Bước tới nội dung

Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh/07

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Lục Tổ Đàn Kinh  (Đại Đườngcủa Huệ Năng, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Phẩm Cơ Duyên thứ bảy
PHẨM CƠ DUYÊN THỨ BẢY

Ni sư tên Vô Tận Tạng

[sửa]

Sư từ Hoàng Mai đắc pháp, trở về thôn Tào Hầu ở Thiều Châu, không ai biết đến. Bấy giờ có nhà nho Lưu Chí Lược đối đãi rất hậu. Chí Lược có người cô là ni sư tên Vô Tận Tạng, thường tụng kinh Đại Bát Niết Bàn. Sư mới nghe qua đã biết nghĩa mầu, bèn vì ni sư mà giải nói. Ni sư cầm quyển kinh hỏi chữ.

Sư nói: "Chữ thì tôi không biết, còn nghĩa thì xin cứ hỏi."

Ni sư nói: "Chữ còn chẳng biết, sao hội được nghĩa?"

Sư nói: "Diệu lý của chư Phật không liên quan đến chữ nghĩa."

Ni sư kinh dị, đi báo khắp các bậc kỳ đức trong làng rằng: "Đây là bậc có đạo, nên thỉnh về cúng dường." Có huyền tôn của Ngụy Vũ Hầu là Tào Thúc Lương cùng dân cư kéo đến chiêm bái. Bấy giờ chùa cổ Bảo Lâm đã bị binh lửa cuối đời Tùy thiêu hủy, họ bèn dựng lại chùa trên nền cũ, mời Sư về ở. Chẳng mấy chốc nơi đó thành danh lam. Sư ở đó hơn chín tháng, lại bị nhóm ác đảng đuổi theo. Sư lánh vào núi phía trước, bị chúng đốt cỏ cây, Sư ẩn thân vào kẽ đá mới thoát. Nay trên đá vẫn còn vết ngồi kiết già và lằn y vải, nên gọi là "Đá tránh nạn". Sư nhớ lời Ngũ Tổ dặn phải ẩn tu, bèn đi lánh ở hai huyện này.

Sư Pháp Hải

[sửa]

Tăng Pháp Hải người Khúc Giang, Thiều Châu, mới đến tham vấn hỏi: "Tức tâm tức Phật, nguyện xin chỉ dạy." Sư nói: "Niệm trước không sinh là Tâm, niệm sau không diệt là Phật. Thành tựu tất cả tướng là Tâm, lìa tất cả tướng là Phật. Ta nếu nói đủ thì trọn kiếp không hết. Hãy nghe kệ ta:

Tức tâm gọi là Tuệ, tức Phật chính là Định.
Định Tuệ giữ đồng đẳng, trong ý sạch thanh tịnh.
Ngộ pháp môn này rồi, do thói quen của ngươi.
Dùng vốn là vô sinh, song tu là chính đạo."
Pháp Hải ngay đó đại ngộ, làm kệ tán thán:
Tức tâm vốn là Phật, không ngộ tự chịu khổ.
Tôi biết nhân định tuệ, song tu lìa vạn vật.

Sư Pháp Đạt

[sửa]

Tăng Pháp Đạt người Hồng Châu, bảy tuổi xuất gia, thường tụng kinh Pháp Hoa. Đến lễ Tổ mà đầu không chạm đất. Sư quở: "Lễ mà không sát đất, thà đừng lễ còn hơn. Trong lòng ông chắc đang giữ một vật gì, ông thường tu tập việc gì?" Thưa: "Niệm kinh Pháp Hoa đã được ba ngàn bộ." Sư nói: "Nếu ông niệm đến một vạn bộ, hiểu được kinh ý mà không cho đó là hơn người, thì mới cùng đi với ta được. Nay ông tự phụ vào sự nghiệp này mà không biết lỗi. Nghe kệ ta đây:

Lễ vốn để dẹp ngã mạn, đầu sao chẳng sát đất.
Có 'ta' tội liền sinh, quên 'công' phước vô tận."

Sư lại hỏi: "Tên ông là gì?" Thưa: "Pháp Đạt." Sư nói: "Tên là Pháp Đạt mà chưa từng đạt pháp." Lại thuyết kệ:

Nay ông tên Pháp Đạt, siêng tụng chẳng nghỉ ngơi.
Tụng suông theo tiếng gọi, minh tâm hiệu Bồ Tát.
Ông nay có duyên lành, nên ta vì ông nói.
Hãy tin Phật không lời, hoa sen từ miệng nở.

Pháp Đạt nghe kệ hối tạ: "Từ nay về sau sẽ khiêm cung với tất cả. Đệ tử tụng kinh Pháp Hoa mà chưa hiểu nghĩa, lòng thường có nghi. Hòa thượng trí tuệ quảng đại, xin giảng lược nghĩa lý trong kinh." Sư nói: "Pháp Đạt, Pháp vốn rất đạt, tâm ông chẳng đạt. Kinh vốn không nghi, tâm ông tự nghi. Ông niệm kinh này lấy gì làm tông?" Đạt thưa: "Học nhân căn tính ám độn, xưa nay chỉ theo văn mà tụng, đâu biết tông thú?" Sư nói: "Ta không biết chữ, ông thử lấy kinh tụng một biến, ta sẽ vì ông giải thuyết."

Pháp Đạt tụng lớn đến phẩm Thí Dụ, Sư bảo: "Dừng! Kinh này vốn lấy nhân duyên xuất thế làm tông, dù nói nhiều thí dụ cũng không ngoài điều này. Nhân duyên là gì? Kinh nói: 'Chư Phật Thế Tôn duy chỉ vì một sự kiện nhân duyên lớn mà xuất hiện ở đời'. Sự kiện lớn đó chính là Tri kiến Phật. Người đời ngoài mê chấp tướng, trong mê chấp không. Nếu ở nơi tướng mà lìa tướng, nơi không mà lìa không, tức là trong ngoài không mê. Nếu ngộ pháp này, một niệm tâm mở ra, đó là Mở Tri kiến Phật. Phật tức là Giác. Chia làm bốn cửa: Khai (mở), Thị (chỉ), Ngộ (hiểu), Nhập (vào) cái thấy biết của sự giác ngộ. Nếu nghe khai thị mà liền có thể ngộ nhập, tức là Tri kiến giác ngộ vốn là chân tính được hiển lộ.

Ông cẩn thận chớ hiểu sai ý kinh, thấy nói 'khai thị ngộ nhập' lại bảo đó là tri kiến của Phật, còn hạng chúng ta không có phần. Nếu hiểu như thế là báng kinh hủy Phật. Ngài đã là Phật, đã đủ tri kiến, cần gì phải 'mở' nữa? Nay ông nên tin rằng Tri kiến Phật chính là tự tâm ông, không có vị Phật nào khác. Bởi vì tất cả chúng sinh tự che lấp ánh sáng, tham ái trần cảnh, ngoài duyên trong rối, cam chịu sai khiến, nên mới nhọc lòng Thế Tôn phải từ tam muội đứng dậy, dùng đủ lời đắng miệng khuyên bảo dừng nghỉ, chớ tìm bên ngoài, thì cùng Phật không hai; nên gọi là Khai Tri kiến Phật.

Ta cũng khuyên mọi người, ở trong tâm mình thường mở tri kiến Phật. Người đời tâm tà, ngu mê tạo tội, miệng lành tâm ác, tham sân tật đố, nịnh hót ngã mạn, hại người hại vật, đó là tự mở tri kiến chúng sinh. Nếu tâm ngay thẳng, thường sinh trí tuệ, quán chiếu tự tâm, bỏ ác hành thiện, ấy là tự mở tri kiến Phật. Ông phải niệm niệm mở tri kiến Phật, đừng mở tri kiến chúng sinh. Mở tri kiến Phật là xuất thế, mở tri kiến chúng sinh là thế gian. Nếu ông cứ nhọc nhằn chấp vào việc niệm mà cho là công đức, khác gì trâu đuôi dài (ly ngưu) yêu quý cái đuôi của nó?"

Đạt thưa: "Nếu vậy, chỉ cần hiểu nghĩa, chẳng cần nhọc lòng tụng kinh sao?" Sư nói: "Kinh có lỗi gì, đâu ngăn ông niệm? Chỉ vì mê ngộ tại người, hại lợi do mình. Miệng tụng tâm hành là xoay kinh; miệng tụng tâm không hành là bị kinh xoay. Nghe kệ ta đây:

Tâm mê Pháp Hoa chuyển, tâm ngộ chuyển Pháp Hoa.
Tụng lâu không hiểu lý, cùng nghĩa làm kẻ thù.
Không niệm, niệm mới chính; có niệm, niệm thành tà.
Có không đều chẳng tính, mãi cưỡi xe trâu trắng."

Pháp Đạt nghe kệ không giác được rơi lệ, ngay đó đại ngộ, thưa: "Pháp Đạt từ xưa đến nay thực chưa từng xoay Pháp Hoa, mà bị Pháp Hoa xoay." Lại hỏi về nghĩa ba xe: Dê, Nai, Trâu và Xe Trâu Trắng có gì khác biệt. Sư nói: "Ý kinh phân minh, ông tự mê lầm. Những người ba thừa không đo lường được trí Phật là vì lỗi ở chỗ 'đo lường'. Dù họ có tận cùng suy xét cũng càng thêm xa cách. Phật vốn vì phàm phu mà nói, chẳng phải vì Phật mà nói. Lý này nếu không tin thì cứ việc rời tòa. Đâu biết rằng mình đang ngồi trên xe trâu trắng mà lại ra ngoài cửa tìm ba xe. Huống hồ kinh văn bảo rõ: 'Duy chỉ một Phật thừa, không có thừa nào khác'. Các thứ hai, ba cho đến vô số phương tiện, thí dụ, lời lẽ đều vì một Phật thừa vậy. Sao ông không tỉnh? Ba xe là giả vì thuở xưa; một thừa là thực vì thời nay. Chỉ dạy ông bỏ giả về thực, về thực rồi thì thực cũng không tên. Nên biết tất cả châu báu đều thuộc về ông, do ông thọ dụng, không còn nghĩ là cha, cũng chẳng nghĩ là con, cũng chẳng nghĩ đến việc dùng hay không dùng; đó mới gọi là trì kinh Pháp Hoa. Từ kiếp này sang kiếp khác tay không rời quyển, từ sáng đến tối không lúc nào chẳng niệm." Pháp Đạt được khai phát, vui mừng nhảy hót, làm kệ tán: Kinh tụng ba ngàn bộ, Tào Khê một câu tan. Chưa rõ ý xuất thế, đâu dứt cuồng nhiều đời. Dê, nai, trâu: phương tiện; Đầu, giữa, cuối: thiện dương. Ai biết trong nhà lửa, vốn là Pháp Trung Vương. Sư nói: "Từ nay ông mới thật sự là vị tăng niệm kinh vậy."

Sư Trí Thông

[sửa]

Tăng Trí Thông người An Phong, xem kinh Lăng Già hơn ngàn lần mà chưa hiểu nghĩa "Ba thân bốn trí", đến lễ Sư cầu giải. Sư nói: "Ba thân là: Thanh tịnh Pháp thân (tính của ông); Viên mãn Báo thân (trí của ông); Thiên bách ức Hóa thân (hạnh của ông). Nếu lìa bản tính mà nói ba thân, ấy là có thân không trí; nếu ngộ ba thân không có tự tính, ấy gọi là Bốn trí Bồ Đề. Nghe kệ đây:

Tự tính đủ ba thân, phát minh thành bốn trí.
Chẳng lìa duyên thấy nghe, siêu nhiên lên đất Phật.
Ta nay vì ông nói, tin chắc vĩnh viễn không mê.
Chớ học kẻ tìm cầu, suốt ngày nói Bồ Đề."

Thông hỏi: "Nghĩa bốn trí có thể nghe chăng?" Sư nói: "Đã hiểu ba thân thì rõ bốn trí, sao lại hỏi nữa? Nếu lìa ba thân nói bốn trí, gọi là có trí không thân. Ngay cái có trí đó lại thành không trí." Lại thuyết kệ:

Đại viên cảnh trí tính thanh tịnh.
Bình đẳng tính trí tâm không bệnh.
Diệu quan sát trí thấy phi công.
Thành sở tác trí đồng viên cảnh.
Năm tám sáu bảy quả nhân chuyển. (Năm thức trước, thức thứ tám, thứ sáu, thứ bảy)
Chỉ dùng danh từ không thực tính.
Nếu nơi chỗ chuyển chẳng lưu tình.
Náo nhiệt vẫn nằm định Na-già.

Thông đốn ngộ tính trí, trình kệ:
Ba thân vốn thể ta, bốn trí từ tâm rõ.
Thân trí dung không ngại, ứng vật tùy hình tướng.
Khởi tu đều vọng động, giữ trụ chẳng chân tinh.
Diệu chỉ nhờ Thầy hiểu, sạch hết tên ô nhiễm.

Sư Trí Thường

[sửa]

Tăng Trí Thường người Quý Khê, xuất gia từ nhỏ, chí cầu kiến tính. Một hôm đến lễ Sư. Sư hỏi: "Ông từ đâu lại? Muốn cầu việc gì?" Thưa: "Học nhân gần đây đến núi Bạch Phong lạy Hòa thượng Đại Thông, được chỉ dạy nghĩa kiến tính thành Phật, nhưng chưa quyết được nghi, nên từ xa đến đây đầu lễ, mong Hòa thượng từ bi chỉ dạy." Sư hỏi: "Ông ấy nói lời gì, thử cử lại xem." Thường thưa: "Đại Thông nói: 'Ngươi thấy hư không chăng?'. Thưa: 'Thấy'. Ông ấy nói: 'Hư không có tướng mạo chăng?'. Thưa: 'Hư không không hình, có tướng mạo gì?'. Ông ấy nói: 'Bản tính ngươi cũng như hư không, không một vật gì có thể thấy, gọi là chính kiến; không một vật gì có thể biết, gọi là chân tri. Không xanh vàng dài ngắn, chỉ thấy bản nguyên thanh tịnh, giác thể tròn sáng, gọi là kiến tính thành Phật, cũng gọi là Như Lai tri kiến'. Học nhân nghe vậy vẫn chưa thông suốt."

Sư nói: "Vị thầy đó nói vẫn còn tồn tại 'cái thấy cái biết' (kiến tri) nên ông chưa hiểu. Ta nay cho ông một kệ:

Chẳng thấy một pháp mà còn cái 'không thấy', giống như mây nổi che mặt trời.
Chẳng biết một pháp mà giữ cái 'biết không', lại như hư không hiện chớp giật.
Cái 'tri kiến' này vụt dấy lên, hiểu sai đâu phải là phương tiện.
Ngươi nên một niệm tự biết sai, linh quang của mình thường hiển hiện."
Trí Thường nghe kệ xong lòng liền khoáng đạt, trình kệ:
Vô cớ khởi tri kiến, chấp tướng cầu Bồ Đề.
Lòng còn một niệm ngộ, sao khỏi mê thuở xưa.
Tự tính nguồn giác thể, tùy chiếu uổng trôi lăn.
Chẳng vào thất Tổ sư, mù mờ chạy hai đầu.

Một ngày, Trí Thường hỏi Sư về ba thừa và tối thượng thừa. Sư nói: "Ông hãy quán tự bản tâm, chớ chấp pháp tướng bên ngoài. Pháp không có bốn thừa, tại lòng người tự có sai biệt. Thấy nghe đọc tụng là Tiểu thừa; ngộ pháp hiểu nghĩa là Trung thừa; y pháp tu hành là Đại thừa. Muôn pháp đều thông, muôn pháp đều đủ, tất cả không nhiễm, lìa các pháp tướng, không có chỗ đắc, gọi là Tối Thượng thừa. 'Thừa' là nghĩa hành trì, không phải ở chỗ tranh luận miệng. Ông phải tự tu, chớ hỏi ta, trong tất cả thời tự tính tự như." Trí Thường lễ tạ, hầu hạ cho đến khi Sư tạ thế.

Sư Chí Đạo

[sửa]

Tăng Chí Đạo người Nam Hải, hỏi: "Học nhân xuất gia xem kinh Niết Bàn hơn mười năm mà chưa rõ đại ý." Sư hỏi: "Ông không rõ chỗ nào?" Thưa: "Câu 'Các hành vô thường, là pháp sinh diệt; sinh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui'. Chỗ này đệ tử nghi." Sư hỏi: "Nghi thế nào?" Thưa: "Chúng sinh có hai thân: sắc thân và pháp thân. Sắc thân vô thường có sinh diệt; pháp thân có thường mà không tri giác. Kinh nói sinh diệt diệt rồi tịch diệt là vui, chẳng rõ thân nào tịch diệt? Thân nào thụ lạc? Nếu là sắc thân, khi nó diệt thì tứ đại phân tán, hoàn toàn là khổ, không thể nói vui. Nếu pháp thân tịch diệt thì như cỏ cây gạch đá, ai là người thụ lạc? Lại nữa, pháp tính là thể của sinh diệt, ngũ uẩn là dụng của sinh diệt; một thể năm dụng, sinh diệt là thường. Nếu bảo chết rồi sinh lại là loài hữu tình chẳng dứt, nếu bảo không sinh lại nữa thì vĩnh viễn tịch diệt như loài vô tình. Như thế muôn pháp bị Niết Bàn ngăn cấm chẳng cho sinh ra, có gì là vui?"

Sư nói: "Ông là thích tử, sao lại học tà kiến đoạn thường của ngoại đạo mà bàn pháp Tối thượng thừa? Theo lời ông, là ngoài sắc thân riêng có pháp thân, lìa sinh diệt tìm cái tịch diệt; lại suy đoán Niết Bàn thường lạc là có thân thụ dụng. Đó là chấp luyến sinh tử, ham vui thế gian. Nay ông nên biết, Phật vì tất cả người mê lầm nhận ngũ uẩn hòa hợp làm tự thể, phân biệt các pháp làm ngoại trần; ham sống sợ chết, niệm niệm trôi lăn, chẳng biết mộng huyễn hư giả, uổng chịu luân hồi; đem cái Niết Bàn thường lạc biến thành tướng khổ, suốt ngày chạy tìm. Phật vì thương xót nên mới chỉ ra cái vui chân thực của Niết Bàn: Trong sát-na không có tướng sinh, trong sát-na không có tướng diệt, cũng không có cái sinh diệt nào để diệt nữa, đó là tịch diệt hiện tiền. Ngay lúc hiện tiền cũng không có cái 'lượng hiện tiền', ấy mới gọi là thường lạc. Vui này không người thụ, cũng không người chẳng thụ. Đâu có cái tên 'một thể năm dụng', huống hồ nói Niết Bàn ngăn cấm muôn pháp không cho sinh. Đó là báng Phật hủy Pháp. Nghe kệ ta:

Đại Niết Bàn tối thượng, tròn sáng thường lặng soi.
Kẻ ngu gọi là chết, ngoại đạo chấp là đoạn.
Người cầu Nhị thừa tưởng là 'không làm'.
Đều thuộc tình chấp tính, gốc sáu mươi hai kiến.
Vọng lập tên hư giả, đâu là nghĩa chân thực?
Chỉ người vượt lượng rồi, thông đạt không lấy bỏ.
Vì biết pháp ngũ uẩn, và cái 'ngã' trong uẩn.
Ngoài hiện các sắc tượng, mỗi mỗi tướng âm thanh.
Bình đẳng như mộng huyễn, chẳng khởi thấy thánh phàm.
Chẳng khởi hiểu Niết Bàn, hai biên ba thời dứt.
Thường ứng các căn dụng, mà chẳng khởi tưởng 'dùng'.
Phân biệt tất cả pháp, mà chẳng khởi tưởng 'phân biệt'.
Lửa kiếp cháy đáy biển, gió thổi núi chạm nhau.
Chân thường tịch diệt lạc, tướng Niết Bàn như thị.
Ta nay miễn cưỡng nói, khiến ông bỏ tà kiến.
Ông chớ tùy lời hiểu, mới cho biết chút phần."
Chí Đạo nghe kệ đại ngộ, vui mừng lễ tạ.

Thiền sư Hành Tư

[sửa]

Hành Tư sinh tại Cát Châu, nghe danh Tào Khê bèn đến tham lễ, hỏi: "Nên làm việc gì để không rơi vào giai cấp (thứ bậc)?" Sư hỏi: "Ông từng làm việc gì lại?" Thưa: "Thánh đế cũng chẳng làm." Sư hỏi: "Rơi vào giai cấp nào?" Thưa: "Thánh đế còn chẳng làm, có giai cấp gì?" Sư rất trọng, bèn cử đứng đầu chúng. Sau Sư bảo: "Ông nên đi hóa đạo một phương, chớ để đoạn tuyệt." Hành Tư về núi Thanh Nguyên, Cát Châu hoằng pháp. Hiệu là Hồng Tế Thiền sư.

Thiền sư Hoài Nhượng

[sửa]

Hoài Nhượng người Kim Châu, trước đến yết kiến Quốc sư An ở Tung Sơn, rồi được chỉ về Tào Khê. Nhượng đến lễ bái, Sư hỏi: "Ở đâu lại?" Thưa: "Tung Sơn." Sư hỏi: "Vật gì, lại thế ấy?" Thưa: "Nói giống một vật tức không trúng." Sư hỏi: "Còn có thể tu chứng chăng?" Thưa: "Tu chứng tức không chẳng có, nhiễm ô tức chẳng thể được." Sư nói: "Chỉ cái 'chẳng nhiễm ô' này là cái chư Phật hộ niệm. Ông đã như thế, ta cũng như thế." Hoài Nhượng triệt ngộ, hầu hạ 15 năm. Sau về Nam Nhạc đại chấn Thiền tông. Hiệu là Đại Tuệ Thiền sư.

Thiền sư Huyền Giác

[sửa]

Huyền Giác người Ôn Châu, tinh thông chỉ quan Thiên Thai, do xem kinh Duy Ma mà phát minh心地 (tâm địa). Có đệ tử của Tổ là Huyền Sách đến thăm, đàm luận thấy lời hợp với các Tổ. Sách nói: "Nhân giả đắc pháp với ai?" Thưa: "Tôi nghe kinh luận mỗi thứ có thầy, sau xem kinh Duy Ma tự ngộ tâm tông, nhưng chưa có người chứng minh." Sách nói: "Trước thời Oai Âm Vương thì được, sau thời Oai Âm Vương mà không thầy tự ngộ thì đều là ngoại đạo thiên nhiên." Thưa: "Nguyện nhân giả vì tôi chứng cứ." Sách nói: "Lời tôi nhẹ, ở Tào Khê có Lục Tổ đại sư, bốn phương mây tập, đều là người thụ pháp, nếu đi tôi sẽ cùng đi."

Giác bèn cùng Sách đến tham lễ, đi quanh Sư ba vòng, rồi chống gậy đứng yên. Sư nói: "Phàm là sa môn phải đủ ba ngàn uy nghi, tám vạn tế hạnh. Đại đức từ đâu lại mà sinh đại ngã mạn như thế?" Giác thưa: "Sinh tử việc lớn, vô thường mau chóng." Sư nói: "Sao không thể lấy cái 'vô sinh', hiểu cái 'chẳng mau'?" Thưa: "Thể tức vô sinh, hiểu vốn không mau." Sư nói: "Đúng thế, đúng thế!" Huyền Giác bấy giờ mới đủ uy nghi lễ bái, giây lát cáo từ. Sư nói: "Về nhanh thế sao?" Thưa: "Vốn tự không động, há có nhanh ư?" Sư hỏi: "Ai biết không động?" Thưa: "Nhân giả tự sinh phân biệt." Sư nói: "Ông rất đắc ý vô sinh." Thưa: "Vô sinh há có ý sao?" Sư hỏi: "Không ý ai đương phân biệt?" Thưa: "Phân biệt cũng phi ý." Sư nói: "Hay thay! Hãy ở lại một đêm." Thời bấy giờ gọi là "Nhất Túc Giác" (người ngộ trong một đêm). Sau có tác phẩm Chứng Đạo Ca lừng danh.

Thiền giả Trí Hoàng

[sửa]

Trí Hoàng trước tham học Ngũ Tổ, tự cho là đã đắc chính thọ, ở am ngồi thiền suốt 20 năm. Huyền Sách du phương đến am hỏi: "Ông ở đây làm gì?" Hoàng nói: "Nhập định." Sách hỏi: "Ông nói nhập định, là có tâm nhập hay không tâm nhập? Nếu không tâm nhập thì cây đá cỏ ngói lẽ ra đều đắc định; nếu có tâm nhập thì chúng sinh hữu tình cũng đều đắc định." Hoàng nói: "Lúc tôi nhập định, không thấy có tâm 'có' hay 'không'." Sách nói: "Không thấy có tâm có hay không, tức là thường định, sao có ra vào? Nếu có ra vào thì chẳng phải Đại định." Hoàng không đáp được. Một lúc sau hỏi: "Thầy ông là ai?" Sách nói: "Thầy ta là Lục Tổ Tào Khê." Hoàng hỏi: "Lục Tổ lấy gì làm thiền định?" Sách nói: "Thầy ta nói: Diệu lặng tròn vắng, thể dụng như như; năm uẩn vốn không, sáu trần chẳng có; chẳng ra chẳng vào, chẳng định chẳng loạn; tính thiền không trụ, lìa cái 'trụ' thiền tịch; tính thiền không sinh, lìa cái 'sinh' tưởng thiền; tâm như hư không, mà cũng không có cái 'lượng hư không'." Hoàng nghe vậy liền đến gặp Sư. Sư thương xót người từ xa lại, bèn khai quyết cho. Hoàng ngay đó đại ngộ, cái sở đắc 20 năm qua chẳng còn chút ảnh hưởng.

Các mẩu chuyện khác

[sửa]

Một tăng hỏi Sư: "Ý chỉ Hoàng Mai ai đắc được?". Sư nói: "Người biết Phật pháp đắc được.". Tăng hỏi: "Hòa thượng có đắc chăng?". Sư nói: "Ta không biết Phật pháp."

Sư muốn giặt y bát mà không có suối, bèn chống gậy xuống đất, suối chảy ra, tích lại thành ao. Có tăng Thục Phương Biện đến xin tạc tượng Sư. Sư cười bảo: "Ông giỏi tạc tính người, mà không hiểu Phật tính."

Có tăng dẫn kệ của Ngọa Luân Thiền sư: "Ngọa Luân có kỹ năng, dứt được trăm tư tưởng. Đối cảnh tâm chẳng khởi, Bồ Đề mỗi ngày lớn.". Sư nghe vậy nói: "Kệ này chưa minh tâm địa, nếu theo đó mà hành là thêm trói buộc.". Bèn đọc kệ: "Huệ Năng không kỹ năng, chẳng dứt trăm tư tưởng. Đối cảnh tâm khởi nhiều, Bồ Đề làm gì lớn."

 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.