Biên dịch:Lý Hoặc Luận
Mâu Tử đã tu sửa kinh truyện và chư tử, sách không kể lớn nhỏ, chẳng gì không thích. Tuy không vui việc binh pháp, nhưng vẫn đọc qua. Dẫu đọc sách thần tiên bất tử, song nén lòng không tin, cho là hư huyễn. Bấy giờ sau khi Linh Đế băng hà, thiên hạ rối loạn, chỉ có Giao Châu tương đối yên ổn. Dị nhân phương Bắc đều đến đây, đa số luyện thuật thần tiên tịch cốc trường sinh, người thời đó theo học rất đông. Mâu Tử thường dùng Ngũ Kinh để chất vấn, các thuật sĩ Đạo gia không ai dám đối đáp. Có thể ví như Mạnh Kha ngăn chặn Dương Chu, Mặc Địch.
Trước đó, Mâu Tử cùng mẹ lánh đời tại Giao Chỉ, năm 26 tuổi về Thương Ngô lấy vợ. Thái thú nghe danh ông giữ đạo hiếu học, bèn mời giữ chức lại. Lúc ấy tuổi đang sung mãn, chí chuyên vào học thuật, lại thấy đời loạn lạc nên không có ý làm quan, rốt cuộc không nhận lời. Bấy giờ các châu quận nghi kị lẫn nhau, giao thông bế tắc. Thái thú vì nể ông bác học đa văn, sai đi sứ Kinh Châu. Mâu Tử cho rằng tước lộc dễ nhường nhưng sứ mệnh khó từ, bèn sửa soạn lên đường. Gặp lúc Châu mục ban văn ưu đãi hiền sĩ để chiêu mộ, ông lại cáo bệnh không dậy. Em trai Châu mục làm Thái thú Dự Chương, bị Trung lang tướng Sạ Dung giết hại. Khi ấy Châu mục phái Kỵ đô úy Lưu Ngạn đem binh ứng cứu, sợ ngoại giới nghi kị, binh không tiến được.
Châu mục bèn thỉnh Mâu Tử rằng: "Em ta bị nghịch tặc hãm hại, nỗi đau cốt nhục phẫn uất tận tâm can. Nay phái Lưu đô úy đi, sợ ngoại giới nghi nan, người đi không thông. Ông văn võ kiêm toàn, có tài đối đáp. Nay muốn khuất thân ông sang Linh Lăng, Quế Dương mượn đường để thông suốt, ông thấy thế nào?". Mâu Tử đáp: "Kẻ hèn này như ngựa ăn cỏ trong chuồng, được đối đãi đã lâu; liệt sĩ quên mình, hẹn sẽ dốc sức". Lúc sắp lên đường thì mẹ mất, nên không đi được.
Lâu sau ông suy ngẫm: Vì có tài biện bác nên hay bị sai phái, lúc thế gian nhiễu nhương, không phải lúc để hiển lộ. Bèn than rằng: "Lão Tử tuyệt thánh khí trí, tu thân bảo chân, vạn vật không làm loạn được chí, thiên hạ không đổi được niềm vui. Thiên tử không thể bắt làm tôi, chư hầu không thể kết làm bạn, cho nên mới đáng quý". Thế là ông dốc chí vào Phật đạo, nghiên cứu thêm năm ngàn chữ của Lão Tử. Lấy huyền diệu làm rượu ngọt, lấy Ngũ Kinh làm đàn sáo. Người đời nhiều kẻ chê bai, cho rằng ông phản Ngũ Kinh mà theo dị đạo. Muốn tranh luận thì trái đạo, muốn im lặng thì không đành, bèn dùng bút mực, lược dẫn lời thánh hiền để chứng giải. Tên gọi là Mâu Tử Lý Hoặc.
Có người hỏi: "Phật sinh ra từ đâu? Có tổ tiên và quốc ấp không? Hành trạng thế nào? Hình dáng ra sao?".
Mâu Tử đáp: "Câu hỏi phong phú thay! Xin lấy sự kém cỏi này mà nói lược điểm chính. Nghe rằng sự hóa hiện của Phật tích lũy đạo đức qua nghìn ức năm không thể ghi chép hết. Lúc sắp đắc quả Phật, Ngài sinh tại Thiên Trúc, mượn thân nơi phu nhân vua Bạch Tịnh. Bà nằm ngủ trưa mơ thấy cưỡi voi trắng sáu ngà, lòng vui mừng rồi cảm ứng thụ thai. Ngày mồng tám tháng tư, Ngài từ sườn phải mẹ sinh ra. Rơi xuống đất đi bảy bước, giơ tay phải nói: 'Trên trời dưới đất, không ai hơn ta'. Lúc đó trời đất chuyển động lớn, trong cung sáng rực. Ngày ấy tỳ nữ nhà vua cũng sinh một con trai, ngựa trắng trong chuồng sinh ngựa con. Người hầu tên Xa Nặc, ngựa tên Kiền Trắc, vua thường sai theo hầu Thái tử.
Thái tử có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Thân cao một trượng sáu, mình màu kim sắc, đỉnh đầu có nhục kế, xương má như sư tử, lưỡi che được mặt, tay có hình bánh xe ngàn căm, hào quang nơi cổ chiếu vạn dặm. Đó là nói lược về tướng mạo. Năm 17 tuổi, vua cưới vợ cho Ngài là con gái nước láng giềng. Thái tử ngồi thì dời ghế, ngủ thì khác giường, thiên đạo sáng tỏ, âm dương thông hòa. Sau đó vợ mang thai một con trai, sáu năm mới sinh.
Phụ vương trân quý Thái tử, xây dựng cung đài, bày biện kỹ nữ bảo vật trước mặt. Thái tử không ham vui thế tục, ý để nơi đạo đức. Năm 19 tuổi, đêm mồng tám tháng tư, Ngài gọi Xa Nặc thắng yên ngựa Kiền Trắc mà cưỡi, quỷ thần nâng chân ngựa bay ra khỏi cung. Sáng hôm sau, không ai biết Ngài ở đâu. Nhà vua và dân chúng đều than khóc, đuổi theo đến cánh đồng. Vua nói: 'Trước kia chưa có con, ta đã cầu khẩn thần kỳ; nay đã có con quý như ngọc khuê, phải nối nghiệp vị, sao lại ra đi?'. Thái tử đáp: 'Vạn vật vô thường, có tồn tại ắt có diệt vong; nay con muốn học đạo để cứu độ mười phương'.
Vua biết chí Ngài kiên định nên quay về. Thái tử đi thẳng, tu hành sáu năm rồi thành Phật. Sinh vào tháng giữa mùa hạ vì thời tiết không lạnh không nóng, cỏ hoa tươi tốt, là lúc cởi áo lông cáo mà mặc áo vải thưa. Sinh tại Thiên Trúc vì đó là trung tâm trời đất, nơi điều hòa nhất. Kinh điển Ngài để lại gồm 12 bộ, hợp thành 8 ức 4 ngàn vạn quyển. Quyển lớn dưới vạn chữ, quyển nhỏ trên ngàn chữ. Phật dạy dỗ thiên hạ, cứu độ nhân dân, rồi vào ngày 15 tháng hai mà nhập Niết-bàn. Kinh giới của Ngài vẫn còn, ai có thể tuân hành cũng sẽ đắc vô vi, phúc lưu hậu thế. Người giữ Ngũ giới thì mỗi tháng có 6 ngày trai giới, ngày đó chuyên tâm nhất ý, hối lỗi tự mới. Sa-môn giữ 250 giới, ngày ngày trai giới, giới đó hàng Ưu-bà-tắc không được nghe. Uy nghi đi đứng không khác điển lễ cổ xưa, suốt ngày đêm giảng đạo tụng kinh, không dự việc đời. Lão Tử nói: 'Cái dung mạo của đức lớn, chỉ thuận theo đạo'. Chính là ý này vậy".
Hỏi: “Tại sao gọi chính xác là Phật? Phật nghĩa là gì?”
Mâu Tử đáp: “Phật là thụy hiệu, giống như gọi Tam Hoàng là Thần, Ngũ Đế là Thánh vậy. Phật là nguyên tổ của đạo đức, là tông tự của thần minh. Chữ Phật nghĩa là Giác. Ngài biến hóa thấp thoáng, phân thân tán thể, hoặc còn hoặc mất, có thể thu nhỏ phóng to, có thể hóa tròn hóa vuông, có thể hóa già hóa trẻ, có thể ẩn mình hiện rõ; giẫm vào lửa không cháy, đi trên lưỡi dao không thương, ở nơi ô uế không bị nhục, gặp tai họa không bị ương; muốn đi liền bay, ngồi thì tỏa sáng, cho nên hiệu là Phật.”
Hỏi: “Thế nào gọi là Đạo? Đạo thuộc loại nào?”
Mâu Tử đáp: “Chữ Đạo nghĩa là dẫn dắt. Dẫn dắt con người đạt đến vô vi. Kéo đi thì không thấy phía trước, dắt đi thì không thấy phía sau; nâng lên thì không thấy phía trên, ấn xuống thì không thấy phía dưới; nhìn thì không thấy hình, nghe thì không thấy tiếng; bao la ngoài bốn cõi là lớn, len lỏi trong mảy may là nhỏ. Cho nên gọi là Đạo.”
Hỏi: “Khổng Tử dùng Ngũ Kinh làm đạo giáo, có thể chắp tay mà tụng, dốc lòng mà hành. Nay ông nói Đạo hư vô thấp thoáng, không thấy ý tứ, không chỉ rõ sự việc, sao lại khác biệt với lời Thánh nhân như vậy?”
Mâu Tử đáp: “Không nên xem trọng những gì mình đã quen, xem nhẹ những gì mình hiếm thấy. Hoặc bị lầm lẫn bởi vẻ bề ngoài mà đánh mất cái thực chất bên trong. Lập sự không rời đạo đức, giống như điều chỉnh dây đàn không sai cung thương. Thiên đạo phỏng theo bốn mùa, nhân đạo phỏng theo ngũ thường. Lão Tử nói: ‘Có vật hỗn thành, sinh trước cả trời đất, có thể làm mẹ thiên hạ. Ta không biết tên nó, gượng đặt chữ là Đạo’. Đạo là một vật, ở nhà có thể phụng thờ cha mẹ, trị quốc có thể quản lý người dân, độc lập có thể tu sửa bản thân; áp dụng hành trì thì tràn đầy khắp trời đất, bỏ đi không dùng thì tiêu biến nhưng không rời xa. Ông không hiểu điều đó, chứ có gì là khác biệt đâu?”
Hỏi: “Phát ngôn chân thực nhất thì không hoa mỹ, lời lẽ chí lý nhất thì không trang sức. Lời tóm lược mà đạt ý là đẹp, sự việc ít ỏi mà thông suốt là sáng suốt. Cho nên châu ngọc ít thì quý, ngói sỏi nhiều thì rẻ. Thánh nhân chế định cái gốc của Thất Kinh không quá ba vạn lời, mà muôn việc đều đầy đủ ở trong. Nay kinh Phật quyển tính bằng hàng vạn, lời tính bằng hàng ức, không phải sức một người có thể kham nổi. Tôi cho là rườm rà mà không trọng yếu.”
Mâu Tử đáp: “Sông biển sở dĩ khác với nước vũng rãnh là vì nó sâu rộng; năm núi lớn sở sở dĩ khác với gò đồi là vì nó cao lớn. Nếu núi cao không vượt hơn gò đống, cừu què cũng leo lên đỉnh; vực sâu không tách rời dòng nước nhỏ, trẻ con cũng tắm ở trong đầm. Ngựa kỳ ký không ở trong vườn thú, cá nuốt thuyền không bơi ở khe nước sâu vài thước. Mổ con trai ba tấc mà đòi tìm ngọc minh nguyệt, tìm trong tổ cây gai góc mà đòi kiếm chim non phượng hoàng, tất khó mà đạt được. Vì sao vậy? Cái nhỏ không thể chứa được cái lớn. Kinh Phật phía trước nói chuyện trăm triệu năm, phía sau nói điều cốt yếu của muôn đời. Thuở thái tố chưa dấy, thái thủy chưa sinh, càn khôn mới mở, cái vi diệu của nó không thể nắm bắt, cái tinh tế của nó không thể đi vào, Phật đều bao quát bên ngoài cái rộng lớn ấy, mổ xẻ bên trong cái thâm diệu ấy, không gì không ghi chép. Cho nên kinh quyển tính bằng hàng vạn, lời tính bằng hàng ức, càng nhiều càng đầy đủ, càng đông càng phong phú. Sao lại nói là không trọng yếu? Tuy không phải một người có thể kham nổi, nhưng ví như đến bên sông uống nước, uống no thì tự đủ, cần gì phải biết đến phần nước còn lại?”
Hỏi: “Kinh Phật nhiều như vậy, nay muốn lấy chỗ cốt lõi mà bỏ phần còn lại, chỉ nói thẳng cái chân thực mà bỏ đi cái hoa mỹ, được chăng?”
Mâu Tử đáp: “Không được. Mặt trời mặt trăng đều sáng, mỗi bên soi chiếu một nơi; hai mươi tám vì sao, mỗi sao chủ quản một việc; trăm phương thuốc cùng sinh, mỗi vị chữa lành một bệnh. Áo lông cáo để chống rét, áo vải thưa để ngồi mát; thuyền và xe đi đường khác nhau, đều đưa hành khách đến nơi. Khổng Tử không vì Ngũ Kinh đã đầy đủ mà không sáng tác thêm Xuân Thu, Hiếu Kinh, ấy là muốn mở rộng đạo thuật, thuận theo ý muốn của mỗi người. Kinh Phật tuy nhiều, nhưng quy tụ lại là một. Giống như Thất điển tuy khác nhau, nhưng chỗ coi trọng đạo đức, nhân nghĩa cũng là một. Kinh Hiếu sở dĩ nói nhiều điều, là tùy theo hành vi của mỗi người mà ban dạy. Như Tử Trương và Tử Du cùng hỏi về một chữ Hiếu, mà Trọng Ni đáp lại mỗi người một khác, ấy là để uốn nắn chỗ ngắn của họ. Có gì mà phải bỏ đi?”
Hỏi: “Phật đạo chí tôn chí đại, tại sao Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng không tu theo? Trong Thất Kinh không thấy lời lẽ nào về Phật. Ông đã say mê Kinh Thi, Kinh Thư, vui thích Kinh Lễ, Kinh Nhạc, cớ sao lại quay sang ưa chuộng Phật đạo, thích học thuật lạ? Há có thể vượt qua kinh truyền, làm đẹp thêm sự nghiệp của Thánh nhân sao? Tôi trộm nghĩ ông không nên theo.”
Mâu Tử đáp: “Sách không nhất thiết phải là lời của Khổng Khâu, thuốc không nhất thiết phải là phương của Biển Thước; hợp với nghĩa thì theo, chữa lành bệnh là tốt. Quân tử thu nhận rộng rãi các điều thiện để bổ trợ cho bản thân. Tử Cống nói: ‘Thầy ta có một bậc thầy cố định nào đâu?’. Vua Nghiêu học Doãn Thọ, vua Thuấn học Vụ Thành, Chu Công học Lã Vọng, Khổng Khâu học Lão Đam, những điều này cũng đều không thấy trong Thất Kinh. Bốn vị thầy ấy tuy là bậc thánh, nhưng so với Phật, thì như hươu trắng so với kỳ lân, chim én so với phượng hoàng vậy. Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng còn đi học họ, huống chi Phật thân tướng tốt đẹp, biến hóa thần lực vô cùng, sao lại có thể bỏ mà không học? Sự nghĩa trong Ngũ Kinh có chỗ còn khuyết thiếu; việc Phật không được ghi chép lại, có gì đáng để quái lạ và nghi ngờ?”
Hỏi: “Nói rằng Phật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, sao lại khác người đến thế? Đó chắc là lời nói ngoa dụ, không phải chuyện có thực.”
Mâu Tử đáp: “Tục ngữ có câu: Thấy ít thì lạ nhiều, nhìn thấy lạc đà lại bảo là con ngựa bị sưng lưng. Vua Nghiêu lông mày tám màu, vua Thuấn mắt có hai con ngươi, Cao Dao mỏ chim, Văn Vương bốn đầu vú, Hạ Vũ tai có ba lỗ, Chu Công lưng còng, Phục Hy mũi rồng, Trọng Ni đầu lõm; Lão Tử trán nổi hình sừng mặt lộ vẻ huyền vi, mũi có hai sống, tay nắm mười chữ, chân đạp hai số năm. Đây chẳng phải là khác với người thường sao? Tướng tốt của Phật có gì đáng để nghi ngờ!”
Hỏi: “Hiếu Kinh nói: ‘Thân thể, tóc da, nhận từ cha mẹ, không dám hủy thương’. Tăng Tử lúc sắp mất, bảo mở tay mở chân ta xem. Nay Sa-môn cạo đầu, sao lại trái với lời Thánh nhân, không hợp với đạo con hiếu như vậy? Ông thường thích luận bàn thị phi, phân định cong thẳng, mà ngược lại cho việc đó là tốt sao?”
Mâu Tử đáp: “Nói xấu thánh hiền là bất nhân, phân định không đúng là bất trí. Bất nhân bất trí thì lấy gì lập đức? Đức đã không lập, thì cũng như hạng ngu muội. Luận bàn đâu có dễ dàng! Xưa có người nước Tề đi thuyền qua sông, cha bị ngã xuống nước, con giật cánh tay, túm tóc cha, kéo lộn ngược để nước trong miệng chảy ra, nhờ đó mạng cha được cứu sống. Việc túm tóc, kéo ngược là bất hiếu không gì lớn bằng; nhưng vì để vẹn toàn thân mạng cho cha, nếu cứ chắp tay sửa mình theo lẽ thường của con hiếu thì mạng cha đã dứt dưới dòng nước rồi. Khổng Tử nói: ‘Có thể cùng đi trên đạo, nhưng chưa thể cùng tùy quyền biến’. Đó là việc tùy thời nghi mà áp dụng vậy.
Hơn nữa Hiếu Kinh nói: ‘Bậc tiên vương có đức lớn đạo trọng’, vậy mà Thái Bá cắt tóc vẽ mình, tự theo phong tục xứ Ngô Việt, trái với nghĩa của thân thể tóc da, thế nhưng Khổng Tử lại ngợi khen: ‘Như thế có thể gọi là đức lớn vậy’. Trọng Ni không vì việc ông cắt tóc mà chê trách. Từ đó mà nhìn, nếu có đại đức thì không câu nệ tiểu tiết. Sa-môn hiến của cải, bỏ vợ con, không nghe âm thanh không xem sắc đẹp, có thể gọi là bậc nhường nhịn đến cùng cực. Sao lại bảo trái lời Thánh nhân, không hợp với đạo hiếu? Dự Nhượng nuốt than, sơn mình, Nhiếp Chính rạch mặt tự hình, Bá Cơ lao vào lửa cao hạnh, Cắt Dung tự rạch mặt. Quân tử cho họ là dũng cảm vì đại nghĩa mà chết, chưa từng nghe ai mỉa mai họ tự hủy hoại thân mình. Sa-môn cạo bỏ râu tóc, đem so với bốn người kia, chẳng phải còn tiến xa hơn sao?”
Hỏi: “Trong các phúc không gì hơn có người nối dõi, trong các tội bất hiếu không gì lớn bằng vô hậu. Sa-môn từ bỏ vợ con, hiến bỏ tài sản, có người suốt đời không lấy vợ, sao lại trái với hành vi hưởng phúc và hành hiếu như vậy! Tự làm khổ mình mà chẳng có gì kỳ lạ, tự đẩy mình đến cùng cực mà chẳng có gì khác biệt.”
Mâu Tử đáp: “Kẻ dài bên trái ắt ngắn bên phải, lớn phía trước ắt hẹp phía sau. Mạnh Công Chước làm tổng quản họ Triệu, họ Ngụy thì dư sức, nhưng không thể làm đại phu nước Đằng, nước Tiết. Vợ con, tài vật là vật thừa của cõi đời; trong sạch bản thân, vô vi là cái diệu của đạo. Lão Tử nói: ‘Danh vọng với thân mình, cái nào thân hơn? Thân mình với của cải, cái nào quý hơn?’. Lại nói: ‘Xem di phong của ba đời, nhìn đạo thuật của Nho Mặc, tụng thi thư, tu lễ tiết, sùng nhân nghĩa, coi trọng sự thanh khiết, người trong làng truyền nghiệp, danh tiếng lẫy lừng. Đó là việc kẻ trung sĩ thi hành, người điềm đạm chẳng thèm đoái hoài. Cho nên phía trước có ngọc tùy châu, phía sau có hổ dữ, thấy vậy liền chạy mà không dám lấy, vì sao? Vì đặt tính mạng lên trước, lợi lộc theo sau’. Hứa Do làm tổ trên cây, Di Tề chịu đói núi Thủ Dương, vua Thuấn và Khổng Tử khen họ hiền rằng: ‘Ấy là hạng người cầu nhân được nhân vậy’. Chưa từng nghe ai mỉa mai họ không có người nối dõi, không có của cải. Sa-môn tu đạo đức để đổi lấy thú vui rong chơi ở đời; hướng về sự thục hiền để từ bỏ niềm vui vợ con. Điều đó không gọi là kỳ lạ thì cái gì là kỳ lạ? Điều đó không gọi là khác biệt thì cái gì là khác biệt?”
Hỏi: “Hoàng Đế buông vạt áo làm xiêm xướng, chế định phục sức; Cơ Tử bày ra Hồng Phạm, tướng mạo đứng đầu năm việc; Khổng Tử làm Hiếu Kinh, trang phục là khởi đầu của ba đức. Lại nói: sửa sang y quan, tôn nghiêm tầm nhìn. Nguyên Hiến tuy nghèo nhưng không rời mũ hoa; Tử Lộ gặp nạn không quên thắt dải mũ. Nay Sa-môn cạo tóc, khoác vải đỏ, gặp người không có lễ nghi quỳ dậy, không có dáng vẻ đi đứng khoan thai, sao lại trái với chế độ về tướng mạo trang phục, đi ngược với lối điểm trang của bậc sỹ phu.”
Mâu Tử đáp: “Lão Tử nói: ‘Bậc thượng đức không hiển lộ đức, cho nên có đức; bậc hạ đức không rời bỏ đức, cho nên không có đức’. Thời Tam Hoàng, ăn thịt mặc da, ở tổ trong hang để tôn sùng chất phác; há lại cần đến mũ chương phủ, áo lông cừu cong để trang sức sao? Thế nhưng người thời đó được khen là có đức, thuần hậu, thành thực và vô vi. Hành vi của Sa-môn có phần giống như vậy.”
Có người hỏi: “Như lời ông nói, thì những bậc như Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng đều bị vứt bỏ, không đáng để noi theo sao?”
Mâu Tử đáp: “Thấy rộng thì không lầm, nghe thông thì không hoặc. Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng tu sửa việc đời; Phật và Lão Tử giữ chí vô vi. Trọng Ni bôn ba hơn bảy mươi nước, Hứa Do nghe nhường ngôi liền rửa tai bên vực sâu. Đạo của quân tử, hoặc xuất thế hoặc xử thế, hoặc im lặng hoặc nói năng, không để tràn trề cái tình, không buông thả cái tính. Cho nên cái quý của đạo là ở chỗ vận dụng phù hợp, có gì mà phải vứt bỏ đâu?”
Hỏi: “Phật đạo nói: Người chết rồi sẽ lại đầu thai sinh ra đời khác. Tôi không tin điều này là xác thực.”
Mâu Tử đáp: “Người sắp chết, người nhà trèo lên nóc nhà hú gọi. Người đã chết rồi, lại gọi ai?” Người kia đáp: “Gọi hồn phách của người đó”. Mâu Tử nói: “Thần hồn quay về thì sống, không quay về thì thần hồn đi đâu?” Đáp: “Thành quỷ thần”. Mâu Tử nói: “Đúng thế. Hồn thần vốn không diệt, chỉ có thân xác tự mục nát mà thôi. Thân xác ví như gốc lá của ngũ cốc, hồn thần như hạt giống của ngũ cốc; gốc lá mọc lên ắt phải chết, hạt giống há lại có lúc mất đi sao? Kẻ đắc đạo thì thân diệt mà thôi. Lão Tử nói: ‘Ta sở dĩ có nỗi lo lớn, là vì ta có thân; nếu ta không có thân, ta còn lo gì?’. Lại nói: ‘Công thành danh toại, thân lui về, ấy là đạo trời vậy’.”
Có người hỏi: “Tu đạo cũng chết, không tu đạo cũng chết, có gì khác biệt đâu?”
Mâu Tử đáp: “Đây gọi là kẻ không có nổi một ngày làm thiện mà lại đòi hỏi tiếng thơm suốt đời vậy. Người có đạo tuy chết, thần hồn về nhà phúc; kẻ làm ác đã chết, thần hồn chịu tai ương. Kẻ ngu muội tăm tối khi việc đã thành, người hiền trí dự tính từ khi chưa nảy mầm. Người có đạo và không có đạo, như vàng so với cỏ; điều thiện cùng niềm phúc, như sắc trắng đối với sắc đen. Sao lại không khác biệt, mà lại bảo có gì khác đâu?”
Hỏi: "Khổng Tử nói: 'Chưa biết thờ người, sao biết thờ quỷ?', 'Chưa biết việc sống, sao biết việc chết?'. Đây là những điều Thánh nhân ghi chép. Nay nhà Phật lại hay nói chuyện sống chết, việc quỷ thần, đây hẳn không phải lời của bậc Thánh triết. Người hành đạo nên hư vô điềm đạm, giữ chí chất phác. Cớ sao lại bàn chuyện sống chết làm loạn tâm chí, thuyết chuyện quỷ thần là việc dư thừa?"
Mâu Tử đáp: "Lời ông nói là thấy vẻ ngoài mà chưa hiểu bên trong. Khổng Tử ghét Tử Lộ không hỏi gốc ngọn nên mới dùng lời đó ức chế mà thôi. Hiếu Kinh nói: 'Lập tông miếu để quỷ hưởng tế; xuân thu cúng tế theo thời mà tưởng nhớ'. Lại nói: 'Lúc sống thờ bằng lòng yêu kính, khi chết thờ bằng nỗi đau buồn'. Há chẳng phải dạy người thờ quỷ thần, biết chuyện sống chết sao! Chu Công vì vua Vũ Vương mà khấn xin mệnh rằng: 'Đán này đa tài đa nghệ, có thể thờ phụng quỷ thần'. Ấy là vì việc gì! Chuyện sống chết mà kinh Phật nói đến há chẳng phải cùng loại đó sao? Lão Tử nói: 'Biết con mình lại giữ lấy mẹ mình, suốt đời không nguy'. Lại nói: 'Dùng hào quang trở về sự sáng suốt, không để thân bị tai ương'. Đây là hướng đến của đạo sống chết, nơi trú ngụ của cát hung. Chỗ yếu cốt của chí đạo thực quý ở lặng lẽ, nhà Phật há lại thích nói sao? Chẳng qua vì ông hỏi nên không thể không đáp vậy! Chuông trống há tự kêu? Do dùi đánh vào mới có tiếng đó."
Hỏi: "Khổng Tử nói: 'Người Di Địch có vua, không bằng các nước Hoa Hạ mất vua'. Mạnh Tử chê Trần Tương đổi sang học thuật của Hứa Hành rằng: 'Ta nghe dùng Hoa Hạ biến đổi Di Địch, chưa nghe dùng Di Địch biến đổi Hoa Hạ'. Ông từ lúc trẻ học đạo Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng, nay lại vứt bỏ mà học thuật Di Địch, chẳng phải là lầm lạc lắm sao?"
Mâu Tử đáp: "Đây là những lời lẽ lúc tôi chưa hiểu đại đạo mà thôi. Ông có thể nói là thấy cái hoa mỹ của lễ chế mà tăm tối trước cái thực của đạo đức; nhìn ánh sáng đuốc đèn mà chưa thấy mặt trời nơi thiên đình. Lời Khổng Tử nói là để sửa phép đời. Lời Mạnh Kha nói là vì ghét sự chuyên nhất. Xưa Khổng Tử muốn sang ở đất Cửu Di, nói rằng: 'Quân tử ở đó thì có gì là hèn lậu?'. Đến như lúc Trọng Ni không được dùng ở Lỗ, Vệ; Mạnh Kha không được dùng ở Tề, Lương, há lại sang làm quan cho Di Địch sao? Vũ xuất thân từ Tây Khương mà là bậc Thánh triết, Cổ Sưu sinh ra Thuấn mà là kẻ ngu ngoan, Do Dư sinh ở nước Địch mà giúp Tần xưng bá, Quản Sái từ vùng Hà Lạc mà gieo lời phao tin. Truyện nói: 'Sao Bắc Thần ở giữa trời, ở phía Bắc của người'. Nhìn từ đó thì đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời. Kinh Phật nói khắp trên dưới vòng quanh, loài có máu thịt đều thuộc về Phật. Thế nên tôi tôn sùng mà học theo, việc gì phải bỏ đạo Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng? Vàng ngọc không hại nhau, ngọc tùy ngọc bích không ngăn nhau, bảo người là lầm lạc, thì chính mình đang tự lầm lạc vậy."
Hỏi: "Lấy của cải của cha cho người đi đường thì không thể gọi là ban ơn; cha mẹ còn sống mà giết mình thay người thì không thể gọi là nhân. Nay kinh Phật chép: Thái tử Tu Đại lấy của cải của cha bố thí cho người phương xa; lấy voi báu của nước tặng kẻ thù; đem cả vợ con cho người khác. Không kính cha mẹ mà kính người ngoài gọi là nghịch lễ; không yêu cha mẹ mà yêu người ngoài gọi là nghịch đức. Tu Đại bất hiếu bất nhân mà nhà Phật tôn thờ, há chẳng lạ lùng sao!"
Mâu Tử đáp: "Nghĩa trong Ngũ Kinh là lập con trưởng. Văn Vương thấy chí của Cơ Xương nên chuyển ngôi đích cho con thứ, rốt cuộc thành nghiệp nhà Chu, đạt đến thái bình. Nghĩa cưới vợ là phải thưa cha mẹ; vua Thuấn không thưa mà cưới để thành đại luân. Kẻ sĩ trinh tiết chờ sính lễ, hiền thần đợi trưng triệu; Y Doãn vác vạc đến gặp vua Thang, Ninh Thích gõ sừng trâu tìm gặp Tề Hoàn Công; Thang nhờ đó mà vương, Tề nhờ đó mà bá. Lễ dạy: 'Trai gái không trao nhận trực tiếp, nhưng chị dâu đuối nước thì phải đưa tay ra cứu'. Ấy là tùy quyền khi cấp bách. Nếu thấy cái lớn thì không câu nệ cái nhỏ, bậc đại nhân há lại câu nệ lẽ thường! Tu Đại thấy đời vô thường, tài vật không phải kho báu của mình, nên tự ý bố thí để thành đại đạo. Nước của cha được hưởng phúc, quân thù không dám xâm phạm; đến khi thành Phật, cha mẹ anh em đều được độ thoát. Nếu đó không phải hiếu, không phải nhân, thì ai là người nhân hiếu?"
Hỏi: "Phật đạo trọng vô vi, vui bố thí, giữ giới luật, nơm nớp như đứng bên vực sâu. Nay Sa-môn ham mê rượu chè, hoặc nuôi vợ con, mua rẻ bán đắt, chuyên làm việc dối trá, đó là sự giả dối lớn trong đời, mà Phật đạo gọi là vô vi sao?"
Mâu Tử đáp: "Công Thâu Ban có thể cho người ta rìu đục dây mực, nhưng không thể khiến người ta thành thợ giỏi; Thánh nhân có thể truyền đạo cho người, nhưng không thể bắt họ phải thực hành đúng. Cao Dao có thể trị tội kẻ trộm, nhưng không thể khiến kẻ tham thành như Bá Di, Thúc Tề; ngũ hình có thể giết kẻ vô đạo, nhưng không thể khiến đứa con ác thành như Tăng Sâm, Mân Tử Khiên. Vua Nghiêu không hóa được Đan Chu, Chu Công không dạy được Quản Sái, há là do giáo hóa thời Đường không hiển, đạo nhà Chu không đủ sao? Chẳng qua là không làm gì được kẻ ác vậy. Ví như người đời học thông Thất Kinh mà mê đắm tài sắc, thì có thể gọi Lục Nghệ là tà dâm sao? Hà Bá tuy linh thiêng nhưng không dìm chết người trên đất bằng; gió lốc tuy nhanh nhưng không thể khiến bụi bay dưới nước sâu. Đáng lo là người không thực hành được đạo, sao có thể bảo Phật đạo có điều ác?"
Hỏi: "Khổng Tử khen: 'Xa hoa thì không khiêm tốn, tiết kiệm thì cố chấp, thà cố chấp còn hơn không khiêm tốn'. Thúc Tôn nói: 'Tiết kiệm là sự cung kính của đức, xa xỉ là cái lớn của ác'. Nay nhà Phật dốc hết tài sản để bố thí, đem hết của cải cho người là quý, liệu có phúc chăng?"
Mâu Tử đáp: "Đó là một thời, đây là một thời. Lời của Trọng Ni là ghét sự xa hoa vô lễ; luận của Thúc Tôn là châm chọc việc chạm trổ cột nhà. Chứ không phải cấm bố thí. Vua Thuấn cày núi Lịch, ơn không đến được xóm giềng; Thái Công mổ trâu, huệ không đến được vợ con. Đến khi được trọng dụng, ơn lưu tám cõi, huệ ban bốn biển. Của cải nhiều thì quý ở chỗ biết cho; nghèo khổ túng thiếu thì quý ở chỗ giữ đạo. Hứa Do không tham bốn biển; Bá Di không màng đến nước nhà; Ngu Khanh bỏ phong tước vạn hộ để cứu người lúc khốn cùng; mỗi người một chí vậy. Hi Phụ Cơ nhờ ơn một bữa ăn mà bảo toàn được xóm mình; Tuyên Mạnh vì một bát cơm mà cứu mạng sống quý báu. Ngầm ban ơn thì kín đáo, quả báo hiện ra rạng rỡ như ban ngày. Huống chi dốc của cải nhà phát tâm thiện, công đức ấy sừng sững như núi Tung, núi Thái, mênh mông như sông rộng, biển dài. Người ôm lòng thiện sẽ được hưởng phúc, kẻ gieo điều ác sẽ chịu tai ương, chưa từng có ai trồng lúa mà được mạch, làm họa mà được phúc bao giờ!"
Hỏi: “Việc làm không gì hơn thành thực, lời nói không gì hơn chân thực. Lão Tử bỏ lời hoa mỹ trang sức, sùng bái lời chất phác. Kinh Phật nói không chỉ rõ sự việc, chỉ rộng lấy ví dụ. Ví dụ không phải là điều cốt yếu của đạo, gộp cái khác làm cái giống nhau không phải là cái diệu của sự việc. Tuy lời lẽ nhiều và rộng, nhưng như một xe mảnh ngọc vụn, không thể coi là báu vật.”
Mâu Tử đáp: “Sự việc thường cùng thấy thì có thể nói bằng sự thực. Một người thấy một người không thấy thì khó nói bằng lời thành thực vậy. Xưa có người chưa thấy con lân, hỏi người từng thấy: Lân thuộc loại nào? Người thấy nói: Lân giống như con lân vậy. Người hỏi nói: Nếu tôi từng thấy lân thì đã không hỏi ông; nay ông nói lân như lân, sao mà hiểu được? Người thấy bèn nói: Lân thân giống mễn, đuôi bò, móng nai, lưng ngựa. Người hỏi liền hiểu ra. Khổng Tử nói: ‘Người ta không biết mà không giận, chẳng phải quân tử sao!’. Lão Tử nói: ‘Khoảng giữa trời đất há như ống thụt bễ sao?’. Lại nói: ‘Ví Đạo trong thiên hạ như sông khe với sông biển, há lại hoa mỹ trang sức sao?’. Luận Ngữ nói: ‘Vì chính bằng đức, ví như sao Bắc Thần’. Ấy là dẫn trời để ví với người vậy. Tử Hạ nói: ‘Ví như các loài cỏ cây, phân khu để phân biệt vậy’. Ba trăm bài thơ kéo vật hợp loại, cho đến chư tử sấm vĩ, điều bí yếu của thánh nhân, không gì không dẫn dụ lấy ví dụ. Sao ông lại một mực ghét việc kinh Phật nói hay dùng ví dụ chứ?”
Hỏi: “Con người ở đời, không ai không thích phú quý mà ghét nghèo hèn, vui sướng an dật mà sợ lao nhọc mỏi mệt. Hoàng Đế nuôi tính, lấy năm món ăn làm trọng. Khổng Tử nói: ‘Cơm không chê tinh, gỏi không chê thái nhỏ’. Nay Sa-môn khoác vải đỏ, ngày ăn một bữa, đóng sáu tình, tự khép mình ở đời. Như thế thì có gì là vui sống?”
Mâu Tử đáp: “Giàu và sang là điều người ta muốn, nhưng không dùng đạo mà được thì không ở vậy. Nghèo và hèn là điều người ta ghét, nhưng không dùng đạo mà được thì không bỏ vậy. Lão Tử nói: ‘Năm màu khiến người ta mù mắt, năm âm khiến người ta điếc tai, năm vị khiến người ta tê lưỡi. Ruổi ngựa săn bắn khiến lòng người phát cuồng, của cải khó được khiến hành vi bị tổn hại. Cho nên thánh nhân vì bụng không vì mắt’. Phương thuốc này há luống suông sao! Liễu Hạ Huệ không vì ngôi Tam công mà đổi hành vi của mình; Đoạn Can Mộc không vì thân mình mà đổi lấy cái giàu của Ngụy Văn Hầu; Hứa Do, Sào Phủ làm tổ trên cây mà ở, tự cho là yên ổn hơn cung điện đế vương; Di Tề nhịn đói ở núi Thủ Dương, tự cho là no đủ hơn thời Văn Vũ. Ấy là mỗi người đều được chí của mình mà thôi. Có gì là không vui sống?”
Hỏi: “Nếu kinh Phật sâu nhiệm đẹp đẽ như thế, sao ông không bàn luận nơi triều đình, luận bàn với quân phụ, sửa trị nơi khuê môn, tiếp đãi nơi bạn bè? Sao lại còn học kinh truyền, đọc chư tử làm gì?”
Mâu Tử đáp: “Chưa thấu nguồn của nó mà đã hỏi dòng của nó vậy. Kế bày thớt cúng nơi cửa lũy, dựng cờ xí nơi triều đường, mặc áo lông cáo để đón tiết Nhuy tân, khoác vải thưa để chống tiết Hoàng chung, không phải là không đẹp, nhưng trái chỗ sai thời vậy. Cho nên giữ thuật của Khổng Tử vào cửa Thương Ưởng, mang thuyết của Mạnh Kha đến sân Tô Trương, công không được phân tấc mà tội có trượng xích vậy. Lão Tử nói: ‘Bậc thượng sĩ nghe đạo, chăm chỉ hành trì; bậc trung sĩ nghe đạo, như còn như mất; bậc hạ sĩ nghe đạo, cười lớn một tiếng’. Tôi sợ tiếng cười lớn ấy nên không bàn luận vậy. Khát không nhất thiết phải đợi sông dài, mà uống nước giếng suối, có gì là không no đủ? Vì vậy tôi mới trị lại kinh truyền vậy.”
Hỏi: "Đất Hán bắt đầu nghe đạo Phật từ đâu mà ra?"
Mâu Tử đáp: "Xưa Hiếu Minh Hoàng đế mộng thấy thần nhân, thân có ánh sáng mặt trời, bay trước điện. Vua hớn hở vui mừng. Hôm sau hỏi khắp quần thần: Đây là vị thần nào? Có người uyên bác là Phó Nghị thưa: 'Thần nghe ở Thiên Trúc có người đắc đạo hiệu là Phật, bay đi trên hư không, thân có ánh sáng mặt trời, hẳn là vị thần ấy vậy'. Thế là vua tỉnh ngộ, sai Trung lang Thái Âm, Vũ lâm lang trung Tần Cảnh, bác sĩ đệ tử Vương Tuân cùng mười tám người đến nước Đại Nguyệt Chi, chép kinh Phật bốn mươi hai chương, cất ở gian thứ mười bốn trong thạch thất Lan Đài. Bấy giờ ở ngoài cửa Ung môn phía tây thành Lạc Dương xây chùa Phật, trên vách vẽ nghìn xe muôn ngựa nhiễu tháp ba vòng. Lại ở đài Thanh Lương trong Nam Cung và trên cửa thành Khai Dương làm tượng Phật. Minh Đế khi còn sống tự xây sẵn thọ lăng, gọi là Hiển Tiết, cũng ở trên đó làm hình vẽ Phật. Bấy giờ nước giàu dân an, di địch phương xa mến nghĩa. Người học từ đó mà thêm đông."
Hỏi: “Lão Tử nói: ‘Người biết không nói, người nói không biết’. Lại nói: ‘Khéo biện như nói ngọng, khéo léo như vụng về’. Quân tử hổ thẹn vì lời nói quá hành vi, giả sử Sa-môn có chí đạo, sao không ngồi đó mà hành trì? Sao lại còn bàn luận thị phi phân định cong thẳng? Tôi cho rằng, đây là kẻ tặc hại đức hạnh.”
Mâu Tử đáp: “Mùa xuân tới gặp năm đói lớn, mùa thu này không ăn; tiết Hoàng chung đáng lạnh, tiết Nhuy tân lại mặc áo lông dày. Đề phòng tuy sớm nhưng không tránh khỏi ngu xuẩn. Lời Lão Tử nói là chỉ người đắc đạo vậy. Người chưa đắc đạo thì biết gì mà nói! Đại đạo một lời mà thiên hạ vui mừng, há chẳng phải đại biện sao? Lão Tử há chẳng nói: ‘Công toại thân thoái, đạo trời vậy’ đó sao. Thân đã thoái rồi, còn nói gì nữa! Nay Sa-môn chưa kịp đắc đạo, sao được không nói? Lão Tử cũng vẫn nói đó thôi. Nếu như không nói, năm ngàn chữ chép việc gì? Nếu biết mà không nói thì được; đã không thể biết lại không thể nói, ấy là người ngu vậy. Cho nên, nói được không hành được là thầy của nước; hành được không nói được là đồ dùng của nước; hành được nói được là báu vật của nước. Ba hạng mỗi hạng có chỗ dùng, sao lại là tặc hại đức hạnh? Chỉ có kẻ không nói được lại không hành được, mới gọi là tặc vậy.”
Hỏi: “Như lời ông nói, thì chỉ nên học biện đạt, tu ngôn luận; há lại còn sửa tình tính, xỏ giày đi theo đạo đức sao?”
Mâu Tử đáp: “Sao khó hiểu đến thế vậy! Lời nói đàm luận, mỗi lúc một khác. Cừ Viện nói: ‘Nước có đạo thì ra giúp thẳng, nước không đạo thì cuốn cuốn mà giấu đi’. Ninh Vũ Tử nước có đạo thì khôn, nước không đạo thì ngu. Khổng Tử nói: ‘Có thể nói cùng mà không nói cùng, mất người; không thể nói cùng mà nói cùng, mất lời’. Cho nên khôn ngu tự có thời, đàm luận mỗi đường có ý, cớ sao khi đáng ngôn luận lại không hành trì?”
Hỏi: “Sao nói đạo Phật chí tôn, chí khoái, vô vi, điềm đạm? Người đời và học sĩ nhiều kẻ báng bổ chê bai rằng: Lời thuyết của nó trống rỗng khó dùng, hư vô khó tin, là sao?”
Mâu Tử đáp: “Vị ngon nhất không hợp với miệng đám đông, tiếng lớn không vừa với tai đám đông. Trỗi nhạc Hàm trì, bày nhạc Đại chương; phát nhạc Tiêu thiều, ca bài Cửu thành; không ai họa theo cả. Gảy khúc đàn Trương, Trịnh, Vệ, là âm thanh thời tục, tất không hẹn mà vỗ tay rầm rập. Cho nên Tống Ngọc nói: ‘Khách hát ở đất Dĩnh, làm khúc Hạ lý, người họa theo có nghìn người. Dẫn điệu Thương kích điệu Giác, đám đông không ai ứng theo’. Đây đều là kẻ vui tiếng tà, không hiểu đại độ vậy. Hàn Phi lấy cái thấy qua ống tre mà trách Nghiêu Thuấn; Tiếp Dư lấy cái phân biệt sợi lông mảy mà mỉa mai Trọng Ni; đều là kẻ mê cái nhỏ mà bỏ qua cái lớn vậy. Kẻ nghe điệu Thanh thương mà bảo là điệu Giác, không phải lỗi của người gảy đàn, mà tại người nghe không thông vậy. Thấy ngọc Hòa bích mà gọi là hòn đá, không phải ngọc hèn, mà tại người nhìn không sáng vậy. Rắn thần có thể đứt rồi lại nối, nhưng không thể khiến người ta không chặt đứt nó; rùa thiêng báo mộng cho Tống Nguyên Công, nhưng không lánh khỏi lưới của Dự Thư. Đại đạo vô vi, không phải cõi tục nhìn thấy được. Không vì người khen mà quý, không vì người chê mà hèn, dùng hay không dùng là tự trời vậy! Hành hay không hành là tại thời vậy! Tin hay không tin là cái mệnh vậy!”
Hỏi: “Ông dùng kinh truyền để luận giải lời Phật, lời lẽ phong phú mà nghĩa lý hiển hiện, văn phong sắc sảo mà lý luận đẹp đẽ. Chẳng hay đó có phải là không từ lòng thành, mà chỉ là tài biện bác của ông sao?”
Mâu Tử đáp: “Không phải cái biện của tôi, mà vì thấy rộng nên không lầm lẫn vậy.”
Hỏi: “Thấy rộng có phương thuật gì chăng?”
Mâu Tử đáp: “Nhờ vào kinh Phật vậy. Khi tôi chưa hiểu kinh Phật, lòng còn mê muội hơn ông. Tuy tụng Ngũ Kinh nhưng chỉ coi đó là hoa mỹ, chưa thành quả thực. Từ khi tôi xem lời thuyết của kinh Phật, duyệt qua điều cốt yếu của Lão Tử, giữ tính khí điềm đạm, xem hành vi vô vi, nhìn lại việc đời như đứng bên giếng trời mà nhìn xuống khe núi, lên núi Tung núi Thái mà nhìn xuống gò đống vậy. Ngũ Kinh là năm vị, Phật đạo là năm ngũ cốc vậy. Tôi từ khi nghe đạo đến nay, như gạt mây thấy mặt trời, cầm đuốc lớn vào phòng tối vậy.”
Hỏi: “Ông nói kinh như sông biển, văn như gấm vóc, sao không dùng kinh Phật để đáp lời tôi hỏi, mà lại dẫn Kinh Thi, Kinh Thư, gộp cái khác làm cái giống nhau?”
Mâu Tử đáp: “Người khát không nhất thiết phải đợi sông biển mới uống, người đói không nhất thiết phải đợi kho vựa mới no. Đạo mở cho người trí, biện thông cho người đạt, sách truyền cho người hiểu, việc sáng cho người thấy. Tôi vì biết ông hiểu ý đó nên dẫn việc đó. Nếu nói lời kinh Phật, bàn điều cốt yếu của vô vi, thì ví như đối với người mù mà nói năm màu, vì người điếc mà gảy năm âm vậy. Sư Khoáng dù khéo không thể gảy cây đàn không dây, lông cáo dù ấm không thể làm nóng người không còn khí. Công Minh Nghi vì trâu gảy khúc Thanh giác, trâu vẫn cúi đầu ăn cỏ như cũ, không phải trâu không nghe thấy, mà vì không hợp tai nó vậy. Chuyển sang làm tiếng muỗi mòng, tiếng nghé con độc nhất, trâu liền vẫy đuôi vểnh tai, đi thong thả mà nghe. Thế nên tôi dùng Kinh Thi, Kinh Thư để lý giải với ông vậy.”
Hỏi: “Tôi xưa ở kinh sư, vào Đông Quán chơi Thái Học, xem điều các bậc tuấn sĩ quy định, nghe điều chốn nho lâm luận bàn. Chưa từng nghe việc tu Phật đạo là quý, tự hủy hoại dung mạo là cao thượng. Ông cớ sao lại say mê thế? Phải chăng đi lầm đường thì đổi lối, học thuật cùng thì quay về cội cũ, há không thể nghĩ lại sao?”
Mâu Tử đáp: “Kẻ giỏi biến hóa không thể cho xem sự dối trá, người thông suốt đạo không thể làm kinh hãi bằng sự quái dị, kẻ xét kỹ lời không thể làm mê hoặc bằng ngôn từ, người đạt thấu nghĩa không thể làm lay động bằng lợi lộc vậy. Lão Tử nói: ‘Danh là cái hại của thân, lợi là cái uế của hạnh’. Lại nói: ‘Bày dối trá lập quyền biến, hư vô tự làm quý’. Tu sửa lễ thuật chốn khuê môn, giao tế theo thời tục; tìm đến chỗ xu hướng, nắm lấy thời cơ, cốt để hợp với đương thế; đó là việc làm của kẻ hạ sĩ, là điều bậc trung sĩ vứt bỏ vậy. Huống chi đại đạo thênh thang, là việc hành trì của bậc thượng thánh sao? Sâu thẳm như trời, thăm thẳm như biển, không hợp với kẻ ghé mắt nhìn tường, hạng người tầm thường, vốn là lẽ đương nhiên vậy. Họ nhìn thấy cửa, tôi thấy nhà; họ hái hoa của nó, tôi lấy quả của nó; họ cầu cái đầy đủ, tôi giữ cái duy nhất. Ông hãy mau đổi đường, còn tôi xin bước tiếp. Nguồn gốc của họa phúc, chưa biết thế nào đâu!”
Hỏi: “Ông dùng lời lẽ kinh truyền, thuyết khoa trương hoa lệ để khen ngợi hạnh Phật, ca tụng đức Phật. Cao thì vượt tầng mây trong, rộng thì hơn bờ cõi đất, chẳng hay có vượt quá cái gốc, quá cái thực của nó sao? Còn tôi chê bai trách cứ, lại khá trúng vào căn bệnh của nó vậy.”
Mâu Tử đáp: “Ôi! Sự ca tụng của tôi như đem hạt bụi dính vào núi Tung núi Thái, gom giọt sương mai đổ vào sông biển. Sự báng bổ của ông như cầm bầu múc nước muốn làm giảm sông biển; dắt cày cuốc muốn làm mòn núi Côn Lôn; nghiêng một bàn tay muốn che ánh mặt trời; hốt cục đất muốn lấp dòng sông lớn. Sự ca tụng của tôi không thể làm Phật cao lên, sự hủy báng của ông không thể làm Phật thấp xuống vậy.”
Hỏi: “Vương Kiều, Xích Tùng vào sổ thần tiên, sách thần có một trăm bảy mươi quyển. Chuyện trường sinh ấy với kinh Phật há giống nhau sao?”
Mâu Tử đáp: “So sánh loại đó như Ngũ bá so với Ngũ đế, Dương Hóa so với Trọng Ni; so sánh hình thể ấy như gò đống so với núi Hoa núi Hằng, dòng nước nhỏ so với sông biển; so sánh văn phong ấy như da hổ trơn so với da cừu, hoa văn rực rỡ so với gấm vóc vậy. Đạo có chín mươi sáu thứ, đến như tôn đại không gì hơn Phật đạo. Sách thần tiên nghe thì tràn ngập bên tai, nhưng tìm hiệu quả của nó thì như nắm gió bắt bóng. Thế nên đại đạo không chọn, vô vi không quý, sao có thể giống nhau được!”
Hỏi: “Người tu đạo có kẻ tịch cốc không ăn mà lại uống rượu ăn thịt, cũng nói là phương thuật của Lão thị. Thế nhưng Phật đạo lấy rượu thịt làm giới luật hàng đầu, mà ngược lại ăn ngũ cốc. Sao lại trái ngược nhau như thế?”
Mâu Tử đáp: “Các đạo vụn vặt có tất cả chín mươi sáu thứ. Điềm đạm vô vi không gì hơn Phật. Tôi xem hai thiên thượng hạ của Lão thị, nghe có giới cấm năm vị, chưa thấy có lời nào tuyệt ngũ cốc. Thánh nhân chế định văn tự trong Thất điển không có thuật dừng ăn lương thực. Lão Tử viết năm ngàn chữ không có việc tịch cốc. Thánh nhân nói: Ăn ngũ cốc thì trí, ăn cỏ thì si, ăn thịt thì hung bạo, ăn khí thì thọ. Người đời không đạt việc đó, thấy sáu loài chim muông đóng khí không thở, mùa thu mùa đông không ăn, liền muốn bắt chước làm theo. Không biết vật loại mỗi thứ tự có tính riêng, như đá nam châm hút sắt, không thể hút nổi sợi lông mảy vậy.”
Hỏi: “Ngũ cốc có thể tuyệt được không?”
Mâu Tử đáp: “Khi tôi chưa hiểu đại đạo cũng từng học qua. Phép tịch cốc có hàng ngàn hàng trăm thuật, hành trì không hiệu quả, làm mà không có chứng nghiệm, nên bỏ đi mà thôi. Xem các thầy tôi theo học, gồm ba người, kẻ tự xưng bảy trăm, năm trăm, ba trăm tuổi. Nhưng tôi theo học chưa đầy ba năm, họ đều lần lượt qua đời. Sở dĩ như thế là vì tuyệt ngũ cốc không ăn mà lại ăn trăm quả, gặp thịt thì bày đầy mâm, uống rượu thì nghiêng vò; tinh loạn thần hôn, cốc khí không đầy; tai mắt mê muội, dâm tà không cấm. Tôi hỏi cớ sao? Họ đáp: ‘Lão Tử nói: bớt rồi lại bớt để đến mức vô vi, chỉ nên ngày ngày bớt đi mà thôi’. Nhưng tôi xem ra, họ chỉ ngày càng tăng lên chứ không bớt đi, thế nên đều chưa đến tuổi biết mệnh đã chết rồi. Vả lại Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng đều không sống được trăm năm, mà kẻ ngu hoặc đời sau lại muốn uống thuốc tịch cốc, cầu tuổi thọ khôn cùng, thương thay!”
Hỏi: “Người tu đạo nói có thể đẩy lùi tật bệnh không đau, không dùng châm thuốc mà khỏi. Có chuyện đó không? Sao nhà Phật có bệnh lại dùng châm thuốc?”
Mâu Tử đáp: “Lão Tử nói: ‘Vật tráng thì già, gọi là không hợp đạo’. Không hợp đạo thì sớm hết, chỉ có người đắc đạo là không sinh. Không sinh thì không tráng, không tráng thì không già, không già thì không bệnh, không bệnh thì không mục nát. Thế nên Lão Tử lấy thân làm nỗi lo lớn vậy. Vũ Vương nằm bệnh, Chu Công cầu mệnh; Trọng Ni có bệnh, Tử Lộ xin cầu đảo. Tôi thấy thánh nhân đều có bệnh cả, chưa thấy ai không bệnh vậy. Thần Nông nếm cỏ suýt chết mấy mươi lần; Hoàng Đế cúi đầu nhận châm nơi Kỳ Bá. Ba vị thánh nhân này há lại không bằng các đạo sĩ ngày nay sao? Xét kỹ lời này cũng đủ để bỏ thuyết đó rồi.”
Hỏi: “Đạo đều vô vi là một. Sao ông lại phân biệt sắp đặt, nói là có khác biệt? Lại khiến người học đâm ra hồ nghi, tôi cho là tốn công mà không có ích.”
Mâu Tử đáp: “Đều gọi là cỏ nhưng tính của muôn cỏ không thể nói hết; đều gọi là kim loại nhưng tính của các kim loại không thể nói hết. Cùng loài khác tính, vạn vật đều như vậy, há chỉ có đạo đâu? Xưa Dương, Mặc chắn đường của quần nho, xe không thể tiến trước, người không thể bước đi. Mạnh Kha bác bỏ họ, người ta mới biết chỗ theo. Sư Khoáng gảy đàn đợi tri âm ở đời sau; thánh nhân lập pháp mong quân tử sẽ nhìn thấy vậy. Ngọc đá cùng hòm, Y Đốn vì thế đổi sắc mặt; màu đỏ màu tía lẫn lộn, Trọng Ni vì thế thở dài. Mặt trời mặt trăng không phải không sáng, tại muôn cái tối che khuất ánh sáng; Phật đạo không phải không chính, tại muôn cái tư che lấp cái công. Thế nên tôi phân chia mà khác biệt đi. Cái trí của Tang Văn, cái thẳng của Vi Sinh mà Trọng Ni không khen ngợi, đều là lời nói để sửa chính cho đời, sao lại tốn công mà không có ích?”
Hỏi: “Ông chê thần tiên, dập quái dị, không tin có đạo bất tử là đúng rồi. Cớ sao lại chỉ tin Phật đạo sẽ được độ thế? Phật ở cõi khác, chân ông chưa từng đạp đến đất đó, mắt không thấy nơi đó, chỉ xem văn tự của Ngài mà tin hành vi của Ngài. Kẻ xem hoa không thể biết quả, người nhìn bóng không thể xét hình, hẳn là không chân thực sao?”
Mâu Tử đáp: “Khổng Tử nói: ‘Xem việc họ làm, xét do đâu họ làm, rõ chỗ họ an tâm, người ta giấu vào đâu được’. Xưa Lã Vọng, Chu Công hỏi về việc thi chính, đều biết kết cục về sau của nước kia. Ngày Nhan Uyên xem xe bốn ngựa chạy, thấy cách đánh xe của Đông Dã Tất liền biết xe sẽ đổ. Tử Cống xem cuộc hội thề Chu Lỗ, biết rõ lý do nước họ sẽ mất. Trọng Ni nghe tiếng đàn của Sư Khoáng mà nhận ra khúc dạo của Văn Vương. Quý Tử nghe nhạc mà xem được phong tục các nước. Cần gì phải chân đạp mắt thấy chứ?”
Hỏi: "Tôi từng đi chơi nước Vu Điền, nhiều lần gặp các Sa-môn đạo nhân, lấy việc của tôi để chất vấn họ, họ đều không đối đáp được mà cáo lui. Nhiều người đổi chí dời ý, sao một mình ông khó cải cách vậy?"
Mâu Tử đáp: "Lông nhẹ ở trên cao gặp gió liền bay; đá nhỏ dưới khe gặp dòng liền chuyển. Chỉ có núi Thái Sơn không vì gió lốc mà lay động, đá tảng không vì dòng nước xiết mà dời đi. Cây mai cây lý gặp sương thì rụng lá, chỉ có tùng bách là khó héo úa vậy. Những đạo nhân ông gặp hẳn là học chưa thấu, thấy chưa rộng, nên mới chịu khuất mà lui thôi. Với cái ngu muội của tôi còn không thể bẻ bẻ được, huống chi là người sáng đạo? Ông không tự sửa mình mà muốn sửa người; tôi chưa từng nghe Trọng Ni đuổi theo Đạo Chích, Thang Vũ bắt chước Kiệt Trụ bao giờ."
Hỏi: “Phương thuật thần tiên mùa thu mùa đông không ăn, hoặc vào phòng mười ngày không ra, có thể gọi là điềm đạm đến cùng cực. Tôi cho là đáng tôn đáng quý, hẳn là Phật đạo không bằng chăng?”
Mâu Tử đáp: “Chỉ Nam làm Bắc tự bảo không lầm; lấy Tây làm Đông tự bảo không mê; lấy chim cú chim diều mà cười chim phượng hoàng; bắt con sâu con giun mà trêu rùa thần rồng thiêng. Con ve không ăn, quân tử không quý; ếch rắn trốn hang, thánh nhân không trọng. Khổng Tử nói: ‘Tính của trời đất con người là quý’. Chưa từng nghe tôn sùng ve rắn vậy. Nhưng người đời vốn có kẻ ăn xương bồ mà bỏ quế gừng, đổ cam lộ mà húp nước giấm vậy. Sợi lông mảy tuy nhỏ nhìn vào có thể xét rõ; núi Thái Sơn tuy lớn quay lưng lại thì không thấy. Chí có đọng lại hay không, ý có sắc bén hay không; nước Lỗ tôn họ Quý hạ Trọng Ni, nước Ngô cho Tể Phỉ là hiền cho Tử Tư là bất tài. Sự nghi ngờ của ông chẳng phải cũng hợp lý sao?”
Hỏi: “Đạo gia nói Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng và bảy mươi hai đệ tử đều không chết mà thành tiên. Phật gia nói người đều phải chết, không ai tránh khỏi. Là sao?”
Mâu Tử đáp: “Đó là lời yêu vọng, không phải lời thánh nhân nói. Lão Tử nói: ‘Trời đất còn không được lâu dài, huống chi là con người?’. Khổng Tử nói: ‘Bậc hiền giả lánh đời, nhân hiếu thường còn’. Tôi duyệt Lục nghệ, xem truyền ký, vua Nghiêu có điềm băng, vua Thuấn có núi Thương Ngô, vua Vũ có lăng Hội Kê, Bá Di, Thúc Tề có mộ Thủ Dương, Văn Vương chưa kịp diệt Trộm mà mất, Vũ Vương không đợi được Thành Vương lớn mà băng, Chu Công có thiên ‘Cải táng’, Trọng Ni có giấc mộng ‘Hai cột’, Bá Ngư chết trước cha, Tử Lộ có lời ‘Bị băm nhỏ’, Bá Ngưu có lời ‘Mệnh vậy thay’, Tăng Tham có lời ‘Mở chân ta xem’, Nhan Uyên có quở trách bất hạnh ngắn mệnh, có ví dụ lúa trổ mà không bông. Đều chép rõ trong kinh điển, là lời chí lý của thánh nhân. Tôi lấy kinh truyền làm chứng, lấy người đời làm nghiệm. Mà bảo là không chết, há chẳng lầm lạc sao?”
Hỏi: “Lời giải của ông thực sự đầy đủ hết cả, vốn không phải điều bọn tôi được nghe. Nhưng lời luận giải của ông sao chỉ dừng ở đúng ba mươi bảy điều, cũng có phép tắc gì chăng?”
Mâu Tử đáp: “Cỏ bồng quay lông lốc mà bánh xe thành, gỗ trũng trôi nổi mà thuyền chèo lập. Nhện chăng tơ mà lưới bẫy bày, dấu chân chim hiện mà chữ viết làm ra. Cho nên có phép bắt chước thì thành dễ, không phép bắt chước thì thành khó. Tôi xem điều cốt yếu của kinh Phật có ba mươi bảy phẩm, Đạo kinh của Lão thị cũng có ba mươi bảy thiên, nên bắt chước theo vậy.”
Thế rồi người mê muội nghe xong, bùi ngùi đổi sắc mặt, chắp tay rời chiếu, lui bước cúi đầu thưa: “Bỉ nhân mù lòa sinh nơi tối tăm khuất lấp, dám thốt lời ngu muội, không nghĩ đến họa phúc. Nay được nghe lời dạy, như tuyết tan sạch, xin được đổi lòng, rửa tâm tự răn, nguyện nhận năm giới, làm Ưu-bà-tắc.”
| ||||||||||||||||||||||
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.