Bước tới nội dung

Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh  (Hậu Tần
của Cưu-ma-la-thập, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc

Tam tạng Cưu Ma La Thập xứ Quy Từ nước Hậu Tần biên dịch.

Bậc đại trí Xá Lợi Phất, người theo Phật chuyển pháp luân, là đại tướng trong Phật pháp, vì thương xót chúng sinh mà bạch Phật rằng:

"Bạch Thế Tôn! Như các kinh trước đã nói, ngài Di Lặc sẽ xuống trần thành Phật. Con nguyện được nghe rõ về công đức, thần lực và sự trang nghiêm của cõi Ngài. Chúng sinh phải bố thí, trì giới, tu huệ thế nào để được gặp Ngài?"

Bấy giờ, Phật bảo Xá Lợi Phất:

"Ta nay sẽ vì ông mà nói rõ, hãy một lòng lắng nghe. Này Xá Lợi Phất! Khi bốn biển cạn bớt ba ngàn do-tuần, bấy giờ đất Diêm Phù Đề dài mười ngàn do-tuần, rộng tám ngàn do-tuần, bằng phẳng như gương, hoa lạ cỏ mềm phủ khắp. Các loài cây trái xum xuê, cây cao ba mươi dặm; thành quách san sát, tiếng gà gáy nghe thấu nhau. Người thọ tám vạn bốn ngàn tuổi, trí tuệ uy đức, sắc lực vẹn toàn, an ổn vui sướng; chỉ có ba bệnh là: ăn uống, đi tiêu và già yếu. Phụ nữ năm trăm tuổi mới gả chồng.

Bấy giờ có đại thành tên là Sí Đầu Mạt, dài mười hai do-tuần, rộng bảy do-tuần, trang nghiêm thanh tịnh, người phước đức ở đầy trong đó. Thành bằng bảy báu, lầu gác cửa sổ đều là châu báu, lưới ngọc bao phủ; đường xá rộng mười hai dặm, quét dọn sạch tinh. Có đại Long vương tên Đa La Thi Khí, cung điện ở hồ gần thành; thường đêm khuya giáng mưa nhẹ ngăn bụi bặm. Đất đai nhuần nhuyễn như thoa dầu, người đi lại không hề lấm bụi. Do phước đức của dân chúng, nơi đường xá khắp nơi đều có cột minh châu cao mười dặm, tỏa sáng đêm ngày, chẳng cần đèn đuốc. Thành quách xóm làng không một mảnh đất vụn, thuần cát vàng phủ đất, bạc vàng tụ khắp nơi. Có đại Dạ xoa tên Bạt Đà Ba La Xa Tát Ca thường giữ thành, quét dọn sạch sẽ; nếu có đại tiểu tiện, đất tự nứt ra để nhận rồi khép lại. Người sắp mất tự đi đến bãi tha ma mà chết. Thời ấy thái bình, không có giặc cướp, cửa không cần đóng, cũng không có tai ương nước lửa, dao binh hay đói kém, độc hại. Người người từ tâm, cung kính hòa thuận, điều phục các căn, lời lẽ khiêm tốn.

Này Xá Lợi Phất! Ta nay chỉ lược nói về sự giàu vui của nước ấy. Trong vườn tược ao hồ tự có nước tám công đức, sen đủ sắc màu phủ kín mặt hồ. Bốn bên ao có bậc thang bảy báu, chim chóc hội tụ, tiếng hót líu lo, các loài chim lạ không thể xiết kể. Cây trái cây hương đầy rẫy trong nước. Bấy giờ trong cõi Diêm Phù thường thơm ngát như núi hương, dòng nước ngọt lành giúp trừ bệnh tật, mưa thuận gió hòa, lúa mọc tốt tươi, không có cỏ dại, một lần gieo bảy lần gặt, tốn ít công mà thu hoạch nhiều, ăn vào thơm ngon, sức lực tràn đầy.

Nước ấy bấy giờ có vua Chuyển luân tên là Hướng Khư, có bốn loại binh nhưng không dùng uy vũ mà trị khắp thiên hạ. Vua có ngàn con trai dũng mãnh. Vua có bảy báu: bánh xe vàng, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, chủ kho báu, chủ binh báu. Lại có đài bảy báu cao ngàn trượng. Có bốn kho báu lớn, mỗi kho có bốn ức kho nhỏ vây quanh, nằm ở các nước khác nhau, chứa đầy trân bảo, có bốn đại Long vương canh giữ. Các kho báu tự trồi lên như hoa sen, người người đến xem nhưng lòng không tham đắm, vứt bỏ châu báu như gạch đá, cỏ cây. Người thời ấy thấy vậy đều sinh lòng chán lìa, nghĩ rằng: xưa kia chúng sinh vì báu vật này mà hại nhau, trộm cướp, dối trá, làm tội lỗi tăng trưởng. Thành Sí Đầu Mạt có lưới báu bao phủ, chuông báu trang nghiêm, gió thổi phát ra tiếng hòa nhã như tiếng chuông khánh.

Trong thành có vị chủ Bà-la-môn tên Diệu Phạn, vợ là Phạm Ma Ba Đề. Ngài Di lặc thác sinh làm con hai vị đó, thân màu vàng ròng, đủ ba mươi hai tướng tốt, chúng sinh nhìn không chán, sức lực vô lượng, hào quang chiếu diệu không gì ngăn được, khiến ánh sáng nhật nguyệt đều lu mờ. Ngài cao ngàn thước, ngực rộng ba mươi trượng, mặt dài mười hai trượng bốn thước; thân hình đoan chính vô song như đúc bằng vàng. Mắt thịt thanh tịnh nhìn xa mười do-tuần, hào quang chiếu khắp trăm do-tuần.

Bồ-tát Di Lặc quán thấy ngũ dục thế gian gây nhiều tai họa, chúng sinh chìm đắm trong sinh tử thật đáng thương xót; Ngài giữ chính niệm nên không ưa ở nhà. Lúc bấy giờ vua Hướng Khư cùng các đại thần đem đài báu dâng lên ngài Di Lặc; Ngài nhận rồi đem cho các Bà-la-môn; các Bà-la-môn nhận xong liền phá hủy để chia nhau. Bồ-tát Di Lặc thấy đài báu phút chốc tan tành, biết mọi pháp đều hư nát, liền tu vô thường tưởng, xuất gia học đạo dưới cây Long Hoa — cành lá cao năm mươi dặm — ngay ngày xuất gia Ngài đắc quả Chánh đẳng Chánh giác. Bấy giờ các thiên long thần vương hiện ra rưới hoa cúng dường; đại thiên thế giới rúng động, thân Phật phóng quang soi khắp muôn phương, những ai có duyên đều được thấy Phật.

Bấy giờ, nhân dân đều nghĩ rằng: "Dẫu hưởng lạc thú ngàn năm cũng không thoát khỏi khổ đau ba đường ác, vợ con của cải không cứu được mình, đời người vô thường. Nay ta nên tu theo Phật pháp." Nghĩ vậy rồi đều xuất gia. Vua Hướng Khư cùng tám vạn bốn ngàn đại thần cũng xuất gia học đạo; lại có tám vạn bốn ngàn Bà-la-môn trí tuệ cũng xuất gia; trưởng giả Tu Đạt Na cùng tám vạn bốn ngàn người cũng đi theo; anh em Lê Sư Đạt Đa, Phú Lan Na cùng tám vạn bốn ngàn người xuất gia; hai đại thần Chiên Đàn, Tu Mạn cũng đi theo; công chúa Xá Di Bà Đế cùng tám vạn bốn ngàn thị nữ xuất gia; thái tử Thiên Sắc cùng tám vạn bốn ngàn người xuất gia; thân tộc Ngài là Tu Ma Đề cùng tám vạn bốn ngàn người cũng xuất gia. Vô số triệu người thấy khổ đời đều đi theo ngài Di Lặc.

Bấy giờ Phật Di Lặc thấy đại chúng, nghĩ rằng: "Những người này đến với ta không phải cầu vui cõi trời hay cõi người, mà vì nhân duyên Niết-bàn. Họ đều đã gieo thiện căn trong Phật pháp, được đức Thích Ca Mâu Ni gửi gắm đến đây, nay ta thu nhận tất cả. Có người tụng kinh, tu công đức mà đến; có người bố thí, trì giới mà đến; có người cúng dường hoa hương mà đến; có người tu tâm từ, giúp kẻ khổ nạn mà đến; có người nhẫn nhục, xây tháp cúng dường xá lợi mà đến. Lành thay đức Thích Ca Mâu Ni! Đã khéo giáo hóa muôn vàn chúng sinh để họ đến với ta."

Phật Di Lặc ba lần khen ngợi đức Thích Ca Mâu Ni, rồi thuyết pháp rằng: "Các ngươi làm được việc khó, ở đời ác đầy tham sân si, mạng ngắn mà biết tu hành, thật là hiếm có. Thời ấy người không biết cha mẹ, hại lẫn nhau, đắm say ngũ dục, sát hại lẫn nhau. Các ngươi ở trong đó mà làm việc thiện, thật hiếm thay. Lành thay đức Thích Ca Mâu Ni! Vì lòng đại bi mà nói lời thành thật, chỉ dẫn các ngươi đến gặp ta; vị thầy như thế thật khó gặp, đã vì các ngươi mà hy sinh thân mình, chịu bao khổ cực để cứu vớt chúng sinh."

Phật Di Lặc khai thị, an ủi chúng chúng sinh rồi mới thuyết pháp. Người người cung kính lắng nghe, đều hiểu ngũ dục là gốc của khổ, biết đời vô thường. Ngài quán thấy tâm đại chúng đã thanh tịnh, liền nói pháp Tứ Diệu Đế, người nghe đồng thời đắc đạo Niết-bàn.

Bấy giờ Phật Di Lặc ở vườn Hoa Lâm rộng trăm do-tuần, chúng hội tràn đầy. Hội thứ nhất thuyết pháp, chín mươi sáu ức người đắc A-la-hán; hội thứ hai, chín mươi tư ức người đắc A-la-hán; hội thứ ba, chín mươi hai ức người đắc A-la-hán. Sau khi độ trời người, Ngài dẫn đệ tử vào thành khất thực. Các thiên chúng cung kính theo Ngài vào thành Sí Đầu Mạt. Khi vào thành, Ngài hiện thần lực biến hóa khôn lường. Các tầng trời tấu nhạc khen ngợi công đức Phật, rưới hoa thơm cúng dường; đường xá dựng phướn lọng, hương thơm như mây. Khi Thế Tôn vào thành, Phạm Thiên và Đế Thích chắp tay khen rằng:

Chính tri bậc Lưỡng Túc Tôn,
Trời người kính phục chẳng bì thấp cao.
Mười lực hy hữu xiết bao,
Ruộng phước vô thượng dạt dào hồng ân.
Cúng dường phúc hưởng thiên thân,
Cúi đầu kính lễ bậc chân tinh cần.

Bấy giờ trời người thấy Ma vương bị Phật hàng phục, muôn vàn chúng sinh đều vui mừng, chắp tay xưng tán thần lực khôn lường của Như Lai.

Lúc ấy, trời người rải hoa sen, hoa mạn-đà-la đầy đến đầu gối, tấu nhạc ca ngợi. Ma vương bấy giờ vào đầu đêm và cuối đêm thức tỉnh nhân dân rằng: "Các ngươi đã được thân người, gặp thời tốt, chớ có ngủ quên; hãy tinh tấn chính niệm, quán ngũ uẩn vô thường, khổ, không, không ta. Chớ buông lung kẻo sau phải hối." Nam nữ ngoài đường đều bảo nhau: "Đừng buông lung, hãy tinh tấn cầu đạo, đừng để uổng phí kiếp người; gặp được đại sư cứu khổ thật khó, hãy vững lòng để đạt được Niết-bàn an lạc."

Bấy giờ, các đệ tử Phật Di Lặc đều đoan chính, oai nghi vẹn toàn, chán lìa sinh lão bệnh tử, học rộng nghe nhiều, giữ gìn pháp tạng, tu tập thiền định, lìa bỏ ham muốn như chim thoát khỏi vỏ trứng. Bấy giờ, Phật Di Lặc muốn đến chỗ trưởng lão Đại Ca Diếp, Ngài cùng bốn chúng lên núi Kỳ Xà Quật, thấy ngài Ca Diếp trên đỉnh núi. Đại chúng đều kinh ngạc. Phật Di Lặc khen rằng: "Tỳ-kheo Đại Ca Diếp là đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc nhất về đầu đà, thông đạt thiền định, thần lực lớn nhưng không kiêu mạn, thường thương xót kẻ nghèo khổ, cứu giúp chúng sinh an ổn." Ngài khen ngợi di cốt của ngài Ca Diếp rằng: "Lành thay bậc đại đức! Đại đệ tử của đấng Sư Tử, ở đời ác mà khéo tu tâm." Bấy giờ chúng hội thấy ngài Ca Diếp được khen, hàng tỉ người nhờ đó mà đắc đạo, tưởng nhớ đức Thích Ca Mâu Ni đã giáo hóa chúng sinh trong đời ác. Nơi thuyết pháp rộng trăm do-tuần, người ngồi kẻ đứng, dù gần hay xa đều thấy Phật ở trước mặt thuyết pháp cho riêng mình.

Phật Di Lặc ở đời sáu vạn năm, thương xót chúng sinh, khiến họ đắc pháp nhãn; sau khi Ngài diệt độ, chánh pháp trụ thế sáu vạn năm nữa. Các ngươi nên tinh tấn, phát tâm thanh tịnh, làm việc thiện, ắt sẽ được gặp ngài Di Lặc."

Phật nói kinh này xong, Xá Lợi Phất và đại chúng đều vui mừng thọ trì.


 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.