Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp/Quyển 05
Kinh tế tài chính (Tài Kế 財計門)
[sửa]Quảng Hữu Tào Kế 廣右漕計
[sửa]Quảng Tây Diêm Pháp 廣西鹽法
[sửa]Kinh Lược Ty Mãi Mã 經略司買馬
[sửa]Nghi Châu Mãi Mã 宜州買馬
[sửa]Mã Cương 馬綱 (buôn bán ngựa)
[sửa]Ngựa Man vào đất người, từ châu Tư Thành (泗城州) đến trại Hoành Sơn (橫山寨) thì dừng. Ngựa đến nơi, đi qua mấy ngàn dặm, rất gầy. Người Man trói bốn chân, kéo ngã xuống, cho ăn khoảng 2 cân muối, thả ra, mười ngày sau tự béo lại.
Quan phủ mua ngựa xong, chia định số lượng từng đoàn. Ty Kinh lược trước tiên hạ lệnh cho các châu Chiêu (昭), Hạ (賀), Đằng (藤), Dung (容), Cao (高), Lôi (雷), Hóa (化), Khâm (欽), Liêm (廉), Nghi (宜), Liễu (柳), Dung (融), Quý (貴), Tầm (潯), Ngọc Lâm (鬱林) cử 33 viên chức đang tại nhiệm đến trại Hoành Sơn áp tải ngựa. Nếu không đủ, cho phép tuyển thêm quan đang cư trú hoặc chờ bổ nhiệm.
Một đoàn ngựa thường là 50 con, nộp 30 con. Mỗi đoàn có 1 quan áp tải, 5 tướng sĩ, 1 thú y, 25 lính dắt ngựa. Đoàn nộp ngựa thì 15 người, vì mỗi người dắt 2 con. Sau khi các châu cử quan binh xong, quan áp tải xin ứng trước hơn 200 quan tiền để cấp dưỡng cho gia đình, tướng sĩ binh lính cũng được ứng tiền, rồi đến trại Hoành Sơn gặp quan mua ngựa.
Nhận ngựa xong, từ Hoành Sơn đi 7 trạm đến châu Ung (邕州), rồi thêm 18 trạm đến Ty Kinh lược để trình ngựa. Ty Kinh lược đo đạc, đóng dấu lửa, nuôi ở trại ngựa để xem ngựa khỏe hay yếu, xét năng lực quan áp tải để quyết định thăng hay giáng. Sau đó lại chia đoàn, gửi đến hành tại hoặc các quân đội ven sông để giao nộp.
Dọc đường, các châu huyện đều có trạm ngựa, lo chỗ nghỉ. Có phiếu ăn, cỏ khô, lo chi phí cho người và ngựa. Khi đến nơi, triều đình có thưởng phạt để khuyến khích. Nếu cả đoàn không chết con nào, quan áp tải được thăng một cấp, giảm ba năm khảo hạch. Nếu chết mất ba phần, bị giáng chức. Các mức thưởng phạt khác nhau. Tướng sĩ binh lính được thưởng phạt theo số ngựa dắt, nếu được thưởng thì thăng cấp, không muốn thì xin tiền; nếu bị phạt thì đánh roi rồi đuổi.
Việc áp tải ngựa cũng có quy tắc: mua muối mang theo, mỗi chiều cho ngựa ăn vài lạng, tự nhiên điều hòa nước cỏ, không sinh bệnh, đó là cách giữ trọn đoàn. Nói chung, áp tải ngựa là con đường thăng tiến nhanh của võ quan, có nhiều Phó úy nhờ thưởng mà thăng đến Chính sử, không đếm xuể.
Ung Châu Hoành Sơn Trại Bác Dị Trường 邕州橫山寨博易場 (khu buôn bán ở Hoành Sơn)
[sửa]Ngựa Man đến thì hàng hóa khác cũng theo. Người Man mang theo xạ hương, dê Tây Vực, gà gáy dài, chăn dạ, dao Vân Nam và các loại thuốc. Thương nhân ta mang theo gấm vóc, da báo, văn thư và các vật kỳ lạ khéo léo. Lúc ấy, phiên dịch định giá để trao đổi.
Quan chiêu mộ ngựa thường tự lập chợ tại nhà, độc chiếm việc buôn bán với người Man, giảm nhẹ thuế, hàng vào chợ quan chỉ được một hai phần mười. Năm Long Hưng Giáp Thân, Tằng Tử Chiêu làm thủ châu Ung (邕), người có mưu trí, thường sai lính tuần chặn thương nhân ở các lối đi riêng, giảm thuế nhưng giữ hàng lại, định giá từng loại hàng, chia khu vực giá cả trong chợ quan.
Đến ngày mở chợ, các thương nhân xin nhận lại hàng từ quan, theo giá quan định mà giao dịch với người Man, không được giảm giá bán trước, đều do phiên dịch dẫn người Man tự do mua bán. Gặp đêm thì hôm sau tiếp tục. Hàng không bán được thì cho phép trình quan giám sát để giảm giá đổi hàng. Việc của các thương nhân xong, quan mới thu thuế.
Thưởng phạt rõ ràng, quan lại không dám vòi vĩnh, thương nhân cũng không tốn phí khác, lại không lo vi phạm cấm lệnh. Khi ấy châu Ung rộng rãi, ai cũng thấy tiện lợi.
Ung Châu Vĩnh Bình Trại Bác Dị Trường 邕州永平寨博易場 (khu buôn bán ở Vĩnh Bình)
[sửa]Trại Vĩnh Bình (永平寨) ở Tả Giang, châu Ung (邕州), giáp với Giao Chỉ (交阯), chỉ cách một khe suối. Phía bắc có trạm dịch Giao Chỉ, phía nam có đình Tuyên Hòa (宣和亭), chính là nơi lập chợ trao đổi. Tri trại Vĩnh Bình phụ trách việc buôn bán.
Người Giao hằng ngày mang theo hương quý, ngà voi, vàng bạc, muối, tiền đến đổi lấy lụa, gấm, la, vải của thương nhân ta rồi trở về. Những người đến Vĩnh Bình đều là dân Giao ở các động, đi đường bộ, hàng mang theo đều quý và tinh xảo, chỉ có muối là nặng và thô. Tuy vậy, muối chỉ đổi được vải mà thôi. Mỗi 25 cân muối là một gùi, vải là loại khổ hẹp do huyện Vũ Duyên (武緣縣), châu Ung sản xuất.
Người Giao ở đây cũng chất phác, không như người Giao ở châu Vĩnh An (永安州) đến Khâm (欽) vốn gian xảo. Lại nữa, ở Tả Giang còn có trại Nam Giang (湳江栅), giáp châu Tô Mậu (蘇茂州) của Giao Chỉ, cũng thỉnh thoảng có buôn bán nhỏ, do tuần phòng Nam Giang phụ trách.
Khâm Châu Bác Dị Trường 欽州博易場
[sửa]Tất cả vật dụng sinh hoạt của Giao Chỉ đều trông cậy vào Khâm (欽), thuyền bè qua lại không ngớt. Chợ trao đổi đặt ở trạm Giang Đông ngoài thành. Những người mang cá, sò đến đổi lấy đấu gạo, thước vải, gọi là Giao Chỉ Đản (交阯蜑). Thương nhân giàu của nước họ đến buôn bán, tất phải từ biên giới châu Vĩnh An (永安州) xin giấy chuyển đến Khâm, gọi là “tiểu cương” (小綱 phép tắc buôn bán nhỏ, tiểu ngạch). Nếu nước họ cử sứ đến Khâm, nhân đó buôn bán, gọi là “đại cương” (大綱 buôn bán lớn, chính ngạch). Hàng mang theo gồm vàng bạc, tiền đồng, trầm hương, quang hương, thục hương, sinh hương, chân châu, ngà voi, sừng tê.
Thương nhân nhỏ của ta gần đây bán giấy bút, gạo vải, mỗi ngày trao đổi ít nhiều với người Giao, không đáng kể. Chỉ có thương nhân giàu từ Thục (蜀) mang gấm đến Khâm, từ Khâm đổi hương mang về Thục, mỗi năm đi một chuyến, mỗi lần buôn bán đến vài nghìn quan, mỗi bên đóng gói hàng hóa, qua thời gian mới định giá. Sau khi đóng gói, không được thương lượng với người khác.
Lúc đầu thương lượng giá, đôi bên chênh lệch rất lớn. Thương nhân giàu của ta lại sai người làm thương nhân nhỏ để tự sinh sống, còn xây nhà, cày ruộng để dưỡng già. Thương nhân giàu của họ thì cố chấp không lay chuyển, cũng để làm ta mệt mỏi vì chờ đợi. Hai bên gặp nhau, cùng uống rượu vui vẻ, lâu dần mới hạ lòng mà thuận theo nhau, người môi giới mới dần dần điều chỉnh giá, đến khi giá cả không còn chênh lệch nhiều thì mới giao dịch. Quan phủ đứng ra cân hương, đối chiếu với gấm để hoàn tất việc trao đổi.
Sau khi buôn bán xong, quan chỉ thu thuế của thương nhân ta. Khi thu thuế, quy đổi hàng hóa thành tiền, thường là con số ước lượng, gọi là “cương tiền”. Mỗi 1.000 cương tiền thì tính thực là 400 tiền, lấy 1 quan thực thu 30 tiền. Người Giao vốn chất phác, nhưng ta lại gian trá trong việc cân đo, nâng hạ giá cả. Về sau, đến lần thứ ba sứ giả sang, họ đã kiểm tra kỹ cân ở chợ trao đổi.
Gần đây, người châu Vĩnh An càng gian xảo, thương nhân ta lừa họ bằng thuốc giả, họ thì trộn đồng vào vàng bạc, khó phân biệt. Hương thì ngâm muối cho chìm nước, hoặc đúc chì vào lỗ hương để làm nặng, thương nhân ta thường mắc bẫy.
Nghiên đá mài mực Đoan Nghiễn 端硯
[sửa]Ta từng nhiều lần đi qua đất Đoan 端, nhất định lên thăm núi đá làm nghiên, đã bàn rất kỹ. Đá làm nghiên có nhiều loại, đại thể chia ba: gọi là nham thạch 巖石, khanh thạch 坑石, và Hoàng Bộ thạch 黃步石.
- Nham là loại tốt nhất,
- Khanh là thứ hai,
- Hoàng Bộ là kém nhất.
Tất cả đều nói về loại tốt trong ba hạng này, nếu không tốt thì chỉ là đồ bỏ, không đáng bàn.
- Hoàng Bộ thô, có vân, hao mực, làm hỏng bút, chỉ hợp làm đá mài, không phải vật quý trong văn phòng.
- Khanh thạch có hai loại: Nam khanh và Tân khanh. Nam khanh có mắt đá xanh tối, Tân khanh có điểm đỏ trong mắt đá nhưng cũng tối. Tuy đều cứng, gõ vang, tuy mịn màng nhưng lâu ngày không hợp với mực. Nếu may gặp được loại cực mịn tốt thì rất quý, đến mức nghiên nham cũng không sánh bằng.
Nham thạch có ba loại: Thượng nham, Trung nham, Hạ nham.
- Thượng nham ở lưng núi, đá khô khát.
- Trung nham ở ngang mặt đất, ấm áp dễ chịu, lâu ngày cũng trơn mực.
- Hạ nham ở sâu đến mạch nước, tuyệt phẩm đời nay, đá như ngọc, nhìn như người quân tử ôn hòa, sờ vào trơn mịn, khó diễn tả bằng lời.
Nếu là đá tâm núi, gốc đá ẩn sâu, lớn như đấu, trong có “tử thạch” (đá con), hợp cả bút lẫn mực, trăm năm không khô, là báu vật của đời.
Ba loại nham tuy có ba hang, nhưng bên trong thông nhau, thực chất là phân hạng theo độ cao thấp. Người khai thác phải từ hang dùng gỗ xếp thành bậc nhỏ, quanh co uốn khúc, như vào suối vàng. Hàng trăm người chia tầng cao thấp, dùng ống tre lớn dẫn nước ra để làm khô hang, rồi thắp đèn, dùng dùi đục. Được đá ấy thật không dễ, nên rất đáng quý.
Chú thích