Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh
Tam tạng Cương Lương Gia Xá (畺良耶舍) xứ Tây Vực nước Lưu Tống biên dịch.
I. Duyên khởi tại thành Vương Xá
[sửa]Tôi nghe như thế này: Một thời, Đức Phật ở tại núi Kỳ Xà Quật, trong thành Vương Xá, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người; các vị Bồ-tát ba vạn hai ngàn người, do Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi làm thượng thủ.
Bấy giờ, tại đại thành Vương Xá có vị Thái tử tên là A-xà-thế. Theo lời dạy của ác hữu Điều-đạt (Đề-bà-đạt-đa), Thái tử đã bắt giam vua cha là Tần-bà-sa-la, nhốt vào ngục thất bảy lớp, ngăn cấm quần thần không cho ai được tới. Phu nhân của nhà vua là Vi-đề-hy, vì lòng cung kính đại vương, đã tắm rửa sạch sẽ, lấy mật trộn với bột lúa mạch bôi lên thân, lại dùng các chuỗi anh lạc đựng nước quả nho mật dâng lên vua.
Lúc ấy đại vương ăn bột uống nước xong, liền súc miệng, chắp tay cung kính hướng về phía núi Kỳ Xà Quật, từ xa lễ bái Thế Tôn và bạch rằng: "Đại Mục-kiền-liên là thân hữu của con, nguyện xin Ngài hưng khởi lòng từ bi truyền dạy tám giới cho con." Lúc đó, Mục-kiền-liên bay nhanh như chim ưng đến chỗ vua. Ngày ngày đều như thế, truyền bát giới cho vua. Thế Tôn cũng sai Tôn giả Phú-lâu-na đến thuyết pháp cho vua. Thời gian trôi qua như thế đã ba tuần (21 ngày). Vua nhờ ăn bột mật và nghe pháp nên sắc diện hòa vui.
Thái tử A-xà-thế hỏi người canh cửa: "Phụ vương nay còn sống chăng?" Người canh cửa bạch rằng: "Đại phu nhân bôi bột mật lên thân, dùng anh lạc chứa nước quả dâng lên vua. Các Sa-môn Mục-liên và Phú-lâu-na từ trên không bay đến thuyết pháp cho vua, không thể ngăn cấm được." A-xà-thế nghe xong liền nổi giận mắng mẹ: "Mẹ ta là giặc, kết bạn với giặc. Các Sa-môn là người ác, dùng huyễn thuật khiến tên ác vương này bao ngày không chết!" Nói rồi liền cầm gươm sắc định hại mẹ mình.
Lúc đó có vị thần tên là Nguyệt Quang và Kỳ-bà cùng lễ lạy vua và thưa: "Thần nghe trong kinh Vệ-đà nói, từ thuở sơ kiếp đến nay có nhiều ác vương vì tham ngôi vị mà giết cha đến một vạn tám ngàn người, nhưng chưa từng nghe ai giết mẹ. Nếu vương làm việc giết mẹ này, sẽ làm nhơ nhuế dòng giống Sát-lợi. Thần không nỡ nghe, việc đó là hành vi của kẻ Chiên-đà-la, không nên ở lại đây nữa." Hai vị đại thần nói xong, tay nhấn chuốc gươm, bước lui mà đi. A-xà-thế kinh sợ, hỏi Kỳ-bà: "Ngươi không giúp ta sao?" Kỳ-bà đáp: "Đại vương cẩn thận chớ hại mẫu thân." Vua nghe lời ấy liền sám hối cầu cứu, bỏ gươm không hại mẹ nữa, nhưng hạ lệnh bắt nhốt mẹ vào thâm cung, không cho ra ngoài.
II. Bà Vi-đề-hy cầu thỉnh
[sửa]Bà Vi-đề-hy bị giam cầm, sầu ưu tiều tụy, hướng về núi Kỳ Xà Quật lễ Phật và thưa: "Như Lai Thế Tôn thuở trước hằng sai A-nan đến an ủi con. Nay con sầu khổ, uy đức Thế Tôn nặng nề không thể thấy được, nguyện Ngài sai Mục-liên và A-nan đến tương kiến." Nói xong bi lụy rơi lệ. Khi bà chưa ngẩng đầu lên, Thế Tôn tại núi Kỳ Xà Quật đã biết tâm niệm ấy, liền sắc Mục-liên và A-nan từ không trung bay đến. Phật cũng rời núi Kỳ Xà Quật mà xuất hiện tại vương cung.
Bà Vi-đề-hy ngẩng đầu thấy Đức Thích Ca Mâu Ni Phật thân sắc vàng tử kim, ngồi trên tòa sen bách bảo, Mục-liên bên trái, A-nan bên phải. Chư thiên Phạm Thiên, Đế Thích ở giữa không trung rải hoa cúng nhường. Bà Vi-đề-hy thấy Phật liền tự bứt chuỗi anh lạc, gieo mình xuống đất, khóc lóc bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, con đời trước có tội gì mà sinh ra đứa con ác này? Thế Tôn lại có nhân duyên gì mà cùng Đề-bà-đạt-đa làm quyến thuộc? Cúi xin Thế Tôn rộng thuyết cho con nơi không còn sầu khổ, con nguyện vãng sinh, không thích ở cõi Diêm-phù-đề trược ác này nữa. Nguyện con đời sau không nghe tiếng ác, không thấy người ác. Nay con hướng về Thế Tôn, năm vóc sát đất, cầu xin ai lân sám hối. Chỉ nguyện mặt trời Phật dạy con quán sát chỗ nghiệp thanh tịnh."
III. Thế giới Cực lạc và Ba bậc Tịnh nghiệp
[sửa]Khi ấy, Đức Thế Tôn phóng luồng sáng từ khoảng giữa lông mày. Luồng sáng ấy màu vàng ròng, chiếu khắp vô lượng thế giới ở mười phương rồi thu về trụ trên đỉnh đầu Phật, hóa thành một đài vàng lớn như núi Tu-di. Những quốc độ tịnh diệu của chư Phật mười phương đều hiện rõ trong đó.
Có quốc độ hợp thành từ bảy báu. Lại có quốc độ thuần là hoa sen. Có quốc độ giống như cung trời Tự Tại. Có quốc độ lại như gương pha lê. Tất cả quốc độ mười phương đều hiện ra trong đó, vô lượng các cõi Phật như thế đều nghiêm hiển rõ ràng cho bà Vi-đề-hy thấy.
Bấy giờ, bà Vi-đề-hy bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, các cõi Phật này tuy đều thanh tịnh và có hào quang, nhưng nay con chỉ ưa thích sinh về thế giới Cực Lạc, nơi Đức Phật A Di Đà ngự trị. Cúi xin Thế Tôn dạy con cách tư duy, dạy con cách chính thọ."
Lúc ấy, Đức Thế Tôn liền mỉm cười, có ánh sáng năm màu từ miệng Phật phóng ra, mỗi luồng sáng đều chiếu lên đỉnh đầu vua Tần-bà-sa-la. Bấy giờ đại vương tuy đang bị giam cầm nhưng tâm nhãn không bị ngăn ngại, từ xa thấy được Thế Tôn, liền đầu mặt đảnh lễ, tự nhiên tăng tiến chứng quả A-na-hàm.
Bấy giờ Thế Tôn bảo bà Vi-đề-hy rằng: "Bà có biết chăng? Phật A Di Đà cách đây không xa. Bà nên cột niệm, quán sát kỹ cõi nước kia là nơi thành tựu bởi nghiệp thanh tịnh. Ta nay vì bà mà rộng thuyết các ví dụ, cũng để khiến cho tất cả phàm phu đời vị lai muốn tu tịnh nghiệp sẽ được vãng sinh về thế giới Cực Lạc ở phương Tây."
Muốn sinh về nước kia, phải tu Ba bậc Phước (Tam Phước):
- Một là: Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, từ tâm không sát hại, tu mười nghiệp thiện.
- Hai là: Thọ trì tam quy, đầy đủ các giới, không phạm uy nghi.
- Ba là: Phát tâm Bồ-đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyến tấn người tu hành.
Ba việc như thế gọi là tịnh nghiệp.
Phật bảo Vi Đề Hi: "Nay bà có biết chăng? Ba loại nghiệp này chính là chính nhân tịnh nghiệp (淨業正因) của chư Phật trong ba đời quá khứ, vị lai và hiện tại."
IV. Mười sáu phép quán tưởng
[sửa]PHÉP QUÁN THỨ NHẤT: QUÁN MẶT TRỜI (NHẬT TƯỞNG)
[sửa]Phật bảo A-nan và Vi-đề-hy: "Hãy lắng nghe cho kỹ, lắng nghe cho kỹ và suy nghĩ khéo về điều đó. Như Lai nay vì tất cả chúng sinh đời vị lai bị giặc phiền não làm hại mà nói về nghiệp thanh tịnh. Lành thay Vi-đề-hy! Bà hỏi việc này thật đúng lúc. A-nan, ông hãy thọ trì và vì đại chúng mà tuyên thuyết lời của Phật.
Như Lai nay dạy bà Vi-đề-hy và tất cả chúng sinh đời vị lai, quán về thế giới Cực Lạc phương Tây. Nhờ sức mạnh của Phật, sẽ được thấy quốc độ thanh tịnh kia, như cầm gương sáng tự soi mặt mình. Thấy những sự cực diệu lạc ở quốc độ đó, tâm sinh hoan hỷ, ngay lập tức đắc Vô sinh pháp nhẫn."
Phật bảo Vi-đề-hy: "Bà là phàm phu, tâm tưởng yếu kém, chưa đắc thiên nhãn nên không thể quán xa. Chư Phật Như Lai có phương tiện khác lạ khiến bà được thấy."
Vi-đề-hy bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, như con ngày nay nhờ sức Phật nên thấy được quốc độ kia. Nếu sau khi Phật diệt độ, các chúng sinh trược ác bất thiện, bị năm thứ khổ bức bách, làm sao thấy được thế giới Cực Lạc của Phật A-di-đà?"
Phật bảo Vi-đề-hy: "Bà và chúng sinh nên chuyên tâm, cột niệm một chỗ, tưởng về phương Tây. Làm thế nào để tưởng? Tất cả chúng sinh, nếu không phải mù từ lúc mới sinh, phàm là kẻ có mắt đều thấy mặt trời lặn. Nên khởi tưởng niệm: Ngồi ngay ngắn hướng về phía Tây, quán kỹ mặt trời, khiến tâm kiên trụ, chuyên tưởng không dời. Thấy mặt trời sắp lặn, hình dáng như cái trống treo. Đã thấy mặt trời rồi, dù nhắm mắt hay mở mắt đều khiến cho thấy rõ ràng. Đó là Nhật tưởng, gọi là Phép quán thứ nhất."
PHÉP QUÁN THỨ HAI: QUÁN NƯỚC (THỦY TƯỞNG)
[sửa]"Kế đến là làm phép quán nước. Thấy nước trong lặng, cũng khiến thấy rõ ràng, không có ý phân tán. Khi đã thấy nước rồi, nên khởi tưởng là băng. Thấy băng trong suốt, lại khởi tưởng là ngọc lưu ly.
Khi tưởng này thành tựu, thấy đất bằng lưu ly, trong ngoài soi thấu. Bên dưới có cột kim cương bằng bảy báu nâng đỡ đất lưu ly. Cột ấy có tám phương, tám mặt đều đầy đủ. Mỗi mỗi mặt đều do trăm báu tạo thành. Mỗi mỗi viên ngọc báu phóng ra ngàn luồng sáng. Mỗi luồng sáng có tám vạn bốn ngàn màu sắc, phản chiếu lên đất lưu ly rực rỡ như hàng tỉ mặt trời, không thể nhìn xiết.
Trên mặt đất lưu ly dùng dây vàng ròng giăng làm lối đi, dùng bảy báu làm ranh giới phân định rõ ràng. Trong mỗi mỗi thứ báu có ánh sáng năm trăm màu. Ánh sáng ấy như bông hoa, lại giống như sao và trăng, lơ lửng giữa hư không, kết thành đài ánh sáng. Lầu gác có hàng ngàn vạn, đều do trăm báu hợp thành. Ở hai bên đài đều có trăm ức hoa tràng và vô lượng nhạc khí để trang nghiêm. Tám loại gió nhẹ từ ánh sáng phát ra, thổi vào các nhạc khí ấy, diễn thuyết âm thanh Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã. Đó là Thủy tưởng, gọi là Phép quán thứ hai."
PHÉP QUÁN THỨ BA: QUÁN ĐẤT (ĐỊA TƯỞNG)
[sửa]"Khi tưởng này thành công, hãy quán từng thứ một cho thật rõ ràng. Nhắm mắt mở mắt không để tán thất. Trừ lúc ngủ ra, hằng nhớ tưởng việc này. Người quán tưởng như thế gọi là thấy thô sơ về đất nước Cực Lạc. Nếu đắc Tam-muội, thấy đất nước kia rõ ràng phân minh, không thể nói hết được. Đó là Địa tưởng, gọi là Phép quán thứ ba."
Phật bảo A-nan: "Ông hãy trì lời Phật, vì đại chúng đời vị lai muốn thoát khổ mà nói phép quán đất này. Nếu ai quán đất này sẽ diệt trừ được tội sinh tử trong tám mươi ức kiếp. Sau khi xả thân, đời sau chắc chắn sinh về tịnh quốc, lòng không nghi ngại. Quán như thế gọi là Chính quán, nếu quán khác đi gọi là Tà quán."
PHÉP QUÁN THỨ TƯ: QUÁN CÂY BÁU (BẢO THỤ TƯỞNG)
[sửa]Phật bảo A-nan và Vi-đề-hy: "Quán đất xong rồi, kế đến quán cây báu. Quán cây báu là quán từng cây một, tưởng có bảy hàng cây. Mỗi cây cao tám ngàn do-tuần. Các cây báu ấy đều đầy đủ hoa lá bằng bảy báu. Mỗi hoa lá lại mang màu sắc của các loại báu khác nhau: Trong sắc lưu ly phát ra ánh sáng vàng, trong sắc pha lê phát ra ánh sáng đỏ, trong sắc mã não phát ra ánh sáng xà cừ, trong sắc xà cừ phát ra ánh sáng lục chân châu. San hô, hổ phách và tất cả các báu làm vật trang sức.
Mạng lưới chân châu vi diệu phủ trên các cây. Mỗi cây có bảy lớp lưới. Giữa mỗi lớp lưới có năm trăm ức cung điện hoa diệu như cung trời Phạm Vương. Các thiên đồng tự nhiên ở trong đó. Mỗi thiên đồng đeo chuỗi anh lạc bằng năm trăm ức viên ngọc Thích-ca-tỳ-lăng-già-ma-ni. Ánh sáng ngọc ấy chiếu xa trăm do-tuần, rực rỡ như hòa hợp hàng tỉ mặt trời, không thể kể xiết. Các báu xen kẽ, màu sắc cực thượng.
Những cây báu này hàng hàng đối nhau, lá lá tiếp nhau. Giữa các lá sinh ra các hoa diệu, trên hoa tự nhiên có quả bảy báu. Mỗi chiếc lá rộng dài bằng nhau là hai mươi lăm do-tuần. Lá có ngàn màu sắc, trăm thứ hình vẽ như anh lạc nhà trời. Có các hoa diệu màu vàng Diêm-phù-đàn, như bánh xe lửa xoay vần giữa các lá. Trào dâng sinh ra các quả như bình của Đế Thích. Có luồng sáng lớn hóa thành tràng phan, vô lượng bảo cái. Trong bảo cái hiện rõ tất cả Phật sự của tam thiên đại thiên thế giới và quốc độ mười phương. Thấy cây này rồi, cũng nên thứ lớp quán từng phần: thân cây, cành, lá, hoa, quả, đều khiến rõ ràng. Đó là Bảo thụ tưởng, gọi là Phép quán thứ tư."
PHÉP QUÁN THỨ NĂM: QUÁN NƯỚC TÁM CÔNG ĐỨC (BẢO TRÌ TƯỞNG)
[sửa]"Kế đến tưởng nước. Ở quốc độ Cực Lạc có tám hồ nước. Mỗi hồ nước đều do bảy báu tạo thành. Báu ấy mềm mại, sinh ra từ vương châu Như Ý, chia thành mười bốn nhánh. Mỗi nhánh mang màu bảy báu, lòng kênh bằng vàng ròng, dưới đáy trải cát kim cương nhiều màu.
Trong mỗi hồ có sáu mươi ức hoa sen bảy báu. Mỗi hoa sen tròn trịa đều nhau, rộng mười hai do-tuần. Nước ma-ni chảy giữa các hoa, men theo thân cây lên xuống. Tiếng nước vi diệu, diễn thuyết các pháp Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã, và các Ba-la-mật; lại có tiếng tán thán tướng hảo của chư Phật. Từ vương châu Như Ý vọt ra ánh sáng vàng vi diệu, ánh sáng ấy hóa thành các loài chim màu sắc trăm báu, hót tiếng hòa nhã, thường tán thán Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng. Đó là Bát công đức thủy tưởng, gọi là Phép quán thứ năm."
PHÉP QUÁN THỨ SÁU: QUÁN TỔNG QUÁT (TỔNG QUÁN TƯỞNG)
[sửa]"Trên mỗi khu vực của quốc độ chúng báu có năm trăm ức lầu gác báu. Trong lầu gác có vô lượng chư Thiên tấu nhạc trời. Lại có các nhạc khí treo giữa hư không như tràng báu nhà trời, không đánh tự kêu. Trong các âm thanh ấy đều nói về Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tỳ-kheo Tăng.
Tưởng này thành rồi, gọi là thấy thô sơ về Cây báu, Đất báu, Ao báu của thế giới Cực Lạc. Đó là Tổng quán tưởng, gọi là Phép quán thứ sáu. Nếu thấy điều này sẽ trừ được ác nghiệp cực trọng trong vô lượng ức kiếp, mạng chung chắc chắn sinh về nước kia. Quán như thế là Chính quán, khác đi là Tà quán."
PHÉP QUÁN THỨ BẢY: QUÁN TÒA HOA SEN (HOA TÒA TƯỞNG)
[sửa]Phật bảo A-nan và Vi-đề-hy: "Hãy lắng nghe kỹ, Ta sẽ vì các ngươi phân biệt giải thuyết pháp trừ khổ não. Lúc đang nói lời này, Đức Vô Lượng Thọ Phật đứng dừng giữa hư không, hai đại sĩ Quán Thế Âm và Đại Thế Chí đứng hầu hai bên. Ánh sáng rực rỡ không thể nhìn tận, dù là trăm ngàn màu vàng Diêm-phù-đàn cũng không thể so sánh.
Vi-đề-hy thấy Phật xong, đảnh lễ dưới chân Ngài và bạch Phật: 'Bạch Thế Tôn, con nay nhờ sức Phật được thấy Phật Vô Lượng Thọ và hai vị Bồ Tát. Chúng sinh đời sau làm thế nào để quán?'
Phật bảo: 'Muốn quán Phật kia, nên khởi tưởng niệm ở trên đất bảy báu, tác tưởng hoa sen. Mỗi cánh hoa sen mang màu trăm báu, có tám vạn bốn ngàn gân mạch như vẽ nhà trời. Gân mạch có tám vạn bốn ngàn ánh sáng, rõ ràng đều được thấy hết. Cánh hoa nhỏ cũng rộng dài hai trăm năm mươi do-tuần. Một hoa sen như thế có tám vạn bốn ngàn cánh lớn. Giữa mỗi cánh có trăm ức vương châu ma-ni trang sức. Mỗi hạt ma-ni phóng ngàn luồng sáng như bảo cái che khắp mặt đất.
Đài sen làm bằng báu Thích-ca-tỳ-lăng-già, được trang trí bằng tám vạn kim cương, báu chân thúc ca, báu phạm ma-ni và lưới chân châu vi diệu. Trên đài tự nhiên có bốn trụ báu, mỗi trụ cao như trăm ngàn vạn ức núi Tu-di. Màn báu trên trụ như cung trời Dạ-ma, có năm trăm ức viên ngọc vi diệu chiếu sáng. Mỗi viên ngọc có tám vạn bốn ngàn ánh sáng, mỗi ánh sáng có tám vạn bốn ngàn màu vàng khác nhau chiếu khắp cõi báu, biến hóa ra các tướng: đài kim cương, lưới chân châu hay mây hoa rực rỡ, tùy ý hiện ra mười phương để làm Phật sự. Đó là Hoa tòa tưởng, gọi là Phép quán thứ bảy."
Phật bảo A Nan: "Hoa báu mầu nhiệm như thế là do nguyện lực của tì-kheo Pháp Tạng thành tựu. Nếu muốn niệm đức Phật kia, trước hết nên quán tưởng tòa hoa báu này. Khi quán tưởng như thế, không được để tâm tạp loạn, mà phải quán tưởng từng chi tiết một: từng cánh hoa, từng viên ngọc, từng luồng sáng, từng đài hoa, từng tràng phan, thảy đều phải rõ ràng như tự soi mặt mình trong gương.
Người thành tựu quán tưởng này sẽ diệt trừ được tội lỗi sinh tử trong năm trăm ức kiếp, nhất định sẽ vãng sinh về thế giới Cực Lạc. Quán tưởng như vậy gọi là chính quán, nếu quán tưởng khác đi thì gọi là tà quán."
PHÉP QUÁN THỨ TÁM: QUÁN HÌNH TƯỢNG (TƯỢNG TƯỞNG)
[sửa]Phật bảo A-nan và Vi-đề-hy: "Thấy việc này rồi, kế đến tưởng Phật. Tại sao vậy? Chư Phật Như Lai là thân pháp giới, vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sinh. Cho nên khi tâm các ngươi tưởng Phật, tâm ấy chính là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp tùy hình. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật. Biển chính biến tri của chư Phật từ tâm tưởng mà sinh.
Vì thế nên nhất tâm cột niệm, quán kỹ Đức Phật Đa-đà-a-già độ, A-la-ha, Tam-miệu Tam-phật-đà (Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri). Khi tưởng Phật, trước hết tưởng hình tượng: nhắm mắt mở mắt thấy một hình tượng báu màu vàng Diêm-phù-đàn ngồi trên tòa hoa đó.
Thấy tượng ngồi rồi, tâm nhãn được mở, thấy rõ trang nghiêm bảy báu của nước Cực Lạc. Tiếp theo tưởng một hoa sen lớn bên trái Phật, y hệt hoa sen trước. Lại tưởng một hoa sen lớn bên phải Phật. Tưởng một tượng Bồ Tát Quán Thế Âm ngồi tòa bên trái, một tượng Bồ Tát Đại Thế Chí ngồi tòa bên phải. Tưởng xong, các tượng đều phóng ánh sáng vàng chiếu vào các cây báu. Dưới mỗi cây có ba hoa sen, trên mỗi hoa có một tượng Phật và hai tượng Bồ Tát hiện đầy khắp nước đó.
Khi tưởng này thành, hành giả sẽ nghe tiếng nước chảy, ánh sáng và các cây báu, loài vịt, nhạn, uyên ương đều thuyết diệu pháp. Xuất định hay nhập định đều hằng nghe diệu pháp, phù hợp với kinh điển. Nếu không hợp là vọng tưởng. Đó là Tượng tưởng, gọi là Phép quán thứ tám. Diệt tội vô lượng ức kiếp sinh tử, hiện đời đắc Niệm Phật Tam-muội."
PHÉP QUÁN THỨ CHÍN: QUÁN CHÂN THÂN (BIẾN QUÁN NHẤT THIẾT SẮC THÂN TƯỞNG)
[sửa]Phật bảo A Nan và Vi Đề Hi: "Sau khi quán tưởng này thành tựu, kế đến nên quán thân tướng và ánh sáng của Đức Phật Vô Lượng Thọ. A Nan nên biết, thân Đức Phật Vô Lượng Thọ như màu vàng Diêm-phù-đàn của trăm ngàn muôn ức trời Dạ-ma. Thân Phật cao sáu mươi vạn ức na-do-tha hằng hà sa do-tuần. Lông trắng giữa chân mày xoay bên phải, uyển chuyển như năm núi Tu Di. Mắt Phật thanh tịnh như nước bốn biển lớn, xanh trắng phân minh. Các lỗ chân lông trên thân diễn ra ánh sáng như núi Tu Di.
Hào quang quanh thân Đức Phật ấy như trăm ức ba ngàn đại thiên thế giới. Trong hào quang ấy có trăm vạn ức na-do-tha hằng hà sa hóa Phật, mỗi vị hóa Phật lại có vô số hóa Bồ-tát làm thị giả. Đức Phật Vô Lượng Thọ có tám vạn bốn ngàn tướng, mỗi tướng có tám vạn bốn ngàn tùy hình hảo, mỗi vẻ hảo lại có tám vạn bốn ngàn ánh sáng. Mỗi mỗi ánh sáng soi khắp mười phương thế giới, nhiếp lấy không rời những chúng sinh niệm Phật.
Các tướng hảo quang minh và hóa Phật ấy không thể nói hết, chỉ nên ức tưởng khiến cho tâm thấy rõ. Người thấy việc này tức là thấy tất cả chư Phật mười phương. Vì thấy chư Phật nên gọi là Niệm Phật Tam-muội. Người quán như thế gọi là quán thân của tất cả chư Phật. Vì quán thân Phật nên cũng thấy tâm Phật. Tâm của chư Phật là lòng đại từ bi, dùng lòng từ không điều kiện mà nhiếp thụ chúng sinh.
Người thực hiện quán này, sau khi xả thân đời sau sẽ sinh ra trước chư Phật, đắc Vô sinh nhẫn. Cho nên người trí nên hệ tâm quán kỹ Đức Phật Vô Lượng Thọ. Người quán Đức Phật Vô Lượng Thọ, hãy từ một tướng hảo mà vào, chỉ cần quán lông trắng giữa chân mày cho thật rõ ràng. Khi thấy được tướng lông trắng giữa chân mày thì tám vạn bốn ngàn tướng hảo sẽ tự nhiên hiện ra. Thấy được Đức Phật Vô Lượng Thọ tức là thấy vô lượng chư Phật mười phương. Nhờ thấy vô lượng chư Phật nên được chư Phật hiện thân trước mặt thọ ký. Đó là phép quán khắp tất cả sắc thân, gọi là phép quán thứ chín. Quán như thế gọi là chính quán, nếu quán khác đi gọi là tà quán."
PHÉP QUÁN THỨ MƯỜI: QUÁN QUAN THẾ ÂM (QUAN THẾ ÂM SẮC THÂN TƯỞNG)
[sửa]Phật bảo A Nan và Vi Đề Hi: "Sau khi đã thấy Đức Phật Vô Lượng Thọ rõ ràng minh bạch, kế đến lại nên quán Bồ-tát Quán Thế Âm. Vị Bồ-tát này thân cao tám mươi ức na-do-tha hằng hà sa do-tuần, thân màu vàng tử kim, trên đỉnh đầu có nhục kế, sau cổ có hào quang tròn, mỗi mặt rộng trăm ngàn do-tuần.
Trong hào quang tròn ấy có năm trăm hóa Phật như Đức Thích Ca Mâu Ni, mỗi vị hóa Phật có năm trăm hóa Bồ-tát và vô lượng chư Thiên làm thị giả. Trong ánh sáng từ khắp thân Ngài, tất cả sắc tướng của chúng sinh trong năm đường đều hiện ra trong đó. Trên đỉnh đầu có ngọc báu Tì-lăng-già ma-ni tuyệt diệu làm thiên quan (mũ trời). Trong thiên quan ấy có một vị hóa Phật đứng, cao hai mươi lăm do-tuần.
Diện mạo Bồ-tát Quán Thế Âm như màu vàng Diêm-phù-đàn. Tướng lông trắng giữa chân mày đủ bảy màu báu, tuôn ra tám vạn bốn ngàn thứ ánh sáng. Mỗi luồng sáng có vô lượng vô số trăm ngàn hóa Phật, mỗi vị hóa Phật có vô số hóa Bồ-tát làm thị giả, biến hiện tự tại đầy khắp mười phương thế giới.
Cánh tay Ngài như màu hoa sen hồng, có tám mươi ức ánh sáng mầu nhiệm kết thành anh lạc. Trong anh lạc ấy hiện ra đầy đủ tất cả các sự trang nghiêm. Lòng bàn tay có màu của năm trăm ức thứ hoa sen tạp sắc. Nơi đầu mười ngón tay, mỗi đầu ngón có tám vạn bốn ngàn lằn vẽ như ấn văn, mỗi lằn vẽ có tám vạn bốn ngàn màu, mỗi màu có tám vạn bốn ngàn tia sáng. Ánh sáng ấy mềm mại soi thấu tất cả, Ngài dùng bàn tay báu này để tiếp dẫn chúng sinh.
Khi Ngài nhấc chân lên, dưới chân có tướng bánh xe ngàn căm, tự nhiên hóa thành năm trăm ức đài ánh sáng. Khi Ngài hạ chân xuống, có hoa kim cương ma-ni rải khắp mọi nơi không đâu không đầy rẫy. Các thân tướng và vẻ đẹp khác đều đầy đủ không khác gì Phật, duy có nhục kế trên đỉnh đầu và tướng vô kiến đảnh là không bằng Thế Tôn. Đó là phép quán tưởng sắc thân chân thật của Bồ-tát Quán Thế Âm, gọi là phép quán thứ mười."
Phật bảo A Nan: "Nếu muốn quán Bồ-tát Quán Thế Âm, nên quán như thế. Người thực hiện phép quán này sẽ không gặp các tai họa, tẩy sạch nghiệp chướng, trừ được tội lỗi sinh tử trong vô số kiếp. Với vị Bồ-tát này, chỉ nghe danh hiệu thôi đã được vô lượng phước, huống chi là quán tưởng kỹ càng.
Nếu có người muốn quán Bồ-tát Quán Thế Âm, trước hết nên quán nhục kế trên đỉnh đầu, kế đến quán thiên quan, các tướng khác cũng theo thứ tự mà quán, thảy đều khiến cho rõ ràng như nhìn trong lòng bàn tay. Quán như thế gọi là chính quán, nếu quán khác đi gọi là tà quán."
PHÉP QUÁN THỨ MƯỜI MỘT: QUÁN ĐẠI THẾ CHÍ (ĐẠI THẾ CHÍ SẮC THÂN TƯỞNG)
[sửa]Phật bảo A Nan và Vi Đề Hi: "Kế đến nên quán Bồ-tát Đại Thế Chí. Thân lượng của vị Bồ-tát này lớn nhỏ cũng như Bồ-tát Quán Thế Âm. Hào quang tròn mỗi mặt rộng hai trăm hai mươi lăm do-tuần, chiếu xa hai trăm năm mươi do-tuần. Ánh sáng khắp thân chiếu đến các nước mười phương, hiện màu vàng tử kim, chúng sinh có nhân duyên thảy đều được thấy. Chỉ cần thấy ánh sáng từ một lỗ chân lông của Bồ-tát này, tức là thấy ánh sáng thanh tịnh mầu nhiệm của vô lượng chư Phật mười phương. Vì thế hiệu của vị Bồ-tát này là Vô Biên Quang. Dùng ánh sáng trí tuệ soi thấu tất cả, giúp chúng sinh lìa ba đường ác, đ được sức mạnh vô thượng, nên hiệu của vị Bồ-tát này là Đại Thế Chí.
Thiên quan của vị Bồ-tát này có năm trăm hoa sen báu, mỗi hoa sen báu có năm trăm đài báu. Trong mỗi đài, những tướng trạng rộng dài của các quốc độ thanh tịnh mầu nhiệm của chư Phật mười phương thảy đều hiện ra. Nhục kế trên đỉnh đầu như hoa sen xanh (Bát-đầu-ma), trên nhục kế có một bình báu chứa đầy các thứ ánh sáng, hiện ra mọi Phật sự. Các thân tướng còn lại đều giống như Bồ-tát Quán Thế Âm, không có gì khác biệt.
Khi vị Bồ-tát này đi, tất cả thế giới mười phương đều chấn động. Nơi đất rung chuyển ấy đều có năm trăm ức hoa báu, mỗi hoa báu đều trang nghiêm cao hiển như thế giới Cực Lạc. Khi vị Bồ-tát này ngồi, quốc độ bảy báu nhất thời lay động. Từ cõi Phật Kim Quang ở phương dưới cho đến cõi Phật Quang Minh Vương ở phương trên, trong khoảng giữa ấy, vô lượng trần số phân thân của Đức Phật Vô Lượng Thọ, phân thân Bồ-tát Quán Thế Âm và Bồ-tát Đại Thế Chí thảy đều mây tập về quốc độ Cực Lạc, đầy chật cả hư không, ngồi trên tòa hoa sen, diễn nói pháp mầu độ thoát chúng sinh khổ nạn.
Người thực hiện quán này gọi là quán thấy Bồ-tát Đại Thế Chí. Đó là phép quán sắc thân của Bồ-tát Đại Thế Chí, gọi là phép quán thứ mười một. Quán vị Bồ-tát này sẽ trừ được tội lỗi sinh tử trong vô số kiếp tăng-kỳ. Người thực hiện phép quán này không còn phải nằm trong bào thai, thường dạo chơi ở các quốc độ thanh tịnh mầu nhiệm của chư Phật. Khi quán này thành tựu, gọi là quán đầy đủ về Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. Quán như thế gọi là chính quán, nếu quán khác đi gọi là tà quán."
PHÉP QUÁN THỨ MƯỜI HAI: QUÁN PHỔ QUÁT (PHỔ QUÁN TƯỞNG)
[sửa]Phật bảo A Nan và Vi Đề Hi: "Khi thấy việc này, nên khởi tưởng tự thấy tâm mình sinh về thế giới Cực Lạc phương Tây, ngồi kiết già trong hoa sen. Quán tưởng khi hoa sen khép lại, rồi quán tưởng khi hoa sen nở ra. Khi hoa sen nở, quán tưởng có ánh sáng năm trăm màu đến soi vào thân mình. Quán tưởng mắt mở ra, thấy Phật và Bồ-tát đầy chật hư không. Tiếng nước, chim muông, rừng cây và các đức Phật phát ra âm thanh đều diễn nói pháp mầu, phù hợp với mười hai bộ kinh.
Khi xuất định, phải ghi nhớ không để mất đi. Thấy được việc này gọi là thấy thế giới Cực Lạc của Đức Phật Vô Lượng Thọ. Đó là phép phổ quán tưởng, gọi là phép quán thứ mười hai. Đức Phật Vô Lượng Thọ hóa thân vô số, cùng với Quán Thế Âm và Đại Thế Chí thường đến chỗ người tu hành này. Quán như thế gọi là chính quán, nếu quán khác đi gọi là tà quán."
PHÉP QUÁN THỨ MƯỜI BA: QUÁN TẠP (TẠP TƯỞNG TƯỞNG)
[sửa]Phật bảo A Nan và Vi Đề Hi: "Nếu có người muốn chí tâm sinh về phương Tây, trước hết nên quán tượng cao một trượng sáu ở trên mặt nước hồ. Như đã nói trước đó, thân lượng Đức Phật Vô Lượng Thọ là vô biên, không phải sức tâm phàm phu có thể đạt tới. Tuy nhiên, nhờ nguyện lực xưa của Như Lai, người nào có lòng ức tưởng tất sẽ được thành tựu. Chỉ tưởng đến tượng Phật thôi đã được vô lượng phước, huống chi là quán đầy đủ thân tướng của Phật.
Đức Phật A Di Đà thần thông như ý, ở các nước mười phương biến hiện tự tại: hoặc hiện thân lớn đầy khắp hư không, hoặc hiện thân nhỏ cao một trượng sáu hay tám thước. Những hình thân hiện ra đều là màu vàng ròng. Hào quang tròn, hóa Phật và hoa sen báu đều như đã nói ở trên.
Bồ-tát Quán Thế Âm và Bồ-tát Đại Thế Chí ở mọi nơi đều hiện thân giống nhau, chúng sinh chỉ cần quán tướng trên đầu là biết đó là Quán Thế Âm hay Đại Thế Chí. Hai vị Bồ-tát này trợ giúp Phật A Di Đà giáo hóa tất cả. Đó là phép tạp tưởng quán, gọi là phép quán thứ mười ba. Quán như thế gọi là chính quán, nếu quán khác đi gọi là tà quán."
PHÁP QUÁN THỨ 14: QUÁN THƯỢNG BỐI SINH (Bậc Thượng)
[sửa]Phật bảo A-nan và Vi-đề-hy:
1. Thượng phẩm Thượng sinh: Nếu có chúng sinh nguyện sinh về cõi kia, phát ba loại tâm sau đây thì liền được vãng sinh. Một là Chí thành tâm, hai là Thâm tâm, ba là Hồi hướng phát nguyện tâm. Người đủ ba tâm này chắc chắn sinh về nước kia. Lại có ba hạng chúng sinh được vãng sinh:
- Một là từ tâm không sát hại, giữ các giới hạnh.
- Hai là đọc tụng kinh điển Đại thừa Phương đẳng.
- Ba là tu hành lục niệm, hồi hướng phát nguyện sinh về nước kia.
Người đủ công đức này từ một ngày đến bảy ngày liền được vãng sinh. Khi sinh về nước kia, nhờ sức tinh tấn dũng mãnh, Đức A-di-đà cùng Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, vô số hóa Phật, trăm ngàn Tỳ-kheo, Thanh văn, vô lượng chư Thiên và cung điện bảy báu hiện ra. Bồ-tát Quán Thế Âm bưng đài kim cương cùng Đại Thế Chí đến trước người đó. Đức Phật A-di-đà phóng quang minh chiếu thân hành giả, cùng chư Bồ-tát đưa tay tiếp dẫn. Khi ấy hành giả thấy mình ngồi trên đài kim cương, theo sau Phật, trong khoảng búng ngón tay đã sinh về nước kia. Nghe pháp xong liền ngộ Vô sinh pháp nhẫn, được chư Phật thọ ký.
2. Thượng phẩm Trung sinh: Không nhất thiết phải thọ trì đọc tụng kinh điển Phương đẳng, nhưng hiểu rõ nghĩa lý, đối với đệ nhất nghĩa tâm không kinh động, tin sâu nhân quả, không hủy báng Đại thừa. Lúc lâm chung, Phật A-di-đà cùng thánh chúng bưng đài tử kim đến trước khen rằng: "Pháp tử! Ngươi hành Đại thừa, giải đệ nhất nghĩa, nên ta đến tiếp dẫn." Hành giả thấy mình ngồi trên đài tử kim, trong một niệm liền sinh vào ao bảy báu. Qua một đêm hoa sen nở, hành giả thân sắc vàng tử ma, dưới chân có sen bảy báu. Trải qua bảy ngày liền được không thối chuyển nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
3. Thượng phẩm Hạ sinh: Cũng tin nhân quả, không hủy báng Đại thừa, chỉ phát tâm cầu đạo vô thượng. Lúc lâm chung, Phật và thánh chúng bưng hoa sen vàng và hóa ra năm trăm hóa Phật đến tiếp dẫn. Hành giả thấy mình ngồi trên sen vàng, hoa khép lại, theo sau Thế Tôn vãng sinh vào ao bảy báu. Qua một ngày một đêm hoa nở, bảy ngày mới thấy Phật nhưng tâm chưa rõ các tướng hảo, sau ba tuần (21 ngày) mới thấy rõ ràng. Trải qua ba tiểu kiếp đắc Bách pháp minh môn, trụ Hoan hỷ địa.
PHÁP QUÁN THỨ 15: QUÁN TRUNG BỐI SINH (Bậc Trung)
[sửa]1. Trung phẩm Thượng sinh: Chúng sinh thọ trì năm giới, tám giới, tu các giới hạnh, không tạo tội ngũ nghịch, không có các lỗi lầm. Lúc lâm chung, Phật và tỳ-kheo quyến thuộc phóng quang minh vàng đến chỗ người đó, thuyết pháp khổ, không, vô thường, vô ngã, khen ngợi việc xuất gia lìa khổ. Hành giả thấy mình ngồi trên đài hoa sen, quỳ gối chắp tay lễ Phật, chưa ngẩng đầu lên đã sinh về Cực Lạc. Hoa nở ngay, nghe âm thanh khen ngợi Tứ đế, liền đắc đạo A-la-hán, đủ Tam minh Lục thông.
2. Trung phẩm Trung sinh: Người trong một ngày một đêm thọ trì bát quan trai giới, hoặc sa-di giới, hoặc cụ túc giới, uy nghi không khiếm khuyết. Lúc lâm chung thấy Phật bưng hoa sen bảy báu đến tiếp dẫn, nghe trên không có tiếng khen: "Thiện nam tử! Ngươi là người thiện, thuận theo lời dạy của chư Phật ba đời nên ta đến đón." Hành giả thấy mình ngồi trên hoa sen, hoa khép lại, sinh về ao báu phía Tây. Qua bảy ngày hoa nở, nghe pháp hoan hỷ đắc quả Tu-đà-hoàn, qua nửa kiếp thành A-la-hán.
3. Trung phẩm Hạ sinh: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân hiếu dưỡng cha mẹ, làm việc nhân từ thế gian. Lúc lâm chung gặp thiện tri thức thuyết về sự vui ở cõi Phật A-di-đà và 48 nguyện của Tỳ-kheo Pháp Tạng. Nghe xong liền mệnh chung, như lực sĩ co duỗi cánh tay, liền sinh về cõi Cực Lạc. Qua bảy ngày gặp Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, nghe pháp hoan hỷ, qua một tiểu kiếp thành A-la-hán.
PHÁP QUÁN THỨ 16: QUÁN HẠ BỐI SINH (Bậc Hạ)
[sửa]1. Hạ phẩm Thượng sinh: Người tạo các ác nghiệp, tuy không phỉ báng kinh điển Phương đẳng nhưng phạm nhiều tội ác khác mà không biết xấu hổ. Lúc lâm chung gặp thiện tri thức khen ngợi tên hiệu của mười hai bộ kinh Đại thừa, nhờ nghe tên kinh mà trừ diệt tội trọng trong ngàn kiếp. Lại dạy chắp tay xưng "Nam-mô A-di-đà Phật", nhờ xưng danh hiệu Phật mà trừ tội sinh tử trong năm mươi ức kiếp. Bấy giờ Phật sai hóa thân Phật và hóa thân hai vị Bồ Tát đến tiếp dẫn. Sau 49 ngày hoa sen mới nở, gặp hai Bồ Tát thuyết kinh sâu xa, phát tâm Bồ-đề, qua mười tiểu kiếp đắc Bách pháp minh môn, vào Sơ địa.
2. Hạ phẩm Trung sinh: Người hủy phạm ngũ giới, bát giới, cụ túc giới, trộm vật tăng kỳ, vật hiện tiền tăng, thuyết pháp bất tịnh, không biết hổ thẹn. Người này đáng đọa địa hạt. Lúc lâm chung, lửa dữ địa ngục nhất thời hiện đến, gặp thiện tri thức vì nói oai đức mười lực của Phật A-di-đà, khen ngợi Giới Định Tuệ Giải thoát. Nghe xong tội diệt, lửa dữ hóa thành gió mát thổi hoa trời, trên hoa có hóa Phật đón người này. Trong khoảng một niệm liền vãng sinh trong hoa sen ở ao báu. Qua sáu kiếp hoa mới nở, hai vị Bồ Tát dùng phạm âm an ủi và thuyết kinh sâu xa.
3. Hạ phẩm Hạ sinh: Người tạo nghiệp bất thiện, ngũ nghịch thập ác, đủ thứ bất thiện, đáng đọa ác đạo chịu khổ vô cùng. Lúc lâm chung gặp thiện tri thức an ủi, dạy niệm Phật nhưng vì khổ bức bách không niệm nổi. Thiện hữu dạy: "Nếu ngươi không thể niệm (quán tưởng) được thì hãy xưng danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật." Hãy chí tâm khiến tiếng không dứt, đủ mười niệm, xưng "Nam-mô A-di-đà Phật". Nhờ xưng danh Phật, trong mỗi niệm diệt tội sinh tử trong tám mươi ức kiếp. Lúc lâm chung thấy hoa sen vàng như mặt trời hiện trước mặt, trong khoảng một niệm liền vãng sinh. Ở trong hoa sen đầy mười hai đại kiếp hoa mới nở. Hai vị Bồ Tát dùng âm thanh đại bi thuyết thực tướng các pháp và phép diệt tội. Nghe xong hoan hỷ, liền phát tâm Bồ-đề.
V. Kết thúc
[sửa]Lúc bấy giờ, khi Thế Tôn nói những lời ấy, phu nhân Vi Đề Hi cùng năm trăm thị nữ nghe lời Phật dạy, ngay tức thì được thấy tướng trạng rộng lớn của thế giới Cực Lạc, được thấy thân Phật và hai vị Bồ-tát. Lòng họ sinh hoan hỷ, khen là việc chưa từng có, hốt nhiên đại ngộ, đắc Vô sinh nhẫn. Năm trăm thị nữ đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, nguyện sinh về nước kia. Thế Tôn thảy đều thọ ký cho họ đều sẽ được vãng sinh. Sau khi sinh về nước đó, họ sẽ đắc được phép Tam-muội hiện tiền của chư Phật. Vô lượng chư Thiên cũng phát tâm cầu đạo vô thượng.
Bấy giờ, tôn giả A Nan liền từ tòa đứng dậy, bước đến bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, kinh này nên gọi tên là gì? Yếu nghĩa của pháp này nên thọ trì ra sao?"
Phật bảo A Nan: "Kinh này tên là Quán Cực Lạc Quốc Độ Vô Lượng Thọ Phật Quán Thế Âm Bồ-tát Đại Thế Chí Bồ-tát, cũng tên là Tịnh Trừ Nghiệp Chướng Sinh Chư Phật Tiền. Các ông nên thọ trì, chớ để quên mất. Người tu tập Tam-muội này, ngay trong thân hiện tại sẽ được thấy Đức Phật Vô Lượng Thọ và hai vị Đại sĩ. Nếu thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào, chỉ cần nghe danh hiệu Phật và danh hiệu hai vị Bồ-tát thôi, đã trừ được tội lỗi sinh tử trong vô lượng kiếp, huống chi là ức niệm. Nếu người nào niệm Phật, nên biết người đó chính là hoa Phân-đà-lợi trong loài người; Bồ-tát Quán Thế Âm và Bồ-tát Đại Thế Chí chính là bạn tốt của người đó, họ sẽ ngồi nơi đạo tràng, sinh vào nhà của chư Phật."
Phật bảo A Nan: "Ông hãy khéo giữ lấy lời này. Giữ lời này chính là giữ danh hiệu của Đức Phật Vô Lượng Thọ."
Khi Phật nói lời ấy xong, tôn giả Mục Kiền Liên, tôn giả A Nan và phu nhân Vi Đề Hi cùng mọi người nghe lời Phật dạy, thảy đều đại hoan hỷ.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn bước đi trên hư không trở về núi Kỳ-xà-quật. Sau đó, tôn giả A Nan lại vì đại chúng mà thuật lại rộng rãi những việc như trên. Vô lượng người, trời, rồng, thần, Dạ-xoa... nghe lời Phật dạy đều đại hoan hỷ, lễ Phật rồi lui ra.
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.