Bước tới nội dung

Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp/Quyển 06

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Lĩnh Ngoại đại đáp  (nhà Tống)  của Chu Khứ Phi, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Quyển 06

Vật dụng và Thuyền bè (Khí Dụng Môn 器用門 Chu Tiếp Phụ 舟楫附)

[sửa]

Bút 筆

[sửa]

Ở Quảng Tây (廣西) có nhiều gà thiến, lông rất bóng mượt. Người ta lấy lông cổ của chúng, chải thành sợi rồi gom lại làm bút, trông giống hệt như bút lông làm từ lông thỏ, mỗi cây giá khoảng 4–5 tiền. Tuy nhiên, lông ngắn, ngòi mềm đều, không có lực, chỉ thích hợp để viết chữ nhỏ. Nếu chữ lớn hơn nửa tấc thì khó viết.

Ngoài Lĩnh cũng có thỏ, nhưng lông không dùng làm bút được. Riêng bút lông dê ở phủ Tĩnh Giang (靜江府) thì cực kỳ tốt, nổi tiếng khắp vùng sâu rộng.

Mực 墨

[sửa]

Ở châu Dung (容州) có nhiều cây thông lớn, người dân biết chế tạo mực. Loại tốt, một thẻ (笏) chưa đến 100 tiền; loại thường thì một cân chỉ khoảng 200 tiền, thương nhân thường gom số lượng lớn để bán kèm.

Mực Giao Chỉ tuy không thật tốt, nhưng cũng không đến mức quá kém. Người Giao thường đeo mực cùng nghiên sừng và bút bên hông.

Trà cụ 茶具 (pha trà)

[sửa]

Thợ rèn ở Lôi Châu (雷州) rất khéo, chế tạo các loại như cối nghiền trà, chén nước, bình đun nước đều tinh xảo như đúc. Ta từng so sánh với sản phẩm ở Kiến Ninh (建寧), cũng không phân cao thấp.

Kiến Ninh là nơi sản sinh danh trà, phong tục cũng thanh nhã, ai cũng giỏi nghệ thuật phân trà. Còn ở Lôi Châu, người uống trà thường dùng bát lớn, thì cần gì đến trà cụ tinh xảo làm gì?

Loa bôi 螺杯 (ly, chén bằng vỏ ốc)

[sửa]

Ở Nam Hải (南海) có loài ốc lớn, người phương Nam dùng làm chén uống rượu. Các loại ốc này không giống nhau:

  • Loại miệng rộng, thân tròn dài gọi là ốc bôi (螺盃).
  • Loại miệng rộng và nông, hình như lá sen gọi là liễm bôi (瀲盃).
  • Loại cắt đôi, màu đỏ hồng bóng bẩy gọi là hồng ốc bôi (紅螺盃).
  • Loại có hình giống vẹt đang ngủ, mỏ đỏ đầu xanh gọi là vẹt bôi (鸚鵡盃).

Quạt lông chim (Vũ Phiến 羽扇)

[sửa]

Người Tĩnh Giang (靜江) giỏi bắt chim bay, dùng lông chim làm quạt. Quạt nhất định dùng lông bên trái, lấy lông căng ra, dùng chỉ buộc cố định, chờ thịt khô gân cứng mới dùng được.

  • Lông chim Kinh – loài chim lớn, lông dài vài thước, màu đen, tạo gió mạnh, thường dùng bởi võ sĩ, trông rất oai vệ.
  • Lông cò – trắng tinh, nhẹ, gió dịu, sĩ phu thường dùng. Dùng sơn và keo phủ lên gân xương rồi tô đỏ, cũng rất thanh nhã.

Người Giao Chỉ dùng lông hạc, đan bằng chỉ nối các ống lông, gắn cán riêng. Họ nói đất Giao Chỉ nhiều rắn, hạc ăn rắn, rắn ngửi thấy khí lông hạc thì tránh xa, nên dùng lông hạc để xua rắn.

Man Đao 蠻刀 (đao của người man)

[sửa]

Dao của người Dao và dao của người Lê, hình dạng gần giống nhau, đều là lưỡi ngắn cán dài, dao Lê thì lưỡi càng ngắn hơn. Cán dao quấn bằng mây đan hoa, đầu cán trang trí bằng miếng sừng trắng dài khoảng 1 thước, hình như đuôi diều. Dao Dao tuy không có hoa văn trang trí nhưng cũng rất sắc bén. Dao của các động ở Tả Giang, Hữu Giang và các man ngoài biên giới có hình dạng tương tự, lưỡi dài 4 thước, cán dài 2 thước. Một vỏ dao chứa hai lưỡi, gồm một lớn một nhỏ. Đầu cán có hai vòng tròn song song. Dao động dùng da đen làm vỏ, cán trang trí bằng sơn đen, dây đeo cũng bằng da đen. Dao man dùng da nâu làm vỏ, cán trang trí bằng chỉ vàng bạc, dây đeo bằng da đỏ. Dao động làm ở Đống Châu là tốt nhất. Dao man làm ở Đại Lý (大理) là tốt nhất. Dao Dao, dao Lê đeo ở thắt lưng, dao động, dao man đeo ở vai. Người động, người man thà tặng dao lớn cho người khác, chứ dao nhỏ thì nhất định không cho, vì dùng hằng ngày không thể thiếu. Gặp tên độc thì lập tức dùng dao cắt bỏ phần thịt, mới không chết, nên không thể đem cho người khác. Ngày nay loại dao gọi là “thổi lông xuyên gió” chính là loại dao Đại Lý (大理), vì nước Đại Lý (大理國) có suối Lệ (麗水), nên có thể làm dao tốt.

Man Giáp Trụ 蠻甲冑 (giáp trụ của người man)

[sửa]

Giáp trụ của các man đều làm bằng da. Người Dao dùng da gấu làm giáp trụ, vùng họ ở có loại lá cây giống như sơn, dùng để quét trang trí, cũng rất bền chắc. Khi người Dao đi cướp bóc, chỉ có vài người mặc giáp trụ đi trước, còn lại đều cởi trần, cũng đủ thấy dễ đối phó. Dân làng Tĩnh Giang không hề có giáp, nên chỉ nghe tiếng đã bỏ chạy. Trong số đó nếu có một hai nhóm tụ tập, có người mặc giáp da, thì người Dao cũng tránh né. Từ vùng người Dao về phía tây nam, như châu Nam Đan (南丹州), Ung Châu (邕州), các động suối ở Tả Giang, Hữu Giang, cho đến ngoại di, thì giáp trụ rất phổ biến. Trong các man, chỉ có giáp trụ của Đại Lý (大理) là làm bằng da voi, sơn đen cứng chắc, xen kẽ chỉ đỏ, giống như đồ dùng bằng sừng tê ở Trung Nguyên. Lại dùng vỏ sò trắng nhỏ đính vào các đường may, chẳng phải là thứ mà trong Kinh Thi gọi là “giáp đính vỏ, viền chỉ đỏ” đó sao? Giáp của nước Đại Lý (大理國) làm, phía trước sau che ngực bằng miếng da voi lớn như mai rùa, phần vai dùng các miếng da vừa ghép lại, phần cổ dùng miếng da nguyên cuộn tròn, các phần khác thì dùng miếng nhỏ như lá giáp ngựa của Trung Quốc. Tất cả đều cứng như sắt, dày gần nửa tấc, nếu thử bằng cung tên thì không thể xuyên thủng, giáp sắt còn không bằng.

Man Yên 蠻鞍 (Yên ngựa của người Man)

[sửa]

Yên ngựa của người Man không khác nhiều so với yên ngựa Trung Quốc, chỉ là không dùng đệm, chỉ có cầu yên, bàn đạp và miếng áp chân. Cầu yên sơn đỏ đen xen nhau, giống hoa văn sừng tê. Bàn đạp giống nửa chiếc ủng, ngón chân giấu bên trong, vì đường xá người Dao hiểm trở, ngựa đi qua bụi rậm, sợ bị thương chân. Miếng áp chân bọc bằng da, phía dưới dùng nỉ lót lên sống lưng ngựa. Phía sau yên có vòng gỗ xoay, treo vài chục đồng tiền lớn, xâu bằng chuỗi ngọc, giống như lừa ngựa. Yên đều lớn, phù hợp với sống lưng ngựa, chỉ có cầu trước hơi thấp.


Man Nỗ 蠻弩 (Nỏ của người Man)

[sửa]

Nỏ của người Man và người Dao có hình dạng giống nỏ "cật đạp" ở Trung Đô, vì không thể dùng tay kéo dây cung nên đều dùng chân để lên nỏ. Làm bằng gỗ yên chi, dài hơn 6 thước, dày 2 tấc, rộng khoảng 4 tấc. Phần cung dài hơn 3 thước, dày chỉ nửa tấc, không có rãnh tên, tên được xếp lên giá, nên gọi là "nỏ giá tên". Tên làm bằng tre nhọn, hoặc dùng tre tròn nhỏ, đều có hộp tên riêng cho nỏ. Mũi tên như đục, hoặc như lá rau diếp nước, dùng da mềm làm lông tên, thuận lợi khi bắn cao nhưng không thể bắn xuống, khi bắn thì dây dễ mềm, tên dễ cong, không phải vật liệu tốt.

Nỏ cũ ở Tuyên Châu (宣州), Nam Đan (南丹), và các động phía tây nam ở Tả Giang, Hữu Giang thuộc Ung Châu (邕州), cách chế tạo gần giống nhau, nhưng vật liệu làm cung thì tốt hơn. Chỉ có nỏ Nam Đan là vật liệu làm cung cực kỳ tốt. Cung nỏ Nam Đan có năm loại gỗ: gỗ Gia là tốt nhất; gỗ Thạch đứng thứ hai; tiếp theo là gỗ Hoàng Tốc và gỗ Lôi; gỗ Yên Chi là loại kém nhất. Gỗ Gia bắn gần thì tên bay càng xa, không có nhược điểm yếu lực cuối, nên gọi là "Gia". Gỗ Thạch có vân đen chìm, cứng như sắt đá. Gỗ Hoàng Tốc và gỗ Lôi khi bắn phát ra tiếng vang, so với gỗ Yên Chi thì lực bằng nhau nhưng tên bay xa gấp đôi.

Tôi từng nghe về nỏ nhỏ "cật đạp" rất lợi hại, vật liệu tốt, kỹ thuật như vuốt dây, nhấc dây, đặt tên, bẻ tên đều rất tinh xảo. Lại nghe nỏ của người Dao ở Tĩnh Giang rất mạnh, tên không bắn hụt, dân ở huyện cổ chỉ cần nghe tiếng dây nỏ vang lên là đều bỏ chạy tán loạn, cho thấy nỏ của người Man chính là loại "cật đạp" lớn.

Dung Kiếm 融劍 (Kiếm của vùng Dung 融)

[sửa]

Lê Cung 黎弓 Cung của người Lê 黎)

[sửa]

Dược Tiễn 藥箭 (Tên tẩm thuốc độc)

[sửa]

Ngô Châu Thiết Khí 梧州鐵器 (Đồ sắt của Ngô Châu)

[sửa]

Mộc Lan Chu 木蘭舟 (Thuyền gỗ Mộc Lan)

[sửa]

Đằng Chu 藤舟 (Thuyền làm bằng mây, đằng)

[sửa]

Khô Mộc Chu 刳木舟 (Thuyền độc mộc, đục từ thân cây)

[sửa]

Đà 柂 (Bánh lái hoặc mái chèo)

[sửa]

Man Lạp 蠻笠 (Nón của người Man)

[sửa]

Nón của người Man ở Tây Nam làm bằng thân tre, phủ bên ngoài bằng nỉ cá. Đỉnh nhọn tròn, cao hơn 1 thước, bốn bên viền nón rũ xuống khá thấp. So với nón của các phiên khác, cách chế tạo có vẻ không tinh xảo, nhưng lại rất thích hợp khi cưỡi ngựa. Vì đỉnh cao nên vững và không nghiêng, viền rũ nên gió không thổi bay được, điều mà nón các phiên khác không sánh bằng. Giao Chỉ có loại nón giống mũ sắt, đỉnh lệch, trông như đuôi ốc sên, gọi là "nón ốc". Làm bằng sợi tre nhỏ đan dày; tuy nói là khéo léo, nhưng chỉ là thứ mà người lao động nghèo đội mà thôi.

Bì lý 皮履 (giày da)

[sửa]

Người Giao Chỉ đi dép da, giống hệt loại mà các bức tranh La Hán hiện nay thường vẽ. Đế làm bằng da, ở giữa gắn một trụ nhỏ dài khoảng 1 tấc, trên đầu có núm xương, dùng ngón chân kẹp vào để đi. Hoặc dùng da đỏ tạo hình chữ thập, lật ngược ba đầu lên trên mặt đế, xỏ chân vào để đi. Tất cả đều là loại dép dùng khi ở nhà. Đất gần phương Tây, nên y phục và trang sức cũng đã giống với nơi đó.

Phục dụng 服用門 (đồ mặc)

[sửa]

Điềm 緂 (lụa thô)

[sửa]

Người Man ở Tả Giang, Hữu Giang thuộc Ung Châu (邕州) có dệt loại vải trắng gọi là "bạch đàm", nền trắng, hoa văn hình vuông, khổ rộng, sợi to, giống vải la mỏng ở Trung Đô, nhưng đẹp đẽ, dày dặn hơn, thật là loại y phục thượng hạng của phương Nam.

Bố 布 (vải)

[sửa]

Ở Quảng Tây, nơi nào cũng có nhiều cây gai, nơi nào cũng giỏi dệt vải. Vải Liễu, vải Tượng là những loại được thương nhân buôn bán khắp nơi đều biết đến. Dân ở huyện cổ thuộc phủ Tĩnh Giang dệt vải bằng cách buộc trục vào thắt lưng rồi dệt, nếu muốn thay đổi tư thế thì di chuyển cả trục mà đi. Tưởng rằng cách dệt ấy sẽ khiến sợi thưa không đều và rất chậm, nhưng khi mua về dùng hằng ngày thì lại thấy rất tốt, so với các loại vải khác thì bền hơn nhiều, chỉ có điều khổ vải hơi hẹp. Nguyên nhân là do họ dùng tro đốt từ lõi rơm nếp để nấu sợi vải, rồi trét bột thạch cao lên, khiến con thoi chạy trơn và sợi vải dệt chặt hơn.


Dao ban bố 猺斑布 (Vải hoa của người Dao)

[sửa]

Người Dao nhuộm vải bằng màu chàm để tạo hoa văn, hoa văn cực kỳ tinh xảo. Phương pháp là dùng hai miếng gỗ khắc hoa văn nhỏ, kẹp vải vào giữa, rồi đổ sáp nóng vào phần khắc. Sau đó tháo ván lấy vải ra, đem nhúng vào nước chàm. Khi vải đã nhuộm màu, thì đem nấu để loại bỏ sáp, nhờ vậy mà hoa văn nhỏ hiện rõ, rất đẹp mắt. Vì thế, kỹ thuật nhuộm hoa văn không ai bằng người Dao.

Thủy trừu 水紬 (Lụa tơ nước)

[sửa]

Ở Quảng Tây cũng có nuôi tằm, nhưng không nhiều. Có kén mà không kéo được tơ, nên đem nấu với nước tro, rồi kéo thành sợi để dệt vải thô. Tuy màu sắc hơi tối, nhưng rất thích hợp để may áo. Loại sản xuất ở Cao Châu là tốt nhất.

Sư tử 綀子 (vải gai)

[sửa]

Ở các động suối Tả Giang, Hữu Giang thuộc Ung Châu (邕州), đất đai có cây gai trắng, sợi sạch, mịn, mỏng và dài. Người địa phương chọn loại mịn dài nhất để làm "thô tử", dùng may áo mùa hè, nhẹ mát, không đổ mồ hôi. Hán Cao Tổ khi lập quốc từng ra lệnh cấm thương nhân mặc vải thô, cho thấy từ thời Hán đã quý trọng loại này. Loại có hoa văn gọi là "hoa thô", một đoạn dài hơn 4 trượng, mà nặng chỉ vài chục tiền, cuộn lại bỏ vào ống tre nhỏ vẫn còn dư chỗ. Nhuộm màu đỏ tươi thì rất dễ lên màu. Giá không rẻ, loại mịn thì một đoạn giá hơn mười mân.

An Nam quyên 安南絹 (Lụa An Nam)

[sửa]

Sứ giả An Nam đến Khâm, Thái Thú dùng ca kỹ tiếp đãi, cũng có tặng cho các kỹ nữ mỗi người một tấm lụa. Lụa thô như lưới mịn, phủ thêm lớp bông. Người Giao thường mặc loại lụa dệt dày. Không rõ loại lụa như lưới ở An Nam dùng để làm gì. Tôi nghe người Man khi có được vải đỏ của Trung Quốc thì tháo lấy sợi màu để tự dệt áo, loại lụa này đúng là thích hợp để tháo lấy sợi.

Chiên 氊 (nỉ lông cừu)

[sửa]

Vùng đất người Man ở Tây Nam có nuôi cừu, nên rất nhiều vải dạ. Từ Man vương đến dân thường, không ai là không khoác dạ; Man vương thì mặc áo gấm khoác dạ, dân thường thì cởi trần khoác dạ. Dạ phương Bắc dày và chắc, còn dạ phương Nam dài đến hơn 3 trượng, rộng cũng 1 trượng 6–7 thước, gấp đôi chiều rộng lại và may viền, vẫn còn rộng khoảng 8–9 thước. Dùng một dải dạ dài xỏ qua chỗ gấp, rồi khoác lên người, buộc ở eo, trông lượn lờ uyển chuyển. Ban ngày thì khoác, ban đêm thì nằm, mưa nắng nóng lạnh đều không rời khỏi thân. Trên mặt có hoa văn hình quả hồ đào, loại dài lớn mà nhẹ là tốt nhất, sản xuất ở nước Đại Lý (大理國), loại tốt thì viền bằng vải đen.

Cát bối 吉貝 (Vải dệt từ cây bông gòn hoặc gai dầu hoặc sợi chuối)

[sửa]

Cây cát bối giống cây dâu nhỏ, cành và đài hoa giống phù dung, nhụy và lá đều có lông mịn, bông dài khoảng nửa tấc, như bông liễu, có vài chục hạt đen. Người phương Nam lấy bông, dùng thanh sắt nghiền bỏ hạt, rồi dùng tay nắm bông kéo sợi, không cần quay tơ. Dệt thành vải thì rất bền chắc. Sử nhà Đường cho rằng đó là "cổ bối", lại cho là loài cỏ. Nhưng chữ "cổ" và "cát" có thể nhầm, cỏ và cây khác nhau, không rõ có phải ngoài loài cỏ sinh ra "cổ bối", còn "cát bối" là loài cây chăng? Hay vì cây nhỏ giống cỏ, nên chữ viết truyền nhau mà sinh nghi?

Các vùng Lôi, Hóa, Liêm Châu và các động người Lê ở Nam Hải có nhiều, dùng thay cho tơ gai. Ở Lôi, Hóa, Liêm Châu có loại dệt thành tấm, khổ rộng dài, trắng sạch mịn, gọi là "mạn cát bối"; loại khổ hẹp, thô, màu tối gọi là "thô cát bối". Có loại cực mịn, nhẹ, mềm, trắng sạch, mặc vào bền lâu. Loại dệt ở Hải Nam có nhiều loại: khổ cực rộng, không thành tấm, ghép hai tấm làm chiếu nằm, gọi là "Lê đơn"; xen năm màu, hoa văn rực rỡ, ghép bốn tấm làm màn, gọi là "Lê sức"; năm màu tươi sáng, dùng phủ bàn sách, gọi là "an đạp"; loại dài thì người Lê dùng quấn eo. Loại dệt ở Nam Chiếu thì tinh xảo nhất. Loại màu trắng gọi là "triều hà"; vua mặc vải trắng, vợ vua mặc "triều hà"; sách Lô sử gọi là "bạch miên cát bối", "triều hà cát bối" chính là vậy.

Trùng ty 蟲絲 (Tơ tằm, tơ côn trùng)

[sửa]

Ở Quảng Tây, khi lá phong mới mọc, có nhiều sâu ăn lá, giống tằm nhưng màu đỏ đen. Vào tháng 4, tháng 5, bụng sâu trong suốt như tằm chín. Người ở Hoành Châu bắt về, ngâm trong giấm đặc, rồi tách lấy tơ, kéo ngay trong giấm, một con có thể cho sợi dài 6–7 thước, sáng bóng như đã luộc, dùng làm dây cung, dây đàn. Dùng để buộc cung, dao, quạt lụa đều rất tốt.

Bà sam bà quần 婆衫婆裙 (Áo váy của phụ nữ bản địa)

[sửa]

Ở các làng quê Khâm Châu, phụ nữ mới cưới mặc áo gọi là "bà sam", váy gọi là "bà quần". Áo may bằng các mảnh vải vụn nhiều màu, ghép thành hình cầu nhỏ, hoa văn như khăn vuông lớn, may hai bên áo thành ống tay, khoác lên làm áo ngoài, dài chỉ đến eo, lượn lờ uyển chuyển. Váy may viền bốn phía, dài hơn 1 trượng, xỏ chân vào rồi buộc ở eo. Dùng mây thắt eo, kéo váy lên cho ngắn, phần váy kéo dồn lại ở eo, nên eo trông rất to, gọi là "bà quần". Đầu đội nón mây, trang trí trăm hoa và chim phượng. Đây là trang phục của phụ nữ mới cưới trong một tháng, dù ra vào làng chợ cũng không cởi bỏ.

Thực dụng 食用門 (đồ ăn)

[sửa]

Tửu 酒 (rượu)

[sửa]

Ở Quảng Hữu không cấm rượu, cả công lẫn tư đều có rượu ngon, trong đó rượu Thống soái Thụy Lộ là đứng đầu, hương vị đậm đà, như bậc quân tử đủ đạo đức và tài năng, danh vang khắp Hồ Quảng. Loại rượu này vốn xuất xứ từ châu Hạ (賀州), nay rượu Lâm Hạ không sánh kịp. Rượu các quận khác không có gì đáng kể, chỉ có rượu châu Chiêu khá dễ say, nghe nói khi nấu rượu có bỏ hoa mạn đà la lên miệng vò, để rượu hút lấy khí độc, không rõ lý do ra sao. Giữa Bân và Hoành có chợ Cổ Lạt, núi có dây thuốc, nước cũng thích hợp nấu rượu, nên rượu có màu hơi đỏ, dù đi dưới nắng gắt vài ngày, màu và vị vẫn như cũ. Tuy nhiên, nếu nói đến độ đậm thì chưa đủ. Các nhà giàu ở các quận thường ủ rượu lâu năm, có thể để đến mười năm, màu đỏ sẫm gần đen, vị vẫn không hỏng. Dọc đường các nơi đều bán rượu trắng, ở Tĩnh Giang thì đặc biệt phổ biến, người đi đường dùng 14 tiền mua một chén lớn rượu trắng kèm canh đậu hũ, gọi là “đậu hũ tửu”. Tĩnh Giang có thể sản xuất phấn chì là nhờ bã rượu tích tụ nhiều.

Trà 茶

[sửa]

Phủ Tĩnh Giang, huyện Tu Nhân có trồng trà, người địa phương chế thành bánh vuông, mỗi miếng vuông khoảng 2 tấc, hơi dày, loại có khắc ba chữ “cung thần tiên” là loại thượng hạng; loại vuông 5–6 tấc, hơi mỏng là loại trung; loại lớn, thô và mỏng là loại hạ. Trà Tu Nhân rất nổi tiếng. Nấu uống thì nước đen sẫm, vị đậm, có thể trị đau đầu. Huyện Cổ cũng có trà, vị không khác Tu Nhân.

Thực tân lang 食檳榔 (Ăn trầu cau)

[sửa]

Từ Phúc Kiến xuống Tứ Xuyên, Quảng Đông và Tây Lộ đều có tục ăn trầu cau. Khách đến không mời trà, chỉ dâng trầu cau làm lễ. Cách ăn là chẻ cau thành miếng, trộn một chút vôi sò với nước, phết lên lá trầu, rồi gói cau lại nhai. Trước tiên nhổ ra một ngụm nước đỏ, sau đó mới nuốt phần nước còn lại. Chốc lát mặt đỏ bừng, nên thi nhân có câu “say trầu cau”. Nơi không có vôi sò thì dùng vôi đá; không có lá trầu thì dùng dây trầu. Ở Quảng Châu còn thêm đinh hương, hoa quế, tam lại tử và các vị thuốc thơm, gọi là “trầu thuốc thơm”. Chỉ riêng Quảng Châu là phổ biến nhất, không kể giàu nghèo, lớn bé, nam nữ, từ sáng đến tối, thà không ăn cơm chứ không bỏ trầu. Người giàu dùng khay bạc đựng, người nghèo dùng khay thiếc. Ban ngày thì lấy từ khay ra nhai, ban đêm để khay bên gối, tỉnh dậy là nhai tiếp. Dân nghèo tốn hơn trăm tiền mỗi ngày cho trầu cau. Có câu châm biếm người Quảng: “Người đi đường miệng như dê”, ý nói nhai trầu với lá trầu suốt ngày, mô tả rất đúng cảnh ăn trầu. Gặp người thì răng đen môi đỏ; tụ họp thì đất đỏ loang lổ, thật khó chịu. Sĩ phu đi xa thường mang theo hộp trầu, làm như thỏi bạc, chia ba ngăn: một đựng lá trầu, một đựng vôi sò, một đựng cau. Sứ giả Giao Chỉ cũng ăn trầu. Hỏi người địa phương: “Vì sao nghiện đến vậy?” Trả lời: “Tránh khí độc, tiêu hóa, hạ khí. Ăn lâu thì không thể thiếu, thiếu thì miệng lạt, hơi thở hôi.” Từng bàn với một thầy thuốc, ông nói: “Trầu cau có thể hạ khí, nhưng cũng hao khí. Phổi là nơi chứa khí, nằm trên hoành cách, như cái lọng che bụng. Ăn trầu lâu, phổi co lại không che được, nên khí hôi bốc lên má, khiến người ta luôn muốn ăn trầu để hạ khí. Thật ra không có ích gì với khí độc, người bệnh khí độc vẫn ăn trầu mà vẫn bệnh.”

Lão trả 老鮓 (Khô, cá muối lên men)

[sửa]

Người phương Nam làm cá muối (khô), có loại để mười năm không hỏng. Cách làm là trộn cá với muối và bột, ủ trong vò, miệng vò làm thành rãnh nước, đậy bằng bát, niêm kín bằng nước, nước cạn thì thêm vào, nên không lọt gió. Cá muối vài năm sinh lớp mốc trắng, trông như hỏng. Khi tặng quà cho thân thích, đều dùng cá muối rượu, nhưng cá muối lâu năm là quý nhất.

Dị vị 異味 (các món quái dị)

[sửa]

Người vùng sâu Quảng Tây và các động suối ăn mọi thứ chim thú rắn sâu, không gì không ăn. Trong đó có món ngon, có món ghê. Núi có rùa gọi là “bột hoàn”, tre có chuột tên riêng, chân chim cồng cộc đem phơi khô rồi nấu. Môi cá tầm, mổ sống lấy ăn, gọi là “hồn cá”, là món quý nhất. Gặp rắn thì bắt, không kể dài ngắn; gặp chuột thì bắt, không phân lớn nhỏ; dơi thì ghê, tắc kè thì sợ, châu chấu thì nhỏ bé, đều bắt nướng ăn. Tổ ong độc, sâu bẩn đều rang ăn. Trứng châu chấu, cánh rắn trời đều muối ăn. Thật chẳng khác gì người thích món ngon. Thậm chí còn nấu dạ dày dê, trộn với đồ dơ làm canh, gọi là “canh xanh”, để thử lòng khách. Khách ăn được thì vui mừng, không ăn thì cho là nghi kỵ, nhưng không rõ ai nghi ai? Lại còn muối chim oanh, phơi khô công trĩ!

Trai tố 齋素 (ăn chay)

[sửa]

Người Khâm khi có tang, không ăn cá thịt mà ăn cua, càng, hàu, ốc, gọi là ăn chay, vì không có máu. Người Lê ở Hải Nam khi có tang thì không ăn cháo cơm, chỉ uống rượu và ăn thịt bò sống, cho đó là hiếu thảo nhất.

Mãi Thuỷ Cô Thuỷ 買水沽水 (Mua nước, bán nước)

[sửa]

Người Khâm khi có người chết, con cháu để tóc xõa, đội nón tre, mang bình vò, cầm tiền giấy, ra bờ nước khóc lóc, ném tiền xuống nước rồi múc nước về tắm xác, gọi là “mua nước”. Nếu không làm vậy thì bị cho là bất hiếu. Nay người Khâm dùng tiền đổi nước để nấu ăn, gọi là “bán nước”, để tránh tên xấu. Ở các động suối Ung Châu, nam nữ tắm chung ở sông, khóc lóc rồi về.

   




Chú thích

 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.