Bước tới nội dung

Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh  (Hậu Tần
của Cưu-ma-la-thập, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Tham khảo bản gốc của Hiệp hội Phật điển Điện tử Trung Hoa (CBETA): Nhập liệu từ Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh.

Xét văn kinh này, quyết không phải bản dịch của Cưu-ma La-thập, có vẻ là kinh thời Hậu Hán. Ngờ là bản dịch của Trúc Pháp Lan, bị thất lạc bản gốc, trong Đại tạng lầm ghi là La-thập dịch vậy.

Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh

[sửa]

Tam tạng Cưu Ma La Thập xứ Quy Từ nước Hậu Tần biên dịch.

Nghe như vầy:

Một thời, Phật dạo nước Vô Thắng. Bấy giờ ở ven sông, cứ đến ngày rằm, Ngài thường vì các sa-môn nói kinh giới. Phật ngồi vắng lặng, hồi lâu không nói. A-nan chỉnh áo, quỳ dài bạch:

"Sa-môn ngồi định, mong nghe pháp thanh tịnh".

Thế Tôn lặng thinh. A-nan ba lần đứng lên bạch: "Đêm đã quá nửa, xin nói kinh giới".

Thế Tôn bèn nói: "Trong chúng sa-môn, có kẻ dơ bẩn, tâm tà hạnh trái, lời và pháp sai luật sa-môn. Oai thần rất trọng, kẻ đê tiện kia không thể thực hành, trong đục trái nhau, nên ta không nói".

Tôn đức Mục-liên, một lòng nhập định, đạo nhãn quán sạch, thấy rõ tâm kẻ kia có hạnh đáng bỏ. Mục-liên liền bảo kẻ ấy: "Dậy! Đây không phải chỗ phàm phu nhà ngươi ngồi". Kẻ kia không chịu dậy, ngài kéo tay đuổi ra, mắng: "Ngươi không có đức, lòng ôm sáu tà, sao dám lấy thân hôi hám ngồi tòa thiên hương? Ngươi là kẻ bỏ đi, không phải sa-môn". Mục-liên liền trở về chỗ ngồi thanh tịnh.

Phật bảo Mục-liên: "Ông sao khờ vậy, khuyên tử tế không ra, kéo tay mới đi".

Phật bảo sa-môn: "Lặng nghe ta nói". Các sa-môn thưa: "Xin vâng lời dạy".

"Xem biển lớn kia, có tám đức tốt.

  • Rộng thì mênh mông không bờ, sâu thì đáy không lường được, càng vào càng sâu, không gì cản phía trước, đó là đức thứ nhất.
  • Thủy triều không vượt quá hạn định, đó là đức thứ hai.
  • Biển tóm thâu mọi báu vật, xác chết hôi thối biển không dung chứa, gió thần thổi dạt lên bờ, đó là đức thứ ba.
  • Biển ôm giữ trân bảo, vàng bạc, lưu ly, pha lê, san hô, long mai, ngọc sáng trăng, ngàn lạ muôn khác, cầu gì cũng được, đó là đức thứ tư.
  • Khắp thiên hạ, có năm sông lớn chảy ra biển. Chảy về tây tên là Hằng; chảy về nam tên là Tà Vân; chảy về đông có hai sông: một tên Sa Lục, một tên A Di Việt; chảy về bắc tên là Mặc. Năm sông trôi chảy, đều đổ vào biển, bỏ hết tên cũ, gộp chung thành biển, đó là đức thứ năm.
  • Năm sông muôn dòng, mưa tuôn không dứt, từ lúc lập đất trời, mưa đổ sông tuôn, nước biển vẫn thế, không hề thêm bớt, đó là đức thứ sáu.
  • Biển có nhiều cá, thân hình to lớn. Cá thứ nhất thân dài bốn ngàn dặm, cá thứ hai thân dài tám ngàn dặm, cá thứ ba thân dài mười hai ngàn dặm, cá thứ tư thân dài mười sáu ngàn dặm, cá thứ năm thân dài hai mươi ngàn dặm, cá thứ sáu thân dài hai mươi bốn ngàn dặm, cá thứ bảy thân dài hai mươi tám ngàn dặm, đó là đức thứ bảy.
  • Nước biển đều mặn, bờ hay giữa đều như nhau, đó là đức thứ tám.

Vì thế nên, thần long sáng suốt vui lòng thích thú.

  • Kinh điển mầu nhiệm của ta, cũng có đức lớn, đọc mãi không hết, nghĩa lý càng sâu, Phạm Ma, Đế Thích không thể dò lường, như biển rộng xa, bề sâu khó dò. Vì thế nên, các sa-môn thích thú, đó là đức thứ nhất.
  • Đệ tử của ta, cùng nhau kiểm thúc, tụng kinh ngồi thiền, lễ nghi phép tắc, không sai giờ giấc, như thủy triều của biển không qua hạn định, đó là đức thứ hai.
  • Pháp ta trong sạch, chí chuộng đạm bạc, áo cơm vừa đủ, không cất giữ gì; nếu có sa-môn, bụng dạ dơ bẩn, dùng pháp đàn hặc đuổi đi, không được ở chùa, như biển rộng không chứa xác chết hôi thối, đó là đức thứ ba.
  • Kinh đạo của ta, nghĩa lý đầy đủ, sa-môn ngầm suy, gột sạch tâm dơ, tham dâm giận ghét, ngu si nhơ bẩn, như mài gương sáng sạch hết bụi dơ, lại quét sạch mây mờ soi không gì không thấy. Một là ngồi suy nghĩ, nhớ lại nguồn gốc sinh tử xa xưa, không gì không biết; hai là nghĩ trời đất vạn vật như huyễn, phàm có tụ họp, ắt phải chia lìa; ba là thường khởi lòng từ, thương đời ngu hoặc, làm hạnh điên đảo, không tự biết lỗi; bốn là tự chuyên tâm, đã biết thuở trước, lại soi chưa tới, hồn thần chúng sinh, chỗ sẽ đi về. Đạo ta lấy tâm tịnh làm của báu, sa-môn bỏ dơ, được hạnh thanh tịnh, tâm người ấy vui mừng, như rồng sáng kia thích các báu vật của biển, đó là đức thứ tư.
  • Đạo ta rộng lớn, họp chúng làm một. Dòng dõi đế vương, dòng Phạm chí, dòng quân tử, dòng đê tiện, đến làm sa-môn, đều bỏ họ gốc, lấy đạo thương nhau, khôn nguội dìu dắt, tình như anh em, như các dòng nước gộp lại gọi là biển. Vì thế nên, sa-môn thích thú, đó là đức thứ sáu.

Đạo ta vi diệu, kinh điển sâu thẳm, bậc thượng sĩ lấy được. Một gọi Câu Cảng, hai gọi Tần Lai, ba gọi Bất Hoàn, bốn gọi Ứng Chân. Đạo của Ứng Chân, tâm hằng thanh tịnh, như ngọc sáng cõi trời, đức ẩn giấu cấu bẩn, phân thân rải rác, còn mất tự do, sống lâu vô cực, cũng không già bệnh, như biển lớn kia, có cá thần long. Vì thế nên, sa-môn thích thú. Kinh sách của ta, nghĩa đẹp như cam lộ, tiên thánh chưa từng nghe, Phạm Thích hiếm khi thấy, từ xưa đến nay, không gì không ghi, bề mé hay khoảng giữa đều ngay chính, như biển thảy đều mặn. Cũng vì thế nên, sa-môn thích thú. Phàm thấy kinh ta, ý đều hướng về vô vi. Biển có tám đức, kinh ta cũng vậy".

A-nan lại dậy, cúi đầu bạch: "Phương đông sắp sáng, nguyện răn giới trọng".

Thế Tôn nói: "Từ nay về sau, ta không nói lại kinh giới trọng nữa. Răn mà không theo, sợ thần sấm uy nộ giáng xuống vậy. Ta vì cớ đó, không nói kinh giới. Từ nay trở đi, hãy cùng nhau kiểm thúc, cứ ngày rằm, họp nói kinh giới".

Các tỳ-kheo đứng dậy, làm lễ trước Phật.

Phật Thuyết Kinh Hải Bát Đức

Xét văn kinh này, quyết không phải bản dịch của Cưu-ma La-thập, có vẻ là kinh thời Hậu Hán. Ngờ là bản dịch của Trúc Pháp Lan, bị thất lạc bản gốc, trong Đại tạng lầm ghi là La-thập dịch vậy.


 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.