Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự
Trích từ sách Toàn Đường Văn quyển 0914 (全唐文/卷0914)
Kinh Kim Cương lấy Vô tướng làm tông, lấy Vô trụ làm thể[1], lấy Diệu hữu làm dụng. Từ khi Đạt Ma sư tổ sang phương Đông là để truyền cái ý chỉ của kinh này, giúp người đời ngộ lý kiến tánh. Chỉ vì người đời không thấy tự tánh, nên mới lập ra pháp "kiến tánh". Nếu người đời thấy được bản thể Chân như thì chẳng cần giả lập ra pháp làm gì.
Người đọc tụng kinh này nhiều không kể xiết, người xưng tán vô biên; các nhà làm sớ giải, chú giải có hơn tám trăm nhà. Những đạo lý được thuyết ra đều tùy theo chỗ thấy riêng của mỗi người. Tuy cái thấy có khác nhau nhưng Pháp thì vốn không hai. Người có thiện căn sâu dày đời trước, vừa nghe qua liền hiểu ngay. Nếu không có trí tuệ từ đời trước, dù đọc tụng bao nhiêu cũng không ngộ được ý Phật. Thế nên mới cần giải thích nghĩa thánh để dứt trừ lòng nghi cho người học. Nếu ở nơi kinh này mà đắc được tôn chỉ, không còn nghi ngờ, thì chẳng cần đến giải thuyết nữa. Những thiện pháp mà Như Lai đã thuyết từ trước tới nay đều là để trừ bỏ cái tâm bất thiện của phàm phu. Kinh là lời của bậc Thánh, dạy người nghe đó mà từ phàm ngộ thánh, vĩnh viễn dứt sạch tâm mê.
Một quyển kinh này vốn sẵn có trong tự tánh của mọi người, nhưng vì không thấy nên mới đi tìm. Người thấy (chưa ngộ) thì chỉ đọc tụng văn tự; nếu ngộ được bản tâm, mới biết kinh này không nằm ở chữ nghĩa. Nếu có thể minh tâm kiến tánh, mới tin rằng tất cả chư Phật đều từ kinh này mà ra. Nay e rằng người đời cứ tìm Phật bên ngoài thân, hướng ngoại cầu kinh, không phát tâm nội tại, không trì tụng "nội kinh", nên tôi làm ra lời quyết giải này để giúp người học trì tụng tâm kinh bên trong[2], rõ ràng tự thấy tâm Phật thanh tịnh, vượt ngoài số lượng, không thể nghĩ bàn. Người học sau này nếu đọc kinh có chỗ nghi, xem lời giải nghĩa này mà lòng nghi tan biến thì cũng không cần dùng đến lời quyết này nữa. Chỉ mong người học cùng thấy được tính vàng trong quặng, dùng lửa trí tuệ rèn đúc, quặng hết thì vàng còn.
Đức Bản sư Thích Ca nói kinh Kim Cương tại nước Xá Vệ. Vì ông Tu-bồ-đề thưa hỏi mà Phật khởi lòng đại bi thuyết giảng. Tu-bồ-đề nghe pháp đắc ngộ, xin Phật đặt tên cho pháp để người sau nương theo thọ trì. Nên kinh chép: "Phật bảo Tu-bồ-đề: Kinh này tên là Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật. Do tên gọi ấy, các ông nên vâng giữ." Như Lai thuyết "Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật" để làm tên cho Pháp, ý nghĩa là gì?
Lấy vật báu "Kim cương" trong thế gian làm dụ, vì tính nó cứng sắc, phá hoại được muôn vật. Vàng tuy rất cứng nhưng sừng linh dương có thể làm hỏng. Kim cương ví cho Phật tánh, sừng linh dương ví cho phiền não. Vàng tuy kiên cương nhưng sừng linh dương có thể làm vỡ; Phật tánh tuy kiên cố nhưng phiền não có thể làm loạn. (Tuy nhiên) phiền não dù cứng chắc đến đâu, trí Bát-nhã cũng phá được. Sừng linh dương dù cứng, sắt thép cũng hỏng. Ngộ được lý này là rõ ràng kiến tánh. Kinh *Niết Bàn* nói: "Người thấy Phật tánh thì không gọi là chúng sinh; kẻ không thấy Phật tánh thì gọi là chúng sinh."
Như Lai dùng dụ "Kim cương" chỉ vì tính của người đời không kiên cố, miệng tuy tụng kinh mà hào quang không sinh. Nếu ngoài tụng trong hành thì hào quang bình đẳng; bên trong không kiên cố thì định tuệ sẽ mất. Miệng tụng tâm hành, định tuệ đồng đẳng, đó gọi là cứu cánh. Vàng ở trong núi, núi không biết đó là báu, vàng cũng chẳng biết mình đang ở trong núi. Tại sao? Vì không có tánh (giác biết). Con người có tánh, muốn lấy vật báu ấy dùng thì phải gặp thợ vàng, đục phá núi ra, lấy quặng nấu luyện mới thành vàng ròng. Tùy ý sử dụng, thoát khỏi nghèo khổ. Trong thân tứ đại này, Phật tánh cũng lại như thế. Thân ví như thế giới, nhân ngã ví như núi, phiền não ví như quặng, Phật tánh ví như vàng, trí tuệ ví như thợ khéo, tinh tấn dũng mãnh ví như đục đẽo.
Trong thân thế giới có núi nhân ngã[3]; trong núi nhân ngã có quặng phiền não; trong quặng phiền não có báu Phật tánh; trong báu Phật tánh có thợ trí tuệ. Dùng thợ trí tuệ đục phá núi nhân ngã, thấy quặng phiền não, dùng lửa giác ngộ nấu luyện, thấy tự tánh Kim cương Phật tánh rõ ràng sáng sạch. Thế nên lấy "Kim cương" làm dụ, dùng đó làm tên. Chỉ hiểu suông mà không hành thì có tên mà không có thể; hiểu nghĩa và tu hành thì tên và thể đủ đầy. Không tu là phàm phu, tu hành liền đồng với trí thánh, nên gọi là "Kim cương".
Thế nào là Bát-nhã? Đó là tiếng Phạn, tiếng Đường gọi là Trí tuệ. Trí là không khởi tâm ngu si, Tuệ là có các phương tiện. Tuệ là thể của Trí, Trí là dụng của Tuệ. Thể nếu có Tuệ thì dụng Trí không ngu; thể nếu không Tuệ thì dụng ngu không có Trí. Chỉ vì ngu si chưa ngộ nên mới tu Trí tuệ để dứt trừ vậy.
Thế nào là Ba-la-mật? Tiếng Đường gọi là Đến bờ kia. Đến bờ kia nghĩa là lìa tướng sinh diệt. Chỉ vì tánh người đời không kiên cố, ở nơi tất cả pháp mà khởi tướng sinh diệt, lưu lạc trong các nẻo. Khi chưa đến được đất Chân như thì đều là "bờ này". Phải cụ túc đại trí tuệ, ở nơi tất cả pháp đều viên mãn, lìa tướng sinh diệt, ấy là "đến bờ kia". Lại nói: tâm mê là bờ này, tâm ngộ là bờ kia; tâm tà là bờ này, tâm chính là bờ kia. Miệng nói tâm làm, ấy là Pháp thân có Ba-la-mật. Miệng nói tâm không làm, ấy là không có Ba-la-mật.
Thế nào là Kinh? Kinh nghĩa là con đường (đường tắt), là lộ trình thành Phật. Phàm người muốn đạt đến con đường này, phải nội tu hạnh Bát-nhã để đến chỗ cứu cánh. Nếu chỉ biết tụng nói mà tâm không y hành, thì tự tâm không có kinh. Thật thấy thật hành, thì tự tâm có kinh. Cho nên kinh này Như Lai hiệu là Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh.
Chú thích
- ▲ Vô tướng (無相), Vô trụ (無住): Hai khái niệm cốt lõi của kinh Kim Cương.
- ▲ Nội kinh (內經): Kinh điển nằm sẵn trong tâm, không phải trên giấy.
- ▲ Nhân ngã sơn (人我山): Núi "cái tôi" và "người khác", ám chỉ sự chấp ngã.
| ||||||||||||||||||||||
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.