Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp/Quyển 02
Cửa ải nước ngoài (phần thượng)
[sửa]Nước An Nam
[sửa]Giao Chỉ vốn là quân Tượng của nhà Tần, đến thời Hán và Đường chia đặt, đã nói rõ ở đầu thiên “Đất cổ Bách Việt (Cựu địa Bách Việt)”.
Trong cõi đặt giả bốn phủ, mười ba châu, ba trại.
- Phủ là: Đô Hộ 都護, Đại Thông 大通, Thanh Hóa 清化, Phú Lương 富良
- Châu là: Vĩnh An 永安, Vĩnh Thái 永泰, Vạn Xuân 萬春, Phong Đạo 豐道, Thái Bình 太平, Thanh Hóa 清化, Nghệ An 乂安, Già Phong 遮風, Trà Lô 茶盧, An Phong 安豐, Tô Châu 蘇州, Mậu Châu 茂州, Lạng Châu 諒州
- Trại là: Hòa Ninh 和寧, Đại Bàn 大盤, Tân An 新安.
Đại để Thanh Hóa, Già Phong, Nghệ An, Vĩnh An đều theo ven biển, Vĩnh An giáp ranh Khâm Châu 欽州, Trà Lô giáp Chiêm Thành 占城, Tô Châu và Mậu Châu đều giáp Ung Quản 邕管. Nước này phía đông và tây đều là biển lớn, phía đông có Tiểu Giang 小江, vượt biển đến Khâm Liêm 欽廉; phía tây có đường bộ thông đến Bạch Y Man 白衣蠻; phía nam giáp Chiêm Thành; phía bắc giáp Ung Quản.
Từ Khâm đi thuyền về tây nam một ngày đến châu Vĩnh An của nước này, qua núi Ngọc Sơn 玉山 và trại Đại Bàn, rồi qua Vĩnh Thái, Vạn Xuân, đến kinh đô nước này, không quá năm ngày. Từ trại Vĩnh Bình 永平 bên Tả Giang 左江 của châu Ung, đi về nam vào huyện Cơ Lăng 机榔 của nước này, qua hai sông nhỏ là Ô Bì 烏皮 và Đào Hoa 桃花, đến sông Nạm Định 湳定 còn gọi là sông Phú Lương 富良, mất bốn ngày đến kinh đô, chính là đường quân Quách Quỳ 郭逵 đã đi. Lại từ trại Thái Bình 太平 đi về đông nam, qua sông Đan Đặc La 丹特羅, vào châu Lạng 諒州, sáu ngày đến kinh đô. Nếu từ trại Ôn Nhuận 温潤 bên Hữu Giang 右江 vào nước này thì vòng vèo.
Người Giao Chỉ tự gọi đến kinh đô là “nhập động 入峒” (vào hang động)[1], còn dân ta (Trung Quốc) nói là “thượng kinh 上京” (lên kinh đô). Địa lý chỉ có vậy, nhưng văn thư đi lại mất mấy tháng, là cố ý kéo dài để tỏ ra đường sá xa xôi.
Lúc đầu triều (Lý), trong nước có các bộ làm loạn. Có Đinh Đô Lĩnh 丁都領[2] cùng con là Liễn 璉 đem quân dẹp yên. Quân chúng tôn Lĩnh làm chủ soái, ba năm sau tự phong Liễn làm Tiết độ sứ 節度使. Năm Khai Bảo 開寶 thứ 6 (973), Liễn sai sứ dâng cống sản vật, được phong làm Đặc tiến Kiểm giáo Thái sư, sung Tĩnh Hải quân Tiết độ quan sát xử trí đẳng sứ, An Nam Đô hộ 安南都護, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, Khai quốc công quận Tế Âm 濟陰, lại ban tước “Thôi thành thuận hóa công thần 推誠順化功臣”. Năm thứ 8 (975), lại phong làm Giao Chỉ quận vương 交阯郡王.
Liễn mất, Lê Hoàn 黎桓 [3] cướp ngôi. Thời Thái Bình Hưng Quốc 太平興國 (niên hiệu của Tống Thái Tông, 976-984), Hoàn làm phản ở Giao Châu, triều đình dùng lễ mà vỗ về. Hoàn mất, con là Chí Trung 至忠 (Lê Long Đĩnh) lên thay. Năm Đại Trung Tường Phù 大中祥符 thứ 3 (1010), Chí Trung mất, con mới 10 tuổi, Lý Công Uẩn 李公蘊 mạo xưng họ Lê, giết đi rồi tự xưng Lưu hậu, sai sứ xin phong, được ban chức như họ Lê. Công Uẩn mất, con là Đức Chính 德政 (Lý Thái Tông) lên thay, báo tang và tự xưng Lưu hậu. Năm Thiên Thánh 天聖 thứ 6 (1028), được phong An Nam Đô hộ, Giao Chỉ quận vương. Đầu niên hiệu Bảo Nguyên 寶元 (1038), tiến phong Nam Bình vương 南平王.
Đức Chính mất, con là Nhật Tôn 日尊 (Lý Thánh Tông) lên thay, tự xưng là Đại Việt quốc Lý thị đệ tam đế 大越國李氏第三帝. Nhật Tôn mất, con là Càn Đức 乾德 (Lý Nhân Tông) lên thay, tự xưng là Minh vương 明王. Khi Càn Đức mới lên, quyền rơi vào tay thần hạ, đại thần Lý Thượng Cát 李上吉 (Lý Thường Kiệt) khởi nghị làm phản (chống lại nhà Tống), mà tiến sĩ Bạch Châu 白州 Quảng Tây là Từ Bá Tường 徐伯祥 (người Tống) có công với châu mà không được bổ dụng, bèn xúi giặc (An Nam) ở biên thùy, chiếm ba châu Ung 邕, Khâm 欽, Liêm 廉. Triều đình sai Quách Quỳ 郭逵 đi đánh, suýt nữa diệt được nước (An Nam) ấy. An Nam bèn dâng biểu xin hàng. Gặp lúc quân triều bị dịch lớn, Quỳ nhận biểu rồi rút quân, khi ấy là năm Hy Ninh 熙寧 thứ 8 (1075).
Càn Đức mất, có con còn trong bụng mẹ (chưa ra đời) ở Chiêm Thành, được rước về lập làm vua, gọi là Thiên Tộ 天祚[4].
Năm Thiệu Hưng thứ 26 (1156) (Thiên Tộ) vào cống. Năm Quý Tỵ 癸巳 niên hiệu Càn Đạo 乾道 (1173), triều đình ra lệnh cho soái ty Quảng Tây mua voi thuần ở Giao Chỉ, Thiên Tộ nhân đó xin dâng voi cống, được chấp thuận. Chưa kịp vào cống thì Thiên Tộ mất, con là Long 龍 (Long Cán 龍𣉙, vua Lý Cao Tông) không báo tang, mạo danh Thiên Tộ để dâng cống, được phong làm An Nam quốc vương 安南國王. Sau khi nhận phong, mới lấy danh nghĩa Thiên Tộ xin quốc ấn và dâng biểu truy tôn. Triều đình sai Lưu sử Quảng Tây là Liêu Cừ 廖蘧 đến Khâm Châu làm lễ viếng, rồi lại lập Long làm An Nam quốc vương.
Nước này bắt đầu xưng ngụy từ thời Lý Nhật Tôn 李日尊 (Lý Thánh Tông). Nhật Tôn truy tôn tổ là Thái Tổ Thần Vũ 太祖神武, tự xưng là nước Đại Việt 大越國, đặt niên hiệu ngụy là Thiên Huống 天貺, nối theo là tôn hiệu gồm mười tám chữ[5]. Khi Càn Đức 乾德 lên ngôi thì xâm phạm biên giới, triều đình sai Quách Quỳ 郭逵 làm Chiêu phủ sứ, Triệu Tiết 趙卨 làm phó. Khi tiến đến sông Nam Định 湳定江, Càn Đức dâng biểu xin hàng, triều đình chấp thuận.
Nước này đặt ra pháp chế, tuy nói là rất thô lậu, nhưng trên dưới phần nhiều cũng yên ổn theo đó. Mẹ và vợ vua đều xưng là “hậu”, con đều gọi là “thái tử”. Người trong tộc gọi là “đại vương”, trưởng tộc gọi là “thừa tự”, các chi khác gọi là “chi tự”.
Quan lại chia làm nội chức và ngoại chức:
- Nội chức lo việc nước, đứng đầu là “Phụ quốc Thái úy 輔國太尉”, tương đương Tể tướng.
- Ngoại chức lo việc binh, đứng đầu là “Khu mật sứ 樞密使”, “Kim ngô Thái úy 金吾太尉”, “Đô lĩnh binh 都領兵”.
- Văn thư gửi đến biên giới có ghi “Phán An Nam Đô hộ phủ 判安南都護府”, cũng là ngoại chức.
Đường vào quan trường có thể do con nối, thi tuyển, hoặc nộp tiền.
Có tám quân như Ngự Long 御龍, Võ Thắng 武勝, mỗi quân có tả hữu, mỗi bên 200 người. Trán đều xăm chữ “Thiên tử binh 天子兵”. Lại có chín quân như Hùng Lược 雄略, Dũng Kiện 勇健 để làm lính hầu.
Cung điện có Thủy Tinh cung 水精宮, Thiên Nguyên điện 天元殿, đều mô phỏng kiểu xưng đế. Có một lầu riêng treo bảng “An Nam Đô hộ phủ 安南都護府”.
Nước này rất coi trọng khoa cử. Ai nộp tiền thì trước làm lại 吏, thăng dần đến thư lại, lại nộp tiền nữa thì làm Bảo nghĩa lang 保義郞, rồi có thể làm tri châu. Quan lại không nhận lương, chỉ được giao dân một vùng để sai khiến làm ruộng, đánh cá mà lấy lợi.
Lính mỗi tháng thay phiên một lần, lúc rảnh thì tự cày cấy. Ngày mồng 7 tháng Giêng, mỗi lính được phát 300 tiền, một tấm lụa, một tấm vải. Mỗi tháng được cấp 10 bó lúa. Ngày Tết, dùng cơm đại mễ và cá muối khao quân, vì vùng này nhiều lúa đại mễ nên lấy đó làm món khao Tết.
Mồng 4 tháng Giêng, vua yến tiệc quan lại. Ngày mồng 5 tháng 7 gọi là “Đại tiết”, dân chúng chúc mừng nhau, quan lại dâng lễ mừng sinh nhật vua, hôm sau vua mở tiệc đáp lễ.
Trước cửa có lầu treo chuông lớn để dân kêu oan. Ai trộm cắp thì chặt tay chân. Ai phản quốc trốn đi thì cũng chặt tay chân. Kẻ mưu phản thì chôn thân lộ đầu, kế bên trồng tre cứng, kéo cần buộc đầu, dùng dao sắc cắt, đầu bật lên tre thành cờ hiệu.
Từ Khâm Châu 欽州, khi thám biển rồi đến châu Vĩnh An 永安 của nước ấy để nộp công văn, không cho dân thường giao tiếp, đưa vào trạm dịch, nhanh chóng đuổi ra khỏi biên giới, canh phòng rất nghiêm ngặt.
Việc nước này vào cống, xưa nay đều từ Ung 邕 hoặc Khâm 欽 vào, phải sai sứ bàn trước, chuyển văn thư đến Kinh lược ty, rồi trình lên triều đình. Nếu có chỉ cho phép thì mới được cử sứ vào kinh, nếu không thì không được.
Theo lệ cũ, sứ An Nam xếp trên sứ Cao Ly 高麗. Khi triều Tống dời về phương Nam (Nam Tống) thời Kiến Viêm 建炎 (1127 - 1130), Lý Thiên Tộ 李天祚 xin vào cống, triều đình khen là thành thật, ban chiếu đáp lại. Năm Thiệu Hưng 紹興 thứ 26 (1156), xin vào cống, được chấp thuận, sai sứ đi từ Khâm vào. Chánh sứ An Nam là Hữu võ đại phu 右武大夫 Lý Nghĩa 李義, phó sứ là Võ dực lang 武翼郎 Quách Ứng 郭應. Dâng năm con voi làm lễ thường tiến, lại thêm lễ thăng bình cương 升平綱, sai An Nam Thái Bình châu thứ sử Lý Quốc 李國 làm sứ. Vật phẩm dâng rất nhiều, biểu chương đều viết chữ vàng.
Cống khí vàng hơn 1.200 lượng, một nửa được trang sức bằng châu báu. Cống ngọc trai: ba viên lớn như quả cà, sáu viên như hạt mít, hai mươi bốn viên như hạt đào, mười bảy viên như hạt mận, năm mươi viên như hạt táo, tổng cộng 100 viên, đựng trong bình vàng. Cống trầm hương 1.000 cân, lông chim xanh 50 chiếc, đoạn thâm hoàng bàn long 850 tấm, ngựa ngự dụng 6 con kèm yên cương, ngựa thường tiến 8 con, voi thuần 5 con. Hai đoàn sứ mỗi bên 50 người, sứ thần lấy việc dâng nhiều làm tự hào. Sau đó xin vào cống nữa, triều đình đều từ chối.
Năm Càn Đạo 乾道 thứ 9 (1173), triều đình ra lệnh Quảng Tây mua voi thuần ở An Nam, Thiên Tộ nhân đó xin dâng voi cống, được chấp thuận. Dâng 5 voi làm lễ trọng, chính sứ là Thừa nghị lang 承議郎 Lý Bang Chính 李邦正, phó sứ là Trung dực lang 忠翊郎 Nguyễn Văn Hiến 阮文獻. Lại dâng 10 voi mừng vua lên ngôi, Trung vị đại phu 中衛大夫 Doãn Tử Tư 尹子思 làm sứ, đi từ trại Vĩnh Bình 永平 bên Tả Giang 左江 của châu Ung.
Đoàn voi đi qua, châu huyện phải lo tiệc đãi, phu khuân vác, nhà cho voi ở, mà quân vệ các châu thì yếu, không đủ để làm cho ngoại bang nể sợ. Đến Tĩnh Giang 靜江, thấy quân lính giáp trụ nghiêm chỉnh, hàng ngũ chỉnh tề, sứ thần kinh ngạc nói: “Đến đây mới thấy uy nghi của triều đình!” Khi vào phủ, xuống ngựa trước cửa gác, vào triều rất cung kính. Khi ấy Phạm Thạch Hồ 范石湖 làm soái, nghiêm uy mà tiếp đãi, tiệc tùng lễ vật tuy không bằng năm Thiệu Hưng 26, nhưng sứ thần không dám so đo. Soái ty đưa vào triều.
Lý Bang Chính đề thơ ở trạm dịch, có câu “Từ đây được ban tên nước” (Thử khứ ưu thành tứ quốc danh 此去優成賜國名). Đến kinh, được ban quốc hiệu, sứ thần mãn nguyện trở về. Qua Tĩnh Giang, lại vào triều tạ ơn, xin về nước qua Khâm Châu, được chấp thuận. Đến Khâm, lưu lại hai tháng, nước ấy sai thuyền buồm, cờ xí đến đón về.
Chuyến đi này, ngoài voi cống còn dâng thêm mâm bạc, sừng tê, ngà voi, trầm hương, giấy viết… Tính giá trị không đến 20.000–30.000 quan, không bằng lễ cống năm Thiệu Hưng, mà nước ấy vét sạch kho mới gom đủ. Triều đình ban thưởng hậu hĩnh, lại được ân sủng đặc biệt. Sứ thần và quan theo hộ hơn 100 người, đi đến đâu châu huyện cấp phiếu nhận gạo làm lương, tiền thì mỗi người mỗi ngày 10 đồng, còn lại đều ghi sổ để nước ấy hoàn trả. Dọc đường châu huyện phải huy động 800 phu khuân vác, người gánh vật cống thì ít, còn lại đều gánh hàng hóa riêng của sứ thần đem bán ở kinh. Voi thật ra biết bơi, nhưng đến bến nước, lính dắt voi đòi thuyền chở, có tiền mới chịu lùa qua sông.
Quan áp tống nếu lễ đãi quá mức thì sứ thần càng kiêu, sau không lễ đãi nữa thì họ mới chịu nghe lệnh. Đã được ban quốc hiệu, lại còn xin ấn. Sau đó sứ tạ ơn đến Khâm, lại nhiều lần xin vào cống, nhưng không được chấp thuận nữa.
Người nước này mặc áo đen, răng đen, búi tóc, đi chân đất, không phân biệt sang hèn đều như vậy. Tù trưởng lúc thường cũng thế, chỉ đeo trâm vàng, mặc áo vàng (黃衫 hoàng sam), váy tím (紫裙 tử quần).
Người dân thường ngày thường mặc:
- Áo: loại áo đen cổ xoắn chặt quanh cổ, bốn vạt như áo lưng gọi là “tứ điên 四顚”.
- Quần: váy đen.
- Có người đeo trâm sắt, đi giày da, tay cầm quạt lông hạc, đầu đội nón ốc " loa lạp 螺笠".
- Hình xăm trên thân giống ký hiệu trống đồng.
- Quân lính xăm chữ “Thiên tử binh 天子兵” ngang trán.
Phụ nữ thì da trắng, khác hẳn nam giới. Váy đen là vật trang trí của nam. Họ dùng dầu thơm gội đầu cho tóc bóng như sơn, đội khăn sa đen, đỉnh tròn nhỏ, từ trán trở lên có nếp gấp nhỏ như đường khâu, kéo lên đến đỉnh đầu. Mặc áo đen cổ xoắn lớn phủ lên áo cổ xoắn nhỏ. Chân đi giày vớ, đi lại trên đường phố không khác người ta, chỉ khác ở khăn đội đầu.
Khi đến nộp văn thư, mặc áo bào tím hình măng tre, đi đứng cung kính. Sứ thần đến, văn võ đều mặc áo bào tím, thắt đai sừng đỏ, không đeo cá vàng. Sau khi dâng voi, Lý Bang Chính lại đến Khâm, mới được đeo cá vàng rất lớn.
Kiệu của họ giống túi vải, nhưng khi sứ thần đến Khâm thì đi kiệu mát, trời mưa hay nắng đều dùng.
Hải ngoại Lê man 海外黎蠻
[sửa]Các nước phiên bang hải ngoại
[sửa]Các nước phiên bang phần lớn lấy biển làm ranh giới, mỗi nước lập quốc ở một phương. Mỗi nước có sản vật riêng, đều tụ hội về đô hội để giao thương.
Các nước chính nam, đô hội là Tam Phật Tề 三佛齊 (Srivijaya ). Các nước đông nam, đô hội là Xà Bà 闍婆 (Chà Và, Java). Các nước tây nam, rộng lớn vô cùng, gần thì Chiêm Thành 占城, Chân Lạp 眞臘 là đô hội của các nước vùng trũng; xa thì Đại Tần 大秦 là đô hội của các nước Tây Thiên Trúc 西天竺; xa hơn nữa là nước Ma Lê Bạt 麻離拔 (Malabar), đô hội của các nước Đại Thực 大食; ngoài nữa là nước Mộc Lan Bì 木蘭皮 (Al-Murabitun, Nhà Almoravid), đô hội của các nước cực tây.
Phía nam Tam Phật Tề là biển Nam Đại Dương, trong biển có hơn 10.000 đảo, có người ở. Càng về nam thì không thể thông thương. Phía đông Chà Và (Java) là biển Đông Đại Dương, nước chảy thấp dần, có nước Nữ Nhi 女兒國 ở đó. Càng về đông là nơi nước chảy ra đuôi lỗ, không còn là thế giới loài người. Chếch đông bắc là Cao Ly 高麗, Bách Tế 百濟.
Các nước trên biển tây nam nhiều không kể xiết, nhưng đại thể vẫn có thể khảo sát. Tạm lấy Giao Chỉ 交阯 làm chuẩn phương vị.
Thẳng về phía nam Giao Chỉ là Chiêm Thành 占城, Chân Lạp 眞臘, Phật La An 佛羅安. Phía tây bắc Giao Chỉ là Đại Lý 大理, Hắc Thủy 黑水, Thổ Phồn 吐蕃.
Phía tây có biển lớn ngăn cách, gọi là biển Tế Lan 細蘭. Trong biển Tế Lan có một đại lục, gọi là nước Tế Lan 細蘭國 (Sri Lanka?). Vượt biển về phía tây lại có nhiều nước. Phía nam là nước Cổ Lâm 古臨國, phía bắc là nước Đại Tần 大秦, thành Vương Xá 王舍城 (Rajgir, Magadha), nước Thiên Trúc 天竺國.
Lại phía tây có biển, gọi là biển Đông Đại Thực 東大食海. Vượt biển về phía tây là các nước xen kẽ của Đại Thực 大食. Đất Đại Thực rất rộng, nước rất nhiều, không thể ghi hết. Lại phía tây có biển, gọi là biển Tây Đại Thực 西大食海. Vượt biển về phía tây là các nước Mộc Lan Bì 木蘭皮 (Al-Murabitun, Nhà Almoravid), tổng cộng hơn 1.000 nước. Xa hơn nữa là nơi mặt trời lặn, không thể biết được.
Nước Chiêm Thành
[sửa]Chiêm Thành 占城, thời Hán gọi là Lâm Ấp 林邑. Trên biên giới có cột đồng Mã Viện 馬援. Thời Đường gọi là Hoàn Vương 環王, nơi vua ở gọi là Chiêm Thành, nên lấy đó đặt tên nước.
Đất sản xuất hương quý, tê giác, voi. Đất toàn cát trắng, rất ít nơi canh tác được, không có cừu lợn rau cỏ, người dân sống bằng nghề hái hương. Nước không có chợ búa, đất rộng người thưa, thường mua nô tỳ, thuyền buôn lấy người làm hàng hóa. Phía bắc giáp Giao Chỉ 交阯, phía nam giáp Chân Lạp 眞臘, thần phục Giao Chỉ, nhưng thường thù địch với Chân Lạp.
Năm Quý Tỵ 癸巳 niên hiệu Càn Đạo 乾道 (1173), có người Phúc Kiến 閩 được chọn làm quan từ danh sách Tây Ban, được bổ làm Đô giám quân Cát Dương 吉陽, đi biển nhậm chức, trôi dạt đến Chiêm Thành, thấy nước này cùng Chân Lạp cưỡi voi giao chiến, không phân thắng bại. Bèn khuyên vua (Jaya Indravarman IV) dùng kỵ binh, dạy bắn cung nỏ trên ngựa. Vua Chiêm rất mừng, cho thuyền đưa về Cát Dương, tặng nhiều lễ vật. Sau đó mua ngựa được vài chục con, dùng đánh trận thì thắng. Năm sau lại đến, người đi theo rất đông. Quân Cát Dương từ chối vì không có ngựa, chuyển sang châu Quỳnh 瓊管, Quỳnh không nhận, bèn nổi giận quay về, sau không đến nữa.
Trước kia thuyền buôn các nước thường bị nước này bắt giữ, vì phong tục vốn ưa cướp bóc. Thuộc quốc có nước Tân Đồng Long 賓朣朧 (Panduranga) và Tân Di Lăng 賓陁陵. Chỗ ở của Mục Liên 目連舍基 ở Tân Di Lăng, có người nói chính là Vương Xá thành 王舍城.
Năm Kiến Long 建隆 thứ 2 (961) (vua Chiêm Thành Jaya Indravarman I) từng dâng cống vật, năm thứ 3 tháng 8 lại đến cống. Năm Nguyên Hựu 元祐 nguyên niên đời Triết Tông 哲宗 (1086) tháng Chạp (vua Chế Ma Na) lại tiến cống, có chiếu ban 2.600 quan tiền, lòng mến hóa thật đáng khen.
Nước Chân Lạp
[sửa]Nước Chân Lạp 眞臘 xa hơn Chiêm Thành 占城, nhưng gần các nước phiên bang khác. Bên cạnh có các nước: Oa Lý 窊裏, Tây Bằng 西棚, Tam Bạc 三泊, Ma Lan 麻蘭, Đăng Lưu Mi 登流眉 (Tambralinga?), Đệ Lạt Thát 第辣撻, Chân Lạp là đô hội của các nước ấy. Phía bắc giáp Chiêm Thành.
Nổi tiếng sản xuất hương quý, hương Đăng Lưu Mi là tuyệt phẩm, các nước phiên bang không sánh được. Nước này tăng đạo pháp thuật rất linh nghiệm. Tăng mặc áo vàng thì có gia đình; mặc áo đỏ thì ở chùa, giới luật nghiêm khắc. Đạo sĩ mặc áo bằng lá cây.
Trong nước nhìn lên một góc trời, thường có vết mờ, người dân nói là nơi Nữ Oa 女媧 chưa từng đến. Triều ta, năm Tuyên Hòa 宣和 thứ 2 đời Huy Tông 徽宗 (1120), nước này từng sai sứ đến dâng cống.
Nước Bồ Cam (蒲甘 Bagan)
[sửa]Nước Bagan 蒲甘國, từ nước Đại Lý 大理 đi mất 5 chặng đường, từ nước Oa Lý 窊裏 đi mất 60 chặng. Qua sông Hắc Thủy 黑水 và sông Ô Nê 淤泥 thì không thể thông đến các nước Tây Thiên nữa.
Vua và quan nước Bagan đều đội mũ vàng, hình như sừng tê. Có ngựa nhưng cưỡi không yên. Cung điện vua lợp bằng thiếc, tường nhà trang trí bằng vàng bạc. Có hàng chục ngôi chùa, tăng sĩ đều mặc áo vàng.
Mỗi sáng vua thiết triều, quan lại đều dâng hoa, tăng nhân tụng kinh Phạn chúc thọ, đặt hoa lên đầu vua, hoa còn lại đem về chùa cúng Phật.
Năm Sùng Ninh 崇寧 thứ 5 đời Huy Tông 徽宗 (1106) tháng 2, từng vào cống.
Nước Tam Phật Tề (Srivijaya)
[sửa]Nước Tam Phật Tề 三佛齊 nằm giữa biển Nam Hải, là nơi trọng yếu của các tuyến đường thủy phiên bang. Từ các nước Xà Bà 闍婆 ở phía đông, đến các nước Đại Thực 大食, Cổ Lâm 故臨 ở phía tây, không nước nào vào Trung Quốc mà không đi qua lãnh thổ nước này.
Nước không có sản vật, nhưng dân quen chiến đấu, mang thuốc trên người, đao kiếm không làm bị thương. Đánh bộ, thủy chiến đều dũng mãnh không ai địch nổi, nên các nước láng giềng đều phục tùng. Thuyền buôn phiên bang đi qua mà không vào nước này, tất bị cử binh giết sạch, nhờ vậy nước này giàu có về tê giác, voi, châu báu, hương liệu.
Phong tục dùng bè tre nổi trên nước để ở. Thuộc quốc có nước Phật La An 佛羅安, vua do Tam Phật Tề chọn cử. Đất cũng sản xuất hương, mùi nồng gắt, so với các nước ven bờ thì hơn hẳn.
Có Thánh Phật, vua Tam Phật Tề hai năm một lần đến dâng hương. Khi Thái Tổ nhà Tống dựng nghiệp, năm Kiến Long 建隆 nguyên niên (960) tháng 9, vua Tam Phật Tề là Tất Lợi Đại Hà Lý Đàn 悉利大霞里壇 (theo Tống sử có thêm chữ Hồ 胡) sai sứ đến dâng cống vật. Năm thứ 2 tháng 5 lại sai sứ tiến cống. Năm thứ 3 tháng 3 lại đến cống, tháng Chạp lại dâng vật phẩm.
Đến năm Nguyên Phong 元豐 thứ 2 đời Thần Tông 神宗 (1079) tháng 7, sai sứ nước Chiêm Bì 詹卑 đến cống. Năm Nguyên Hựu 元祐 thứ 3 đời Triết Tông 哲宗 (1088) nhuận tháng Chạp lại sai sứ vào cống, năm thứ 5 lại đến cống. Lòng mến nghĩa đến triều đình, thật không giống các nước khác.
Nước Chà Và 闍婆
[sửa]Nước Cố Lâm 故臨
[sửa]Nước Chú Liễn 注輦
[sửa]
Chú thích
- ▲ có thể ám chỉ việc kinh đô trước đó là Hoa Lư, ở vùng hang động?
- ▲ theo Tống sử chép là “Bộ Lĩnh 部領”
- ▲ nguyên bản chép là 亘, tránh húy Tống Khâm Tông 宋欽宗, tên thật là Triệu Hoàn 赵桓, nên sửa theo Tống sử
- ▲ theo Tống sử, năm Thiệu Hưng 紹興 thứ 2 (1132) Càn Đức mất, con là Dương Hoán 陽煥 nối ngôi; năm thứ 8 (1138) Dương Hoán mất, con là Thiên Tộ nối ngôi, ở đây tác giả Chu Khứ Phi có sai sót.
- ▲ Pháp Thiên Ứng Vận Sùng Nhân Chí Đức Anh Văn Duệ Vũ Khánh Cảm Long Tường Hiếu Đạo Thánh Thần Hoàng Đế (法天應運崇仁至德英文睿武慶感龍祥孝道聖神皇帝)