dân chúng, đốt quan tự, quận huyện phát binh đánh, chém Cừ soái, dư chúng đều hàng. Bèn đặt chức Tượng Lâm Tướng binh Trường sử để phòng họa. Triều An Đế (安帝), năm Vĩnh Sơ thứ 1 (năm 107), Man Di Dạ Lang (夜郎) ngoài cõi Cửu Chân đem đất quy thuộc, mở mang bờ cõi 1840 dặm. Năm Nguyên Sơ thứ 2 (năm 115), Man Di ở Thương Ngô phản. Năm sau, dụ được mấy nghìn người Man Hán ở Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố đánh quận Thương Ngô. Đặng Thái hậu (鄧太後) sai Thị ngự sử Nhâm Trác (任逴) mang chiếu xá miễn, giặc đều hàng tán. Năm Diên Quang thứ 1 (năm 122), Man ngoài cõi Cửu Chân cống hiến quy thuộc. Năm thứ 3 (năm 124), Man ngoài cõi Nhật Nam lại đến quy thuộc. Triều Thuận Đế (順帝), năm Vĩnh Kiến thứ 6 (năm 131), vua Diệp Điều (葉調) ngoài cõi Nhật Nam sai sứ cống hiến, Đế ban cho kim ấn tử thụ.
Năm Vĩnh Hòa thứ 2 (năm 137), Man Di ngoài cõi Nhật Nam, Tượng Lâm là Khu Liên (區憐) hơn mấy nghìn người đánh huyện Tượng Lâm, đốt thành, giết quan lại. Thứ sử Giao Chỉ là Phàn Diễn (樊演) điều động hơn 10000 quân 2 quận Giao Chỉ, Cửu Chân đi cứu. Binh sĩ sợ đi xa nên phản, đánh phủ đường. Tuy 2 quận đánh tan bọn phản binh nhưng thế giặc chuyển thịnh. Gặp lúc Thị ngự sử Giả Xương (賈昌) đi sứ ở Nhật Nam, cùng châu quận hợp lực đánh nhưng bất lợi, bị vây hãm. Vây hơn 1 năm, binh lương cạn kiệt, Đế lo lắng. Năm sau, triệu trăm quan và thuộc hạ 4 phủ hỏi phương lược, đều bàn nên sai đại tướng, điều 40000 quân ở các châu Kinh (荆), Dương (楊), Diễn (兗), Dự (豫) ứng cứu. Đại tướng quân tòng sự Trung lang Lý Cố (李固) bác lại rằng:
Một là, Kinh, Dương đang có giặc, Man Di Vũ Lăng, Nam Quận chưa yên, điều quân đi tất sinh họa. Hai là, dân Diễn, Dự đi xa vạn dặm không ngày về tất làm phản. Ba là, phương nam lam chướng, 10 người chết mất 4, 5. Bốn là, đi vạn dặm sĩ tốt mệt lử, không đánh nổi. Năm là, đường xa 9000 dặm, đi 300 ngày mới tới, tốn 600000 hộc gạo. Sáu là, chết chóc nhiều, lại phải điều thêm quân, như cắt thịt tim gan đắp vào tay chân. Bảy là, Cửu Chân, Nhật Nam cách nhau nghìn dặm, bắt dân sở tại đi còn không chịu nổi, huống hồ khổ dịch quân 4 châu. Xưa Doãn Tựu (尹就) đánh Khương ở Ích Châu bị dân oán, sau giao binh cho Trương Kiều (張喬) mới dẹp xong. Nên chọn người dũng lược nhân huệ làm Thứ sử, Thái thú. Nay binh Nhật Nam ít lương cạn, nên dời dân lên bắc dựa vào Giao Chỉ, khi yên thì về. Lại mộ Man Di cho chúng đánh lẫn nhau, treo thưởng phong Hầu để lấy đầu địch. Cựu Thứ sử Tịnh Châu là Chúc Lương (祝良) người Trường Sa dũng quyết, và Trương Kiều người Nam Dương có công đánh giặc ở Ích Châu đều dùng được.
Bốn phủ đều nghe theo Lý Cố, bèn bái Chúc Lương làm Thái thú Cửu Chân, Trương Kiều làm Thứ sử Giao Chỉ. Kiều đến nơi dùng uy tín dụ hàng, giặc đều tan. Lương đến Cửu Chân, một xe vào giữa trại giặc, chiêu hàng được mấy vạn người, chúng còn xây phủ đường cho Lương. Từ đó vùng Lĩnh ngoại lại bình định.
Năm Kiến Khang thứ 1 (năm 144), Man Di Nhật Nam hơn 1000 người lại đốt phá huyện ấp, dụ cả Cửu Chân liên kết. Thứ sử Giao Chỉ là Hạ Phương (夏方) người Cửu Giang khai ân chiêu dụ, giặc đều hàng phục. Lúc ấy Lương Thái hậu (梁太後) nhiếp chính, khen công của Phương, thăng làm Thái thú Quế Dương. Triều Hoàn Đế (桓帝), năm Vĩnh Thọ thứ 2 (năm 156), Huyện lệnh Cư Phong (居風) tham bạo vô độ, người trong huyện là Chu Đạt (硃達) cùng Man Di giết Huyện lệnh, đông tới 4000-5000 người, đánh vào Cửu Chân, Thái thú Nhi Thức ([兒]式) tử trận. Vua ban 600000 tiền, cho 2 con làm Lang. Sai Đô úy Cửu Chân là Ngụy Lãng (魏朗) đánh phá, chém 2000 thủ cấp, Cừ soái vẫn chiếm Nhật Nam, thế lực mạnh lên. Năm Diên Hy thứ 3 (năm 160), lại bái Hạ Phương làm Thứ sử Giao Chỉ. Phương vốn có uy đức, giặc cũ ở Nhật Nam nghe danh, hơn 20000 người kéo đến hàng. Triều Linh Đế (靈帝), năm Kiến Ninh thứ 3 (năm 170), Thái thú Uất Lâm là Cốc Vĩnh (谷永) chiêu hàng hơn 100000 người Ô Hú (烏滸), cho mặc mũ áo, lập 7 huyện. Tháng 12 năm Hy Bình thứ 2 (năm 173), nước ngoài cõi Nhật Nam qua nhiều lần dịch sang dâng cống. Năm Quang Hòa thứ 1 (năm 178), Man Ô Hú ở Giao Chỉ, Hợp Phố phản, dụ cả Cửu Chân, Nhật Nam hợp mấy vạn người đánh chiếm quận huyện. Năm thứ 4 (năm 181), Thứ sử Chu Tuấn (硃俊) đánh bại. Năm thứ 6 (năm 183), nước ngoài cõi Nhật Nam lại đến dâng cống.
Man ở Ba Quận (巴郡), Nam Quận (南郡) vốn có 5 họ: Ba thị (巴氏), Phàn thị (樊氏), Thẩm thị (瞫氏), Tương thị (相氏), Trịnh thị (鄭氏). Đều ra từ núi Võ Lạc Chung Ly (武落鍾離山). Núi có 2 hang đỏ và đen, họ Ba sinh ở hang đỏ, 4 họ kia sinh ở hang đen. Chưa có thủ lĩnh, cùng thờ quỷ thần, bèn hẹn ném kiếm vào hang đá, ai trúng thì làm vua. Con họ Ba là Vụ Tương (務相) ném trúng, mọi người đều kinh ngạc. Lại hẹn cưỡi thuyền đất, ai nổi thì làm vua. Các họ khác đều chìm, chỉ Vụ Tương nổi. Bèn cùng lập làm vua, gọi là Lẫm Quân (廩君). Lẫm Quân cưỡi thuyền đất từ Di Thủy (夷水) đến Diêm Dương (鹽陽). Thần nữ ở Diêm Thủy muốn ở cùng, Lẫm Quân không chịu. Thần nữ hóa thành sâu cùng muôn sâu che lấp ánh sáng, trời đất tối tăm. Hơn 10 ngày, Lẫm Quân bắn chết thần nữ, trời mới sáng lại. Lẫm Quân làm vua ở Di Thành (夷城), 4 họ đều làm thần tử. Lẫm Quân chết, hồn hóa thành hổ trắng. Họ Ba cho rằng hổ uống máu người nên dùng người để cúng tế.
Đến khi Tần Huệ Vương (秦惠王) gộp đất Ba Trung, lấy họ Ba làm Man Di quân trưởng, đời đời cưới con gái nhà Tần, dân được tước như Bất canh, có tội được dùng tước để trừ. Quân trưởng mỗi năm nộp 2016 tiền thuế, 3 năm nộp 1800 tiền nghĩa phụ. Mỗi hộ nộp 8 trượng 2 thước vải quấn đầu, 30 lông gà. Nhà Hán hưng, Thái thú Nam Quận là Cận Cường (靳強) xin theo lệ nhà Tần.
Đến năm Kiến Vũ thứ 23 (năm 47), Man núi Thù Sơn (潳山) ở Nam Quận là Lôi Thiên (雷遷) bắt đầu phản, cướp bóc dân chúng, sai Võ Uy tướng quân Lưu Thượng (劉尙) dẫn hơn 10000 người đánh phá, dời 7000 người đến vùng Giang Hạ (江夏), nay là Miễn Trung Man (沔中蠻). Triều Hòa Đế, năm Vĩnh Nguyên thứ 13 (năm 101), Man ở huyện Vu là Hứa Thánh (許聖) do thuế không đều nên oán hận, tụ tập phản. Mùa hè năm sau, sai sứ đốc thúc quân các quận Kinh Châu hơn 10000 người đánh. Hứa Thánh dựa nơi hiểm trở lâu không phá được. Các quân chia đường tiến công từ Ba Quận, Ngư Phục (魚復), giặc mới tan chạy, chém Cừ soái. Thừa thắng đánh lớn, Hứa Thánh xin hàng, lại dời hết đến Giang Hạ. Triều Linh Đế, năm Kiến Ninh thứ 2 (năm 169), Giang Hạ Man phản, châu quận dẹp yên. Năm Quang Hòa thứ 3 (năm 180), Giang Hạ Man lại phản, kết liên với giặc Lư Giang (廬江) là Hoàng Nhương (黃穰) hơn 100000 người, đánh chiếm 4 huyện, quấy nhiễu nhiều năm. Thái thú Lư Giang là Lục Khang (陸康) đánh bại, còn lại đều hàng tán.
Bản Thuẫn Man (板楯蠻) là hạng người thời Tần Chiêu Tương Vương (秦昭襄王) có con hổ trắng thường hại người ở Tần, Thục, Ba, Hán. Chiêu Vương treo thưởng ai giết được hổ sẽ thưởng 10000 hộ, 100 dật vàng. Bấy giờ có người Di ở Lãng Trung (閬中) thuộc Ba Quận làm nỏ bằng tre trắng, bắn chết hổ trắng. Chiêu Vương khen ngợi nhưng vì là người Di nên không muốn phong tước, bèn khắc đá lập thề: miễn thuế ruộng, miễn thuế thân cho 10 vợ, đánh người bị phạt, giết người được nộp tiền chuộc chết. Thề rằng: Tần phạm Di nộp 1 đôi rồng vàng, Di phạm Tần nộp 1 chung rượu trong. Người Di yên ổn.
Đến khi Cao Tổ (高祖) làm Hán Vương, điều người Di đi đánh Tam Tần. Tần định xong, sai về Ba Trung, miễn thuế cho 7 họ Cừ soái là La (羅), Phác (樸), Đốc (督), Ngạc (鄂), Độ (度), Tịch (夕), Cung (龔), các hộ khác nộp thuế Tòng (賨) mỗi miệng người 40 tiền. Đời gọi là Bản Thuẫn Man. Ở Lãng Trung có sông Du Thủy (渝水), người dân ở quanh đó tính tình dũng mãnh, ban đầu làm tiền phong cho nhà Hán, hay hãm trận. Tục thích ca múa, Cao Tổ xem nói: Đây là khúc hát Võ Vương phạt Trụ. Bèn lệnh cho nhạc nhân tập theo, gọi là Ba Du vũ (巴渝舞). Đời đời phục tùng.
Đến thời Trung hưng, Quận thủ thường điều đi chinh phạt. Đời Hoàn Đế, Bản Thuẫn mấy lần phản, Thái thú Ba Quận là Triệu Ôn (趙温) dùng ân tín thu phục. Triều Linh Đế, năm Quang Hòa thứ 2 (năm 179), Bản Thuẫn ở Ba Quận lại phản, cướp bóc Tam Thục (三蜀) và các quận Hán Trung. Linh Đế sai Ngự sử trung thừa Tiêu Viện (蕭瑗) đốc quân Ích Châu đánh, nhiều năm không thắng. Đế muốn điều đại quân, hỏi Kế lại Ích Châu là Trình Bao (程包) người Hán Trung. Bao thưa: 7 họ Bản Thuẫn có công giết hổ, vốn là nghĩa nhân, dũng mãnh thiện chiến. Xưa giặc Khương vào Hán Xuyên, nhờ Bản Thuẫn mà Khương bị diệt sạch nên gọi là Thần binh. Trước kia Phùng Côn nam chinh, Lý Ngùng (李顒) dẹp loạn đều cậy vào Bản Thuẫn. Nay quan lại tham bạo, tô thuế nặng nề, đánh đập dân như nô lệ, khiến họ phải bán vợ đợ con, thậm chí tự sát. Kêu oan không thấu, đường về kinh xa xôi nên họ mới tụ tập phản kháng để lánh nạn, chứ không phải muốn làm loạn. Nay chỉ cần chọn quan cai trị giỏi là họ tự yên, không cần đánh. Đế nghe theo, sai Thái thú Tào Khiêm (曹謙) tuyên chiếu xá tội, giặc đều hàng phục. Đến năm Trung Bình thứ 5 (năm 188), giặc Hoàng Cân (黃巾) ở Ba Quận nổi lên, Bản Thuẫn Man lại phản theo, cướp thành ấp, sai Tây Viên thượng quân Biệt bộ tư mã Triệu Cẩn (趙瑾) dẹp yên.
Tây Nam Di
[sửa]Tây Nam Di (西南夷) ở ngoài cõi Thục Quận (蜀郡). Có nước Dạ Lang (夜郎國), phía đông giáp Giao Chỉ (交阯), phía tây có nước Điền (滇國), phía bắc có nước Cung Đô (邛都國), đều lập quân trưởng. Người ở đó búi tóc hình dùi, mặc áo vạt trái, sống tụ tập thành ấp, biết cày ruộng. Phía ngoài lại có các bộ lạc Huề (巂), Côn Minh (昆明), phía tây đến tận Đồng Sư (同師), đông bắc đến Diệp Du (葉楡), đất rộng mấy nghìn dặm. Không có quân trưởng, tết tóc đuôi sam, lùa súc vật di cư không nhất định. Từ Huề về phía đông bắc có nước Tác Đô (莋都國), đông bắc nữa có nước Nhiễm Mang (冉駹國), nơi thì ở cố định, nơi thì di cư theo súc vật. Từ Nhiễm Mang về phía đông bắc có nước Bạch Mã (白馬國), tức giống Đê (氐). Ba nước này cũng có quân trưởng.
Về Dạ Lang (夜郎), ban đầu có người con gái giặt bên sông Độn Thủy (遁水), có khúc tre lớn 3 đốt trôi vào giữa hai chân, nghe có tiếng khóc bên trong, chẻ tre ra xem thì được 1 đứa con trai, đem về nuôi nấng. Khi lớn lên có tài võ nghệ, tự lập làm Dạ Lang hầu, lấy Trúc (竹) làm họ. Năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN) đời Võ Đế (武帝), bình định Nam Di, đặt làm quận Tường Kha (牂柯郡), Dạ Lang hầu ra hàng, Thiên tử ban cho vương ấn thụ. Sau này bị giết. Các giống Di, Lão (獠) đều cho rằng Trúc Vương không phải do huyết khí sinh ra nên rất tôn trọng, xin lập người nối dõi. Thái thú Tường Kha là Ngô Bá (吳霸) tâu lên, Thiên tử bèn phong 3 con trai người đó làm hầu. Khi chết, được thờ cùng cha. Nay ở huyện Dạ Lang có thần Trúc Vương Tam Lang (竹王三郎神) là vậy.
Xưa thời Sở Khoảnh Tương Vương (楚頃襄王), sai tướng Trang Hào (莊豪) theo sông Nguyên Thủy (沅水) đánh Dạ Lang, quân đến Thư Lan (且蘭), buộc thuyền vào bờ rồi đi bộ đánh. Sau khi diệt Dạ Lang, bèn ở lại làm vua vùng Điền Trì (滇池). Vì ở Thư Lan có chỗ buộc thuyền (trường kha - 椓船牂柯), nên đổi tên thành quận Tường Kha (牂柯). Đất Tường Kha lắm mưa lụt, tục chuộng phù thủy quỷ thần và kiêng kỵ, ít gia súc, lại không có tơ tằm, nên quận này nghèo nhất. Huyện Cú Đinh (句町) có cây Quang Lang ([E8E6]桹木) có thể làm bột, bách tính nhờ đó mà sống. Thời Công Tôn Thuật (公孫述), các họ lớn là Long (龍), Phó (傅), Doãn (尹), Đổng (Đổng氏) cùng Công tào của quận là Tạ Tiêm (謝暹) giữ đất theo nhà Hán, sai sứ từ sông Phiên Ngung (番禺江) đến dâng cống. Quang Vũ (光武) khen ngợi, ban thưởng cho tất cả. Thời Hoàn Đế (桓帝), người trong quận là Doãn Trân (尹珍) tự thấy mình sinh ở nơi hoang viễn không biết lễ nghĩa, bèn theo Hứa Thận (許愼), Ứng Phụng (應奉) ở Nhữ Nam (汝南) học kinh thư đồ vĩ, học thành tài về quê dạy dỗ, từ đó phương nam mới bắt đầu có việc học. Doãn Trân làm quan đến chức Thứ sử Kinh Châu (荆州).
Điền vương
[sửa]Vua Điền (滇王) là hậu duệ của Trang Kiểu (莊蹻). Năm Nguyên Phong thứ 2 (năm 109 TCN), Võ Đế (武帝) bình định vùng này, đặt làm quận Ích Châu (益州郡), cắt thêm mấy huyện của Tường Kha (牂柯), Việt Huề (越巂) nhập vào. Mấy năm sau, lại gộp đất Côn Minh (昆明) vào quận này. Ở đây có cái ao, chu vi hơn 200 dặm, nguồn nước sâu rộng mà đoạn cuối lại nông hẹp, giống như nước chảy ngược nên gọi là Điền Trì (滇池). Đất đai bằng phẳng, sản sinh nhiều vẹt, công, có lợi thế từ muối, ruộng, đánh cá, giàu có về vàng bạc và gia súc. Phong tục dân cư xa hoa. Người làm quan ở đây đều giàu có truyền đến mấy đời.
Đến khi Vương Mãng (王莽) chính sự hỗn loạn, người Di ở quận Ích Châu là Đống Tằm (棟蠶), Nhược Đậu (若豆) khởi binh giết Quận thủ, người Di ở huyện Cô Phục (姑復) thuộc quận Việt Huề là Đại Mưu (大牟) cũng phản, giết cướp quan dân. Mãng sai Ninh Thủy tướng quân Liêm Đan (廉丹), điều động hơn 100000 quan dân và binh lính vận lương từ Ba, Thục đến đánh. Sĩ tốt đói khát, dịch bệnh, liên tiếp nhiều năm không thắng phải rút về. Sau dùng Văn Tề (文齊) người Quảng Hán (廣漢) làm Thái thú, ông cho đắp đập xây ao, khai thông thủy lợi, khẩn hoang hơn 2000 khoảnh ruộng. Ông rèn luyện binh mã, tu sửa đồn lũy, thu phục các giống Di, rất được lòng dân. Đến khi Công Tôn Thuật (公孫述) chiếm đất Thục, Tề giữ nơi hiểm yếu chống cự, Thuật bắt giữ vợ con ông và hứa phong hầu nhưng Tề kiên quyết không hàng. Nghe tin Quang Vũ (光武) lên ngôi, ông đi đường tắt sai sứ đến trình báo. Khi đất Thục bình định, ông được triệu về làm Trấn Viễn tướng quân, phong Thành Nghĩa hầu. Ông mất trên đường đi, vua hạ chiếu lập từ đường, người trong quận lập miếu thờ tế.
Năm Kiến Vũ thứ 18 (năm 42), Cừ soái người Di là Đống Tằm cùng các giống người ở Cô Phục (姑復), Diệp Du (楪楡), Lộng Đống (梇棟), Liên Nhiên (連然), Điền Trì (滇池), Kiến Linh (建伶), Côn Minh (昆明) phản loạn, giết trưởng lại. Thái thú Ích Châu là Phồn Thắng (繁勝) đánh thua, lui về giữ Chu Đề (硃提). Năm thứ 19 (năm 43), sai Võ Uy tướng quân Lưu Thượng (劉尙) điều 13000 quân từ Quảng Hán (廣漢), Kiền Vi (犍爲), Thục Quận (蜀郡) và người Di ở Chu Đề đến đánh. Quân của Thượng vượt sông Lư Thủy (瀘水), vào cõi Ích Châu. Giặc nghe đại quân đến đều bỏ lũy tháo chạy, Thượng bắt được những kẻ già yếu và thu giữ lương cốc, gia súc. Năm thứ 20 (năm 44), tiến quân liên chiến với Đống Tằm mấy tháng, đều phá được. Tháng 1 năm sau, đuổi đến Bất Vi (不韋), chém đầu soái Đống Tằm, tổng cộng chém và bắt hơn 7000 người, bắt sống 5700 người, thu 3000 ngựa, hơn 30000 trâu cừu, các giống Di đều dẹp yên.
Thời Túc Tông (肅宗), niên hiệu Nguyên Hòa (元和), Vương Truy (王追) người Thục Quận làm Thái thú, chính hóa đặc biệt xuất sắc. Có 4 con ngựa thần hiện ra ở sông Điền Trì, cam lộ giáng xuống, chim trắng xuất hiện, bắt đầu hưng thịnh việc học hành, dần thay đổi phong tục. Năm Hy Bình thứ 5 (năm 176) đời Linh Đế (靈帝), các giống Di phản loạn, bắt giữ Thái thú Ung Trắc (雍陟). Sai Ngự sử trung thừa Chu Quy (硃龜) đi đánh nhưng không thắng. Triều đình bàn rằng quận ở biên ngoại, Man Di hay phản, nhọc quân đi xa không bằng bỏ đi. Thuộc viên của Thái úy là Lý Ngùng (李顒) người Ba Quận hiến kế thảo phạt, bèn bái Ngùng làm Thái thú Ích Châu, cùng Thứ sử Bàng Chi (龐芝) điều động Bản Thuẫn Man (板楯蠻) đánh tan giặc. Khi về cứu được Ung Trắc. Sau khi Ngùng mất, người Di lại phản, dùng Cảnh Nghị (景毅) người Quảng Hán làm Thái thú để bình định. Lúc Nghị mới đến quận, gạo 10000 tiền 1 hộc, ông dần dùng nhân ân, ít năm sau gạo chỉ còn vài chục tiền.
Ai Lao di
[sửa]Man Ai Lao (哀牢), tổ tiên có người đàn bà tên Sa Nhất (沙壹), ở núi Lao Sơn (牢山). Từng bắt cá dưới nước, chạm phải gỗ chìm như có cảm ứng rồi mang thai, 10 tháng sinh 10 con trai. Khúc gỗ chìm hóa rồng nổi lên mặt nước. Sa Nhất nghe rồng nói: Ngươi sinh con cho ta, nay ở đâu? 9 đứa con thấy rồng sợ chạy, riêng đứa út không đi, ngồi quay lưng vào rồng, rồng bèn liếm nó. Tiếng mẹ đẻ gọi lưng là Cửu (九), gọi ngồi là Long (隆), nên đặt tên con là Cửu Long (九隆). Khi lớn lên, các anh thấy Cửu Long được cha liếm nên khôn ngoan, bèn cùng tôn làm vua. Sau đó dưới núi Lao Sơn có đôi vợ chồng sinh 10 con gái, anh em Cửu Long đều cưới làm vợ, rồi dần sinh sôi. Chủng người này đều xăm mình hình vảy rồng, áo đều may hình đuôi. Cửu Long chết, đời đời kế vị. Bèn chia đặt các tiểu vương, thường ở thành ấp, rải rác trong khe cốc. Nơi xa xôi hoang dã, núi sông hiểm trở, từ khi có loài người chưa từng thông sứ với Trung Quốc.
Năm Kiến Vũ thứ 23 (năm 47), vua là Hiền Lật (賢栗) sai binh cưỡi bè nương theo sông Giang, sông Hán đánh Man Lộc Đa (鹿茤) sát biên giới. Người Lộc Đa yếu nên bị bắt. Lúc đó sấm sét mưa lớn, gió nam nổi lên, nước chảy ngược cuộn dâng hơn 200 dặm, bè chìm, quân Ai Lao chết đuối mấy nghìn người. Hiền Lật lại sai 6 vua dắt 10000 người đánh Lộc Đa, vua Lộc Đa giao chiến giết chết 6 vua đó. Bô lão Ai Lao đem chôn 6 vua, đêm đến hổ bới xác lên ăn, dư chúng sợ hãi rút lui. Hiền Lật hoảng hốt bảo bô lão: Ta vào biên giới từ cổ đã có, nay đánh Lộc Đa bị trời phạt, Trung Quốc có thánh đế chăng? Trời giúp họ rõ ràng vậy! Năm thứ 27 (năm 51), Hiền Lật dẫn 2770 hộ, 17659 miệng đến gặp Thái thú Việt Huề (越巂) là Trịnh Hồng (鄭鴻) xin hàng, quy thuộc. Quang Vũ (光武) phong Hiền Lật làm quân trưởng. Từ đó hàng năm đến triều cống.
Năm Vĩnh Bình thứ 12 (năm 69), vua Ai Lao là Liễu Mạo (柳貌) sai con dẫn chủng nhân quy thuộc, gồm 77 ấp vương, 51890 hộ, 553711 miệng. Cách Lạc Dương (洛陽) 7000 dặm về phía tây nam. Hiển Tông (顯宗) lấy đất đó đặt 2 huyện Ai Lao (哀牢), Bác Nam (博南), cắt 6 huyện do Tây Bộ đô úy quận Ích Châu quản lý gộp lại thành quận Vĩnh Xương (永昌). Bắt đầu mở đường núi Bác Nam, vượt sông Lan Thương (蘭倉水). Người đi khổ sở, hát rằng: Đức Hán rộng, mở đất không phục. Vượt Bác Nam, qua bến Lan. Vượt Lan Thương, thành người khác.
Người Ai Lao đều xỏ mũi đeo tai, quân trưởng tự xưng vương thì tai dài quá vai 3 tấc, thứ dân thì chỉ đến vai. Đất đai màu mỡ, hợp 5 ngũ cốc, tằm tang. Biết nhuộm thêu, dệt thảm, lụa sáp, vải mịn Lan Can (蘭干), dệt hoa văn như gấm vóc. Có hoa cây ngô đồng dệt thành vải, khổ rộng 5 thước, trắng sạch không bám bẩn. Trước dùng đắp cho người chết, sau mới mặc. Tre ở đó đốt cách nhau 1 trượng, gọi là tre Bộc (濮竹). Có đồng, sắt, chì, thiếc, vàng, bạc, ngọc sáng, hổ phách (虎魄), thủy tinh (水精), lưu ly (琉璃), sâu Kha (軻蟲), ngọc trai, công, phỉ thúy (翡翠), tê, voi, đười ươi, gấu mèo. Huyện Vân Nam (雲南) có hươu thần 2 đầu, ăn được cỏ độc.
Trước đó, Tây Bộ đô úy Trịnh Thuần (鄭純) người Quảng Hán (廣漢) cai trị thanh khiết, đức hóa đến vùng Di Mạch (夷貊), các quân trưởng cảm mộ đều dâng sản vật, ca tụng đức chính. Thiên tử khen ngợi, cho làm Thái thú Vĩnh Xương. Thuần ước hẹn với người Ai Lao, mỗi năm hào trưởng ấp nộp 2 chiếc áo Quán Đầu (貫頭衣), 1 hộc muối làm thuế thường, người Di yên ổn. Thuần làm Đô úy, Thái thú 10 năm thì chết khi đương chức. Năm Kiến Sơ thứ 1 (năm 76), vua Ai Lao là Loại Lao (類牢) tranh chấp với quan giữ lệnh, giết quan rồi phản, đánh thành Huề Đường (巂唐). Thái thú Vương Tầm (王尋) chạy đến Diệp Du (楪楡). Hơn 3000 người Ai Lao đánh Bác Nam, đốt nhà dân. Túc Tông (肅宗) mộ 9000 người Di và Hán ở Việt Huề, Ích Châu, Vĩnh Xương đi đánh. Mùa xuân năm sau, người Man Côn Minh (昆明) huyện Tà Long là Lỗ Thừa (鹵承) hưởng ứng, dẫn quân cùng binh các quận đánh Loại Lao ở Bác Nam, đại phá và chém chết. Truyền đầu về Lạc Dương, thưởng Lỗ Thừa 10000 xấp lụa, phong làm Phá Lỗ Bàng Ắp hầu.
Năm Vĩnh Nguyên thứ 6 (năm 94), vua Đôn Nhẫn Ất (敦忍乙) ngoài biên quận là Mạc Diên (莫延) mộ đức, sai sứ dịch tiếng dâng tê ngưu, voi lớn. Năm thứ 9 (năm 97), Man ngoài biên và vua nước Miến Điện (撣國) là Ung Do Điều (雍由調) sai sứ qua nhiều lần dịch dâng châu báu. Hòa Đế (和帝) ban kim ấn tử thụ, các quân trưởng nhỏ đều được ấn thụ, tiền lụa.
Năm Vĩnh Sơ thứ 1 (năm 107), hơn 3000 người Di giống Tiều Liêu (焦僥) là Lục Loại (陸類) đem cả giống quy phụ, dâng ngà voi, trâu nước, bò u. Năm Vĩnh Ninh thứ 1 (năm 120), vua nước Miến Điện Ung Do Điều lại sai sứ đến cửa khuyết triều hạ, dâng nhạc và ảo thuật gia, có thể biến hóa phun lửa, tự mổ xẻ thân thể, đổi đầu trâu ngựa. Lại giỏi tung bóng, số lượng đến 1000 quả. Tự xưng là người Hải Tây. Hải Tây tức Đại Tần (大秦), nước Miến Điện phía tây nam thông với Đại Tần. Buổi hội triều đầu năm sau, An Đế (安帝) xem nhạc ở sân, phong Ung Do Điều làm Hán Đại đô úy, ban ấn thụ, vàng bạc, lụa màu theo thứ bậc.
Cung Đô di
[sửa]Man Cung Đô (邛都) do Võ Đế (武帝) khai phá, đặt làm huyện Cung Đô. Không lâu sau đất sụt thành đầm nước nên gọi là Cung Trì (邛池), người phương nam gọi là sông Cung (邛河). Sau lại phản loạn. Năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), quân Hán từ sông Việt Huề (越巂水) đánh dẹp, đặt làm quận Việt Huề (越巂郡). Đất đai bằng phẳng, có ruộng lúa. Núi Ngu Đồng (禺同山) ở huyện Thanh Linh (靑蛉) có Gà Bích Ngựa Vàng (碧雞金馬), ánh quang thường xuyên xuất hiện. Tục ham chơi bời, thích ca hát, gần giống với Tường Kha (牂柯). Hào soái phóng túng, khó chế ngự.
Thời Vương Mãng (王莽), Quận thủ Mai Căn (枚根) điều người Cung là Trường Quý (長貴) làm Quân hầu. Năm Canh Thủy thứ 2 (năm 24), Trường Quý dẫn chủng nhân đánh giết Mai Căn, tự lập làm Cung Cốc vương (邛穀王), lĩnh việc Thái thú. Sau hàng Công Tôn Thuật (公孫述). Thuật bại, Quang Vũ (光武) phong Trường Quý làm Cung Cốc vương. Năm Kiến Vũ thứ 14 (năm 38), Trường Quý sai sứ dâng sổ sách 3 năm, Thiên tử trao ấn thụ Thái thú Việt Huề. Năm thứ 19 (năm 43), Võ Uy tướng quân Lưu Thượng (劉尙) đánh Di ở Ích Châu (益州), đường đi qua Việt Huề. Trường Quý nghe tin, nghi Thượng sau khi định phương nam sẽ thi hành uy pháp khiến mình không được phóng túng, bèn tụ binh dựng doanh trại, gọi các quân trưởng, nấu nhiều rượu độc, định giả vờ lao quân rồi đánh úp Thượng. Thượng biết mưu, chia quân chiếm Cung Đô trước, bèn bắt Trường Quý giết đi, dời gia quyến đến Thành Đô (成都).
Năm Vĩnh Bình thứ 1 (năm 58), Di ở Cô Phục (姑復) lại phản, Thứ sử Ích Châu phát binh đánh phá, chém Cừ soái truyền đầu về kinh sư. Sau có Thái thú Trương Hấp (張翕) người Ba Quận (巴郡) cai trị thanh bình, được lòng người Di. Ở quận 17 năm rồi mất, người Di thương tiếc như mất cha mẹ. Hơn 200 người già ở Tô Kỳ (蘇祈叟) đem trâu cừu đưa tang về huyện An Hán (安漢) quê của Hấp, đắp mộ tế lễ. Chiếu thư khen ngợi, lập từ đường cho ông.
Năm Nguyên Sơ thứ 3 (năm 116) đời An Đế (安帝), 8 giống Di ngoài cõi quận là Đại Dương (大羊) gồm 31000 hộ, 167620 miệng mộ nghĩa quy thuộc. Lúc đó quận huyện thu thuế phiền hà, năm thứ 5 (năm 118), giống Đại Ngưu (大牛) là Phong Ly (封離) ở huyện Quy (卷) phản, giết Huyện lệnh Toại Cửu (遂久). Năm sau, Di ở Vĩnh Xương (永昌), Ích Châu và Thục Quận đều phản ứng ứng, quân tới hơn 100000 người, phá hơn 20 huyện, giết quan lại, đốt thành ấp, cướp bóc bách tính, xương cốt chất đống, nghìn dặm không người. Chiếu cho Thứ sử Ích Châu Trương Kiều (張喬) chọn Tòng sự tài giỏi đi đánh. Kiều sai Tòng sự Dương Tống (楊竦) dẫn binh đến Diệp Du ([CF3D]楡) đánh giặc, giặc mạnh nên chưa dám tiến, trước dùng chiếu thư cáo thị 3 quận, ngầm mộ võ sĩ, đặt thưởng nặng. Bèn tiến quân đánh Phong Ly, đại phá giặc, chém hơn 30000 thủ cấp, bắt 1500 người, thu tài vật hơn 40000000 thưởng cho quân sĩ. Phong Ly sợ hãi, chém các Cừ soái cùng mưu, đến chỗ Tống xin hàng, Tống hậu đãi thu nhận. 36 giống còn lại đều đến hàng phụ. Tống tâu báo 90 quan lại gian hoạt xâm phạm Man Di đều được giảm tội chết. Công lao trong châu chưa kịp tâu lên thì Tống bệnh vì vết thương mà chết, Trương Kiều thương tiếc, khắc đá ghi danh, vẽ chân dung ông. Thiên tử thấy Trương Hấp có ân đức cũ, bèn bái con là Trương Đoan (張湍) làm Thái thú. Người Di vui mừng đón dọc đường, nói: Lang quân diện mạo giống Phủ quân trước của ta. Sau Đoan có phần làm mất lòng dân, kẻ muốn phản bị các lão già người Di khuyên can: Hãy vì Phủ quân trước. Nhờ đó mà yên. Sau thời Thuận Đế, Hoàn Đế, Phùng Hạo (馮顥) người Quảng Hán (廣漢) làm Thái thú, chính hóa có nhiều tích lạ.
Tác Đô di 莋都夷
[sửa]Man Tác Đô (莋都) do Võ Đế (武帝) khai phá, đặt làm huyện Tác Đô. Người ở đó đều xõa tóc, mặc áo vạt trái, ngôn ngữ hay dùng ví von, lối sống gần giống với Di ở Vấn Sơn (汶山). Đất sản sinh thần dược trường sinh, là nơi tiên nhân Sơn Đồ (山圖) cư ngụ. Năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), đặt làm quận Thẩm Ly (沈黎). Đến năm Thiên Hán thứ 4 (năm 97 TCN), gộp vào Thục Quận (蜀郡) làm vùng Tây Bộ, đặt 2 Đô úy: 1 cư trú ở Mao Ngưu (旄牛) quản lý Di ngoài cõi; 1 cư trú ở Thanh Y (靑衣) quản lý người Hán.
Thời Vĩnh Bình (永平), Thứ sử Ích Châu là Chu Phủ (硃輔) người nước Lương (梁國), thích lập công danh, khảng khái có đại lược. Ở châu mấy năm, tuyên dương đức Hán, uy phục Di xa. Từ Vấn Sơn về phía tây, là nơi tiền thế chưa từng đến, lịch pháp chưa từng ban. Các nước Bạch Lang (白狼), Bàn Mộc (槃木), Đường Sưu (唐菆) hơn 100 nước, gồm hơn 1300000 hộ, trên 6000000 miệng, cả giống dâng cống, xin làm thần bộc.
Chu Phủ thượng sớ nói: Thần nghe Kinh Thi (詩) có câu: "Bỉ tộ giả Kỳ, hữu di chi hành (彼徂者岐,有夷之行)". Truyện nói: "Đường Kỳ tuy hẻo lánh mà người chẳng xa". Nay vua Bạch Lang là Đường Sưu (唐菆) mộ hóa quy nghĩa, làm thơ 3 chương. Đường đi qua núi lớn Cung Đô (邛都) là dốc Linh Cao (零高坂), hiểm trở gấp trăm lần đường Kỳ. Họ bồng bế già trẻ như về với mẹ hiền. Tiếng của Di xa khó chính xác ý tứ, cỏ cây chim muông đều khác lạ. Có viên duyện (phó) quận Kiền Vi (犍爲) là Điền Cung (田恭) quen thuộc với họ, hiểu được tiếng nói, thần bèn lệnh hỏi han phong tục, dịch lời ca. Nay sai Tòng sự sử Lý Lăng (李陵) cùng Cung hộ tống đến cửa khuyết, dâng kèm các bài thơ nhạc. Xưa thời Thánh Đế múa nhạc tứ di; nay dâng lên mong góp được 1 phần. Đế khen ngợi, giao việc cho sử quan ghi chép lời ca.
Bài Viễn Di Nhạc Đức Ca Thi (遠夷樂德歌詩) rằng:
Đại Hán trị vì (Đê quan ngôi cấu). Thuận theo ý trời (Ngụy mạo du tao). Quan dịch công bằng (Võng dịch lưu tì). Chẳng ngại tìm đến (Bàng mạc chi lưu). Nghe phong hiến hóa (Chinh y tùy lữ). Thấy điều kỳ dị (Tri đường tang ngải). Ban nhiều lụa vải (Tà bì thậm phủ). Rượu thịt ngon ngọt (Thôi đàm bộc viễn). Ca vui múa hát (Thác cự tô tiện). Khom duỗi đủ lễ (Cục hậu nhưng ly). Man Di nghèo hèn (Lũ nhượng long động). Chẳng gì báo đáp (Mạc chi độ do). Cầu chúa trường thọ (Dương lạc tăng lân). Con cháu hưng thịnh (Mạc trĩ giác tồn).
Bài Viễn Di Mộ Đức Ca Thi (遠夷慕德歌詩) rằng:
Nơi Man Di ở (Lũ nhượng bì ni). Vùng mặt trời lặn (Thả giao lăng ngộ). Mộ nghĩa hướng hóa (Thằng động tùy lữ). Về với chúa mặt trời mọc (Lộ đán giản lạc). Thánh đức ơn sâu (Thánh đức độ nặc). Cho dân giàu hậu (Ngụy khuẩn độ tẩy). Đông nhiều sương tuyết (Tống tà lưu phiên). Hè nhiều mưa hòa (Tác tà tầm loa). Lạnh ấm hợp thời (Mạo tầm hộ ly). Dân chúng có nhiều (Khuẩn bổ tà thôi). Vượt hiểm qua nguy (Tích nguy quy hiểm). Chẳng xa vạn dặm (Mạc thụ vạn liễu). Bỏ tục theo đức (Thuật điệp phụ đức). Lòng hướng mẹ hiền (Nhưng lộ tư mô).
Bài Viễn Di Hoài Đức Ca (遠夷懷德歌) rằng:
Ngoài cõi Hoang phục (Hoang phục chi nghi). Đất đai khô cằn (Lê tịch liên liên). Ăn thịt mặc da (Trở tô tà lê). Chẳng thấy muối thóc (Mạc đãng thô mộc). Quan dịch truyền tin (Võng dịch truyền vi). Đại Hán an lạc (Thị Hán dạ cự). Dắt díu về với nhân (Tung ưu lộ nhân). Chống chọi hiểm nghèo (Lôi chiết hiểm long). Núi cao dốc thẳm (Luân lang tàng tràng). Men vách đá lăn (Phù lộ trắc lộc). Băng rừng dựng nhà (Tức lạc phục dâm). Trăm đêm đến Lạc (Lý lịch tì lạc). Cha con cùng hưởng (Bộ nguẩn khuẩn bì). Ôm xấp lụa là (Hoài cảo thất lậu). Truyền báo chủng nhân (Truyền thất hô sắc). Nguyện mãi làm tôi (Lăng dương thần bộc).
Đầu triều Túc Tông (肅宗), Chu Phủ vì việc quan bị bãi chức. Lúc bấy giờ phủ xá của Quận úy đều điêu khắc trang trí, vẽ thần núi thần biển, chim muông kỳ dị để khoe khoang, người Di càng thêm nể sợ. Triều Hòa Đế (和帝), năm Vĩnh Nguyên thứ 12 (năm 100), vua Man Di ở Bạch Lang, Lâu Bạc (樓薄) ngoài cõi Mao Ngưu là Đường Tăng (唐繒) dẫn 170000 miệng quy nghĩa quy thuộc. Chiếu ban kim ấn tử thụ, hào trưởng nhỏ được tiền lụa theo thứ bậc.
Triều An Đế (An帝), năm Vĩnh Sơ thứ 1 (năm 107), Di ở Tam Tương (三襄) thuộc Thục Quận cùng giống Ô Diễn (污衍) ngoài cõi hợp hơn 3000 quân phản phản, đánh thành Tiềm Lăng (蠶陵), giết quan lại. Năm thứ 2 (năm 108), Ấp trưởng người Di ở đạo Thanh Y là Lệnh Điền (令田) cùng 3 giống Di ngoài cõi gồm 310000 miệng, mang vàng và vật trang trí bằng lông đuôi bò Mao Ngưu quy thuộc. An Đế tăng tước cho Lệnh Điền, hiệu là Phụng Thông Ấp quân. Mùa xuân năm Diên Quang thứ 2 (năm 123), Di ở Mao Ngưu phản, đánh quan Linh Quan (零關), giết quan lại, Thứ sử Ích Châu Trương Kiều (張喬) cùng Tây Bộ đô úy đánh bại giặc. Từ đó chia đặt chức Thuộc quốc đô úy Thục Quận, quản lý 4 huyện như Thái thú. Triều Hoàn Đế (桓帝), năm Vĩnh Thọ thứ 2 (năm 156), Di ở Thục Quận phản, giết cướp dân quan. Năm Diên Hy thứ 2 (năm 159), Di ở Tam Tương thuộc Thục Quận đánh Tiềm Lăng, giết quan lại. Năm thứ 4 (năm 161), Di ở thuộc quốc Kiền Vi đánh biên giới, Thứ sử Ích Châu Sơn Dục (山昱) đánh bại giặc, chém 1400 thủ cấp, còn lại tan rã. Thời Linh Đế (靈帝), lấy vùng Thuộc quốc Thục Quận đặt làm quận Hán Gia (漢嘉郡).
Nhiễm Máng di
[sửa]Man Nhiễm Máng (冉駹) do Võ Đế (武帝) khai phá, năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN) đặt làm quận Vấn Sơn (汶山). Đến năm Địa Tiết thứ 3 (năm 67 TCN), người Di cho rằng lập quận thì thuế nặng, Tuyên Đế (宣帝) bèn bãi bỏ mà gộp vào Thục Quận (蜀郡) làm chức Bắc Bộ đô úy. Núi ở đó có 6 giống Di, 7 giống Khương, 9 giống Đê, đều có bộ lạc riêng. Vương hầu của họ khá am hiểu văn thư, luật pháp nghiêm ngặt. Họ quý trọng đàn bà, che chở nhạc gia. Người chết thì thiêu xác. Khí đất lạnh lẽo, giữa mùa hè băng vẫn không tan, nên người Di mùa đông lánh lạnh vào đất Thục làm thuê, mùa hè tránh nóng lại về ấp cũ. Mọi người đều dựa vào núi mà ở, xếp đá làm nhà, nơi cao tới hơn 10 trượng, gọi là Cung Lung (邛籠). Đất đai khô mặn, không mọc được ngũ cốc, chỉ dùng lúa mạch làm lương thực, hợp với chăn nuôi. Có bò Mao Ngưu không sừng, còn gọi là Đồng Ngưu (童牛), thịt nặng nghìn cân, lông dùng làm vật trang trí. Có ngựa quý. Có dê Linh Dương (靈羊) trị được độc. Lại có hươu Ăn Thuốc (食藥鹿), là loại hươu khi mổ bụng có bào thai, phân trong ruột cũng trị được độc. Lại có dê 5 sừng, xạ hương, gà lông nhẹ, đười ươi. Người ở đó biết làm chăn lông, thảm hoa, vải Thanh Đốn (靑頓), các loại nỉ lót bọc. Đặc biệt có nhiều vị thuốc tạp. Đất có bùn mặn, nấu lên làm muối. Hươu, dê, bò, ngựa ăn vào đều béo tốt.
Phía tây đó lại có các giặc Tam Hà (三河), Bàn Vu (槃於), phía bắc có giặc Hồ ở Hoàng Thạch (黃石), Bắc Địa (北地), Lư Thủy (盧水), bên ngoài đó là vùng ngoại biên. Thời Linh Đế (靈帝), lại chia vùng Bắc Bộ của Thục Quận để đặt lại quận Vấn Sơn.
Bạch Mã Đê
[sửa]Man Bạch Mã Đê (白馬氐) do Võ Đế (武帝) khai phá năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), chia vùng phía tây Quảng Hán (廣漢) gộp lại đặt làm quận Võ Đô (武都). Đất đai hiểm trở, có ruộng gai, sản sinh ngựa quý, bò, dê, sơn, mật. Người Đê dũng mãnh ngốc nghếch, tham của liều mình vì lợi. Cư trú tại Hà Trì (河池), còn gọi là Cừu Trì (仇池), rộng 100 khoảnh, 4 mặt vách đứng. Thường xuyên làm giặc biên thùy, khi quận huyện thảo phạt thì dựa nơi hiểm tự thủ. Năm Nguyên Phong thứ 3 (năm 108 TCN), người Đê phản loạn, sai binh đánh phá, dời dân đến quận Tửu Quan (酒泉). Năm Nguyên Phượng thứ 1 (năm 80 TCN) đời Chiêu Đế (昭帝), người Đê lại phản, sai Chấp kim ngô Mã Thích Kiến (馬適建), Long Ngạch hầu Hàn Tăng (韓增), Đại hồng lư Điền Quảng Minh (田廣明) dẫn đồ lệ vùng Tam Phụ (三輔) và Thái Thường (太常) đánh bại.
Đến khi Vương Mãng (王莽) chiếm ngôi, người Đê cũng phản. Đầu năm Kiến Vũ (建武), người Đê đều theo vùng Lũng, Thục, đến khi Lôi Hiêu (隗囂) bị diệt, các tù trưởng bèn bỏ Công Tôn Thuật (公孫述) mà hàng Hán, Thái thú Lũng Tây (隴西) là Mã Viện (馬援) tâu xin khôi phục tước Vương, Hầu, Quân trưởng cho họ, ban ấn thụ. Sau này người trong tộc của Hiêu là Lôi Mậu (隗茂) phản, giết Thái thú Võ Đô. Đại hào người Đê là Tề Chung Lưu (齊鍾畱) được chủng loại kính tin, uy phục các hào trưởng khác, cùng Quận thừa Khổng Phấn (孔奮) đánh Mậu, chém được. Sau này họ cũng thường làm giặc cướp, quận huyện đánh bại được.
Bình luận
[sửa]Luận rằng: Nhà Hán chinh phạt Nhung Địch, dụng binh nơi biên viễn, cũng là việc đi cùng nghiệp vương từ đầu đến cuối vậy. Cho dẫu có lúc biên thùy tiêu hao, mất quân bại tướng, song chẳng bao lâu đều có thể mở mang bờ cõi tứ di, khiến các nơi phong tục khác lạ phải quy phụ. Những nơi văn đức thấm nhuần, thanh danh lan tỏa, gần như khắp vùng mặt trời mọc, mặt trời lặn vậy. Những gì được chép trong Sơn Kinh (山經), Thủy Chí (水志), cũng lược kể tại đây. Tuy phục rồi lại phản khó bề cố định, uy trạch có lúc xa xôi, nhưng đến khi giáo hóa được thực thi thì những kẻ xỏ tai xăm chân, những loài ở hang như thú nói tiếng như chim, không ai không dắt díu cả giống, ngoảnh mặt về trung nguyên xin làm quan lại, vượt biển băng đèo, qua nhiều lần dịch tiếng để xin nội thuộc vậy. Thế nên tên họ ghi trong phủ Trung lang (中郎), Hiệu úy (校尉), sổ sách biên trong nha Đô hộ (都護), Bộ thủ (部守), kể đến hàng triệu. Những linh vật giấu trong núi sâu biển cả, những bảo vật quý dưới cát dưới đất, không gì không dâng nộp vẻ kỳ lệ, trang hoàng nơi cung đình vậy. Lại có các thứ thuế như vải Tòng (賨), vải Quấn đầu (幏), vải chống cháy (火毳), chim thuần thú u, chất đầy trong nội phủ; các kỹ nghệ như hát Man múa Ba (巴舞), âm thanh tiết tấu lạ lẫm, trình diễn ở cửa ngoài. Há lẽ đạo nhu viễn chỉ đủ ở những việc này sao? Song cũng có thể gọi là đã đưa được uy đức đến nơi xa vậy. Man Di tuy dựa vào núi khe hiểm trở, song vốn có nơi ở cố định, trải dài khắp vùng Kinh Châu (荆州), Giao Châu (交州), lan tỏa ngoài đất Ba (巴), Dung (庸), không thể lường hết. Tuy nhiên sự hung dũng, xảo quyệt của chúng kém hơn Khương, Địch, nên cái hại lăng bạo không thể sâu sắc vậy. Vùng biên giới Tây Nam lại càng yếu kém hơn. Cho nên giữ ải Vĩnh Xương (永昌), bắt đầu từ việc xa lìa, mở đất lập dân, đến nay thành nơi đô hội vậy.
Tán thán
[sửa]Tán rằng: Trăm giống Man sống hỗn tạp, chiếm giữ nơi biên giới phương xa. Xăm mình mặc áo vỏ cây, dựa vào núi cao hang sâu hiểm trở. Lại có những giống Di riêng biệt, đóng tụ ngoài cõi đất Thục (蜀). Các bộ lạc ở rải rác, đường sá quanh co gập ghềnh. Sau khi giáo hóa đã gây được lòng tin, họ đổi cách mặc áo mà dâng nộp bảo vật. Khiến cho quận Vĩnh Xương (永昌) được thiết lập, cùng ghi tên triệu dân vào sổ hộ tịch.
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.