Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp/Quyển 01
Địa lý
[sửa]Đất cổ Bách Việt
[sửa]Từ khi Tần Thủy Hoàng 秦皇帝 thống nhất thiên hạ, đã khai phá núi rừng mở đường, bình định vùng Dương Việt 揚粤, lập ra ba quận: Nam Hải 南海, Quế Lâm 桂林, Tượng Quận 象郡. Nay Tây Quảng 西廣 là đất cũ của Tần Quế Lâm 秦桂林, Đông Quảng 東廣 là Nam Hải 南海, còn Giao Chỉ 交阯 là Tượng quận 象郡.
Đến thời Hán Vũ Đế 漢武帝, sau khi bình định Nam Hải, đã tách
- Tần Quế Lâm thành hai quận: Uất Lâm 鬱林 và Thương Ngô 蒼梧
- Tách Tượng quận thành ba: Giao Chỉ 交阯, Cửu Chân 九眞, Nhật Nam 日南.
Lại cắt đất thừa của Nam Hải và Tượng quận lập thành Hợp Phố 合浦. Từ Từ Văn 徐聞 vượt biển, chiếm lấy Hải Nam 海南, lập hai quận: Chu Nhai 朱崖 và Đam Nhĩ 儋耳. Đặt chức Thứ sử 刺史 ở Giao Châu 交州.
Nhà Hán chia làm 9 quận, tuy nhiều hơn thời Tần, nhưng đều do 1 Giao Châu Thứ sử 交州刺史 quản lý. Đến thời Ngô 吳, mới chia làm 2, từ đó danh xưng Giao 交 và Quảng 廣 mới hình thành. Khi ấy Giao và Quảng là 1, trị sở đặt tại Phiên Ngung 番禺.
Đến thời Đường Thái Tông 唐太宗, chia thiên hạ làm 10 đạo, gộp Giao và Quảng làm 1, đặt chức Thái phỏng sứ 採訪使 tại Phiên Ngung 番禺, quy mô vẫn theo Hán, chỉ thay đổi nơi đặt phủ soái. Đến thời Đường Cao Tông 唐高宗, mới đặt An Nam đô hộ phủ 安南都護府 tại Giao Châu 交州.
Đến triều ta, năm Hoàng Hựu 皇祐 (năm 1053), đặt chức An phủ kinh lược sứ 安撫經略使 tại Quế Châu 桂州, từ đó mới có phủ soái Tây đạo. Đến nay, Bát Quế 八桂, Phiên Ngung 番禺, Long Biên 龍編 chia 3 trụ vững vàng, chính là khôi phục lại thế cũ của nhà Tần vậy.
Tam hợp lưu (ba dòng nước hợp lưu)
[sửa]Phía tây nam 4 quận thuộc Hải Nam 海南, có đại dương lớn gọi là Giao Chỉ Dương 交阯洋. Trong đó có nơi gọi là Tam Hợp Lưu 三合流, sóng lớn cuồn cuộn, chia làm 3 nhánh:
- Một nhánh chảy về phía nam, thông ra biển các nước chư phiên 諸蕃國;
- Một nhánh chảy về phía bắc, là biển của Quảng Đông 廣東, Phúc Kiến 福建, Giang Chiết 江浙;
- Một nhánh chảy về phía đông, vào nơi vô tận, gọi là Đông Đại Dương Hải 東大洋海.
Thuyền buôn phương nam đi lại tất phải vượt qua vùng Tam Lưu 三流 này. Nếu gặp gió thuận trong chốc lát thì có thể vượt qua; nếu vào chỗ hiểm mà không có gió, thuyền không thể ra được, tất sẽ tan vỡ trong vùng ba dòng nước ấy.
Nghe truyền rằng ở Đông Đại Dương Hải 東大洋海 có bãi đá và cồn cát dài hàng vạn dặm (Trường Sa Thạch Đường 長砂石塘), là nơi nước xoáy tụ lại, đổ xuống chốn sâu thẳm. Xưa từng có thuyền buôn bị gió tây lớn cuốn đến tận Đông Đại Hải 東大海, nghe tiếng nước xoáy nơi cuối dòng vang dội dữ dội không bờ bến. May gặp gió đông lớn nên mới thoát nạn.
Thiên Uy Dao
[sửa]Sĩ nhân đất Khâm 欽 tên Tằng Quả 曾果 từng tìm được bia đá thời Đường 唐 có tên là Thiên Uy dao bi 天威遙碑 (Thiên oai diêu bi), văn từ biền ngẫu, đích thực là văn Đường.
Nội dung bia ghi rằng: đất Tĩnh Hải quân 靜海軍 ở An Nam 安南 đều giáp biển, ngoài khơi có 3 chỗ hiểm 三險, đá lớn dựng đứng, sóng lớn va vào, đêm tối vang dội dữ dội. Thuyền vận lương phải đi vòng ra biển sâu để tránh. Nếu bị gió đẩy, men theo bờ đá, tất sẽ tan vỡ dưới ba chỗ hiểm ấy.
Trên đất liền có Xuyên Dao 川遙, đá cứng ngăn trở. Xưa Phục Ba 伏波 từng ra công khai phá nhưng không thành. Về sau, các quan thủ nhiều lần muốn khai thông để tiện vận chuyển. Khi vừa đào xuống, lửa bùng sáng rực. Đến thời Cao Biền 高駢 làm Tiết độ sứ 節度使 ở An Nam, trai giới cầu đảo, định thi công. Một đêm mưa lớn, sấm sét liên tục đánh vào chỗ đá suốt nhiều ngày, ai nấy đều nghĩ sẽ bị nhấn chìm. Sau khi trời quang, đá cứng vỡ vụn, nước sâu hơn 1 trượng. Bên cạnh còn một tảng đá chưa vỡ, chưa thể thông thuyền. Cao Biền lại thành tâm cầu đảo, chẳng bao lâu sấm sét lại nổi lên dữ dội, phá nốt tảng đá còn lại, từ đó thành sông lớn. Từ đó, thuyền bè đi lại không còn khó khăn, gọi tên là Thiên Uy Dao 天威遙.
Sau này tra cứu các sách truyện, cũng có ghi việc Thiên Uy Dao, nhưng không chi tiết bằng bia này.[1]
Biên suất
[sửa]Quảng Tây kinh lược An phủ sứ 廣西經略安撫使
[sửa]Thời Hán 漢, phủ soái đặt tại Giao Châu 交州; đến thời Đường 唐, chuyển sang Quảng Châu 廣州. Vào niên hiệu Thiên Bảo 天寶 (của Đường Huyền Tông giai đoạn 742-756), các châu Lĩnh Nam 嶺南 như Quế 桂, Dung 容, Ung 邕, Giao 交 và Quảng 廣 đều thuộc quyền giám sát của Quế Châu thái phóng sứ 桂州採訪使.
Đến thời Đường Chiêu Tông 昭宗, Quế Quản 桂管 được nâng lên thành Tiết độ 節度.
Đời ta, năm Hoàng Hựu 皇祐 (năm 1053), sau khi Nùng Trí Cao 儂智高 bị dẹp yên, triều đình sai Địch Thanh 狄靑 chia Quảng Tây 廣西 thành 3 lộ: Ung 邕, Nghi 宜, Dung 融, dùng võ quan làm tri châu, kiêm chức An phủ đô giám 安撫都監 của bản lộ, đồng thời đặt chức Kinh lược an phủ sứ 經略安撫使 tại Quế Châu 桂州, chọn quan từ hàng Lưỡng chế 兩制 trở lên làm tri châu, kiêm lãnh chức vụ này.
Từ đó, Bát Quế 八桂 trở thành phủ lớn trấn giữ phía tây. Về sau, bỏ 3 lộ Ung 邕, Nghi 宜, Dung 融 thành châu, quan thủ ở Tuyên 宣, Dung 融 kiêm chức Binh mã đô giám 兵馬都監 của bản lộ; quan thủ Ung Châu 邕州 kiêm chức An phủ đô giám 安撫都監.
Các quan thủ biên giới đều kiêm chức Khê động đô tuần kiểm sứ 溪峒都巡檢使, tất cả đều thuộc quyền của Kinh lược an phủ sứ 經略安撫使. Phủ soái bên trong quản trọng trách của vài chục châu phía tây nam, bên ngoài trấn giữ hàng trăm bộ tộc man di, quyền hành không thể không lớn.
Các châu thuộc Quảng Tây 廣西, hễ có việc biên giới, không trình lên Hiến 憲 hay Tào 漕, mà chỉ trình lên Kinh lược ty 經略司 — đó là chế độ xưa của Thiểm Tây 陝西 vậy.
Ung Châu kiêm Quảng Tây lộ An phủ đô giám 邕州兼廣西路安撫都監
[sửa]Từ khi nhà Đường 唐 chia thiên hạ làm 10 đạo, hai Quảng 廣 chưa phân Đông Tây. Đến thời Thiên Bảo 天寶, mới đặt chức Kinh lược sứ 經略使 tại Ung Châu 邕州; thời Đường Ý Tông 唐懿宗, nâng Ung Quản 邕管 thành Tiết độ sứ 西道節度使 của Tây đạo.
Đến triều ta, năm Hoàng Hựu 皇祐 (năm 1053), sau khi Nùng Trí Cao 儂智高 bị dẹp yên, triều đình sai Địch Thanh 狄靑 chia Quảng 廣, Ung 邕, Nghi 宜, Dung 融 thành 3 lộ, quan thủ mỗi lộ kiêm chức Binh mã đô giám 兵馬都監, và đặt Kinh lược an phủ sứ 經略安撫使 tại Quế Châu 桂州 để thống lĩnh.
Hiện nay, quan thủ Ung Châu 邕州 kiêm chức An phủ đô giám 安撫都監 của bản lộ, châu này là Tiết độ của Kiến Vũ quân 建武軍節度. Có hai con sông: Tả Giang 左江 ở phía nam, giáp với nước An Nam 安南國; Hữu Giang 右江 ở tây nam, giáp với Lục Chiếu 六詔 và các bộ tộc man di 諸蠻.
Giữa hai sông có hơn 60 châu động thuộc quản chế ki mi 羈縻, dùng làm vùng đệm nội địa, đặt thường trú 5.000 quân để trấn giữ. Hễ nước An Nam 安南 hay Lục Chiếu 六詔, chư Man 諸蠻 có việc biên giới, tất phải thông qua Ung Châu 邕州; việc biên sự mà Kinh lược an phủ sứ 經略安撫使 cần hỏi, cũng chỉ trông cậy vào Ung Châu.
Chính sách ngựa của triều đình ở phương nam đều do Ung Châu phụ trách. Các vật phẩm quý hiếm nơi biên giới phần nhiều cũng tập trung tại đây.
Khâm Liêm khê động đô tuần kiểm sứ 欽廉溪峒都巡檢使
[sửa]Khâm 欽 và Liêm 廉 đều được gọi là vùng cực biên, cách biên giới An Nam 安南 không xa. Trước kia, thuyền bè từ An Nam thường đến Liêm, nhưng sau có vụ đắm thuyền nên đổi sang đến Khâm. Tuy Liêm Châu 廉州 không quản lý các châu động, nhưng vẫn giữ chức vụ liên quan đến Khê Động 溪峒, là để phòng bị An Nam vậy.
Phía tây Liêm là Khâm, phía tây Khâm là An Nam. Người Giao 交 đến đây thường dùng thuyền nhỏ. Ra khỏi cảng, men theo bờ đá chưa đến nửa dặm là vào cảng Khâm. Nếu đi đến Liêm, tất phải vượt qua cảng Khâm. Vùng nước xoáy, sóng gió thường dữ dội.
Người Giao đến Khâm, từ châu Vĩnh An 永安州 trong lãnh thổ họ, sáng đi chiều đến. Tại cửa cảng Khâm, đặt trại Để trạo trại 抵棹寨 để kiểm soát người đến. Gần biên giới có bến Mộc Long độ 木龍渡 để điều tiết, dọc biển có một ty Tuần kiểm 巡檢 chuyên đón và tiễn — đó là hệ thống phòng bị đường biển.
Còn về đường bộ, có 7 động 七峒, đặt đồn trú tại Như Tích động 如昔峒 để củng cố biên phòng của ta.
Chú thích
- ▲ Sách An Nam chí lược có trích dẫn về bia Thiên Oai này.
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.