Bước tới nội dung

Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh  (Hậu Tần
của Cưu-ma-la-thập, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Kim cương bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh (zh. 金剛般若波羅密多經, sa. vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra), là một bộ kinh quan trọng thuộc hệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh, được lưu truyền rộng rãi vùng Đông Á. Kinh còn mang những tên ngắn khác là Kim cương kinh, Kim cương bát-nhã kinh, Kim cương bát-nhã-ba-la-mật kinh.

Bản hiệu đính của cư sĩ Giang Vị Nông 江味農 thời Dân quốc (dựa trên bản viết tay của Liễu Công Quyền 柳公權 đời Đường tại thạch thất Đôn Hoàng), có bổ sung 62 chữ từ bản dịch của ngài Bồ Đề Lưu Chi đời Ngụy (đoạn từ "Nhĩ thời Tuệ mạng Tu Bồ Đề" đến "thị danh chúng sinh").


Tam tạng pháp sư Cưu Ma La Thập (xứ Quy Từ) nước Diêu Tần biên dịch.

Phân đoạn[1]: Chiêu Minh Thái tử[2] đời Lương (Nam triều).[3]


Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật 南無本師釋迦牟尼佛 (Con đem lòng thành kính quy y đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc Thầy gốc của chúng con)

Nam mô Bát Nhã Hội Thượng Phật Bồ Tát 南無般若會上佛菩薩 (Con đem lòng thành kính quy y các vị Phật và Bồ Tát trong pháp hội Bát Nhã)

Kệ Khai Kinh

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp 無上甚深微妙法 (Pháp Phật cao siêu, sâu thẳm, nhiệm mầu)

Bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ 百千萬劫難遭遇 (Trăm ngàn muôn kiếp khó lòng gặp được)

Ngã kim kiến văn đắc thụ trì 我今見聞得受持 (Nay con thấy nghe, được thụ trì đạo lý)

Nguyện giải Như Lai chân thực nghĩa 願解如來真實義 (Nguyện hiểu rõ nghĩa chân thực của đức Như Lai)

【Danh hiệu】
Con về nương tựa Bổn sư,
Thích Ca đức Phật lòng từ bao la.
Cúi đầu kính lễ Phật Đà,
Hội thượng Bát Nhã các tòa Thánh tiên.

【Kệ Khai Kinh】
Pháp kia mầu nhiệm thâm sâu,
Đỉnh cao vô thượng ai đâu sánh bằng.
Trăm ngàn muôn kiếp khó khăn,
Cơ duyên may mắn mới hằng gặp lâu.
Con nay nghe, thấy, nguyện cầu,
Thọ trì giáo nghĩa nhiệm mầu Như Lai.

Chính văn

[sửa]

Phần 1: Pháp Hội Nhân Do

[sửa]

Nguồn cơn mở đầu buổi thuyết pháp

Tôi nghe như thế này: Một thời, Đức Phật ở tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, nước Xá Vệ, cùng với đại Tỳ-kheo tăng là một nghìn hai trăm năm mươi vị.

Lúc bấy giờ, gần đến giờ ăn, Đức Thế Tôn mặc y, bưng bát vào đại thành Xá Vệ khất thực. Trong thành ấy, Ngài theo thứ tự khất thực xong, trở về nơi cũ. Ăn cơm xong, Ngài thu cất y bát, rửa chân sạch sẽ, trải tòa mà ngồi.

Phần 2: Thiện Hiện Khởi Thỉnh

[sửa]

Trưởng lão Thiện Hiện thỉnh cầu Phật dạy bảo

Lúc bấy giờ, Trưởng lão Tu-bồ-đề (Thiện Hiện)[4] ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trệ vai áo bên phải, quỳ gối phải sát đất, chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng:

"Hiếm có thay, bạch Thế Tôn! Đức Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ-tát, khéo phó chúc cho các vị Bồ-tát. Bạch Thế Tôn! Những người thiện nam, người thiện nữ khi phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác[5], thì nên an trụ tâm như thế nào? Làm sao để hàng phục tâm ấy?"

Đức Phật phán rằng: "Hay thay, hay thay! Tu-bồ-đề! Đúng như lời ông nói: Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ-tát, khéo phó chúc cho các vị Bồ-tát. Nay ông hãy lắng nghe, Ta sẽ vì ông mà thuyết giảng: Những người thiện nam, người thiện nữ khi phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên an trụ như thế này, nên hàng phục tâm mình như thế này."

"Dạ vâng, bạch Thế Tôn! Chúng con đang hân hoan muốn nghe."

Phần 3: Đại Thừa Chính Tông

[sửa]

Tông phái chân chính nhất của cỗ xe lớn

Phật bảo Tu-bồ-đề: "Các vị Bồ-tát Ma-ha-tát nên hàng phục tâm mình như thế này: Có tất cả bao nhiêu loài chúng sinh, hoặc là loài đẻ trứng (noãn sinh), hoặc đẻ con (thai sinh), hoặc loài ẩm ướt mà sinh (thấp sinh), hoặc do biến hóa mà sinh (hóa sinh); hoặc loài có hình sắc, hoặc không hình sắc; hoặc loài có tư tưởng, hoặc không tư tưởng, hoặc chẳng phải có tư tưởng cũng chẳng phải không tư tưởng, Ta đều khiến cho tất cả vào Niết-bàn rốt ráo để được diệt độ.

Diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sinh như thế, nhưng thực ra không có chúng sinh nào đắc diệt độ cả. Vì sao vậy? Này Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát còn có tướng Ngã (mình), tướng Nhân (người), tướng Chúng sinh, tướng Thọ giả (sống lâu), thì người đó không phải là Bồ-tát."

Phần 4: Diệu Hạnh Vô Trụ

[sửa]

Hành vi mầu nhiệm là không bám chấp

"Lại nữa, Tu-bồ-đề! Bồ-tát đối với các pháp nên không có chỗ trụ mà thực hành bố thí. Nghĩa là không trụ vào sắc mà bố thí, không trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí.

Này Tu-bồ-đề! Bồ-tát nên bố thí như thế, không trụ vào tướng. Vì sao vậy? Nếu Bồ-tát không trụ tướng mà bố thí, thì phúc đức ấy không thể lường hết được.

  • Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Hư không ở phương Đông có thể lường được chăng?"
  • "Bạch Thế Tôn, không ạ!"
  • "Tu-bồ-đề! Hư không ở các phương Nam, Tây, Bắc, bốn hướng phụ và trên dưới, có thể lường được chăng?"
  • "Bạch Thế Tôn, không ạ!"
  • "Tu-bồ-đề! Bồ-tát không trụ tướng mà bố thí, phúc đức cũng lại như thế, không thể lường hết được. Tu-bồ-đề! Bồ-tát chỉ nên theo đúng lời dạy mà an trụ."

Phần 5: Như Lý Thực Kiến

[sửa]

Theo đúng chân lý để thấy thực tại

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể dựa vào thân tướng mà thấy được Như Lai chăng?"

  • "Bạch Thế Tôn, không ạ! Không thể dựa vào thân tướng mà thấy được Như Lai. Vì sao vậy? Thân tướng mà Như Lai nói, tức chẳng phải là thân tướng."

Phật bảo Tu-bồ-đề: "Phàm những gì có tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, tức là thấy Như Lai."

Phần 6: Chính Tín Hy Hữu

[sửa]

Sinh khởi lòng tin chân chính là điều hiếm có

Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Liệu có chúng sinh nào khi nghe những lời lẽ, câu chữ này mà sinh lòng tin chân thực không?"

Phật bảo Tu-bồ-đề: "Chớ nói lời ấy! Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau cùng, có người trì giới tu phúc, đối với những câu chữ này có thể sinh lòng tin, coi đây là sự thật. Phải biết người này không chỉ trồng căn lành ở chỗ một đức Phật, hai đức Phật, hay ba bốn năm đức Phật, mà đã trồng các căn lành ở chỗ vô lượng nghìn muôn đức Phật rồi.

Này Tu-bồ-đề! Như Lai đều biết, đều thấy những chúng sinh ấy đắc vô lượng phúc đức như thế. Vì sao vậy? Vì những chúng sinh này không còn tướng Ngã, tướng Nhân, tướng Chúng sinh, tướng Thọ giả; không còn tướng Pháp, cũng không còn tướng Phi pháp.

Vì sao vậy? Vì nếu tâm những chúng sinh này còn chấp tướng, tức là còn vướng vào Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả. Nếu chấp vào tướng Pháp, tức là vướng vào Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả. Tại sao thế? Vì nếu chấp vào tướng Phi pháp (không phải pháp), thì cũng vẫn vướng vào Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả.

Thế nên, không nên chấp vào Pháp, cũng không nên chấp vào Phi pháp. Chính vì nghĩa đó, Như Lai thường dạy: Các ông Tỳ-kheo nên biết Pháp Ta nói như chiếc bè. Pháp còn nên bỏ, huống là phi pháp."[6]

Phần 7: Vô Đắc Vô Thuyết

[sửa]

Không sở đắc, không thuyết giảng

"Này Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có chứng đắc quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng? Như Lai có thuyết pháp chăng?"

Tu-bồ-đề thưa: "Theo như con hiểu nghĩa lý Phật dạy, thì không có một pháp nhất định nào gọi là 'Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác', cũng không có pháp nhất định nào mà Như Lai có thể thuyết giảng. Vì sao vậy? Pháp mà Như Lai đã thuyết đều không thể nắm bắt, không thể thuyết giảng; chẳng phải Pháp, cũng chẳng phải Phi pháp. Tại sao thế? Bởi vì tất cả các bậc Hiền Thánh đều dựa vào pháp vô vi mà có sự sai biệt (thấp cao)."

Phần 8: Y Pháp Xuất Sinh

[sửa]

Pháp của chư Phật đều từ đây mà ra

"Này Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Nếu có người đem bảy báu chất đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để dùng vào việc bố thí, người đó nhận được phúc đức có nhiều chăng?"

Tu-bồ-đề thưa: "Bạch Thế Tôn, rất nhiều! Vì sao vậy? Vì phúc đức ấy vốn không có tự tính là phúc đức, nên Như Lai mới nói là phúc đức nhiều."

"Nếu lại có người thọ trì kinh này, cho đến chỉ một bài kệ bốn câu, rồi vì người khác mà diễn nói, thì phúc đức của người này còn vượt trội hơn người kia. Vì sao vậy? Này Tu-bồ-đề! Hết thảy chư Phật và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật đều từ kinh này mà ra. Tu-bồ-đề! Cái gọi là 'Phật pháp' ấy, tức chẳng phải Phật pháp, nên mới gọi là Phật pháp."

Phần 9: Nhất Tướng Vô Tướng

[sửa]

Một tướng vốn không hình tướng[7]

"Này Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Vị Tu-đà-hoàn có thể nghĩ rằng: 'Ta đã đắc quả Tu-đà-hoàn' chăng?"

  • Tu-bồ-đề thưa: "Bạch Thế Tôn, không ạ! Vì sao vậy? Tu-đà-hoàn gọi là bực 'Nhập lưu' (vào dòng Thánh) nhưng thực tế không có chỗ nào để vào; không vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, nên mới gọi là Tu-đà-hoàn."

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Vị Tư-đà-hàm có thể nghĩ rằng: 'Ta đã đắc quả Tư-đà-hàm' chăng?"

  • Tu-bồ-đề thưa: "Bạch Thế Tôn, không ạ! Vì sao vậy? Tư-đà-hàm gọi là 'Nhất vãng lai' (còn một lần trở lại), nhưng thực tế không có sự qua lại, nên mới gọi là Tư-đà-hàm."

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Vị A-na-hàm có thể nghĩ rằng: 'Ta đã đắc quả A-na-hàm' chăng?"

  • Tu-bồ-đề thưa: "Bạch Thế Tôn, không ạ! Vì sao vậy? A-na-hàm gọi là 'Bất lai' (không trở lại), nhưng thực tế không có cái không trở lại, nên mới gọi là A-na-hàm."

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Vị A-la-hán có thể nghĩ rằng: 'Ta đã đắc đạo A-la-hán' chăng?"

  • Tu-bồ-đề thưa: "Bạch Thế Tôn, không ạ! Vì sao vậy? Thực tế không có pháp nào tên là A-la-hán. Bạch Thế Tôn! Nếu vị A-la-hán nghĩ rằng: 'Ta đã đắc đạo A-la-hán', tức là còn chấp vào Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả."

"Bạch Thế Tôn! Phật nói con đã đắc Vô tránh Tam-muội, là người bậc nhất trong hàng người, là vị A-la-hán ly dục bậc nhất. Nhưng con không hề nghĩ rằng: 'Tôi là vị A-la-hán ly dục'. Bạch Thế Tôn! Nếu con nghĩ mình đã đắc đạo A-la-hán, thì Thế Tôn đã chẳng nói Tu-bồ-đề là người ưa hạnh 'A-lan-na' (tịch tịnh). Vì Tu-bồ-đề thực không có chỗ hành (không bám chấp vào việc mình làm), nên mới gọi là Tu-bồ-đề ưa hạnh A-lan-na."

Phần 10: Trang Nghiêm Tịnh Độ

[sửa]

Thành tựu trang nghiêm, tâm địa thanh tịnh

Phật bảo Tu-bồ-đề: "Ý ông nghĩ sao? Như Lai thuở xưa khi ở chỗ Đức Phật Nhiên Đăng, đối với Pháp có sở đắc gì chăng?"

  • "Bạch Thế Tôn, không ạ! Như Lai khi ở chỗ Đức Phật Nhiên Đăng, đối với Pháp thực không có sở đắc."

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Bồ-tát có trang nghiêm Phật độ chăng?"

  • "Bạch Thế Tôn, không ạ! Vì sao vậy? Trang nghiêm Phật độ tức chẳng phải trang nghiêm, đó gọi là trang nghiêm."

"Thế nên, Tu-bồ-đề! Các vị Bồ-tát Ma-ha-tát nên sinh tâm thanh tịnh như thế này: Không nên trụ vào sắc mà sinh tâm, không nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sinh tâm, nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy (Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm)."

"Tu-bồ-đề! Ví như có người thân lớn như núi vương Tu-di, ý ông nghĩ sao? Thân ấy có lớn chăng?"

  • Tu-bồ-đề thưa: "Rất lớn, bạch Thế Tôn! Vì sao vậy? Phật nói chẳng phải thân, đó gọi là thân lớn."

Phần 11: Vô Vi Phúc Thắng

[sửa]

Tu phúc vô vi, vượt hơn bố thí

"Tu-bồ-đề! Như số cát trong sông Hằng, có những dòng sông Hằng nhiều như số cát đó, ý ông nghĩ sao? Số cát trong những dòng sông Hằng đó có nhiều chăng?"

  • Tu-bồ-đề thưa: "Rất nhiều, bạch Thế Tôn! Chỉ riêng các dòng sông Hằng đã nhiều vô số, huống là cát của chúng."

"Tu-bồ-đề! Nay Ta nói lời thực với ông: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào đem bảy báu chất đầy cả tam thiên đại thiên thế giới nhiều như số cát của những dòng sông Hằng ấy để bố thí, phúc đức có nhiều chăng?"

  • Tu-bồ-đề thưa: "Rất nhiều, bạch Thế Tôn!"

Phật bảo Tu-bồ-đề: "Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào đối với kinh này, cho đến chỉ thụ trì một bài kệ bốn câu, rồi vì người khác mà diễn nói, thì phúc đức này còn vượt trội hơn phúc đức trước."

Phần 12: Tôn Trọng Chính Giáo

[sửa]

Thụ trì chính giáo, trời người tôn trọng

"Lại nữa, Tu-bồ-đề! Tùy chỗ nào diễn nói kinh này, cho đến chỉ một bài kệ bốn câu, nên biết nơi đó tất cả thế gian, Trời, Người, A-tu-la đều nên cúng dường như tháp miếu của Phật. Huống chi có người có thể thụ trì, đọc tụng trọn vẹn. Tu-bồ-đề! Nên biết người ấy thành tựu pháp tối thượng, đệ nhất hy hữu. Nơi nào có kinh điển này, nơi đó có Phật, hoặc có các vị đệ tử được tôn trọng."

Phần 13: Như Pháp Thụ Trì

[sửa]

Nên theo pháp này mà vâng giữ

Lúc bấy giờ, Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Nên đặt tên kinh này là gì? Chúng con phải phụng trì như thế nào?"

Phật bảo Tu-bồ-đề: "Kinh này tên là Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, với tên gọi này, các ông nên phụng trì. Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! Phật nói Bát-nhã Ba-la-mật tức chẳng phải Bát-nhã Ba-la-mật, đó gọi là Bát-nhã Ba-la-mật."

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có thuyết pháp chăng?"

  • Tu-bồ-đề bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Như Lai không có thuyết pháp."

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Vi trần trong tam thiên đại thiên thế giới có nhiều chăng?"

  • Tu-bồ-đề thưa: "Rất nhiều, bạch Thế Tôn!"

"Tu-bồ-đề! Các vi trần ấy Như Lai nói chẳng phải vi trần, đó gọi là vi trần. Như Lai nói thế giới chẳng phải thế giới, đó gọi là thế giới."

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai chăng?"

  • "Bạch Thế Tôn, không ạ! Không thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai. Vì sao vậy? Như Lai nói ba mươi hai tướng tức là chẳng phải tướng, đó gọi là ba mươi hai tướng."

"Tu-bồ-đề! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào đem thân mạng nhiều như số cát sông Hằng ra bố thí; lại nếu có người đối với kinh này, cho đến thụ trì một bài kệ bốn câu, vì người khác diễn nói, thì phúc đức ấy rất nhiều!"

Phần 14: Ly Tướng Tịch Diệt

[sửa]

Rời các hình tướng, tự đắc tịch diệt

Lúc bấy giờ, Tu-bồ-đề nghe giảng kinh này, hiểu sâu nghĩa lý, cảm động đến rơi lệ mà bạch Phật rằng: "Hiếm có thay, bạch Thế Tôn! Phật nói kinh điển thâm diệu như thế này, từ trước tới nay con chưa từng được nghe. Bạch Thế Tôn! Nếu có người nghe kinh này mà lòng tin thanh tịnh, liền sinh thực tướng, nên biết người đó thành tựu công đức đệ nhất hy hữu. Bạch Thế Tôn! Thực tướng ấy tức chẳng phải tướng, nên Như Lai gọi tên là thực tướng."

"Bạch Thế Tôn! Nay con được nghe kinh điển này, tin hiểu thụ trì không có gì khó; nhưng vào đời sau, năm trăm năm cuối, có chúng sinh nào nghe kinh này mà tin hiểu thụ trì, người đó mới là đệ nhất hy hữu. Vì sao vậy? Người đó không còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sinh, tướng thọ giả. Bởi vì tướng ngã tức chẳng phải tướng; tướng nhân, chúng sinh, thọ giả tức chẳng phải tướng. Vì sao? Rời bỏ hết thảy các tướng thì gọi là chư Phật."

Phật bảo Tu-bồ-đề: "Đúng thế, đúng thế! Nếu có người nghe kinh này mà không kinh hãi, không lo sợ, không khiếp úy, nên biết người đó rất là hy hữu. Vì sao? Tu-bồ-đề! Như Lai nói Đệ nhất Ba-la-mật tức chẳng phải Đệ nhất Ba-la-mật, đó gọi là Đệ nhất Ba-la-mật."

"Tu-bồ-đề! Nhẫn nhục Ba-la-mật, Như Lai nói chẳng phải Nhẫn nhục Ba-la-mật. Vì sao vậy? Như thuở xưa Ta bị vua Ca-lợi cắt xẻ thân thể, lúc đó Ta không có tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Nếu khi đó Ta còn các tướng ấy, ắt đã sinh lòng oán hận. Tu-bồ-đề! Lại nhớ quá khứ trong năm trăm đời làm vị Nhẫn nhục tiên nhân, khi ấy cũng không có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả."

"Thế nên Tu-bồ-đề! Bồ-tát nên rời tất cả tướng, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Không nên trụ vào sắc sinh tâm, không nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp sinh tâm, nên sinh tâm không có chỗ trụ. Nếu tâm có chỗ trụ, tức là chẳng phải an trụ chân chính."

"Cho nên Phật nói: Tâm Bồ-tát không nên trụ vào sắc mà bố thí. Vì lợi ích tất cả chúng sinh mà nên bố thí như thế. Như Lai nói: Hết thảy các tướng tức chẳng phải tướng; hết thảy chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh. Tu-bồ-đề! Như Lai là bậc nói lời chân, lời thực, lời đúng như thế, không nói lời dối, không nói lời khác lạ."

"Tu-bồ-đề! Pháp mà Như Lai đắc được, pháp ấy không thực cũng không hư. Nếu tâm Bồ-tát trụ vào pháp mà hành bố thí, như người vào chỗ tối, không thấy được gì; nếu tâm không trụ vào pháp mà hành bố thí, như người có mắt, dưới ánh sáng mặt trời soi sáng, thấy đủ mọi sắc màu."

"Tu-bồ-đề! Đời sau nếu có người thiện nam, thiện nữ nào có thể thụ trì đọc tụng kinh này, Như Lai sẽ dùng trí tuệ của Phật đều biết người đó, đều thấy người đó, đều đắc thành tựu công đức vô lượng vô biên."

Phần 15: Trì Kinh Công Đức

[sửa]

Thụ trì kinh này công đức vô lượng

"Này Tu-bồ-đề! Nếu có người thiện nam, thiện nữ, buổi sáng đem thân mạng nhiều như số cát sông Hằng ra bố thí, buổi trưa lại đem thân mạng nhiều như số cát sông Hằng ra bố thí, buổi chiều cũng đem thân mạng nhiều như số cát sông Hằng ra bố thí; vô lượng trăm nghìn muôn ức kiếp bố thí thân mạng như thế. Nhưng nếu có người nghe kinh điển này với lòng tin không chống trái, thì phúc đức ấy còn vượt hơn cả người kia; huống chi là tự mình biên chép, thụ trì, đọc tụng và giải nói cho người khác."

"Này Tu-bồ-đề! Nói tóm lại, kinh này có công đức vô biên, không thể nghĩ bàn, không thể cân lường. Như Lai vì người phát tâm Đại thừa mà nói, vì người phát tâm Tối thượng thừa mà nói. Nếu có người có thể thụ trì đọc tụng, diễn nói rộng rãi cho người khác, Như Lai đều biết người đó, đều thấy người đó, đều đắc thành tựu công đức không thể lường, không thể bàn, không có biên giới, không thể nghĩ bàn. Những người như thế chính là đang gánh vác đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Như Lai."

"Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! Nếu là người ưa pháp nhỏ nhoi, còn chấp vào Ngã kiến, Nhân kiến, Chúng sinh kiến, Thọ giả kiến, thì đối với kinh này không thể nghe nhận, đọc tụng hay giải nói cho người khác được. Tu-bồ-đề! Bất cứ nơi nào có kinh này, tất cả thế gian, Trời, Người, A-tu-la đều nên cúng dường. Phải biết nơi đó chính là tháp thờ Phật, đều nên cung kính, lễ bái vây quanh, dùng hương hoa mà rải lên nơi đó."

Phần 16: Năng Tịnh Nghiệp Chướng

[sửa]

Nếu có thể thanh tịnh, nghiệp chướng đều tiêu

"Lại nữa, Tu-bồ-đề! Người thiện nam, thiện nữ thụ trì đọc tụng kinh này mà bị người khác khinh chê, đó là do tội nghiệp từ đời trước của người này đáng lẽ phải đọa vào ác đạo, nhưng nhờ đời này bị người khinh chê mà tội nghiệp đời trước được tiêu diệt, và sẽ đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác."

"Tu-bồ-đề! Ta nhớ thuở quá khứ vô lượng vô số kiếp trước đức Phật Nhiên Đăng, Ta đã gặp tám trăm bốn mươi nghìn muôn ức na-do-tha chư Phật, hết thảy đều được Ta cúng dường thờ phụng, không sót một vị nào. Nếu lại có người vào thời mạt thế sau này, có thể thụ trì đọc tụng kinh này, thì công đức của người đó so với công đức cúng dường chư Phật của Ta, phần trăm không bằng một, cho đến trăm nghìn muôn ức phần, hay dùng toán số thí dụ cũng không thể sánh kịp."

"Này Tu-bồ-đề! Nếu Ta nói đủ về công đức của người thiện nam, thiện nữ thụ trì đọc tụng kinh này vào thời mạt thế, e rằng có người nghe xong tâm sẽ loạn cuồng, nghi ngờ không tin. Tu-bồ-đề! Nên biết nghĩa kinh này không thể nghĩ bàn, và quả báo cũng không thể nghĩ bàn!"

Phần 17: Cứu Cánh Vô Ngã

[sửa]

Thành Phật rốt ráo vốn không có tướng ngã

Lúc bấy giờ, Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Người thiện nam, thiện nữ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì nên an trụ như thế nào? Làm sao để hàng phục tâm ấy?"

Phật bảo Tu-bồ-đề: "Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên sinh tâm như thế này: Ta phải diệt độ cho tất cả chúng sinh. Diệt độ tất cả chúng sinh xong, mà thực tế không có một chúng sinh nào được diệt độ cả. Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát còn có tướng Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả thì không phải là Bồ-tát. Tại sao thế? Tu-bồ-đề! Thực sự không có pháp nào gọi là người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cả."

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai khi ở chỗ Phật Nhiên Đăng có pháp nào để đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng?"

  • "Bạch Thế Tôn, không ạ! Theo như con hiểu, Phật khi ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có pháp nào để đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác."

Phật phán: "Đúng thế, đúng thế! Tu-bồ-đề! Thực sự không có pháp nào để Như Lai đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cả. Tu-bồ-đề! Nếu có pháp để Như Lai đắc quả, thì Phật Nhiên Đăng đã không thọ ký cho Ta rằng: 'Đời sau ông sẽ đắc quả Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni'. Chính vì thực không có pháp nào đắc được quả vị ấy, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho Ta như vậy. Vì sao? Như Lai nghĩa là 'Như' của các pháp."

"Nếu có người nói: 'Như Lai đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác', Tu-bồ-đề, thực không có pháp nào Phật đắc được quả vị đó. Cái quả vị mà Như Lai đắc được ấy, trong đó không thực cũng không hư. Thế nên Như Lai nói: Tất cả các pháp đều là Phật pháp. Tu-bồ-đề! Cái gọi là 'tất cả các pháp' ấy, tức chẳng phải tất cả các pháp, nên mới gọi là tất cả các pháp."

"Tu-bồ-đề! Ví như thân hình người cao lớn."

  • Tu-bồ-đề thưa: "Bạch Thế Tôn, Như Lai nói thân người cao lớn tức chẳng phải thân lớn, đó gọi là thân lớn."

"Tu-bồ-đề! Bồ-tát cũng lại như thế. Nếu nói rằng: 'Ta sẽ diệt độ vô lượng chúng sinh' thì không được gọi là Bồ-tát. Vì sao? Tu-bồ-đề! Thực không có pháp nào tên là Bồ-tát. Thế nên Phật nói tất cả các pháp đều không có Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả. Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát nói: 'Ta sẽ trang nghiêm Phật độ', người đó không được gọi là Bồ-tát. Vì sao? Như Lai nói trang nghiêm Phật độ tức chẳng phải trang nghiêm, đó gọi là trang nghiêm. Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát thông đạt được lẽ Vô ngã và Vô pháp, Như Lai nói đó mới thực sự là Bồ-tát."

Phần 18: Nhất Thể Đồng Quán

[sửa]

Vạn pháp quy về một mối, không có cái nhìn khác biệt

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có Nhục nhãn không?"

  • "Bạch Thế Tôn, có ạ."

"Như Lai có Thiên nhãn không?"

  • "Bạch Thế Tôn, có ạ."

"Như Lai có Tuệ nhãn không?"

  • "Bạch Thế Tôn, có ạ."

"Như Lai có Pháp nhãn không?"

  • "Bạch Thế Tôn, có ạ."

"Như Lai có Phật nhãn không?"

  • "Bạch Thế Tôn, có ạ."

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Những hạt cát trong sông Hằng, Phật có gọi đó là cát không?"

  • "Bạch Thế Tôn, có ạ."

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như có bao nhiêu hạt cát trong một dòng sông Hằng, rồi có bấy nhiêu dòng sông Hằng, và số cát trong tất cả các dòng sông Hằng đó tương ứng với số thế giới Phật, thì thế giới như vậy có nhiều chăng?"

  • "Bạch Thế Tôn, rất nhiều ạ."

Phật bảo: "Trong bấy nhiêu quốc độ, có bao nhiêu loại tâm của chúng sinh, Như Lai đều biết rõ. Vì sao vậy? Như Lai nói các tâm ấy đều chẳng phải là tâm, đó mới gọi là tâm. Tại sao thế? Tu-bồ-đề! Tâm quá khứ không thể nắm bắt, tâm hiện tại không thể nắm bắt, tâm vị lai không thể nắm bắt."

Phần 19: Pháp Giới Thông Hóa

[sửa]

Pháp thân biến khắp thế giới, hóa độ vô biên

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Nếu có người đem bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới ra bố thí, nhờ nhân duyên ấy, người đó được phúc đức nhiều chăng?"

  • "Bạch Thế Tôn, rất nhiều ạ."

"Tu-bồ-đề! Nếu phúc đức có thực, Như Lai không nói là đắc phúc đức nhiều. Vì phúc đức không có (tự tính), nên Như Lai mới nói là đắc phúc đức nhiều."

Phần 20: Ly Sắc Ly Tướng

[sửa]

Sắc tướng đều là giả tạm, rời giả thấy tính

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Phật chăng?"

  • "Bạch Thế Tôn, không ạ. Như Lai nói sắc thân đầy đủ tức chẳng phải sắc thân đầy đủ, đó gọi là sắc thân đầy đủ."

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể dựa vào các tướng đầy đủ mà thấy Như Lai chăng?"

  • "Bạch Thế Tôn, không ạ. Như Lai nói các tướng đầy đủ tức chẳng phải đầy đủ, đó gọi là các tướng đầy đủ."

Phần 21: Phi Thuyết Sở Thuyết

[sửa]

Pháp không thể thuyết, lời nói chẳng phải pháp

"Tu-bồ-đề! Ông đừng bảo Như Lai có ý nghĩ rằng: 'Ta sẽ có pháp để thuyết'. Chớ nghĩ như thế. Vì sao? Nếu người nào nói Như Lai có thuyết pháp tức là hủy báng Phật, vì không hiểu được lời Ta dạy. Tu-bồ-đề! Thuyết pháp chính là không có pháp nào có thể thuyết, đó mới gọi là thuyết pháp."

Lúc bấy giờ, ngài Tuệ mạng Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Liệu có chúng sinh nào ở đời sau khi nghe pháp này mà sinh lòng tin chăng?"

Phật nói: "Tu-bồ-đề! Họ chẳng phải chúng sinh, cũng chẳng phải không phải chúng sinh. Vì sao? Tu-bồ-đề! Cái gọi là chúng sinh ấy, Như Lai nói chẳng phải chúng sinh, đó gọi là chúng sinh."

Phần 22: Vô Pháp Khả Đắc

[sửa]

Ngộ tính không, không có pháp nào để đắc

Tu-bồ-đề bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Phật đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là không sở đắc gì sao?" Phật phán: "Đúng thế, đúng thế! Tu-bồ-đề! Ta đối với quả vị ấy, cho đến một chút ít pháp cũng không có sở đắc, đó mới gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác."

Phần 23: Tịnh Tâm Hành Thiện

[sửa]

Dùng tâm thanh tịnh làm các việc lành

"Lại nữa, Tu-bồ-đề! Pháp này bình đẳng, không có cao thấp, nên gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chỉ cần không có Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả mà tu tất cả các pháp lành, tức đắc quả vị ấy. Tu-bồ-đề! Cái gọi là pháp lành, Như Lai nói tức chẳng phải pháp lành, đó gọi là pháp lành."

Phần 24: Phúc Trí Vô Tỷ

[sửa]

Phúc trí rộng lớn, không gì sánh bằng

"Tu-bồ-đề! Nếu có người đem bảy báu chất cao như núi vương Tu-di trong tam thiên đại thiên thế giới ra bố thí; và một người khác thụ trì đọc tụng kinh Bát Nhã Ba La Mật này, cho đến chỉ một bài kệ bốn câu, vì người khác diễn nói, thì phúc đức của người trước không bằng một phần trăm người sau, cho đến toán số thí dụ cũng không sánh kịp."

Phần 25: Hóa Vô Sở Hóa

[sửa]

Thánh phàm đồng tính, hóa độ mà không có người được độ

"Tu-bồ-đề! Ý các ông nghĩ sao? Đừng bảo Như Lai nghĩ rằng: 'Ta sẽ độ chúng sinh'. Vì sao?

Thực không có chúng sinh nào Như Lai độ cả. Nếu có chúng sinh Như Lai độ, thì Như Lai còn có Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả. Tu-bồ-đề! Như Lai nói có 'Ngã' tức chẳng phải có Ngã, mà hạng phàm phu cho là có Ngã. Tu-bồ-đề! Phàm phu ấy, Như Lai nói chẳng phải phàm phu, đó gọi là phàm phu."

Phần 26: Pháp Thân Phi Tướng

[sửa]

Pháp thân thanh tịnh, không thuộc về diện mạo

"Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai chăng?"

Tu-bồ-đề thưa: "Đúng thế, đúng thế! Dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai."

Phật phán: "Nếu dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai, thì Chuyển luân Thánh vương chính là Như Lai rồi."

Tu-bồ-đề bạch: "Bạch Thế Tôn, theo con hiểu, không nên dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai."

Lúc bấy giờ Thế Tôn nói bài kệ rằng:

「若以色見我,以音聲求我,是人行邪道,不能見如來。」

Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã,

Thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai."

(Nếu dùng sắc diện thấy Ta, dùng âm thanh cầu Ta, người ấy hành đạo tà, không thể thấy Như Lai.)

Nhưng ai dùng sắc thấy Ta,
Dùng âm thanh để thiết tha cầu tìm.
Người đang tà đạo đắm chìm,
Như Lai chân thật khó tìm thấy đâu.

Phần 27: Vô Đoạn Vô Diệt

[sửa]

Theo đúng pháp tu trì, không nên rơi vào đoạn diệt

"Tu-bồ-đề! Nếu ông nghĩ rằng Như Lai không nhờ vào các tướng đầy đủ mà đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì chớ nghĩ như vậy. Tu-bồ-đề! Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đối với các pháp không nói là tướng đoạn diệt."

Phần 28: Bất Thụ Bất Tham

[sửa]

Một mảy bụi chẳng dính, không tham không nhận

"Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát đem bảy báu đầy cả thế giới nhiều như cát sông Hằng ra bố thí; và một người khác biết tất cả pháp vô ngã, đắc thành Nhẫn đức, thì công đức của vị Bồ-tát sau vượt hơn vị trước. Vì sao? Vì các vị Bồ-tát không thụ nhận phúc đức."

Tu-bồ-đề bạch: "Bạch Thế Tôn, vì sao Bồ-tát không thụ nhận phúc đức?" "Tu-bồ-đề! Bồ-tát làm phúc đức mà không nên tham trước, thế nên nói là không thụ nhận phúc đức."

Phần 29: Uy Nghi Tịch Tĩnh

[sửa]

Tự tính vốn lặng lẽ, không nhờ vào uy nghi

"Tu-bồ-đề! Nếu có người nói Như Lai có đến có đi, có ngồi có nằm, người đó không hiểu được nghĩa lý Ta dạy. Vì sao? Như Lai nghĩa là không từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai."

Phần 30: Nhất Hợp Lý Tướng

[sửa]

Lý của cái Một, thực ra không có tướng

"Tu-bồ-đề! Nếu người thiện nam, thiện nữ đem tam thiên đại thiên thế giới nghiền nát thành vi trần, ý ông nghĩ sao? Số vi trần ấy có nhiều chăng?"

  • "Rất nhiều, bạch Thế Tôn! Vì nếu vi trần ấy thực có, Phật đã không gọi là chúng vi trần. Vì Phật nói chúng vi trần tức chẳng phải chúng vi trần, đó gọi là chúng vi trần. Thế Tôn! Cái gọi là tam thiên đại thiên thế giới cũng chẳng phải thế giới, đó gọi là thế giới. Vì nếu thế giới thực có, tức là tướng 'nhất hợp' (hợp lại thành một). Như Lai nói tướng nhất hợp tức chẳng phải tướng nhất hợp, đó gọi là tướng nhất hợp."

"Tu-bồ-đề! Tướng nhất hợp ấy là điều không thể nói ra được, nhưng hạng phàm phu lại tham đắm vào việc đó."

Phần 31: Tri Kiến Bất Sinh

[sửa]

Tri kiến như thế, pháp tướng không sinh

"Tu-bồ-đề! Nếu người nào nói Phật dạy về Ngã kiến, Nhân kiến, Chúng sinh kiến, Thọ giả kiến, ý ông nghĩ sao? Người đó có hiểu nghĩa Ta dạy chăng?"

  • "Bạch Thế Tôn, không ạ! Như Lai nói các kiến ấy tức chẳng phải các kiến ấy, đó gọi là các kiến ấy."

"Tu-bồ-đề! Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đối với tất cả pháp nên biết như thế, thấy như thế, tin hiểu như thế, không để pháp tướng phát sinh. Tu-bồ-đề! Cái gọi là pháp tướng ấy, Như Lai nói tức chẳng phải pháp tướng, đó gọi là pháp tướng."

Phần 32: Ứng Hóa Phi Chân

[sửa]

Ứng hiện hóa độ cũng chẳng phải thực

"Tu-bồ-đề! Nếu có người đem bảy báu chất đầy vô lượng vô số thế giới ra bố thí; và có người thiện nam, thiện nữ phát tâm Bồ-đề thụ trì kinh này, cho đến chỉ một bài kệ bốn câu, rồi vì người khác mà diễn thuyết, thì phúc đức ấy còn vượt hơn người kia. Vậy thế nào là vì người diễn thuyết? Đó là không chấp vào tướng, như như bất động. Vì sao?"

「一切有為法,如夢幻泡影,如露亦如電,應作如是觀。」

Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán."

(Hết thảy các pháp hữu vi, như mộng, như huyễn, như bọt nước, như bóng hình, như sương sớm, cũng như tia chớp, nên quán chiếu như thế.)

"Hữu vi các pháp cao sâu,
Tựa như mộng huyễn, khác gì bọt văng.
Như sương, như chớp lóe giăng,
Hãy nên quán chiếu rõ ràng như kia."

Phật nói kinh này xong, Trưởng lão Tu-bồ-đề cùng các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tất cả thế gian Trời, Người, A-tu-la, nghe lời Phật dạy đều hết sức vui mừng, tin nhận và xin vâng làm theo.

   




Chú thích

  1. Phân tắc (分則): Nghĩa là chia các phần, lập ra các quy tắc phân chia chương mục.
  2. Chiêu Minh Thái tử (昭明太子): Tên thật là Tiêu Thống, con trai trưởng của Lương Vũ Đế. Ông là một học giả nổi tiếng, người biên soạn bộ Chiêu Minh Văn Tuyển.
  3. Nguyên bản kinh Kim Cang khi ngài Cưu Ma La Thập dịch không hề chia đoạn hay đặt tiêu đề. Chính Thái tử Chiêu Minh đã chia kinh này thành 32 phần (分 - phân) và đặt tên cho mỗi phần (như Đệ nhất: Pháp hội nhân do phân, Đệ nhị: Thiện hiện khởi thỉnh phân,...). Cách phân chia này cực kỳ phổ biến và được dùng trong hầu hết các bản kinh Kim Cang hiện nay.
  4. Thiện Hiện: Chính là tên dịch nghĩa của ngài Tu-bồ-đề Subhūti.
  5. A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề: Đây là phiên âm từ tiếng Phạn , nghĩa là quả vị Giác ngộ tối cao, hoàn thiện nhất.
  6. Pháp như chiếc bè (筏 phạt): Mục đích của chiếc bè là để qua sông. Khi đã sang đến bờ bên kia (giác ngộ), người lữ khách thông minh sẽ bỏ lại chiếc bè để đi tiếp, chứ không ai dại dột vác chiếc bè lên vai mà đi bộ trên đất liền. Phật pháp là phương tiện để giải phóng tâm linh, không phải là đối tượng để tôn thờ một cách mù quáng hay để tích trữ như một loại kiến thức làm giàu cho cái "Ngã".
  7. Phần 9 này giải thích rất sâu về việc buông bỏ cái tôi ngay cả khi đã đạt được những thành tựu tâm linh cao nhất.


 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.