Bước tới nội dung

Biên dịch:Minh thực lục/Tuyên tông chương hoàng đế thực lục/Quyển 023

Văn thư lưu trữ mở Wikisource


Tuyên Tông /quyển 23 Tuyên Đức năm thứ 1 tháng 12 / ngày 1 (năm 1427 dương lịch)[1]

[sửa]

Ngày mồng 1 tháng 12 năm đầu niên hiệu Tuyên Đức (宣德元年), vua xem xét việc tế lễ tại Giao.

Ban cho Giao Chỉ (交阯) Tả Bố chánh sứ Nguyễn Huân (阮勛) sắc mệnh, đồng thời phong tặng tổ phụ, cha mẹ và vợ của ông — bản Quảng có chữ “cùng” trước chữ “vợ”, là đúng.

Lại dụ bảo Huân rằng: “Xưa Hoàng tổ Thái Tông Văn Hoàng Đế của trẫm trị vì, thương xót Giao Chỉ bị giặc Lê gây họa, giết vua, hại dân, nên khởi binh chinh phạt. Quân mới đến biên cảnh, người trí thì thành tâm quy thuận, kẻ ngu còn nghi ngờ phản trắc. Ngươi, Nguyễn Huân, giữ lòng ngay thẳng, phẩm hạnh thuần hậu, hiểu thời thế, biết đạo trời, dốc lòng thành quy phục triều đình, tận tâm tận lực hoàn thành nhiệm vụ, vỗ về dân chúng, diệt nghịch, giúp ích rất nhiều, trải năm tháng càng sâu, giữ lòng không đổi. Hoàng tổ trẫm trọng công lao ấy, nhiều lần thăng chức cho ngươi. Nay trẫm kế thừa nghiệp lớn, chăm lo nối tiếp, ngươi khảo công về triều, trẫm khen ngợi công lao, đặc biệt ban ân, phong tặng đến tổ tiên đều được vinh hiển.

Vua tôi cùng nhau, phải lo trọn vẹn trước sau. Trẫm noi theo lòng Hoàng tổ mà đãi ngươi, ngươi cũng nên lấy lòng Hoàng tổ mà phụng sự trẫm. Hãy kính cẩn giữ chức, bền lòng không đổi, để danh tiếng được tôn vinh, phúc lành kéo dài muôn đời. Nay đặc biệt ban thưởng và dụ bảo, ngươi hãy kính cẩn tuân theo.”


Ngày 2, Ty Giao Chỉ (交阯) là Bố chánh ty và Án sát ty tâu rằng: Nhân dân Giao Chỉ phần nhiều bị giặc Lê ép buộc mà theo nghịch. Thượng thư Hoàng Phúc (黃福) trước kia từng ở Giao Chỉ gần 20 năm, mọi việc lớn nhỏ, nỗi khổ của dân đều rõ tường tận. Nay được triệu về triều, lòng dân tưởng nhớ còn hơn cha mẹ, xin cho ông trở lại để an ủi lòng dân.

Vua bèn sai chiếu triệu Hoàng Phúc từ Nam Kinh (南京), rằng: “Khanh ở Giao Chỉ gần 20 năm, tích tụ ân huệ, được lòng dân mến phục. Nay Lê Lợi (黎利) gây loạn, đều do các nha môn không biết vỗ về mà ra. Giao Chỉ mong khanh trở lại như con đỏ mong mẹ hiền. Chiếu đến thì lập tức vào triều, trẫm sẽ bàn việc cùng khanh.”

Ngày 3, vua bổ nhiệm Đỗ Bá Nghi (伯儀), con của cố Hữu Tham chính Ty Bố chánh Giao Chỉ Đỗ Duy Trung (杜維忠), làm Tri phủ phủ Tam Giang (三江府), ban chiếu rằng:

“Lúc quốc gia mới bình định Giao Chỉ (交阯), phụ thân ngươi là người đầu tiên quy thuận, hết lòng tận tụy, vỗ về dân hàng, diệt nghịch, có nhiều công lao. Xưa Hoàng tổ Thái Tông Hoàng Đế đã ban cho chức trọng, giao việc phủ Tam Giang, tiếng chính trị rất rõ ràng. Tuy nay đã qua đời, dân vẫn không quên.

Nay đặc biệt bổ nhiệm ngươi làm Tri phủ Tam Giang. Chiếu đến thì lập tức nhận chức, vỗ về dân chúng, dốc sức đánh giặc để nối tiếp sự nghiệp. Nhất định phải siêng năng, cẩn trọng, cố gắng giữ lòng trung hiếu.”

Ngày 5 (ngày 2 tháng 1 năm 1427 dương lịch)[2], bọn giặc Lê Lợi tấn công châu Thanh Hóa (清化州) nhưng thất bại, phải rút lui.

Lúc này, Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) sau trận thua ở Ninh Kiều đã không còn ý chí kiên định, tự ý phát hịch giao cho Lê Lợi (黎利) quản lý toàn bộ thành trì từ Thanh Hóa trở về phía nam, lệnh cho quan lại, quân dân đều rời thành đến Đông Quan (東關), chỉ riêng châu Thanh Hóa không tuân theo.

Ban đầu, Lê Lợi tấn công Thanh Hóa, Tri châu La Thông (羅通) và Chỉ huy Đả Trung (打忠) dẫn quân dân kiên quyết giữ thành, thỉnh thoảng xuất quân đánh phá ụ đất của giặc, giết hại nhiều quân địch, khiến thế giặc tạm suy yếu. Đến khi hịch truyền đến trong thành, mọi người đều kinh sợ. La Thông nói với Đả Trung rằng:

“Chúng ta đối đầu với giặc đã nhiều lần đánh bại chúng. Ra khỏi thành thì không còn đường sống. Nay thành cao, hào sâu, lương thực đầy đủ, quân dân đông đảo. So với việc ra thành chịu trói, chi bằng tận trung mà chết. Huống hồ chưa chắc đã chết. Tổng binh (Vương Thông) bán thành cho giặc, lệnh ấy không thể tuân theo.”

Thế là La Thông và Đả Trung khích lệ quân sĩ, giữ thành càng thêm vững chắc. Giặc tấn công không được, phải rút lui. Sau đó, Vương Thông bỏ Giao Chỉ, cùng các tướng trở về triều.

Ngày 6, Lễ bộ tại hành tại tâu rằng: Sinh viên Quốc tử giám ở hai kinh phần nhiều được cấp phép về quê, trải qua nhiều năm viện cớ không trở lại, xin sai người tra hỏi.

Vua phán: “Xưa có nói: ‘Tài năng khó có’, các sinh viên chưa ra làm quan mà đã mang tiếng phạm lỗi thì là vết nhơ suốt đời. Nên căn cứ vào khoảng cách địa phương xa gần mà định thời hạn. Nếu quá hạn mà vẫn không trở lại thì đều phát làm lại.”

Vì vậy, Lễ bộ định hạn kể từ ngày văn thư chuyển đến như sau:

Giao Chỉ (交阯), Vân Nam (雲南), Quý Châu (貴州): 10 tháng Tứ Xuyên (四川), Lưỡng Quảng (兩廣): 9 tháng Phúc Kiến (福建), Thiểm Tây (陜西): 7 tháng Sơn Tây (山西), Hồ Quảng (湖廣): 6 tháng Giang Tây (江西), Chiết Giang (浙江), Sơn Đông (山東), Hà Nam (河南): 5 tháng Hai kinh và Trực Lệ (直隷): 4 tháng

Ngày 18 (ngày 15 tháng 1 năm 1427 dương lịch)[3], đêm hôm đó, hơn một vạn quân man di Giao Chỉ (交阯) tấn công vây đồn Ải Lưu Quan (隘留關). Bách hộ giữ ải là Hoàng Phiêu (黃彪) — bản Quảng chép là Vương Phiêu (王彪) — cùng những người khác bị hại.

Bách hộ Vạn Tông (萬琮) lén trèo lên thành, lớn tiếng hô gọi, dẫn đội quân cảm tử vung gươm từ cửa Nam xông ra đánh giặc. Quân giặc bị đánh lui, phải rút chạy.

Ngày 24, tại Giao Chỉ (交阯), giữ thành Bắc Nhàn (北閑堡) thuộc phủ Tuyên Hóa (宣化府), Đồng tri Đào Quý Dung (陶季容) sai dân binh Nguyễn Chấp Tiên (阮執先) — bản Quảng chép là Nguyễn Chấp Tuyên (阮執宣) — cùng người khác truy đuổi giặc Lê đến huyện Thanh Ba (清波縣), bị giặc bắt.

Sau đó, giặc thả về, sai họ cùng với Huyện thừa Hoàng Khảm Châu (黃扲珠) đến chiêu dụ Đào Quý Dung quy phục. Quý Dung mắng rằng:

“Ta vốn là thổ quan, được triều đình ban chức, cúi mình phụ tá, được ban chiếu dụ, trọng thưởng, cho giữ đất này. Nay phản bội ân nghĩa, phụ lòng đức, không phải đạo làm thần tử. Ta thề không theo giặc phản nghịch.”

Hoàng Khảm Châu cùng người dùng binh ép buộc, nhưng Quý Dung vẫn kiên quyết không lay chuyển.

Ngày 26 (23-01-1427 dương lịch), Theo tấu trình của Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) rằng giặc phản loạn ở Giao Chỉ (交阯) đang hoành hành dữ dội, vua ra lệnh:

Thái tử Thái phó An Viễn hầu Liễu Thăng (柳升) mang ấn Chinh Lỗ Phó tướng quân, làm Tổng binh quan; Bảo Định bá Lương Minh (梁銘) làm Tả Phó tổng binh; Đô đốc Thôi Tụ (崔聚) làm Hữu Tham tướng, dẫn quan quân đến Giao Chỉ, hội binh với Tổng binh quan là Kiềm Quốc công Mộc Thạnh (沐晟) cùng quân mã để tiêu diệt giặc man.

Các quan quân do họ chỉ huy, cùng với quân các vệ ở Giao Chỉ, quân thổ, dân thổ đều phải tuân theo sự tiết chế.

Vua nhận tấu trình về tình hình giặc phản loạn ở Giao Chỉ (交阯), bèn ra lệnh:

Thái phó Kiềm Quốc công Mộc Thạnh (黔國公沐晟) mang ấn Chinh Nam tướng quân, làm Tổng binh quan. Hưng An bá Từ Hanh (徐亨) làm Tả Phó tổng binh. Tân Ninh bá Đàm Trung (譚忠) làm Hữu Phó tổng binh. Thống lĩnh quan quân đến Giao Chỉ, hội binh với Tổng binh quan An Viễn hầu Liễu Thăng (柳升) để tiêu diệt giặc man.

Vua dụ bảo Thái tử Thiếu bảo, Binh bộ Thượng thư Lý Khánh (李慶) rằng: “Nay sai Tổng binh quan An Viễn hầu Liễu Thăng dẫn quân từ Quảng Tây, Thái phó Kiềm Quốc công Mộc Thạnh dẫn quân từ Vân Nam, hai đường cùng tiến đánh giặc phản ở Giao Chỉ. Khanh từng trải, già dặn, đặc biệt giao việc tham mưu quân vụ, mọi việc phải đồng lòng bàn bạc rồi mới thi hành. Hãy chú ý vỗ về quân dân để xứng với trọng trách được giao. Đợi Liễu Thăng đến Nam Kinh cùng đi, các tài văn học và giỏi xử lý công việc có thể chọn từ các nha môn ở Nam Kinh, ghi rõ chức danh để tâu lên.”

Vua dụ bảo Công bộ Thượng thư kiêm Trạm sự phủ Trạm sự Hoàng Phúc (黃福) rằng: “Khanh trước kia ở Giao Chỉ, tận tâm tận lực, tích tụ ân huệ, được lòng dân một phương. Tiên hoàng khen ngợi lòng trung thành, triệu về từ vạn dặm để phụ tá trẫm. Nay dân Giao Chỉ vẫn nhớ khanh không nguôi, trẫm tuy không muốn khanh rời bên cạnh, nhưng cũng không nỡ trái lòng dân. Vậy hãy thay trẫm đến trấn nhậm lần nữa. Vua tôi cùng nhau, không kể xa gần. Khanh hãy càng thêm tận tâm tận lực, khiến ai nấy đều được yên ổn, mong xứng với lòng trẫm. Việc của Bố chánh ty và Án sát ty Giao Chỉ đều giao cho khanh quản lý. Hãy kính cẩn tuân theo.”

Vua ra lệnh điều động quan quân từ:

Nam Bắc nhị kinh, các vệ thuộc Trung đô lưu thủ ty, Vũ Xương hộ vệ, Hồ Quảng, Giang Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang, Sơn Đông, Hà Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu đô ty, Phúc Kiến hành đô ty và các vệ thuộc Nam Trực Lệ, do An Viễn hầu Liễu Thăng chỉ huy. Thành Đô hộ vệ, Tứ Xuyên, Vân Nam đô ty, Tứ Xuyên hành đô ty, do Kiềm Quốc công Mộc Thạnh chỉ huy. Tổng cộng 70.000 quân viên danh, đi đánh Giao Chỉ. Yêu cầu binh khí sắc bén, áo giáp sáng sủa, nghiêm cấm quấy nhiễu quân dân dọc đường. Lương bổng tính từ ngày khởi hành, theo lệ các lần chinh phạt Giao Chỉ trước mà cấp phát từ Nam Kinh và các đô ty, vệ sở.

Tiền thưởng theo mức:

Đô chỉ huy: 500 quan Chỉ huy: 400 quan Thiên hộ, Vệ trấn phủ, Trưởng quan: 300 quan Bách hộ, Sở trấn phủ, Bả sự: 200 quan Tổng kỳ: 150 quan Tiểu kỳ: 120 quan Quân thổ, dân thổ: 100 quan Nếu ngân phiếu không đủ, thì dùng vải lụa của quan phủ theo giá thời điểm để thay thế.

Vua dụ bảo Tổng binh quan Giao Chỉ Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) và Tham tướng Đô đốc Mã Oanh (馬瑛): “Nay sai An Viễn hầu Liễu Thăng, Kiềm Quốc công Mộc Thạnh dẫn quân từ Quảng Tây và Vân Nam hai đường cùng tiến, hợp với các ngươi tiêu diệt giặc này. Các ngươi nên giữ vững thành trì, luyện tập quân mã, chờ ngày Liễu Thăng đến thì cùng tiến quân.”

Tuyên Tông /quyển 24 Tuyên Đức năm thứ 2 tháng 1 / ngày 16 (12-02-1427)[4]

[sửa]

Ngày hôm đó, sau khi lui triều, vua ngự Văn Hoa điện, triệu Thiếu phó Dương Sĩ Kỳ (楊士奇) và Thái tử Thiếu phó Dương Vinh (楊榮), dụ rằng:

“Trước đây cùng các khanh bàn việc Giao Chỉ (交阯), Kiển Nghĩa (蹇義) và Hạ Nguyên Cát (夏原吉) thường câu nệ lối thường thấy, nếu theo lời họ thì e rằng Trung Quốc sẽ còn lao phí chưa dứt. Trẫm xem thời Xuân Thu, Hạ Trưng Thư giết Trần Linh Công, Sở tử đánh giết Trưng Thư rồi lập lại nước Trần. Thân Thúc Thì cho là không nên, nhưng Sở tử vẫn phong lại Trần. Người xưa giữ nghĩa là như thế.

Thái Tông Hoàng Đế (Chu Đệ) khi mới dẹp được giặc Lê, đã muốn lập hậu cho họ Trần. Khi ấy người dưới không thể thuận theo. Nay trẫm muốn hoàn thành chí trước, khiến người Trung Quốc đều được an ổn. Trẫm từng sai các khanh suy nghĩ lại, nay quả thấy thế nào?”

Dương Sĩ Kỳ và Dương Vinh tâu: “Đây là việc đại đức, chỉ có bệ hạ mới có thể quyết theo thánh ý. Xưa các nước man di đến triều cống đều theo thời kỳ. Thương Cao Tông đánh nước Sở, sau khi thắng cũng chỉ khiến họ tiếp tục triều cống như thường. Nay bệ hạ khôi phục nước mất, nối tiếp dòng tuyệt, cho con cháu họ Trần phục hồi việc triều cống, khiến người Hoa và Di đều được sống yên vui, đó là việc thánh nhân thời Nghiêu, Thuấn, Tam đại cũng không hơn.”

Vua nói: “Trẫm đã quyết chí, không còn nghi ngờ nữa.”

Ngày 22, Tuần án Giao Chỉ (交阯), Giám sát ngự sử Trần Nhuệ (陳汭) tâu rằng: Vệ Khâu Ôn (丘溫衞) đóng tại trong thành phủ Lạng Sơn (諒山府), nơi này là yếu lộ của Giao Chỉ, nhưng kho lương chỉ đủ cấp cho quân của bản vệ. Xin điều lương thực từ các kho gần Lưỡng Quảng (兩廣) có nhiều lương đến Lạng Sơn để cấp cho đại quân, hầu tránh sai sót việc quân.

Vua chuẩn tấu, lệnh cho Hộ bộ tại hành tại sai quan giám sát việc vận chuyển.

Tuyên Tông /quyển 25 Tuyên Đức năm thứ 2 tháng 2

[sửa]

Ngày 7 (04-03-1427)[5], ngày hôm đó, giặc Lê Lợi (黎利) tấn công thành Giao Chỉ (交阯), Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) cùng các tướng xuất quân giao chiến, đánh bại quân giặc, chém các tên giả mạo chức vị như:

Giả (ngụy) Tư đồ Lê Trĩ (黎豸) Giả Tư không Đinh Lễ (丁禮) Giả Thái giám Lê Bí (黎秘) Giả Thái úy, Thiếu úy, Chính đốc, Đồng đốc Trần Cực (陳極) cùng nhiều tên khác

Quân giặc chết đến hàng vạn, đội ngũ tan vỡ, Lê Lợi kinh hoàng, mất vía.

Các tướng và quan Tam ty tâu với Vương Thông rằng: “Giặc thua chạy, không kịp chuẩn bị, nên nhân thế vượt sông đánh tiếp, khiến chúng không kịp trở tay, tất sẽ bắt được. Nếu chậm trễ, giặc sẽ tập hợp tàn quân, liều chết chống lại.”

Vương Thông do dự không quyết, nói: “Hãy đợi xem xét thêm.” Qua ba ngày vẫn không xuất quân, giặc dò biết Vương Thông nhút nhát, bèn tập hợp tàn quân, dựng rào, lập trại, đào hào, sửa binh khí, rồi tứ phía đánh phá.

Ngày 12, Thăng Đồng tri phủ Tuyên Hóa (宣化府) Giao Chỉ (交阯) là Đào Quý Dung (陶季容) lên làm Tri phủ bản phủ. Sai người mang chiếu đến ban khen rằng:

“Nay giặc phản Lê Lợi (黎利) ngang ngược điên cuồng, ngươi có thể tận trung với triều đình, giữ vững thành trì, bảo vệ dân chúng, thật đáng khen ngợi. Đặc biệt thăng ngươi làm Tri phủ Tuyên Hóa, mong ngươi càng thêm trung thành tận tụy để xứng với lòng triều đình ưu đãi.”

Ngày 27, Thăng chức như sau:

Thái thường tự thừa Khang Ân (康禋) được thăng làm Hữu Tham nghị Thông chính ty (通政司右參議). Viên ngoại lang Ty Tế tự, Ty Thanh lại thuộc Lễ bộ là Phương Tuấn (方濬) được thăng làm Hữu Tham nghị Bố chánh ty Quảng Đông (廣東布政司右參議). Đồng tri phủ Thái Nguyên (太原府) Giao Chỉ là Long Ứng Chương (龍應漳) — bản Quảng chép là Long Ứng Chương (龍應章) — được thăng làm Hữu Tham nghị Bố chánh ty Giao Chỉ (交阯布政司右參議).

Tuyên Tông /quyển 26 Tuyên Đức năm thứ 2 tháng 3

[sửa]

Ngày 2, Vua ra lệnh:

Hành tại Hình bộ Thị lang Phàn Kính (樊敬) đến Quảng Tây (廣西) giám sát việc vận lương. Phó Đô ngự sử Hồ Dực (胡廙) đến Quảng Đông (廣東). Lý Tố (李素) đến Hồ Quảng (湖廣). Cả ba đều được giao nhiệm vụ tổng đốc việc vận chuyển lương thực đến Giao Chỉ (交阯) để cấp cho quân đội.

Vua ban chiếu điều động thêm quân như sau:

Tái điều 1.000 quân thuộc Vũ Xương hộ vệ (武昌護衞) 1.200 quân thuộc Thành Đô hộ vệ (成都護衞) 10.000 quân tinh nhuệ từng được phái đi Tây Dương từ Nam Kinh (南京) 33.000 quân thuộc các đô ty: Trung đô lưu thủ ty (中都留守司), Hồ Quảng (湖廣), Chiết Giang (浙江), Hà Nam (河南), Sơn Đông (山東), Quảng Đông (廣東), Phúc Kiến (福建), Giang Tây (江西), Vân Nam (雲南), Tứ Xuyên (四川), cùng Phúc Kiến và Tứ Xuyên hành đô ty (行都司) Tất cả đều theo sự chỉ huy của An Viễn hầu Liễu Thăng (柳升) và Kiềm Quốc công Mộc Thạnh (沐晟) để tiến hành chinh phạt Giao Chỉ (交阯).

Ngày 11 (7-3-1427)[6], ngày hôm đó, giặc Lê tấn công vây đồn Khâu Ôn (丘溫). Đô chỉ huy Tôn Tụ (孫聚) dẫn quân cố thủ, dựng lầu chiến, chế pháo bay và thần súng để chống trả, khiến giặc không dám đến gần.

Nhưng trong thành thiếu lương, bèn bí mật sai người cấp báo với Chinh Man tướng quân Trấn Viễn hầu Cố Hưng Tổ (顧興祖). Hưng Tổ sai Chỉ huy sứ Dương Chính (楊政) cùng các tướng dẫn quân hộ tống lương thực, đi theo đường mòn để tiếp tế.

Ngự tiền Thiên hộ Vệ Vũ Lâm tại hành tại là Chu Tín (周信) tâu rằng: Nay theo quân chinh phạt Giao Chỉ (交阯), một người em cũng bị điều đi làm thợ phục dịch cho quan phủ, mà cha mẹ đều đã 85 tuổi, không còn con nào khác để phụng dưỡng.

Vua ra lệnh cho Công bộ tại hành tại miễn cho em của Chu Tín khỏi việc phục dịch, để chuyên lo nuôi dưỡng cha mẹ.

Tuần án Quảng Tây (廣西), Giám sát ngự sử là Uông Cảnh Minh (汪景明) hặc tội và tâu rằng: Đô chỉ huy Hồ Quảng (湖廣) là Trương Quý Lỗ (張貴魯) từng dẫn quân đi Giao Chỉ, nhưng khi đến Quảng Tây thì dừng lại cưới thiếp, kéo dài hơn 40 ngày không tiến quân. Sau đó lại lấy cớ thúc quân để quay về Hồ Quảng, từ lúc khởi hành đến nay cứ chần chừ không tiến. Là bề tôi của quốc gia, lẽ ra phải quên mình mà dốc sức, nhưng Quý Lỗ lại buông thả, ham an nhàn, không có tinh thần dũng cảm chống giặc. Xin xử tội.

Vua lệnh cho Đô sát viện tại hành tại ghi nhận, đợi ngày quân trở về sẽ luận tội.

Tuyên Tông /quyển 27 Tuyên Đức năm thứ 2 tháng 4

[sửa]

Ngày 2 (28-4-1427)[7], giặc Lê Lợi (黎利) chiếm được thành Xương Giang (昌江城). Lê Lợi xem Xương Giang là nơi trọng yếu cho việc xuất nhập đại quân, nên đem hơn 80.000 quân tấn công.

Đô chỉ huy Lý Nhậm (李任) cùng Chỉ huy Cố Phúc (顧福) ra lệnh cho người già, trẻ nhỏ và phụ nữ trong thành lên thành phất cờ, đánh trống, hò hét ngày đêm để chống giữ. Nhậm và Phúc tự dẫn quân tinh nhuệ thường xuyên xuất thành đánh úp, đốt phá khí cụ của giặc. Giặc xây ụ đất bốn phía, dùng pháo bay (bản Bão và bản Lễ chép là “thần súng”) bắn vào trong thành.

Lý Nhậm dẫn đội cảm tử âm thầm mở cửa thành ban đêm, giết quân giữ ụ đất, đánh tan doanh trại giặc. Giặc đào địa đạo để vào thành, Nhậm đào hào ngang nối với địa đạo, từ đó dùng đá lớn đánh trả, giết nhiều quân giặc.

Nghe tin Chinh Di tướng quân đại quân sắp đến, giặc sợ mất chỗ dựa là thành này, bèn tăng quân và voi đến tấn công. Tên bay đá rơi như mưa. Nhậm trăm phương ngàn kế chống giữ, suốt 9 tháng, giao chiến lớn nhỏ hơn 30 trận. Ban đầu trong thành có hơn 2.000 tướng sĩ (bản Thánh chính ký chép là 3.000), đến lúc này chết, bị thương, bệnh tật mất một nửa.

Giặc dốc toàn lực vây đánh, dùng thang mây trèo lên thành, chiếm được cửa thành. Nhậm lại dẫn quân cảm tử giao chiến ba lần, ba lần đánh bại giặc. Nhưng giặc tiếp tục đưa voi và quân vào thành, Nhậm và Phúc dốc sức chiến đấu, không chống nổi, đều tự sát.

Quan trong thành là Phùng Trí (馮智) khóc lớn, quay về phía Bắc lạy hai lạy, thề không theo giặc, rồi cùng Chỉ huy Lưu Thuận (劉順), Tri phủ Lưu Tử Phụ (劉子輔) đều tự treo cổ chết. Quân sĩ trong thành cùng nam nữ chết theo rất nhiều. Giặc phóng hỏa đốt nhà dân, cướp bóc sạch không còn gì.

Ngày 11, Tổng binh quan Giao Chỉ (交趾) Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) thấy giặc Lê Lợi (黎利) vây đánh ngày càng gấp, bèn thu quân không xuất chiến. Giặc gửi thư đến Vương Thông xin hòa.

Vương Thông từ sau trận thua ở Ninh Kiều, ý chí đã suy sụp, tuy vừa thắng một trận dưới thành nhưng lòng không vững, bèn đồng ý giao đất các châu như Thanh Hóa (清化) cho giặc. Ý ông cho rằng: quân của Liễu Thăng (柳升) tuy đã xuất phát nhưng chưa thể đến ngay, lại thêm đường sá nhiều trở ngại. Nay Lê Lợi xin hòa, muốn dâng biểu tạ tội, là có lòng thành, chi bằng thuận theo yêu cầu của hắn. Quân ta rút về đất sống, sau còn có thể tính kế tiến đánh. Huống hồ Hoàng thượng nhân từ, không giết người, việc dùng binh cũng nên thể hiện lòng vua.

Các tướng sĩ có người cho là phải, có người im lặng, có người tuy không đồng ý nhưng không dám phản đối công khai. Chỉ có Án sát sứ Dương Thời Tập (楊時習) nói: “Phụng mệnh đánh giặc mà lại hòa với giặc, tự ý bỏ đất rút quân, làm sao tránh khỏi tội? Việc này nhất định không thể làm!”

Vương Thông lớn tiếng quát: “Việc phi thường chỉ có người phi thường mới làm được, ngươi biết gì!”

Từ đó không ai dám nói nữa. Vương Thông sai người cùng với sứ giả của Lê Lợi tiến biểu và vật phẩm lên triều đình.

Tuyên Tông /quyển 28 Tuyên Đức năm thứ 2 tháng 5

[sửa]

Ngày 9, Sở Đô ty Tứ Xuyên (四川都司) tâu rằng: Quân thuộc Thiên hộ sở Thanh Xuyên (青川千戶所) là Triệu Văn Thư (趙文書) cùng nô bộc theo quân đi đánh các trại A Dụng (阿用等寨), nhưng bỏ trốn về. Họ khai rằng khi quân đến đóng tại Hoàng Thổ Pha (黃土坡), nhìn bốn phía không thấy giặc man, thực là do Thiên hộ Vệ Tùng Phan (松潘衛) là Tiền Hoằng (錢宏) cùng người khác kích động gây biến.

Xét nguyên nhân là do triều đình phát quân Vệ Tùng Phan đi đánh Giao Chỉ (交阯), mọi người đều sợ không muốn đi. Tiền Hoằng cùng Thượng Thanh (尚清) bày mưu, giả nói rằng giặc man cướp bóc, cần truy bắt, để tâu lên triều đình nhằm tránh việc phải đi Giao Chỉ. Vì thế, Hoằng và Thanh trước sau dẫn quân đột nhập các trại Mạch Táp (麥匝等簇), ép lấy trâu ngựa, khiến người man phẫn nộ, sinh loạn.

Việc tâu lên triều đình, vua nghe xong bảo các thị thần: “Trẫm vốn nghi có kẻ kích động, nhưng Bố chánh ty và Án sát ty đều không điều tra rõ, Đô ty cũng chỉ nghe lời người dưới, chưa từng thật sự lo việc biên cương.” Bèn hạ chiếu trách mắng rằng:

“Các ngươi trước tâu rằng giặc man ở trại A Dụng gây loạn, giết hại Chỉ huy Trần Kiệt (陳傑) cùng người. Nay mới biết quân Vệ Tùng Phan sợ đi Giao Chỉ, bày mưu gây chuyện. Thiên hộ Tiền Hoằng, Thượng Thanh tội đáng chết. Các ngươi giữ chức nơi biên giới, được triều đình giao trọng trách, lại nghe lời dối trá, tự ý điều quân, tâu trình mập mờ, tội sao tránh khỏi. Nay tạm khoan xử, đợi Đô chỉ huy Hàn Chỉnh (韓整), Cao Long (高隆) đến, cùng điều tra rõ thực tình Vệ Tùng Phan bịa đặt quân tình. Quan lại cùng Tiền Hoằng, Thượng Thanh và những người sợ đi đánh giặc đều phải bắt giải về kinh.

Nếu việc Chỉ huy Trần Kiệt bị giặc giết là thật, không thể không xử lý, thì cứ theo chiếu trước mà điều quân, lệnh cho Hàn Chỉnh thống lĩnh đi đánh.”

Ngày 21, vua ra lệnh cho Tổng binh quan Trấn Viễn hầu Cố Hưng Tổ (顧興祖) đốc quân đi lại ứng cứu.

Trước đó, Tuần án Quảng Tây (廣西), Giám sát ngự sử Chu Huệ (朱惠) cùng các quan tâu rằng: Quân sĩ các vệ huấn luyện voi ở Quế Lâm (桂林馴象諸衛) phần nhiều đã đi đánh Giao Chỉ, lực lượng phòng thủ không đủ. Bọn sơn tặc ở các quận như Liễu Khánh (柳慶) dò biết không có phòng bị, bèn liên kết người Dao, người Tống, giả xưng danh hiệu, dẫn quân cướp bóc các huyện Lâm Quế (臨桂), Vĩnh Phúc (永福), Dương Sóc (陽朔), Tu Nhân (修仁), Cổ Điền (古田), đốt phá công sở, giết người, cướp của. Gần đây lại đến vùng Lâm Quế Nam Hương (南鄉), cách thành Quảng Tây hơn 40 dặm, ngang nhiên hoành hành. Lại lo các nhóm man nghe tin sẽ nổi dậy, ngày càng lan rộng, khó kiểm soát.

Ba ty Quảng Tây bàn định, xin theo lệ phòng giặc thời Vĩnh Lạc, tại các phố chợ, làng xã tập hợp dân chúng, lập danh sách, chia thành đội ngũ, trang bị binh khí, phối hợp với các sở tuần kiểm và binh sĩ địa phương, giao quan phụ trách, mỗi người giữ vững địa bàn. Đồng thời xin ban chiếu cho Cố Hưng Tổ đốc quân đi lại ứng cứu.

Vua chuẩn tấu, rồi bảo Hành tại Binh bộ Thị lang Vương Tễ (王驥) rằng: “Quân Quảng Tây đã mệt mỏi vì việc Giao Chỉ, nay lại xin thêm 1 vạn quân thổ. Trẫm sao có thể làm suy yếu nội địa để lo việc bên ngoài? Hãy dừng việc đó, để họ tự lo phòng thủ.”

Ngày 28, Gần đây, triều đình có các điều động và xử lý nhân sự như sau:

Do nhu cầu tiện việc dưỡng thân, bổ nhiệm Giáo quan vùng gần kinh thành là Trung thư xá nhân Dương Thịnh (楊盛), sau khi mãn tang, được điều làm Cấp sự trung Hộ khoa tại hành tại.

Điều động:

Hồ Quảng Bố chánh ty Tả Tham chính Lý Hành (李衡) làm Tứ Xuyên Hữu Bố chánh (四川右布政) — bản Thánh chính ký chép là Tham chính. Giao Chỉ Thái Nguyên phủ Đồng tri Long Ứng Chương (龍應漳) làm Giao Chỉ Bố chánh ty Hữu Tham nghị. Giao Chỉ Án sát ty Thiêm sự Vương Xử Kính (王處敬) làm Thiêm sự Án sát ty Tứ Xuyên. Giang Tây Án sát ty Thiêm sự Tào Tự Tông (曹嗣宗) làm Thiêm sự Án sát ty Quảng Đông. Trong đó, Lý Hành được bổ nhiệm do là nhân viên dư thừa, Vương Xử Kính và Tào Tự Tông được điều dụng do đã mãn tang.

Phục chức cho Lý Quảng (李廣), nguyên Tri huyện huyện Quy Thuận (歸善縣), thăng lên Chính lục phẩm, do có thành tích 9 năm liên tục, dân huyện dâng biểu tâu rằng ông giỏi việc chính sự, được dân tin phục, xin cho phục chức, nên có lệnh này.

Giáng chức:

Đô Cấp sự trung Binh khoa tại hành tại Cao Trạch (高澤) làm Tri huyện huyện Quang Sơn (光山縣). Đô Cấp sự trung Công khoa tại hành tại Ngô Di (吳彛) — bản Thánh chính ký chép là Ngô Bỉnh (吳秉), nhưng theo Tuyên Tông thực lục là Ngô Di — làm Tri huyện huyện Thường Sơn (常山縣), do không giỏi tâu trình. Giáng Phó sứ Án sát ty Giang Tây là Kỷ Văn (紀文) làm Hành Thái phó tự thừa tại Bắc Kinh, do Ngự sử tâu rằng ông không am hiểu hình luật.


Tuyên Tông /quyển 28 Tuyên Đức năm thứ 2 tháng 6

[sửa]

Đô ty Vân Nam (雲南) tâu về việc các mỏ bạc ở Tân Hưng (新興) và các nơi khác bắt đầu thu thuế bạc. Ban đầu, thợ mỏ được tuyển từ binh sĩ các vệ như Đại Lý (大理), sau đó phần lớn được điều từ quân đi đánh Giao Chỉ (交阯). Lại từ các vệ điều bổ đến các vùng biên giới xa xôi. Vì việc đồn trú là cấp bách nên có lệnh bãi bỏ.

Lệnh cho Bộ Binh hành tại cấp phát quân lính Giao Chỉ. Lý Mậu Tiên (李茂先), Nguyễn Tông Bạo (阮宗豹), Hoàng Thiêm Bảo (黃添保) được phong làm Bách hộ, ban mũ áo, tiền giấy, cấp ngựa trạm, sai đến chỗ An Viễn hầu Liễu Thăng (柳升) để nghe lệnh sử dụng. Khi ấy Giao Chỉ lâu ngày không có tấu báo, ba người này đi theo đường mòn, bí mật phi ngựa báo tin rằng Xương Giang (昌江) bị vây rất gấp, nên có lệnh này.

Lại có chiếu thăng chức cho Mộc Thạnh (沐晟), Quốc công đất Quý Châu (黔國公), cùng những người khác khẩn cấp cứu viện Xương Giang.

Tuyên Tông /quyển 28 Tuyên Đức năm thứ 2 tháng 7

[sửa]

Chiếu bắt Trấn Viễn hầu Cố Hưng Tổ (顧興祖). Khi ấy giặc phản Giao Chỉ phá các ải như Lưu Quan (留等関), vây đánh Khâu Ôn (丘溫), Hưng Tổ giữ quân ở Nam Ninh (南寧), Thái Bình (太平) không cứu viện, khiến giặc chiếm thành. Lại trước đó Hưng Tổ tâu đã bắt được đầu lĩnh giặc là Vi Vạn Hoàng (韋萬黃), đem đầu bêu chúng, nhưng Vạn Hoàng vẫn xuất hiện cướp bóc như cũ.

Hưng Tổ lại sai Chỉ huy Trương Hành (張珩) và người khác giả danh quân vụ ép lấy của các sĩ quan hơn 2.500 lượng vàng bạc, hơn 100 con ngựa, lại cưỡng đoạt nhà dân, ép cưới phụ nữ. Việc này bị Tuần án ngự sử hạch tấu. Vua cho rằng Hưng Tổ đã quen làm điều ác không sửa, lệnh cho Đô sát viện hành tại thẩm vấn, đồng thời lệnh cho các công hầu đại thần chọn tướng giỏi thay thế.

Tuyên Tông /quyển 28 Tuyên Đức năm thứ 2 tháng 9

[sửa]

Ngày 10 (01-10-1427 dương lịch)[8], Tổng binh quan An Viễn hầu (安遠侯) Liễu Thăng (柳升) cùng các tướng đến đất Giao Chỉ (交阯), bị chặn lại ở ải Quan Lưu (関留).

Lê Lợi (黎利) cùng các đầu mục lớn nhỏ đều viết thư sai người đến doanh trại xin bãi binh, để dân nghỉ ngơi, lập hậu duệ họ Trần (陳) làm chủ đất ấy. Liễu Thăng nhận thư nhưng không mở, sai người tâu lên.

Khi ấy giặc ở nơi quân triều đi qua đều lập rào chắn chống giữ, quân triều liên tiếp phá được, tiến thẳng đến ải Trấn Di (鎮夷関) như vào chốn không người. Liễu Thăng khinh địch. Tuy ông dũng cảm nhưng ít mưu. Khi đó Tả phó tổng binh Bảo Định bá (保定伯) Lương Minh (梁銘), tham tán quân sự Thượng thư Lý Khánh (李慶) đều bị bệnh. Lễ bộ lang trung Sử An (史安), chủ sự Trần Dung (陳鏞) nói với Lý Khánh rằng: “Xem sắc mặt chủ tướng đều kiêu căng, mà kiêu là điều binh gia kiêng kỵ. Giặc nghịch xảo trá, có thể giả yếu để dụ ta. Huống chi chiếu thư răn dạy rõ ràng, phải đề phòng giặc đặt phục binh, đây là cơ nguy an. Công nên gắng sức nói ra.” Khánh gắng gượng lên xe, nói với Liễu Thăng, Thăng đồng ý nhưng vẫn không nghiêm phòng bị. Đến trước Đảo Mã Pha (倒馬坡 Đèo Đảo Mã), chỉ cùng hơn 100 kỵ binh phi trước qua cầu, vừa qua thì cầu sập, đội sau bị ngăn không tiến được. Chỗ Liễu Thăng đi toàn là đất bùn lầy, giặc phục binh nổi lên bốn phía, Thăng trúng tên chết, người theo đều bị tiêu diệt.

Khi ấy Hữu tham tướng Đô đốc Thôi Tụ (崔聚) thu quân chỉnh đốn đội ngũ. Ngày hôm đó Lương Minh bệnh chết, hôm sau Lý Khánh cũng chết. Lại hôm sau Thôi Tụ dẫn quân tiến đến sông Xương Giang (昌江), gặp giặc, quân triều ít mà giặc đông, quân triều liều chết chiến đấu, giặc thúc voi trợ thế, quân triều rối loạn, Tụ bị giặc bắt. Giặc lớn tiếng hô: “Hàng thì không giết.” Quân triều hoặc chết, hoặc chạy tán loạn về, rốt cuộc không ai hàng. Lang trung Sử An, chủ sự Trần Dung, Lý Tông Phảng (李宗昉) đều chết trong ngày, chỉ có chủ sự Phan Hậu (潘厚) thoát về.

Liễu Thăng người huyện Hoài Ninh (懷寧), An Khánh (安慶), cha là Đức (德), thời Hồng Vũ làm Bách hộ vệ trung Yên Sơn (燕山). Thăng thay chức, theo Thái Tông hoàng đế (太宗皇帝) bình nội loạn, hơn 20 trận lớn nhỏ đều có công. Sau khi việc yên, nhiều lần thăng chức đến Đô chỉ huy đồng tri Trung đô lưu thủ ty. Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 thăng làm Tả quân Đô đốc Thiêm sự, năm thứ 4 theo Anh quốc công (英國公) Trương Phụ (張輔) bình Giao Chỉ, năm thứ 6 phong An hầu bá (安侯伯), bản gốc ghi là hầu, bản in thiếu chữ “viễn” (遠). Năm thứ 8 làm Phó tổng binh theo Bắc chinh đến sông Huyền Minh (玄冥河), đánh bại giặc, được phong là Phụng Thiên Tĩnh Nan Thôi Thành Tuyên Lực Võ thần, Đặc tiến Vinh lộc đại phu, Trụ quốc An Viễn hầu, hưởng lộc 1500 thạch. Sau đó đi trấn Ninh Hạ (寧夏), được triệu về làm Tổng binh đại doanh, theo Bắc chinh đến Cương Nhai Hiệp (蒼崖峽), sông Quỷ Lực Nhi (鬼力兒河), Khánh Châu (慶州) đều có công lao. Nhân Tông hoàng đế (仁宗皇帝) lên ngôi, gia phong Thái tử Thái phó, đến đây làm Tổng binh quan dẫn quân chinh Giao Chỉ, mất. Thăng là người chất trực, điềm tĩnh, trị quân xử việc đều giản dị, khi gặp địch thì dũng cảm, thắng thường tự kiêu, nhưng ít mưu lược, rốt cuộc vì thế mà thất bại.

Lương Minh người huyện Nhữ Dương (汝陽), Hà Nam (河南), thời Hồng Vũ kế chức cha làm Bách hộ tiền vệ Yên Sơn. Theo Thái Tông hoàng đế bình nội loạn, khi Nhân Tông hoàng đế giữ Bắc Kinh, giặc vây thành, Minh chiến đấu rất dũng, lập nhiều công trạng, thăng đến Hậu quân Đô đốc Thiêm sự. Khi Nhân Tông giám quốc ở Nam Kinh, Minh bị tội tham ô, vào ngục, năm Vĩnh Lạc thứ 19 được tha, phục chức, sai đi Quảng Đông bắt giặc Oa. Nhân Tông lên ngôi, thăng Đô đốc đồng tri, sai trấn Ninh Hạ, ban thưởng hậu hĩnh, nhớ công giữ thành, phong Bảo Định bá, đến đây bệnh mất. Minh là người tâm tính bình thản, xử việc khoan giản mà dũng cảm, tinh nhuệ, gặp giặc thường xung phong, biết vỗ về binh sĩ. Nếu Minh không chết, Tụ chưa đến nỗi thất bại.

Thôi Tụ người huyện Hoài Viễn (懷遠), Phụng Dương (鳳陽), ban đầu theo Thái Tông hoàng đế bình nội loạn, có công, nhiều lần thăng đến Chỉ huy sứ vệ Kế Châu (薊州), bản Quảng ghi là Tô (蘇). Năm Vĩnh Lạc thứ 8 theo Bắc chinh, đánh bại giặc ở Quảng Mạc, sau trấn thủ, thăng Đô chỉ huy Thiêm sự Hà Nam, năm Hoằng Hy (洪熙) nguyên niên thăng Tả quân Đô đốc Thiêm sự, đến đây cùng Liễu Thăng chinh Giao Chỉ. Thăng chết, quân bại, Tụ thu quân chiến đấu, sức không chống nổi, bị giặc bắt. Giặc ép Tụ dụ hàng, Tụ không khuất phục, giặc dùng trăm kế ép hàng, Tụ vẫn không chịu, giặc giết ông.

Lý Khánh người huyện Thuận Nghĩa (順義), Thuận Thiên phủ (順天府), thời Hồng Vũ là sinh đồ Quốc tử giám, giữ chức Hữu Thiêm Đô ngự sử Đô sát viện, sau làm Viên ngoại lang bộ Hình, thăng Tri phủ Thiệu Hưng (紹興), năm Vĩnh Lạc nguyên niên được triệu làm Thị lang bộ Hình, năm thứ 5 đổi làm Hữu Phó Đô ngự sử Đô sát viện, xây dựng Bắc Kinh, thăng Thượng thư bộ Công, năm thứ 22 điều sang bộ Binh, sau kiêm Thái tử Thiếu bảo. Nhân Tông hoàng đế sai theo thượng hoàng viếng Hiếu Lăng (孝陵), Khánh nghiêm giữ quân sĩ, không ai dám xâm phạm dân, thượng hoàng muốn săn bắn, Khánh nhiều lần can ngăn, nên được lưu lại Nam Kinh ở bộ Binh. An Viễn hầu Liễu Thăng chinh Giao Chỉ, Khánh được sai tham tán quân sự, đến Quảng Tây phát bệnh, đến đất Giao Chỉ thì mất. Khánh là người ngay thẳng, cương nghị, gặp việc dám làm, không sợ quyền thế, ghét kẻ xu nịnh, nghiêm trị thuộc hạ, khoan dùng pháp luật, có tài tổ chức. Khi ở bộ Hình, việc phụ trách nhiều không thể kể hết, trong bộ, nếu quan lại giao tiếp với tù nhân, hoặc riêng tư biếu xén, ăn uống, Khánh đều biết, xử phạt nặng, mọi người sợ không dám làm càn. Nhân Tông lên ngôi, Thiếu khanh Đại lý tự (大理少卿) Dịch Khiêm (弋謙) dâng lời, có điều quá gắt, Nhân Tông không vui. Khi đó đại thần như Lữ Chấn (呂震), Lưu Quan (劉觀), Kiển Nghĩa (蹇義), Vu Khiêm (虞謙), Ngô Đình Dụng (吳廷用) đều công kích, may Nhân Tông không nghe. Khi ấy chỉ có Khánh và Hạ Nguyên Cát (夏原吉) không nói gì, từ đó người dâng lời ít đi. Nhân Tông tỉnh ngộ, hạ chiếu tự trách, khuyên Khiêm, lại trách các thần từng công kích Khiêm, Chấn và những người khác đều hổ thẹn với Khánh. Khi lo việc Sơn lăng (山陵), Khánh xử lý nhanh gọn, nội quan có người đòi hỏi quá mức, Khánh không cho, đến mức tranh cãi, ông vẫn không lay chuyển. Nếu việc khác chưa tiện, ông cũng tranh luận thẳng thắn, chưa từng tùy tiện thuận theo, lúc đó ai cũng sợ ông, gọi là “sống Lý”. Nếu luận về học vấn và đạo đức của Khánh thì chưa từng nghe nói đến.

Tuyên Tông /quyển 32 Tuyên Đức năm thứ 2 tháng 10

[sửa]

Ngày 24 Mậu Dần (12-11-1427)[9], Tổng binh quan Giao Chỉ (交阯總兵官) là Thành Sơn hầu Vương Thông (成山侯王通) cùng các quan quân dân tụ họp đông đủ, ra trạm canh ở hạ lưu sông, lập đàn thề (minh thệ 盟誓) với Lê Lợi (黎利), hứa rút quân. Sau đó mở tiệc chiêu đãi Lê Lợi, lại tặng vàng, gấm vóc thêu hoa. Lê Lợi cũng dâng bảo vật quý để tạ ơn.

Ngày 26, có chiếu dụ Thượng thư Bộ Công Hoàng Phúc (黃福) và Bố chính sứ Giao Chỉ Nguyễn Huân (阮勛) rằng: “Ngươi, Phúc, thanh liêm, trung trực, giữ lòng yêu dân chân thành; Huân thì trung kính, thuần hậu, kiên định giữ tiết làm tôi. Cả hai đều là bậc lão thành từ triều trước. Nay Giao Chỉ chưa yên, phát binh chinh phạt, đặc biệt sai hai khanh cùng tham gia quân vụ, phụ trách cơ mưu tổng binh.

Hãy đồng tâm hiệp lực, vận mưu lập kế, hòa hợp tướng soái, khích lệ binh sĩ, sớm lập công bình định, để yên dân một phương. Việc gì cần tâu trình thì niêm phong kín mà báo lên. Hãy đem lòng thành mà thực hiện, để xứng với sự ủy thác trọng đại. Hãy kính cẩn tuân theo.”

Ngày hôm đó, Chinh Nam tướng quân là Quốc công đất Quý Châu Mộc Thạnh (黔國公沐晟) cùng đại quân đến huyện Thủy Vĩ (水尾縣) thuộc Giao Chỉ (交阯), đóng tại trại cao. Giặc từ cả đường thủy lẫn đường bộ đều đem quân ra chống giữ, chặn đường không thông. Mộc Thạnh và các tướng đốc thúc đóng chiến thuyền, sai người chia đường canh giữ, tiến quân từng chặng.

Ngày 28, Hồng Lô Tự hành tại tâu trình thư của Lê Lợi (黎利) và những người khác ở An Nam gửi cho Tổng binh quan là An Viễn hầu Liễu Thăng (柳升) như sau:

“Tôi nghe Mạnh Tử nói: Chỉ người nhân mới có thể dùng thế lớn để đối xử với nước nhỏ, chỉ người trí mới có thể dùng thế nhỏ để đối xử với nước lớn. Dùng thế lớn mà đối xử với nước nhỏ là vui thuận theo trời; dùng thế nhỏ mà đối xử với nước lớn là kính sợ trời.

Xưa khi Thái Tổ Hoàng Đế vừa khởi nghiệp, nước An Nam chúng tôi là quốc vương tiền triều, đi trước các nước khác để vào triều cống, được đặc biệt ban thưởng, phong vương, cho giữ đất đai đời đời, triều cống không thiếu. Từ khi Lê Quý Ly (黎季犛) làm loạn, diệt mất tông miếu, trên thì lừa triều đình, dưới thì làm dân khổ cực. Thái Tông Hoàng Đế khởi binh chinh phạt, một trận là bình định, rồi ban chiếu tìm con cháu họ Trần để phụng thờ tổ tiên họ Trần.

Khi ấy, do bị Lê Quý Ly hãm hại, dòng họ Trần đều trốn chạy, lưu lạc xa xôi, nên lúc đó không thể tìm được. Nay hậu duệ họ Trần là Trần Cảo (暠) đang lẩn trốn ở Lào (老撾) đã hơn 20 năm. Nhân dân bản quốc không quên ân đức của tiên vương họ Trần, đã tìm được Cảo nơi trú ngụ, muốn để Cảo nối tiếp tông miếu. Tấm lòng của hàng triệu người đều đồng lòng không hẹn mà nên.

Vì vậy, Lê Lợi và những người khác không biết điều, dám nói lời cuồng vọng, mạo phạm đến quyền uy của quý phủ, cúi xin lượng từ tâu lên. Nếu được trời ban ân huệ, cho theo chiếu chỉ nối dõi của Thái Tông Hoàng Đế, thì việc họ Trần đã diệt mà nay được phục hưng, không chỉ riêng Cảo được hưởng ân huệ lớn lao của trời đất, mà thật sự là toàn dân một nước đều được đội ơn vô cùng.”

Ngày 29, Giặc Giao Chỉ (交阯) là Lê Lợi (黎利) sai người dâng biểu và vật phẩm. Trước đó, Tổng binh quan là Thành Sơn hầu Vương Thông (成山侯王通) đã giảng hòa với giặc, nên sai Chỉ huy Khảm Trung (闞忠) cùng người của Lê Lợi đem biểu và vật phẩm tiến cống, đến nay mới tới kinh đô.

Biểu viết: “Thần là Trần Cảo (陳暠), cháu đích tôn đời thứ ba của tiên vương Trần Phủ[10] nước An Nam (安南國先陳王臣暊),thành tâm kính sợ, cúi đầu dập đầu tâu rằng: Trước đây bị giặc thần Lê Quý Ly (黎季犛) cha con cướp ngôi, giết vua, tàn sát cả tộc họ thần gần như tuyệt diệt. Thần phải trốn sang Lào (老撾) để giữ mạng sống, đến nay đã 20 năm. Gần đây, người trong nước nghe thần còn sống, ép thần trở về, ai nấy đều nói: ‘Khi thiên binh mới bình định giặc Lê, đã có chiếu chỉ tìm con cháu tiên vương để lập làm vua.’ Khi ấy chưa tìm được nên mới lập quận huyện. Nay mọi người đều muốn thần trình bày nỗi lòng, xin mệnh lệnh. Thần tự biết tội đáng chết muôn lần, nhưng ngửa trông ân đức trời đất sinh thành, kính cẩn dâng biểu xin được phục vị.

Thần và những người khác nghĩ rằng: đất Giao Nam vốn là nước ngoài, đến khi Thái Tổ Hoàng Đế khai vận, tổ phụ thần là người đầu tiên trong các nước vào triều, nhiều năm dâng cống nơi triều đình, đời đời được phong vương. Gần đây do họ Lê làm ác, khiến thiên triều phải chinh phạt, lại ban chiếu tìm hậu duệ họ Trần để nối dõi. Khi ấy tông tộc đều trốn chạy, lưu lạc nơi thôn xóm, không thể tìm được, nên phải vội vã an dân, lập quận huyện. Nay dân bản địa vẫn nhớ đến việc nối dõi tiên vương, may có chiếu từng nói về việc phục hưng nước đã diệt, thần xin dốc lòng tâu trình, cầu trời xin mệnh.

Kính mong Hoàng Đế bệ hạ, như trời đất che chở, như mặt trời soi sáng, như mùa xuân nuôi dưỡng, như biển cả bao dung, như mây mưa ban phát. Xin thương tiên linh thần đã lâu thành ma đói, thương thần cô khổ, cho thần được phục quốc. Thần Trần Cảo (暠) nào dám không khắc cốt ghi tâm, dốc lòng trung thuận, mãi mãi kính cẩn tuân theo thiên mệnh, một lòng phụng sự đại quốc. Thần và những người khác không dám ngẩng đầu nhìn trời, lòng thành khẩn thiết, run sợ không nguôi.”

Vua xem xong, cho văn võ quần thần cùng xem, rồi phán rằng: “Xưa Thái Tổ Hoàng Đế (Minh Thái Tổ) mới định thiên hạ, An Nam là nước đầu tiên trong bốn phương vào triều cống. Sau đó giặc thần (Lê Quý Ly) cướp ngôi, hại dân. Thái Tông Văn Hoàng Đế (Minh Thành Tổ) phát binh chinh phạt, cố tìm hậu duệ họ Trần để lập làm vua, nhưng không tìm được nên lập quận huyện. Sau này, tiên hoàng ta (Minh Nhân Tông) thường nhớ việc họ Trần không có người nối dõi, từng than thở. Nhiều năm qua, một phương không yên, nhiều lần phải dùng binh. Trẫm há vui gì với việc dùng binh? Nay họ Trần đã có hậu duệ, lời họ nói có nên thuận theo không?”

Quần thần đều tâu: “Ý của bệ hạ chính là ý của tổ tông. Nên dẹp binh, nghỉ dân, hợp với thiên ý, thuận theo là phải.”

Vua nói: “Người bàn việc đã hiểu rõ nghĩa ‘không dùng binh’[11]. Nếu cho là không oai vũ, nhưng chỉ cần dân được yên, trẫm há lại bận tâm lời người? Cứ thuận theo.”

Tuyên Tông /quyển 33 Tuyên Đức năm thứ 2 tháng 11

[sửa]

Ngày 1 (19-11-1427)[12], lệnh cho Lễ bộ Tả thị lang Lý Kỳ (李琦), Công bộ Hữu thị lang La Nhữ Kính (羅汝敬) làm Chánh sứ; Thông chính ty Hữu thông chính Hoàng Kỵ (黃驥), Hồng lô tự khanh Từ Vĩnh Đạt (徐永達) làm Phó sứ, mang chiếu thư đi vỗ về An Nam.

Chiếu rằng: "Trời có lòng nhân lớn, thuận theo điều dân mong muốn; vua thì thể hiện đạo trời, thuận theo lòng người để trị nước. Xưa Thái Tổ Cao Hoàng Đế (太祖高皇帝 Chu Nguyên Chương) nhận mệnh trời, thống lĩnh Hoa Di, vua nước An Nam là Trần Nhật Khuể (陳日煃 Trần Dụ Tông) đầu tiên quy thuận, kính cẩn giữ lễ thần tử. Sau đó con cháu nối tiếp một lòng trung thành, nhưng bị nghịch thần Lê Quý Ly (黎季犛) giết hại, cướp ngôi họ Trần, tàn sát tông tộc họ Trần, hại dân trong nước, không ai kêu cứu được.

Thái Tông Văn Hoàng Đế (太宗文皇帝 Chu Đệ) bèn ra lệnh xuất quân, thực thi thiên phạt, trừ bỏ kẻ tàn ác, nối lại dòng chính, thể hiện lòng nhân thánh. Cha con Lê Quý Ly đều đã bị bắt sống, nhưng hậu duệ họ Trần tra hỏi trong nước lâu ngày vẫn chưa tìm được, nên ra lệnh lập phủ huyện, đặt quan cai trị, vỗ về dân chúng. Trải qua nhiều năm, quan lại được đặt ra cai trị không đúng phép, khiến dân không yên, lại phải nhọc công binh lính.

Trẫm là chủ thiên hạ, há nỡ để một phương chịu tai họa lâu dài, ngày đêm lo nghĩ, mong được yên ổn. Nay Tổng binh báo tin rằng đầu mục An Nam là Lê Lợi (黎利) cùng các người khác nói rằng hậu duệ vua Trần còn người sống, dân chúng tưởng nhớ tổ tiên, xin được nối ngôi, mãi mãi phụng sự triều đình. Xem lời tâu tha thiết, hợp lòng người, trẫm nên ban ân, cho phép cải mới.

Tất cả quan lại lớn nhỏ, quân dân An Nam có tội, không phân lớn nhỏ, đều được tha. Trước đây cháu vua An Nam họ Trần, nếu đầu mục và kỳ lão cùng xác nhận rõ ràng, thì lập tức sai sứ phong vương, cho triều cống, vẫn theo chế độ cũ thời Hồng Vũ (洪武).

Tổng binh Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) cùng các quan quân đều trở về vệ sở cũ. Các quan văn võ ở Giao Chỉ như Đô ty, Bố chính ty, Án sát ty, vệ sở, phủ, châu, huyện, quân lính và dân chúng đều mang theo gia quyến trở về trấn thủ. Các quan nội giám, nội sử đều trở về kinh.

Ôi! Việc hưng diệt, nối dòng, là để nối tiếp lòng tổ tông, dẹp binh yên dân, ban đức rộng khắp trời đất. Đặc biệt ban chiếu này, mong thể hiện lòng nhân. Lý Kỳ và các hành nhân được ban 5.000 quan tiền."


Chiếu dụ các đầu mục Giao Chỉ như Lê Lợi (黎利) v.v.: "Xưa nước An Nam, vào buổi đầu Thái Tổ Cao Hoàng Đế (太祖高皇帝) thống trị, đã sớm tỏ lòng thần phục, kính cẩn giữ lễ thần tử, trước sau không thay đổi. Đến khi nghịch thần Lê Quý Ly (黎季犛) cha con giết vua, cướp ngôi họ Trần, diệt tộc họ Trần, tàn ác với dân, xâm hại biên giới.

Thái Tông Văn Hoàng Đế (太宗文皇帝) thuận theo lòng trời, phát binh chinh phạt, nhằm trừ bỏ kẻ tàn ác, nối lại dòng chính, đem lại yên ổn cho một phương. Tội nhân đã bị bắt, nhưng tìm kiếm con cháu họ Trần lâu ngày không thấy, nên ra lệnh lập phủ huyện, đặt quan vỗ về. Năm tháng trôi qua, người được cử vỗ về có kẻ hiền kẻ không, dân chúng không thuận, lại phải nhọc công binh lính, trải qua nhiều năm, binh giáp chưa nghỉ.

Trẫm nghĩ dân bốn biển đều là con đỏ của mình, là cha mẹ của dân, há nỡ để một góc chìm đắm lâu dài, ngày đêm lo nghĩ, mong được yên ổn. Nay Tổng binh báo tin rằng các người như Lê Lợi v.v. có thư tâu rằng hậu duệ vua Trần còn người sống, xin theo mệnh của Thái Tông Văn Hoàng Đế nối lại dòng chính. Lời tâu tha thiết, hợp lòng trẫm.

Đạo của đế vương là thuận theo dân để trị nước, nếu có lợi cho dân thì phải cúi mình thuận theo. Nay đã ban chiếu đại xá cho Giao Chỉ, tất cả đều được cải mới. Lệnh cho các đầu mục, kỳ lão trình bày rõ thực trạng con cháu họ Trần còn sống, nếu đúng thì sai sứ phong vương.

Nay sai Thị lang Lý Kỳ (李琦) v.v. mang chiếu dụ các người. Từ nay nên an dân giữ đất, để đáp lại lòng trẫm thuận theo trời yêu dân. Hãy kính cẩn tuân theo."

Sai Đô chỉ huy Trương Khải (張凱), Chỉ huy thiêm sự Điền Khoan (田寬) mang chiếu dụ Tổng binh Thành Sơn hầu Vương Thông (王通), Hữu tham tướng Đô đốc Mã Anh (馬瑛) v.v. rằng:

"Nay nhận được thư của Tổng binh An Viễn hầu Liễu Thăng (柳升) gửi đến, kèm theo thư của các đầu mục An Nam như Lê Lợi (黎利) và biểu của cháu đích tôn của vua An Nam trước là Trần Cảo (陳暠), xin phục hồi dòng họ Trần. Lời tâu chân thành tha thiết, hợp với lòng trẫm.

Trẫm là chủ thiên hạ, mong muốn dân bốn biển đều được sống yên ổn, vui vẻ làm ăn. Há nỡ để Giao Chỉ riêng chịu tai họa. Gần đây dân không yên, cũng là do các cơ quan hữu trách thất bại trong việc vỗ về, lại dùng hình phạt tàn bạo. Xét kỹ lòng người, thật đáng thương xót.

Nay đã thuận theo lời thỉnh cầu, đặc biệt ban chiếu đại xá, cho phép cải mới. Chiếu đã đến, các khanh lập tức dẫn toàn bộ quan quân trở về."

Ngày 7 (25-11-1427)[13], trạm báo tin An Viễn hầu Liễu Thăng (柳升) cùng những người khác đã tử trận trong tay giặc.

Hoàng thượng nói: "Trẫm vì Liễu Thăng trước đây từng ở Giao Chỉ, quen thuộc địa thế và tình hình dân chúng, nên mới dùng ông ấy. Nhưng lo ông ấy cậy mạnh mà kiêu, nên đã nghiêm khắc răn bảo phải thận trọng. Lại nói giặc không có tài gì khác, chỉ giỏi đặt phục binh và giả hàng để dụ địch. Chắc chắn Liễu Thăng không nghe lời trẫm nên mới xảy ra thất bại này. Việc này là Liễu Thăng phụ lòng trẫm. Than thở hồi lâu."

Ngày 29 (17-12-1427)[14], người phụ trách việc ở Bố chính ty Giao Chỉ, Thượng thư Bộ Công là Hoàng Phúc (黃福), khi trở về đến Long Châu thuộc Quảng Tây. Ban đầu, sau khi Liễu Thăng (柳升) tử trận, Hoàng Phúc chạy về đến cửa ải Chi Lăng thì bị người giữ ải của Lê Lợi (黎利) bắt được. Hoàng Phúc định tự sát, nhưng người giữ ải ngăn lại, đều quỳ lạy nói: “Công là cha mẹ của dân Giao Chỉ, dân Giao Chỉ nay ngóng cổ trông cha mẹ, công sao có thể tự sát?”

Lê Lợi nghe tin, nói: “Triều đình sai quan như Thượng thư Hoàng đến cai trị Giao Chỉ, thì dân đều được yên ổn, binh đao không còn nổi lên nữa.” Bèn sai người chạy đến bảo vệ, tiếp đãi trọng hậu, nói: “Sẽ đưa công trở về triều đình.” Rồi sai đầu mục Nguyễn Phù Lễ (阮孚禮) tiễn ra khỏi biên giới.

Tuyên Tông /quyển 34 Tuyên Đức năm thứ 2 tháng 12 / ngày 5

[sửa]

Ngày 5, khi Trấn Viễn hầu Cố Hưng Tổ (顧興祖) đến hành tại, mười bốn đạo Giám sát ngự sử như Ngô Khải Tiên (吳啟先) và các cấp sự trung của Lục khoa như Giả Lượng (賈諒) v.v. dâng sớ hạch tội Hưng Tổ rằng: từ khi trấn giữ Quảng Tây đến nay, ông ta hung bạo, tham lam, lười biếng, bỏ bê công việc, không cứu viện Giao Chỉ, khiến mất đất, hao binh, trộm cướp hoành hành. Lại chém đầu kẻ theo giặc rồi giả tấu là đã bắt được đầu sỏ, giấu giếm thuộc hạ của giặc, nói rằng chúng đã tan rã, trên thì lừa triều đình, dưới thì mất lòng dân biên giới. Xin xử theo quốc pháp.

Hoàng thượng ra lệnh bắt giữ ngoài Ngọ Môn, ba pháp ty cùng các công, hầu, bá, đô đốc cùng thẩm vấn. Hưng Tổ nhận tội, dâng sớ trình lên. Hoàng thượng ra lệnh đợi Vương Thông (王通) v.v. đến rồi sẽ cùng luận tội.


Tuyên Tông /quyển 34 Tuyên Đức năm thứ 2 tháng 12 / ngày 14 (P.864) (năm 1427 dương lịch)[15]

[sửa]

Thăng Lê Trừng (黎澄 Hồ Nguyên Trừng), Lang trung Ty Thanh lại Doanh Thiện Bộ Công tại hành tại, làm Hữu Thị lang bản bộ, hưởng lộc quang nhưng không đảm nhiệm công việc.

Tuyên Tông /quyển 34 Tuyên Đức năm thứ 2 tháng 12 / ngày 17 (3-1-1428 dương lịch)[16]

[sửa]

Tổng binh Giao Chỉ là Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) cùng các người khác sau khi đã lập minh ước với Lê Lợi (黎利), lại nghe theo Lê Lợi để Trần Cảo (陳暠) dâng biểu vào triều. Ngày hôm đó, Vương Thông không chờ lệnh triều đình, tự ý dẫn quân rút khỏi Giao Chỉ, đi đường bộ về Quảng Tây.

Thái giám Sơn Thọ (山壽) cùng Trần Trí (陳智) v.v. thì đi đường thủy về Khâm Châu.

Tổng cộng có 86.640 người gồm ba ty Giao Chỉ, quan văn võ, quân lính, lại dịch, người làm công vụ và gia quyến cùng rút về. Tuy nhiên cũng có người bị Lê Lợi giữ lại, không cho đi.


Tuyên Tông /quyển 35 Tuyên Đức năm thứ 3 tháng 1 / ngày 2 (P.875) (ngày 18 tháng 1 năm 1428 dương lịch)[17]

[sửa]

Ngày 2 (Ất Dậu 乙酉), sắc cho Lê Trừng (黎澄), Hữu Thị lang Bộ Công tại hành tại, được cấp bổng lộc hàng tháng bằng gạo nguyên phần.

Trừng là anh của Lê Thương (黎蒼 Hồ Hán Thương), nguyên ngụy chủ An Nam, bị bắt giải về kinh. Thái Tông Hoàng đế xá tội và dùng, ban đầu bổ làm Chủ sự Bộ Công. Khi Thượng lên ngôi, thăng làm Lang trung. Có nội thần tâu rằng Trừng nghèo, nên được thăng làm Thị lang. Đến nay lại được sắc cho cấp đủ bổng lộc bằng gạo hàng tháng.

Ngày 4, lệnh cho Đô chỉ huy thiêm sự Hoàng [tên khuyết,Huang Hong 𤣾] và Trương Quý (張貴) trấn giữ Long Châu, Bình Tường, Pha Lũy v.v., dưới quyền điều động của Tổng binh quan Đô đốc Sơn Vân (山雲).

Ban đầu, lệnh cho Tổng binh quan Đô đốc Tiêu Thụ (蕭授) trấn giữ Pha Lũy. Đến nay, Lê Lợi (黎利) xin bãi binh, yên dân, phục hồi dòng họ Trần, nên lệnh cho Tiêu Thụ trở về Quý Châu phòng thủ, và sai Hoàng Hoành? (Huang Hong 黃𤣾) cùng Trương Quý trấn giữ Long Châu.

Chiếu dụ Hoàng Hoành? (Huang Hong 黃𤣾) rằng: “Ngươi trung thành với triều đình, tận tâm với việc biên cương, nhiều lần lập công, trẫm rất khen ngợi. Vì vậy đã thăng chức cho ngươi, nay lệnh ngươi chuyên lãnh quân đội địa phương, cùng Trương Quý trấn giữ Long Châu, Bình Tường, Pha Lũy v.v., đi lại phòng thủ, vẫn dưới quyền điều động của Đô đốc Sơn Vân. Các ngươi hãy càng bày tỏ lòng trung thành, chăm lo quân dân, giữ vững biên phòng, để xứng với sự tín nhiệm của triều đình.”

Chiếu dụ Tiêu Thụ rằng: “Trước đây lệnh cho khanh dẫn quân phòng thủ Pha Lũy, Khâu Ôn v.v., nay đã chấp thuận lời thỉnh cầu của Lê Lợi, phục hồi dòng họ Trần, bãi binh yên dân, nên đã lệnh cho Đô chỉ huy thiêm sự Hoàng Hoành? (Huang Hong 黃𤣾) và Trương Quý dẫn quân trấn giữ Long Châu, đi lại phòng thủ Bình Tường, Pha Lũy. Khanh hãy lập tức dẫn quân trở về Quý Châu phòng thủ.”


Tuyên Tông /quyển 36 Tuyên Đức năm thứ 3 tháng 2

[sửa]

Ngày 4, ban chiếu cho Đô ty, Bố chính ty, Án sát ty Hồ Quảng và tuần hành Giám sát ngự sử rằng: tất cả quan quân từng được điều đi Giao Chỉ mà nay bỏ trốn, đều được tha tội. Trong vòng hai tháng, phải trở về vệ sở cũ. Nếu vẫn trốn không ra, mà bị bắt được, thì nhất định sẽ xử theo quân pháp.

Ngày 8 (22-02-1428)[18],

Tổng binh Giao Chỉ là Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) cùng các người khác sai người phi báo tấu rằng: Năm ngoái, Lê Lợi (黎利) tấn công vây hãm Giao Chỉ, thần đã dẫn quân giao chiến nhiều lần thắng trận, chém được “ngụy Tư đồ” Lê Trĩ (黎豸) cùng bắt sống “ngụy Tư không” Đinh Lễ (丁禮) và hàng vạn kẻ theo giặc, truy đuổi đến sông Phú Lương, giặc chết đuối vô số. Giặc sợ không dám đánh nữa, gần đây lại tập hợp dân bản xứ và đưa “ngụy vương” ra để củng cố lòng người, thỉnh thoảng vượt sông cướp bóc. Thần và các tướng khẩn thiết mong đại quân đến cứu viện.

Lại nghe An Viễn hầu Liễu Thăng (柳升) đến Trấn Di Quan thì tử trận, Bảo Định bá Lương Minh (梁銘), Thượng thư Lý Khánh (李慶) đều bệnh chết. Đô đốc Thôi Tụ (崔聚) dẫn quân đến sông Xương Giang thì bị giặc tập kích. Khiêm Quốc công và Tân Ninh bá tiến đến các nơi như Quy Hóa thì bị giặc ngăn trở, không thể tiến quân.

Thần ngày đêm thúc quân tấn công Lê Lợi, khiến hắn sợ triều đình lại điều đại quân đến đánh, nên sai người dâng thư xin hàng, lại dẫn các đầu mục lớn nhỏ đến doanh trại xin tội. Cùng với “ngụy vương” Trần Cảo (陳暠) sai người dâng biểu bày tỏ tình cảm, tạ tội, dâng vàng bạc hình nhân thay thân, cùng đưa Đô đốc Thái Phúc (蔡福), Đô chỉ huy Lỗ Tằng (魯曾) và 13.391 người, 1.200 ngựa và la về kinh trước, xin cho rút quân.

Sau đó lại sai con cháu đến doanh trại dâng lễ vật, nguyện quy thuận triều đình. Thần suy nghĩ kỹ, nhận mệnh đánh giặc, phải tận trung liều chết, nhưng nay trong thành quân ít, lòng người hoảng sợ, không còn chí cố thủ. Giặc thì hung hãn, xảo quyệt hơn trước, các nơi hiểm yếu đường thủy đường bộ đều bị chiếm giữ, dù có viện binh cũng khó đến kịp. Thành trì e rằng sẽ thất thủ, không tránh khỏi việc lại phải khởi binh, vì một góc đất mà làm nhọc thiên hạ, khiến vua cha lo lắng, đó không phải là lòng trung của bề tôi.

Thần cùng các tướng bàn bạc, cho rằng chi bằng nhân cơ hội này chỉnh đốn quân ngũ, rút về đất sống, mưu tính việc sau. Thần đã dẫn quân các vệ thuộc Giao Chỉ rút về đến Nam Ninh, Quảng Tây. Kính mong Hoàng thượng lấy việc Trần Cảo có phải là hậu duệ họ Trần hay không làm danh nghĩa, sai sứ qua lại dò xét, nếu là giả mạo thì mới tăng quân thủy bộ chia đường tiến đánh. Nếu vẫn không hiệu quả, thần xin cam chịu tội chết, cúi đầu chờ lệnh.

Hoàng thượng xem tấu, bảo với thị thần rằng: “Tổng binh quan ở ngoài tự ý thông với giặc, không chờ lệnh triều đình mà bỏ thành rút về, không còn lễ nghĩa của bề tôi nữa.”

Ngày 10, Thị lang Bộ Lễ Tả là Lý Kỳ (李琦), Thị lang Bộ Công Hữu là La Nhữ Kính (羅汝敬) v.v. tâu rằng: Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) không chờ lệnh triều đình, tự ý dẫn quan quân bỏ thành rút về. Thần cùng các quan đến Nam Ninh thì gặp ông ấy, Vương Thông cố sức ngăn thần lại, muốn chờ tấu xin rồi mới hành động. Thần không dám nghe theo, liền chạy gấp đến Long Châu, chờ người Giao Chỉ đến tiếp đón.

Ngày 11, ban chiếu cho Thành Sơn hầu Vương Thông (王通), Đô đốc Mã Anh (馬瑛): "Sau khi nhận được tấu trình biết rằng quan quân đã rút về đến Nam Ninh, Quảng Tây. Trước đó nghe tin An Viễn hầu Liễu Thăng (柳升), Đô đốc Thôi Tụ (崔聚) đều thất trận, trẫm nghĩ các khanh đã hết lòng chiến đấu chưa ngừng, sinh linh vô tội phải chịu cảnh máu đổ thịt rơi, trẫm muốn bảo toàn họ, đó vốn là chí hướng của trẫm.

Ban đầu nhận được biểu của Trần Cảo (陳暠) và thư của Lê Lợi (黎利) gửi cho Tổng binh xin lập hậu duệ họ Trần, rất hợp với lòng trẫm. Liền sai Thị lang Bộ Lễ Tả là Lý Kỳ (李琦) v.v. mang chiếu đại xá cho quan quân và dân chúng Giao Chỉ, lệnh trình rõ hậu duệ họ Trần để sai sứ phong vương. Đồng thời ban chiếu cho các khanh dẫn quan quân, nội quan trấn thủ, cùng quan lại ba ty trở về.

Việc này không phải vì giặc mạnh mà triều đình không thể điều quân tiêu diệt, mà là trẫm không nỡ để dân chúng mãi chịu khổ. Các khanh lẽ ra phải kiên thủ thành trì chờ lệnh trẫm, nhưng lại tự ý thông với giặc, bỏ thành rút về. Dù là để tự bảo toàn, nhưng như thế thì quốc thể ra sao? Lại mất lễ nghĩa của bề tôi, há chẳng bị man di cười chê?

Chiếu đã đến, lập tức lệnh cho quân mã dưới quyền cùng người của Lê Lợi đưa ra, quân lính tan rã đều trở về vệ sở cũ. Các khanh dẫn quan quân ở kinh trở về. Những người do Trần Cảo, Lê Lợi sai đến kinh đều cho phép vào. Đồng thời ban chiếu cho nội quan Sơn Thọ (山壽), Mã Kỳ (馬騏) v.v. cùng Vương Thông vào kinh."

Ngày 14, ban chiếu cho Tổng binh quan Thái phó Khiêm Quốc công Mộc Thạnh (沐晟):

"Nay cháu của họ Trần ở Giao Chỉ là Trần Cảo (陳暠) cùng các đầu mục như Lê Lợi (黎利) đã sai người dâng biểu, cống nạp sản vật, tạ tội, đồng thời đưa trả lại quan quân tan rã và ngựa chiến, hiện đã đến Quảng Tây. Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) cùng quan quân, nội quan trấn thủ, và quan lại ba ty đều đã rút về.

Chiếu đã ban, lập tức lệnh cho Hưng An bá Từ Hanh (徐亨), Tân Ninh bá Đàm Trung (譚忠) đều trở về kinh sư. Các quan quân dưới quyền khanh đều phải trở về vệ sở cũ. Khanh lại càng nên ngày đêm tận tâm, nghiêm chỉnh phòng bị biên cương, để xứng đáng với trọng trách được giao."

Ban chiếu cho Tổng binh quan Đô đốc Sơn Vân (山雲):

"Trước đây đã lệnh cho Đô chỉ huy Trương Quý (張貴) cùng thổ quan Đô chỉ huy Hoàng Hoành? (Huang Hong 黃𤣾) trấn giữ Long Châu, Bình Tường, Pha Lũy, đi lại tuần phòng. Đồng thời ban chiếu cho Đô chỉ huy Trần Toàn (陳全) v.v. nắm rõ tình hình Giao Chỉ và thu thập quan quân bỏ trốn, tản mát, tập trung tại nơi có lương thực để huấn luyện.

Nay việc Giao Chỉ triều đình đã định rõ, khanh có thể xem xét tình hình Long Châu, Bình Tường, Pha Lũy, nếu thấy thuận tiện thì vẫn để Trương Quý và Hoàng Hoành? (Huang Hong 黃𤣾) dẫn thổ binh trấn giữ, hoặc chỉ để Hoàng Hoành? (Huang Hong 黃𤣾) dẫn quan quân bản vệ phòng thủ, tùy theo điều gì tiện lợi hơn.

Quan quân dưới quyền Trần Toàn đều lệnh trở về vệ sở cũ. Trần Toàn có thể ở lại Nam Ninh huấn luyện, hoặc trở về Quảng Tây Đô ty để xử lý công việc, điều gì tiện lợi thì khanh hãy xem xét kỹ lưỡng rồi quyết định, đồng thời trình tấu rõ ràng."

Ngày 19, Hành tại Bộ Binh tâu rằng: Trước đây Tổng binh quan Đô đốc thiêm sự Sơn Vân (山雲) do Quảng Tây thiếu quân phòng thủ, đã xin tăng quân, dự định dùng quan quân các vệ Hồ Quảng từng được điều đi Giao Chỉ để bổ sung.

Hoàng thượng ra lệnh: Những người đã trở về đến Quảng Tây thì đều giữ lại, những người chưa đến thì lệnh cho trở về vệ sở cũ.

Ngày 27, Chém Thiên hộ Vệ Tùng Phan là Tiền Hoằng (錢宏), giáng chức Đô chỉ huy Cao Long (高隆) làm quan sự vụ, Hàn Chỉnh (韓整), Đặng Giám (鄧鑑) v.v. đều bị phát đi đồn trú ở Quảng Tây.

Trước đó, Hoằng đã kích động người phiên như Dung Nhi Kết (容兒結) v.v. gây loạn. Hoàng thượng sai Chỉ huy Vệ Cẩm Y là Nhâm Khải (任啟), Giám sát ngự sử Lý Cách (李珏) điều tra sự việc. Đến nay, Khải v.v. tâu rằng: Việc phiên man phản loạn thực là do Thiên hộ Tiền Hoằng kích động.

Ban đầu, Vệ Tùng Phan được lệnh điều quan quân đi đồn trú Giao Chỉ, mọi người sợ không muốn đi, bàn mưu với Hoằng. Hoằng nói: “Chỉ cần nói người phiên phản loạn thì Đô ty tất sẽ tấu trình, mà đã tấu thì tất sẽ điều binh Tùng Phan đi đánh, như vậy việc đi Giao Chỉ sẽ bị đình chỉ.” Bèn vu cáo tại vệ rằng người man như Dung Nhi Kết v.v. phản loạn, vệ liền báo gấp cho Đô ty, quả nhiên đình chỉ việc đi Giao Chỉ, và sai Chỉ huy Trần Kiệt (陳傑) v.v. đem quân đi vỗ về và bắt giữ.

Nhưng thực ra Dung Nhi Kết v.v. không hề phản loạn. Hoằng thấy quan quân Đô ty đến, bèn bí mật dẫn người vào trại, dùng lời đe dọa rằng: “Triều đình cho rằng các ngươi phản loạn, đã điều đại quân đến đánh. Nếu có thể đưa cho ta trâu ngựa, tài vật thì có thể được tha.” Dung Nhi Kết gom trâu ngựa đưa cho. Nhưng khi nghe tin quân đã áp sát biên giới, thì hoảng sợ bỏ chạy, liên kết với các phiên sinh ở Hắc Thủy gây loạn, giết hại quân dân.

Trần Kiệt v.v. bị giặc giết hại, quân phiên quấy nhiễu dữ dội. Hàn Chỉnh, Cao Long đóng quân lâu ngày không tiến, chỉ lo tham lam dâm dục, dân biên giới khổ sở, mà thế giặc ngày càng hung hãn, giết chóc cướp bóc càng dữ. Việc này có chứng cứ rõ ràng.

Hoàng thượng nói: “Việc phiên giặc phản loạn, trẫm vốn nghi là do bị kích động. Hàn Chỉnh tham lam, dung túng giặc, gây tai họa lớn cho dân biên giới, tội ấy sao tránh khỏi.” Bèn ban chiếu cho Nhâm Khải v.v. chém Hoằng tại Tùng Phan, bêu đầu để răn chúng, tịch thu gia sản. Hai mươi người theo Hoằng đều được miễn tội chết, phát đi đồn trú. Hàn Chỉnh v.v. đều bị phát đi đồn trú ở Quảng Tây.

Tuyên Tông /quyển 40 Tuyên Đức năm thứ 3 tháng 3

[sửa]

Ngày 15 (30-03-1428), Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) sai đưa các đầu mục Giao Chỉ như Lê Thiếu Dĩnh (黎少頴) vào kinh, dâng biểu. Nội dung như sau:

“Thần là cháu ba đời của tiên vương nước An Nam họ Trần, thần Trần Cảo (陳暠), cùng với các đầu mục như thần Lê Lợi (黎利) kính cẩn tâu trình: Nghĩ rằng dưới trời không nơi nào không phải là đất của vua, bờ cõi nào cũng là thần dân của vua. Xưa vào buổi đầu Thái Tổ Cao Hoàng Đế (太祖高皇帝) đăng cơ, tổ tiên thần là Trần Nhật Khuể (陳日煃 Trần Dụ Tông) đã sớm vào triều cống, được ban ân sủng, phong vương. Từ đó đời đời giữ gìn cương vực, triều cống không thiếu.

Gần đây do họ Lê (Quý Ly) cướp ngôi, Thái Tông Văn Hoàng Đế (太宗文皇帝) khởi binh hỏi tội, sau khi bình định, ban chiếu tìm hậu duệ họ Trần để nối dòng thờ tự. Nhưng con cháu họ Trần phần lớn bị giặc Lê giết hại, người còn sống đều chạy trốn, lưu lạc xa xôi, nên khi ấy tìm không được, phải lập phủ huyện để vỗ về dân chúng.

Thần Cảo khi đó trốn ở Lào, chỉ mong sống sót qua ngày, nào ngờ dân chúng tưởng nhớ tổ tiên thần, ép thần trở về nước, thần không thể từ chối, đành thuận theo. Thần vào năm đầu niên hiệu Tuyên Đức (宣德元年, tức 1426) trở về quê cũ, người trong nước vì kính trọng tổ tiên thần nên phần nhiều quy phục.

Thần đã sai người dâng biểu, cùng với Lê Lợi v.v. trình thư đến chỗ Tổng binh An Viễn hầu Liễu Thăng (柳升), xin chuyển đạt lên triều đình, bày tỏ tình cảm, xin được nối ngôi. Lại sai cha con Lê Lợi dẫn các đầu mục lớn nhỏ đến doanh trại Tổng binh Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) xin tội, cầu xin rút quân để bảo toàn sinh linh nước nhỏ. Được chuẩn y, dự định vào ngày mồng 1 tháng Chạp năm nay sẽ rút quân.

Thần tự biết tội lỗi sâu nặng, tiến thoái đều khó, nhưng nghĩ rằng: Trời đất đối với muôn vật tuy có giận dữ như sấm sét, nhưng ý muốn sinh tồn vẫn luôn tồn tại; cha mẹ đối với con cái tuy có răn dạy bằng roi vọt, nhưng ân dưỡng dục vẫn luôn hiện hữu. Vì vậy khi con người đau khổ thì không ai không kêu trời, gọi cha mẹ. Đó là lý do thần không thể không dốc lòng tâu trình để bày tỏ nỗi oan khổ.

Kính mong Hoàng thượng theo chiếu của Thái Tông Văn Hoàng Đế tìm hậu duệ họ Trần, nghĩ đến lòng thành của tổ tiên thần khi đầu tiên vào triều cống, tha tội lớn như núi của thần, miễn hình phạt nặng nề, cho thần được nối ngôi ở phương Nam, triều cống về thiên đình. Không chỉ là may mắn của riêng thần và gia đình, mà là phúc của cả một nước. Không chỉ là phúc của một nước, mà tổ tiên thần cũng được hưởng ân trời nơi chốn âm phủ.

Thần xin ghi lòng tạc dạ, hết lòng thần phục, kính cẩn triều cống, mãi mãi không thay đổi. Nay xin dâng biểu tạ tội, cùng với vàng bạc hình nhân thay thân và sản vật địa phương, sai đầu mục Lê Thiếu Dĩnh (黎少頴) v.v. mang dâng, cúi đầu xin được trình lên.”

Ngày 16, Văn võ quần thần cùng dâng sớ tâu rằng: Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) v.v. không nên tự ý nghị hòa với kẻ phản loạn là Lê Lợi (黎利), bỏ thành rút quân. Nên sai người cấp tốc bắt về kinh để xét xử rõ tội. Lê Lợi cũng không nên được khoan dung, cần phải phát binh đánh dẹp.

Hoàng thượng nói: “Vương Thông v.v. sớm muộn cũng sẽ đến, không cần sai người đi bắt. Trẫm không phải vì muốn tha cho Lê Lợi, mà là vì thương xót sinh linh một phương, nên mới tạm thời khoan dung.”

Tuyên Tông /quyển 41 Tuyên Đức năm thứ 3 tháng 4

[sửa]

Ngày 1 (15-04-1428), Các đầu mục Giao Chỉ do Lê Thiếu Dĩnh (黎少頴) dẫn đầu vào triều xin từ biệt, được ban áo gấm và tiền giấy, đồng thời ban chiếu dụ đầu mục Lê Lợi (黎利) rằng:

Tháng Mười năm ngoái, trong quân doanh nhận được thư và biểu của các người, xin lập hậu duệ họ Trần. Trẫm thuận theo lòng trời và ý ban đầu của Thái Tông Văn Hoàng Đế (太宗文皇帝), nên đã chấp thuận lời thỉnh cầu, đặc biệt sai Thị lang Bộ Lễ Lý Kỳ (李琦) v.v. mang chiếu đại xá cho Giao Chỉ, lệnh cho các người cùng các đầu mục, kỳ lão trong nước trình rõ thực trạng hậu duệ họ Trần.

Các người lẽ ra nên kính cẩn chờ lệnh triều đình, nhưng lại nuôi lòng gian trá, tự ý nghị hòa với Vương Thông (王通), dụ quan quân rút lui, rồi chiếm giữ thành trì, có nhiều hành vi ngạo mạn vô lễ. Nay tuy đã dâng biểu tạ tội, nhưng văn võ quần thần đều tâu rằng tội của các người không thể tha thứ.

Trẫm vì đã ban ân chiếu, nên tạm thời khoan dung. Nhưng việc lập người nối ngôi là việc hệ trọng, cần hợp lòng dân cả nước, không phải việc các người có thể tự quyết.

Chiếu đã ban, lập tức cùng các đầu mục, kỳ lão Giao Chỉ trình rõ thực trạng hậu duệ chính thống của vua Trần trước đây, để làm căn cứ ban chiếu phong vương. Các người cũng phải đưa những người bị giữ lại cùng toàn bộ binh khí về kinh, mong rằng một phương được yên ổn lâu dài.

Các tấu chương của quần thần đã giao cho Lê Thiếu Dĩnh mang về cho các người xem. Các người hãy suy xét kỹ.

Ngày 25, các thổ lại Giao Chỉ như Lê Tông Bổ (黎宗補) cùng 15 người đã hoàn thành thời hạn công tác tại kinh thành. Hoàng thượng nghĩ đến việc họ có cha mẹ, vợ con, nên lệnh cho Bộ Lại tại hành tại cho phép tất cả trở về. Đồng thời ban chiếu cho Đô đốc Sơn Vân (山雲) sai người hộ tống họ về đến biên giới Giao Chỉ.

Tuyên Tông /quyển 42 Tuyên Đức năm thứ 3 tháng 4 nhuận

[sửa]

Ngày 4, chiếu rằng: Quan quân các vệ như Vũ Lâm từng được điều đi Giao Chỉ, nay đều trở về đơn vị cũ, tiếp tục thuộc quyền tổng chỉ huy của Thái sư Anh Quốc công Trương Phụ (張輔) để huấn luyện.

Tổng binh Vân Nam là Thái phó Khiêm Quốc công Mộc Thạnh (沐晟) tâu rằng: Tuyên úy sứ Lộc Xuyên là Tư Nhậm Phát (思任發) đã xâm chiếm các vùng Nam Điện, Thừa Xương v.v., xin điều 50.000 quan quân từ Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên cùng thổ binh các nơi để đánh dẹp.

Hoàng thượng dụ Mộc Thạnh rằng: Việc Lộc Xuyên trước đã lệnh cho khanh cùng các quan bàn bạc vỗ về. Tuy phiên man có lỗi thì phải dùng uy để chế phục, nhưng nghĩ đến mấy năm qua đã điều quân đánh Giao Chỉ, dẹp phiên Tứ Xuyên, quân dân mệt mỏi chưa hồi phục. Nay chi bằng tạm sai người mang chiếu dụ, khanh cùng ba ty Vân Nam và tuần hành giám sát ngự sử lại sai người đi chiêu dụ. Nếu họ thuận phục thì không cần dùng binh, nếu vẫn cố chấp không sửa thì chỉ điều quan quân Vân Nam, thổ binh và binh lính các nơi như Tuyên úy ty Mộc Bang để đánh dẹp.

Khanh là công thần của quốc gia, lâu năm trấn giữ biên cương, già dặn, thông thạo, đối với việc ích nước lợi dân vốn đã quen suy xét, không cần trẫm phải nói. Việc khởi binh, động chúng, gây phiền hà là điều không thể không suy nghĩ thấu đáo, nhìn xa trông rộng.

Khanh lại tâu rằng: Tuyên úy Lào là Đao Tuyến Đãi (刀線歹) và thổ quan châu Ninh Viễn là Đao Cát Hãn (刀吉罕) từng giúp Giao Chỉ, tội không thể tha. Nhưng nay Giao Chỉ đã được tha tội, thì Lào và Ninh Viễn cũng không cần truy cứu sâu thêm.

Ngày 10, sai 160 người gồm giám sinh Giao Chỉ, thổ quan, thổ lại như Nguyễn Trí (阮智), Vũ Hy Dật (武希逸) v.v. trở về quê hương. Lệnh cho Đô đốc Sơn Vân (山雲) sai người hộ tống đến biên giới Giao Chỉ.

Ngày 27 (09-06-1428)[19], Tổng binh Giao Chỉ là Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) cùng các người khác đã trở về kinh sư. Văn võ quần thần dâng sớ hạch tội Vương Thông và Đô đốc Mã Anh (馬瑛), các quan sự vụ như Trần Trí (陳智), Lý An (李安), Phương Chính (方政), Bố chính sứ Dịch Khiêm (弋謙), cùng các nội quan như Sơn Thọ (山壽), Mã Kỳ (馬騏) vì đã trái lệnh, tự ý nghị hòa với giặc, bỏ thành rút quân.

Hoàng thượng ra lệnh cho các quan công, hầu, bá, năm phủ sáu bộ, Đô sát viện và các nha môn tại hành tại cùng thẩm tra xét xử.

Ngày 29,

Các quan công, hầu, bá, năm phủ, sáu bộ, Đô sát viện và các nha môn tâu rằng: Vương Thông (王通), Trần Trí (陳智), Mã Anh (馬瑛), Phương Chính (方政), Dịch Khiêm (弋謙) v.v. đã trái lệnh triều đình, tự ý nghị hòa với giặc, bỏ thành rút quân. Sơn Thọ (山壽) thì bao che kẻ phản loạn, Mã Kỳ (馬騏) thì kích động gây biến loạn một phương, tất cả đều đã nhận tội, xin xử theo pháp điển nghiêm khắc.

Hoàng thượng ra lệnh: Tất cả đều bị giam vào ngục của Vệ Cẩm Y, giao cho pháp ty xử lý. Pháp ty lại tâu rằng: Theo luật, Vương Thông v.v. đều phải bị tịch thu gia sản. Hoàng thượng chấp thuận.

Giáng Trấn Viễn hầu Cố Hưng Tổ (顧興祖) vào ngục của Vệ Cẩm Y tại hành tại. Ban đầu, Giám sát ngự sử đã dâng sớ hạch tội Hưng Tổ tham lam tiền của, háo sắc, làm mất đất, hao binh. Hoàng thượng ra lệnh bắt giữ, giao cho pháp ty cùng các quan công, hầu, bá thẩm vấn. Hưng Tổ nhận tội, lệnh đợi Vương Thông (王通) trở về rồi cùng luận tội. Đến nay Vương Thông đã về, Tả Đô ngự sử Lưu Quan (劉觀) xin xử tội chung. Bèn giáng Hưng Tổ vào ngục Vệ Cẩm Y.

Sai Tường Phù vương Hữu Tước (祥符王有爝) trở về nước. Trước đó đã triệu Tân An vương Hữu Hí (新安王有熹) đến, nói rằng thư từ Chương Đức gửi đến không phải do Hữu Tước gửi, mà là do Dự Nam vương Hữu Huân (汝南王有勳) làm thay. Vì vậy sai Hữu Tước trở về, rồi triệu Dự Nam vương Hữu Huân vào kinh.

Tuyên Tông /quyển 43 Tuyên Đức năm thứ 3 tháng 5

[sửa]

Ngày 1, Thị lang Bộ Lễ Hữu là Lý Kỳ (李琦), Thị lang Bộ Công Hữu là La Nhữ Kính (羅汝敬) v.v. sau khi làm sứ giả đến Giao Chỉ đã trở về. Lê Lợi (黎利) sai các đầu mục như Lê Khí (黎器), Hà Phủ (何甫) v.v. đi theo Lý Kỳ và La Nhữ Kính, dâng biểu tạ ơn, đồng thời báo rằng cháu của họ Trần là Trần Cảo (陳暠) đã mất vào ngày mồng 10 tháng Giêng năm nay (26-01-1428)[20].

Con cháu họ Trần đều đã tuyệt tự, dân trong nước suy tôn Lê Lợi giữ nước cẩn thận, chờ lệnh triều đình.

Ngày 16, Các công hầu bá cùng Ngũ phủ, Lục bộ, Đô sát viện, Đại lý tự, Cẩm y vệ hặc tấu Thái phó, Kiềm quốc công Mộc Thạnh (沐晟), Hưng An bá Từ Hanh (徐亨), Tân Ninh bá Đàm Trung (譚忠) gần đây do dư đảng Giao Chỉ (交阯) chưa yên, nên được lệnh cùng An Viễn hầu Liễu Thăng (柳升) tổng binh chia đường tiến đánh, cùng mưu tiêu diệt.

Hoàng thượng nhiều lần ban dụ răn bảo, cho kỳ hội quân để tạo thế gọng kìm, giặc tất bị bắt. Nhưng Mộc Thạnh cùng các tướng không tuân, khi nhận lệnh thì chần chừ, sợ sệt, đến nơi lại trì hoãn hơn 3 tháng mới đến biên giới giặc, rốt cuộc không thể phối hợp với Liễu Thăng, khiến giặc có cơ hội tập trung lực lượng chống cự triều quân. Đến khi nghe tin Liễu Thăng bị vây hãm, Mộc Thạnh cùng các tướng không hăng hái tiến lên cứu viện, lại rút quân về, bị giặc thừa cơ đánh úp, giết hại quân lính, bỏ lại giáp binh, khiến thế giặc càng mạnh, thành trì thất thủ.

Mộc Thạnh cùng các tướng trái lệnh vua, làm nhục quốc thể, tổn thất binh lực, phải nghiêm trị để thể hiện thiên triều trừng phạt. Hoàng thượng nói: Mộc Thạnh thì không xét nữa, còn Đô sát viện dâng sớ trình việc của Từ Hanh và Đàm Trung, tạm chờ họ hồi triều.

Ngày 18, lệnh cho Hành tại Công bộ Hữu thị lang La Nhữ Kính (羅汝敬), Hồng lô tự khanh Từ Vĩnh Đạt (徐永達) lại mang chiếu đến Giao Chỉ (交阯) dụ Lê Lợi (黎利) cùng các bô lão, quân dân.

Chiếu rằng: "Trẫm noi theo đạo trời để trị nước, thuận lòng dân để hưng trị, đối đãi trong ngoài như nhau, một mực đồng lòng. Nay người Giao Chỉ (交阯) không quên họ Trần (陳), xin lập hậu duệ để làm chủ một phương. Trẫm lấy việc thương dân làm chí, thuận theo ý muốn, tha tội cũ, triệu hồi quân chinh phạt. Đặc biệt ra chiếu cho các đầu mục, bô lão trình rõ thực trạng con cháu họ Trần (陳), để nghe và căn cứ mà lập. Nay Lê Lợi (黎利) tâu rằng cháu họ Trần tên là Cảo (暠) đã mất vào tháng Giêng ((26-01-1428)), không có con cháu. Vài tháng sau lời nói lại khác hẳn. Họ Trần (陳) từng được dân lập làm vua, tất hậu duệ còn nhiều. Xưa khi quân triều đình mới bình định Giao Chỉ (交阯), có chiếu tìm con cháu họ Trần (陳) để lập, dân đều nói là Lê Quý Ly (黎李犛) đã giết sạch, nên mới đặt quận huyện. Nhưng nay đã hơn 20 năm, vẫn còn người như Cảo (暠), sao đến khi Cảo chết lại nói là không còn ai? Việc này chắc do đầu mục, bô lão chưa tìm hết, người còn sống không dám tự xưng. Đạo làm thần dân phải hết lòng, một chút chưa hết thì không thể gọi là trung. Chiếu đến đây, các đầu mục, bô lão, quân dân nên hết lòng tìm hỏi con cháu họ Trần (陳), tâu lên để ban chiếu nối dõi, ổn định một phương, hợp với lòng yêu dân của Trẫm, đã ban đức khoan hậu rộng rãi, người gần kẻ xa đều nên được hưởng phúc. Những quan lại, quân lính, nhân viên triều đình còn lưu lại ở Giao Chỉ (交阯) cùng với gia quyến của họ, hãy mau chóng cho về để an ủi sự mong mỏi của cha mẹ, vợ con họ. Các binh khí còn lưu lại cũng đều đem nộp hết, mong cầu con đường hưởng phúc. Trẫm lấy lòng thành đãi người, chớ nên giữ lòng nghi kỵ mà tự chuốc lấy tai họa. Ban cho Nhữ Kính (汝敬) cùng những người đi đường tiền bạc làm lộ phí, đồng thời ban cho các đầu mục Giao Chỉ (交阯) được phái đến như Lê Khí (黎器) tiền bạc và áo gấm văn thêu, lệnh cùng Nhữ Kính (汝敬) đồng hành."

Ngày 20, Các quan lại là thổ quan thuộc các nha môn Trấn Di Vệ (鎮夷衛) ở Giao Chỉ (交阯), gồm Võ Hiếu Tiên (武孝先) và 94 người khác, tâu xin được cư trú tại kinh đô. Hoàng thượng ra lệnh cho Lễ bộ Hành tại, theo lệ đối với người phương Bắc đến quy thuận, ban cho áo gấm thêu, vải màu, tiền bạc, lụa, vải, bông, ngựa yên cùng các vật phẩm khác. Đồng thời lệnh cho các cơ quan hữu trách cấp nhà cửa, đồ dùng theo lệ.

Truy tặng cho các quan lại tử tiết ở Giao Chỉ (交阯):

  • Đô chỉ huy đồng tri Đô ty Liêu Đông (遼東都司) Lý Nhậm (李任) được truy phong làm Đô đốc đồng tri.
  • Chỉ huy sứ Vệ Tiền Yên Sơn (燕山前衛) Cố Phúc Xương (顧福昌), Chỉ huy sứ Vệ Giang (江衛) Lưu Thuận (劉順), Chỉ huy sứ Vệ Trung Quế Lâm Quảng Tây (廣西桂林中衛) Từ Kỳ (徐騏) đều được truy phong làm Đô chỉ huy đồng tri.
  • Chỉ huy thiêm sự Vệ Tiền Giao Chỉ (交阯前衛) Chu An (周安) được truy phong làm Chỉ huy đồng tri.
  • Chính thiên hộ Vệ Nam Ninh (南寧衛) Thái Ung (蔡顒) được truy phong làm Chỉ huy thiêm sự.
  • Phó thiên hộ Vệ Tả Yên Sơn (燕山左衛) Quế Thắng (桂勝) được truy phong làm Chính thiên hộ.
  • Tri phủ phủ Lạng Giang (諒江府) Lưu Tử Phụ (劉子輔), Tri phủ phủ Lạng Sơn (諒山府) Dịch Tiên (易先) được truy phong làm Tham chính Bộ Chính.
  • Tri châu châu Chính Bình (政平州) Hà Trung (何忠) được truy phong làm Phủ đồng tri.
  • Nội quan Phùng Trí (馮智) được truy phong làm Nội quan giám Thái giám.

Đều được ban sắc mệnh, sai người tế lễ, cấp gạo vải, và triệu con cháu của Lý Nhậm (李任), Lưu Tử Phụ (劉子輔), Dịch Tiên (易先), Hà Trung (何忠) kế thừa chức vụ, phục hồi gia đình.

Trước đó, Bố chính sứ Giao Chỉ (交阯) là Dịch Khiêm (弋謙) đã tâu việc Lý Nhậm (李任) và các người khác tử tiết. Hoàng thượng cảm động nói: “Đại trượng phu vì nước nên lấy cái chết để thành nhân, bỏ mình để giữ nghĩa, Lý Nhậm (李任) và các người thật không hổ thẹn.” Do đó có lệnh ban thưởng.

Chỉ huy Trần Lân (陳麟) cũng từng giết giặc rồi tự vẫn, nhưng do từng cùng Chu Quảng (朱廣) mở cửa nạp giặc, nên dù chết cũng không thể che giấu lỗi, không được ban ân.

Lý Nhậm (李任), người Kim Hoa Vĩnh Khang (金華永康), thời Hồng Vũ kế thừa tước cha, làm Chỉ huy thiêm sự Vệ Hữu Yên Sơn (燕山右衛), theo Thái Tông Hoàng đế khởi binh bình loạn, lập công được thăng làm Đô chỉ huy đồng tri Đô ty Liêu Đông (遼東都司), trấn thủ Chương Đức (彰德). Năm đầu niên hiệu Tuyên Đức (宣德元年, 1426), theo lệnh đi đánh giặc phản Lê Lợi (黎利), giữ thành Xương Giang (昌江). Giặc bắt được Đô đốc Thái Phúc (蔡福), ép Phúc đến dưới thành gọi Nhậm đầu hàng. Nhậm trên thành mắng Phúc: “Ngươi làm đại thần không giết giặc, lại bị giặc sai khiến, chẳng bằng chó lợn,” rồi dùng súng bắn Phúc, giặc sợ phải rút đi.

Giặc xem Xương Giang là nơi hiểm yếu, tập trung quân voi, dùng xe rùa, thang mây tấn công. Nhậm cùng Cố Phúc Xương (顧福昌) để lại người già, phụ nữ giữ thành, tự dẫn quân tinh nhuệ ra đánh, đốt phá khí cụ của giặc. Giặc lại xây lũy bắn vào thành, Nhậm và Phúc ban đêm tập kích phá trại giặc. Giặc đào hầm muốn vào thành, Nhậm đào rãnh ngang, dùng đá tướng đánh, ai vào đều chết. Quân trong thành ban đầu hơn 2.000 người, sau 30 trận chiến, chết hơn một nửa. Giặc tăng quân voi, vây gắt, kéo dài 9 tháng, người mệt, lương cạn, giặc càng đông, dùng thang mây lên thành chiếm cửa. Nhậm lại dẫn tử sĩ đánh ba trận, đều thắng. Giặc đưa voi và quân vào, Nhậm và Phúc không chống nổi, đều tự vẫn.

Nội quan Phùng Trí (馮智), Chỉ huy Lưu Thuận (劉順), Tri phủ Lưu Tử Phụ (劉子輔) đều thắt cổ chết. Quân dân trong thành, phụ nữ không chịu nhục, tự chết hơn 3.000 người.

Lưu Tử Phụ (劉子輔), người Lư Lăng (廬陵), từ sinh viên Quốc tử giám được bổ làm Giám sát ngự sử, sống tiết kiệm, xử lý công bằng. Từng đi tuần tra Chiết Giang (浙江) ba năm không vướng sắc dục, người tốt yêu mến, kẻ ác sợ hãi. Ngự sử Chu Tân (周新) khen là ngự sử hiền tài. Sau làm Hiến sứ Quảng Đông, bị giáng chức làm Tri phủ Lạng Giang (諒江府), thương dân như con, được dân yêu mến. Khi Lê Lợi (黎利) vây thành Lạng Giang, thế giặc mạnh, các thành khác đều mất, Tử Phụ cùng tướng giữ thành, dân binh quyết tử thủ. Giặc tăng quân, thành sắp cạn lương, nhưng lòng dân càng vững, chống cự 9 tháng, thành bị phá, dân binh đều chiến đấu đến chết, không ai đầu hàng. Tử Phụ biết không giữ được, nói: “Thành mất, ta cũng mất, nghĩa không thể nhơ tay giặc,” rồi tự thắt cổ chết. Một con trai và một thiếp đều chết trước ông.

Hà Trung (何忠), tự Đình Thần (廷臣), người Giang Lăng (江陵), đỗ tiến sĩ, làm Giám sát ngự sử, nổi tiếng tài năng. Thời Vĩnh Lạc (永樂), được thăng làm Tri châu Chính Bình (政平州). Trung thông minh, có tài trị chính, liêm khiết, không giao du bừa bãi. Khi làm ngự sử, giữ chính luận, không ai dám cầu tư. Khi bệnh ở nhà, các ngự sử đưa việc đến, ông đều góp ý đúng tình hình. Dân trong châu đều yên tâm, cả người man rợ cũng vui lòng phục tùng. Sau khi bàn việc đến Bộ Chính, thất bại ở cầu Ninh, giặc thừa thắng đến thành, dân hoảng sợ. Hầu Thành Sơn Vương Thông (王通) giả vờ hòa với giặc, viết thư sai người nhà Sơn Thọ (山壽) đưa cho giặc, nói triều đình tha tội, giặc tin, rút quân. Trước đó, mật sai người tâu việc đều bị giặc giữ lại. Nay giặc nói triều đình tha tội, sai đầu mục Trần Vị Lão (陳渭老) dâng biểu tạ ơn. Thông sai Trung và Thiên hộ Quế Thắng (桂勝) giả vờ tâu việc, cùng Vị Lão (渭老) vào triều, thực chất muốn trình tình hình giặc, xin thêm quân. Đến Xương Giang, nội sử Từ Huấn (徐訓) tiết lộ mưu, Trung bị giặc bắt. Giặc biết Trung cương trực, có học thức, nhiều lần dụ dỗ bằng lời ngọt và chức vụ, Trung không nghe. Sau dùng dao cưa đe dọa: “Theo thì sống, không theo thì chết.” Trung trợn mắt mắng giặc: “Ta là thần tử triều đình, hận không giết ngươi để báo quốc, sao lại theo ngươi phản quốc?” Mắng không ngừng. Giặc ép Quế Thắng (桂勝), Thắng cũng không khuất phục. Trung, con trai ông, và Thắng cùng bị giết trong một ngày. Trung khi bị bắt đã làm thơ thề chết.

Từ Kỳ (徐麒) và Thiên hộ Thái Ung (蔡顒) giữ thành Khâu Ôn (丘溫), giặc vây lâu, thành cạn lương, quân triều bỏ thành chạy, Kỳ và Ung vẫn dẫn quân giữ thành. Giặc công gắt, thành bị phá, dân trong thành không ai đầu hàng, giặc tàn sát, Kỳ và Ung đều thắt cổ chết.

Dịch Tiên (易先), người Tương Âm (湘陰), từ sinh viên Quốc tử giám được bổ làm Tri phủ Lạng Sơn (諒山府), có chính tích tốt, người man tin phục. Hết nhiệm kỳ, về triều, dân trong phủ kéo nhau xin giữ lại, ngự sử tâu lên, đặc cách phục chức, thăng đến Chính tam phẩm, lương được cấp lại, trở về Lạng Sơn, đến khi thành bị phá thì thắt cổ chết.

Chu An (周安), từ Chỉ huy thiêm sự Vệ Trấn Vũ (振武衛), theo quân đi đánh giặc Lê, đổi làm Chỉ huy thiêm sự Vệ Tiền Giao Chỉ (交阯前衛), giữ thành Nghệ An (乂安). Lê Lợi (黎利) thế mạnh, Đô đốc Thái Phúc (蔡福) triệu các tướng bàn: “Nay lương thực khó khăn, không thể giữ, nên rút về Đông Quan.” Mọi người đồng ý, Thiên hộ Bao Tuyên (包宣) một mình dẫn hơn trăm quân xông vào trại giặc. An dẫn quân và dân Vệ Diễn Châu (演州衛) về Đông Quan, đến sông Phú Lương (富良江) gặp giặc, yếu thế bị bắt. Phúc bị giặc ép đi các nơi dụ hàng. An phẫn nộ, bàn với mọi người: “Quân triều đình sẽ đến đánh giặc, ta nên chuẩn bị giáo tre, dao chém, chờ quân đến làm nội ứng, chắc chắn phá giặc.” Tuyên phát hiện mưu, báo Lê Lợi (黎利), Lợi giận, giết hết. Lợi định giết An, An nói: “Ta là thần tử triều đình, sao chết trong tay giặc,” rồi cùng Chỉ huy Trần Lân (陳麟) vùng dậy cướp dao giặc, giết vài tên, rồi đều tự vẫn.

Ngày 23, Tổng binh trấn thủ Quảng Tây (廣西) là Đô đốc Sơn Vân (山雲) tâu rằng: Lê Lợi (黎利) ở Giao Chỉ (交阯) dùng binh ép buộc thổ quan Tri châu châu Quảng Nguyên (廣源州) là Bế Sắc Tân (閉色新) theo mình. Cha con Sắc Tân không thuận, chia nhau giữ các đồn trại, bí mật sai người đến báo tình hình nguy cấp, xin triều đình viện binh.

Hoàng thượng hạ chiếu báo cho Sơn Vân (山雲) rằng: Bế Sắc Tân (閉色新) một lòng hướng về triều đình, trung nghĩa đáng khen. Nhưng Trẫm không muốn vì đất đai mà gây giết chóc. Khanh nên xét thế lực, nếu có thể viện thì viện, không thể thì thôi. Nếu cha con họ đến quy thuận thì thu nhận vào nội địa, hết lòng vỗ về, chớ để họ mất chốn nương thân.


Ngày 24, ban thưởng cho các thổ quan và thổ tăng thuộc phủ Tân An (新安府) ở Giao Chỉ (交阯) đến triều kiến, gồm Chủ bộ Trịnh Ngô (鄭吳) và thổ tăng Trí Thâm (智深) cùng 18 người khác, tổng cộng 20 người. Các phần thưởng gồm có bạc, tiền giấy, vải màu, áo lót và áo ngoài bằng vải gai, tơ, cùng các loại vải vóc khác, phân phát theo thứ bậc.

Ngày 30, bọn Thái Phúc (蔡福), Chu Quảng (朱廣), Tiết Tụ (薛聚), Vu Toản (于瓚), Lỗ Quý (魯貴), Lý Trung (李忠) đều bị xử tử.

Phúc (福) là Đô đốc, Quảng (廣), Tụ (聚), Toản (瓚) đều là Đô chỉ huy, Quý (貴) là Chỉ huy, Trung (忠) là Thiên hộ.

Ban đầu, họ trấn thủ Nghệ An (乂安) ở Giao Chỉ (交阯), bị giặc vây, Phúc không chiến mà dẫn Quảng và những người khác đầu hàng, còn dạy giặc chế tạo khí cụ để tấn công Đông Quan. Khi có hơn 9.000 quân triều đình định đốt trại giặc, Phúc sai Bách hộ Mưu Anh (牟英) báo cho giặc, khiến giặc giết sạch hơn 9.000 người. Sau đó giặc tấn công các thành như Xương Giang (昌江), Phúc đi khuyên các thành đầu hàng. Từng đến Thanh Hóa (清化), cưỡi ngựa đến dưới thành lớn tiếng gọi: “Người giữ thành nếu biết thời thế thì giữ được mạng, không thì gan óc phơi thây.” Bị Tri châu La Thông (羅通) và người trong thành mắng lớn rồi bỏ đi.

Đến nay, Lê Lợi (黎利) đưa Phúc và những người khác về kinh. Triều đình lệnh cho các công, hầu, bá, ngũ phủ, lục bộ, Đô sát viện và quan vệ kinh thành cùng thẩm tra, tất cả đều nhận tội. Tâu lên, triều đình ra lệnh xử tử nơi chợ, tịch thu gia sản.

Tuyên Tông /quyển 46 Tuyên Đức năm thứ 3 tháng 8

[sửa]

Lệnh cho Chỉ huy sứ Hoa Anh (花英) tiếp tục giữ chức tại Đô ty Quảng Đông (廣東都司), điều Chỉ huy sứ Đô ty Quảng Đông Lý Long (李龍) sang nhậm chức tại Đô ty Phúc Kiến (福建都司). Hoa Anh (花英) trước kia giữ chức ở Quảng Đông, do có tội nên bị điều sang Giao Chỉ (交阯), khi trở về được lệnh trấn thủ Liêm Châu (廉州). Nay các quan quân điều về Vệ Liêm Châu đều trở lại vệ cũ, nên Hoa Anh cũng được phục chức cũ.

Thượng thư Lễ bộ Hành tại là Hồ Dĩnh (胡濙) tâu: Thổ quan Tri châu Giao Chỉ (交阯) là Nguyễn Đắc Cử (阮得轝, bản khác chép là 阮得擧), Bách hộ Đinh Xạ (丁射), cùng Châu phán, Huyện thừa, Huấn đạo, Lại điền... do công vụ đã hoàn thành, gặp tang chế, cùng vợ con gia nhân trở về Giao Chỉ. Giữa đường nghe tin quân triều đình đã rút, giặc chiếm thành, nên không muốn quay về, trình báo với cơ quan hữu trách, xin được ở lại kinh đô.

Hoàng thượng ra lệnh cấp nhà cửa theo phẩm cấp, người có lương thì phát lương, người không có lương thì mỗi tháng cấp 1 thạch gạo ăn, gia nhân của quan mỗi tháng cấp 5 đấu gạo.

Hồ Dĩnh (胡濙) lại tâu: Trước đó, thổ quan Chỉ huy Võ Hiếu Tiên (武孝先) cùng các Tri châu khác ở Giao Chỉ (交阯) xin ở lại kinh đô, được ban bạc, tiền giấy, vải màu, lụa, vải... Hoàng thượng ra lệnh chiếu theo lệ đó mà ban thưởng.

Lệnh tha và giáng chức Long (隆), do Tuần án ngự sử tâu rằng Long không đảm nhiệm được chức vụ. Dùng dân Giao Chỉ (交阯) là Trần Đình (陳汀) làm Chỉ huy thiêm sự. Trần Đình (陳汀), người xã Bả Lỗ (把魯里), huyện Cổ Lôi (古雷縣), Giao Chỉ, là Thiên phu trưởng, từng theo Đô đốc Phương Chính (方政) và Chỉ huy Nguyễn An Vinh (阮安榮) chiến đấu giữ thành, có công đánh bại Lê Lợi (黎利) nhiều lần, được Chính tin tưởng. Khi Vương Thông (王通) bỏ thành, Đình phẫn nộ, đi về phía Bắc, bị giặc bắt. Giặc thấy ông là người cứng cỏi, phong làm giả Chính đốc, sai giữ thành Giao Châu (交州) và Đông Quan (東關). Đình không chịu phục giặc, dẫn hơn 90 người trong gia đình trốn đi theo đường mòn. Lê Lợi (黎利) sai người đuổi bắt, gia quyến bị bắt, chỉ có Đình đến được Khâm Châu (欽州), được Chỉ huy Trình Thường (程瑒) đưa về kinh.

Hoàng thượng nói với Thượng thư Trương Bổn (張本): “Người này lâu năm trong quân ngũ, có công lao, lại dám bỏ giặc về triều, lòng thành thật đáng khen, nên được thăng vượt cấp.” Lệnh bổ làm Chỉ huy thiêm sự tại Vệ Cẩm Y (錦衣衛), cấp lương, giao Lễ bộ cấp thưởng theo lệ thổ quan Giao Chỉ ở kinh đô.

Vệ Tuân Hóa (遵化衛) ban đêm không bắt được Trương Đại Xuyên (張大川), nên bổ làm Bách hộ của bản vệ. Trước đó, Đại Xuyên cùng giữ Ải Cá Trê (鮎魚石關), tuần đến tướng quân Thụ Thạch Hạp Khẩu (樹石匣口), bất ngờ gặp 4 kỵ binh giặc, giao chiến, giặc bị đánh bại.

Thổ quan Tri phủ phủ Tuyên Hóa (宣化府) ở Giao Chỉ (交阯) là Đào Quý Dung (陶季容) cùng đến triều cống sản vật, tự trình rằng tổ phụ đời đời kế thừa chức thổ quan huyện Thủy Vĩ (水尾縣). Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406), Giao Chỉ quy thuận, được bổ làm Tri huyện bản huyện. Năm thứ 5 (1407), có công giết giặc, được thăng làm Tri châu châu Quy Hóa (歸化州). Năm thứ 18 (1420), thăng làm Đồng tri phủ Tuyên Hóa (宣化府同知). Vì không theo Lê Lợi (黎利) phản nghịch, được thăng làm Tri phủ Tuyên Hóa (宣化府知府). Lê Lợi sai đầu mục Hoàng Lôi (黃磊) dụ hàng, Quý Dung bắt Lôi, mang ấn chạy đến phủ Lâm An (臨安府), huyện Mông Tự (蒙自縣), Vân Nam, giao Lôi cho Tổng binh quan, được ban thưởng ngựa yên và các vật phẩm, điều động dân binh dẫn đường cho quân triều đến Thủy Vĩ, giao chiến với giặc tướng Nguyễn Ngọ (阮午) và những người khác, chém được 4 thủ cấp, lại được ban thưởng. Nay đất cũ đã mất, không còn nơi nương tựa, kính cẩn cùng Chủ bộ thổ quan Khổng Văn Tắc (孔文塞), thổ lại Trần Hiếu Trung (陳孝忠), đầu mục Đào Điền (陶鈿) đến triều kiến.

Hoàng thượng khen ngợi, ban bạc, vải vóc, y phục như lệ Võ Hiếu Tiên (武孝先), cho cư trú tại kinh đô. Quý Dung và những người khác lại trình xin được cư trú gần châu A Mê (阿迷州), Vân Nam, được chấp thuận, lệnh cho cơ quan hữu trách cấp nhà cửa, ruộng đất, thường xuyên chăm sóc, không để họ mất nơi nương thân.

Thổ quan Chỉ huy đồng tri Võ Hiếu Tiên (武孝先) ở Giao Chỉ (交阯) tự trình: Trước kia từng đánh Lê Lợi (黎利), dũng cảm ứng tuyển đi tuần tra cầu Ninh (寧橋), bị bắt tại trận, giữ tiết không hàng, rồi trốn thoát trở về. Sau đó dẫn quân đánh giặc ở Tây Dương (西陽), cầu Cổ Liệt (古烈橋), giết giặc voi, bắt sống tướng giả Lê Thiện (黎善), chém đầu Lê Trĩ (黎豸), truy sát đến sông, giặc chết đuối vô số. Ngày đêm phục kích, đánh trại, giữ thành, nhiều lần được ban thưởng công trạng, nhận bạc, bát bạc, thẻ bạc. Nay may mắn đến kinh, lại được ban áo gấm, bạc tiền. Nhưng nghĩ đến cha mẹ, vợ con đều bị Lê Lợi giết hại, xin được thăng chức để có cơ hội tiến thân sau này.

Hoàng thượng giao cho Thượng thư Bộ Binh Hành tại là Trương Bổn (張本) xét tấu. Do công trạng không rõ thật hư, việc bị đình lại.

Tuyên Tông /quyển 48 Tuyên Đức năm thứ 3 tháng 11

[sửa]

Thượng thư Bộ Binh Hành tại là Trương Bổn (張本) tâu: Các quan thuộc Vệ Trà Lăng (茶陵衛) gồm Chỉ huy thiêm sự Trần Thảng (陳倘), Trịnh Cảo (鄭杲), Trấn phủ Vương Đỉnh (王鼎), Thiên hộ Bạch Chân (白真), Chu Bân (朱斌), Bách hộ Lý Cương (李剛) đều biết rõ việc Chỉ huy bản vệ là Vương Quý (王貴) cùng Cùng Cốc thứ nhân (同谷庶人) mưu phản, nhưng lại che giấu không khai báo, theo luật thì phải xử trảm.

Thái Tông Hoàng đế đặc cách tha chết, đày đi Giao Chỉ (交阯) để lập công. Sau khi được ân xá, họ tự ý phục chức. Có người đã chết, con cháu kế thừa chức vụ, phạm tội biết rõ mưu phản. Dù đã được ân xá, nhưng không nên phục chức, xin xử tội.

Hoàng thượng phán: Tội trước đã được tha, tội sau chỉ là tự ý phục chức, tạm tha, đày đi Liêu Đông (遼東) để lập công.

Tuyên Tông /quyển 49 Tuyên Đức năm thứ 3 tháng 12

[sửa]

Chỉ huy thiêm sự trấn thủ Long Châu (龍州) là Trương Quý (張貴) tâu rằng: Cha con Bế Sắc Tân (閉色新) từ Giao Chỉ (交阯) đã đến quy thuận. Triều đình đã ban thưởng, cấp ruộng đất và nhà cửa. Tuy nhiên, gia quyến họ khá đông, xin được cấp lương thực từ kho Long Châu để chu cấp. Hoàng thượng chấp thuận.

   




Chú thích

  1. [1], [2]
  2. [3], [4]
  3. [5], [6]
  4. [7], [8]
  5. [9]
  6. [10]
  7. [11]
  8. [12], [13]
  9. [14], [15]
  10. Trần Nghệ Tông
  11. 止戈 chỉ qua: 1. Thôi việc can quan, ngưng chiến tranh. 2. Hình dung chữ “vũ” 武. “Nhất chỉ qua vi vũ” 一止戈爲武 chữ “chỉ” hợp với chữ “qua” thành chữ “vũ”.; 止戈为武
  12. [16]
  13. [17]
  14. [18]
  15. [19]
  16. [20], [21]
  17. [22], [23]
  18. [24], [25]
  19. [26]
  20. [27]