Bước tới nội dung

Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh/Lời tựa

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Lục Tổ Đàn Kinh  (1290)  của Đức Dị, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Tựa Kinh Đàn (do Tỳ-kheo Đức Dị soạn)
Bản do Tăng sĩ Đức Di (Deyi - 德異) soạn vào cuối đời Nguyên, hoàn tất là vào ngày giữa xuân năm Canh Dần, niên hiệu Chí Nguyên thứ 27 (tức năm 1290).
Tựa Kinh Đàn

Tỳ-kheo Đức Dị ở Cổ Quân soạn.

Đạo mầu hư huyền, chẳng thể nghĩ bàn. Quên lời được ý, chính có thể ngộ sáng. Thế nên Thế Tôn chia tòa trước tháp Đa Tử, đưa cành hoa tại hội Linh Sơn. Như lửa truyền lửa, lấy tâm ấn tâm. Tây Thiên truyền qua hai mươi tám đời, đến Bồ Đề Đạt Ma sang đông đến đất này. Chỉ thẳng tâm người, thấy tính thành Phật. Có Đại sư Huệ Khả, ngay dưới lời nói đầu tiên liền ngộ nhập. Sau cùng ba lạy đắc được tủy, nhận y nối ngôi Tổ, mở mang chính tông. Truyền ba đời đến Hoàng Mai, trong hội có bảy trăm cao tăng, duy chỉ có vị cư sĩ giã gạo, một bài kệ được truyền y, làm Tổ đời thứ sáu.

Lánh về phương Nam hơn mười năm, một hôm dùng cái cơ "chẳng phải gió hay phướn động" mà khai mở chính nhãn cho Ấn Tông. Cư sĩ từ đó xuống tóc đăng đàn, ứng với lời tiên tri của Bạt Đà La, mở ra pháp môn Đông Sơn. Quan Thứ sử họ Vi mệnh lệnh cho Thiền giả Pháp Hải ghi chép lời ngài, đặt tên là: Pháp Bảo Đàn Kinh. Đại sư bắt đầu tại Ngũ Dương, kết thúc tại Tào Khê, thuyết pháp ba mươi bảy năm. Người được thấm nhuần vị cam lộ, vào thánh siêu phàm, chẳng thể nhớ hết số lượng. Những bậc ngộ được tông tâm của Phật, hành và giải tương ứng làm bậc Đại Tri Thức, tên ghi trong Truyền Đăng Lục, duy có Nam Nhạc và Thanh Nguyên là hầu hạ lâu nhất. Nhờ nắm trọn được cái "không manh mối" (vô ba tỳ), nên sinh ra Mã Tổ, Thạch Đầu, cơ trí tròn sáng, huyền phong chấn động lớn. Lại có các vị Lâm Tế, Quy Ngưỡng, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn lừng lững xuất hiện. Đạo đức vượt trội, môn đình hiểm hóc. Khai thị cho các nạp tử anh linh, phấn chí xông qua cửa ải. Một cửa vào sâu, năm phái cùng nguồn. Trải khắp lò rèn, quy mô rộng lớn. Xét gốc gác cương yếu của năm nhà, thảy đều ra từ Kinh Đàn.

Kinh Đàn này, lời giản ý phong phú, lý sáng việc đủ, đầy đủ vô lượng pháp môn của chư Phật. Mỗi một pháp môn, đầy đủ vô lượng diệu nghĩa. Mỗi một diệu nghĩa, phát huy vô lượng diệu lý của chư Phật. Ấy chính là trong lầu các Di Lặc, chính là trong lỗ chân lông Phổ Hiền. Người lành đọc kinh này thì cũng giống như Thiện Tài, trong một niệm tròn đầy công đức, bằng với Phổ Hiền, bằng với chư Phật. Đáng tiếc thay Kinh Đàn bị người đời sau tiết lược quá nhiều, không thấy được tôn chỉ đại toàn của Lục Tổ. Đức Dị tôi thuở nhỏ từng thấy bản cổ, từ đó về sau tìm kiếm khắp nơi hơn ba mươi năm, gần đây nhờ Thông Thượng nhân tìm được toàn văn, bèn san khắc tại am Thiền Hưu Hưu ở Ngô Trung, để cùng các bậc thắng sĩ cùng thọ dụng. Duy nguyện mở cuốn đưa mắt, vào thẳng biển Đại Viên Giác, nối tiếp huệ mạng Phật Tổ không dứt, ấy là nguyện vọng của tôi đã mãn.

Ngày giữa xuân, năm Canh Dần, niên hiệu Chí Nguyên thứ hai mươi bảy.

 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.