Bước tới nội dung

Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh  (Hậu Tần
của Cưu-ma-la-thập, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh (chữ Hán: 佛說須摩提菩薩經; Phạn ngữ: Sumati-dārikā-paripṛcchā-sūtra) là một bản kinh ngắn thuộc bộ Bảo Tích trong Đại Tạng Kinh. Bản của ngài Trúc Pháp Hộ (Dharmarakṣa) dịch vào thời Tây Tấn. Bản của ngài Cưu Ma La Thập (Kumārajīva) dịch vào thời Hậu Tần. Kinh ghi lại việc Tu Ma Đề đến gặp Đức Phật tại núi Linh Thứu và đưa ra 10 câu hỏi về cách tu hành của Bồ Tát, bao gồm các vấn đề như: làm sao để có tướng mạo đoan trang, làm sao để giàu có, làm sao để không bị chia lìa người thân, và làm sao để khi thác sinh được hóa sinh trong hoa sen.

Tam tạng Cưu Ma La Thập nước Diêu Tần biên dịch.


PHẬT THUYẾT TU MA ĐỀ BỒ TÁT KINH

Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Phật ở tại núi Kỳ Xà Quật, thành La Duyệt Kỳ, cùng với 1.250 vị Đại Tỳ-kheo và một vạn vị Bồ-tát.

Bấy giờ, con gái của trưởng giả Ưu Ca là Tu Ma Đề, mới tám tuổi, nhưng đã từng phụng thờ vô số chư Phật, tích lũy công đức khôn lường. Tu Ma Đề đến trước Phật, đảnh lễ sát chân rồi chắp tay hỏi: "Bạch Thế Tôn, con có điều nghi mẫn, xin Ngài dùng phương tiện giải thoát mà chỉ dạy."

Phật biết ý định của cô bé, bèn bảo: "Con cứ hỏi, Ta sẽ phân biệt giải đáp khiến con hoan hỷ."

Tu Ma Đề hỏi mười câu hỏi lớn:

  1. Làm sao để người thấy đều vui vẻ?
  2. Làm sao được giàu có nhiều của cải?
  3. Làm sao để không bị người khác chia lìa?
  4. Làm sao không nằm trong bụng mẹ, được hóa sinh trong hoa sen nghìn cánh trước mặt Pháp Vương?
  5. Làm sao có thần túc đi khắp các cõi Phật đảnh lễ chư Phật?
  6. Làm sao không có kẻ thù oán, ganh ghét?
  7. Làm sao lời nói ra ai cũng tin theo, vui vẻ thực hành?
  8. Làm sao không có tội lỗi, thiện hạnh không bị phá hoại?
  9. Làm sao để ma chẳng thể làm hại?
  10. Làm sao lúc lâm chung được Phật hiện thân thuyết pháp, không đọa khổ xứ?

Đức Phật khen ngợi và dạy rằng:

I. Để người thấy đều vui vẻ

[sửa]

Bồ-tát tu bốn pháp: Một là không giận dữ, coi kẻ thù như thiện tri thức. Hai là có lòng từ với tất cả. Ba là cầu pháp tối thượng. Bốn là tạc tượng Phật.

Bài kệ:

Sân nhuế bất khởi hận bản căn,
Thường hành từ tâm đắc yếu pháp.
Tạc Phật hình tượng thân khiết hảo,
Tâm sinh hoan hỷ nhân hỷ kiến.

Diễn thơ lục bát:

Giận hờn dứt bỏ gốc căn,
Lòng từ trải khắp, pháp thân tìm cầu.
Tạc hình tướng Phật nhiệm mầu,
Người nhìn hoan hỷ, tiêu sầu tịnh thanh.

II. Để được giàu có

[sửa]

Bồ-tát tu bốn pháp: Một là bố thí đúng lúc. Hai là khi cho lòng vui vẻ. Ba là cho rồi không hối tiếc. Bốn là cho mà không cầu đền đáp.

Bài kệ:

Dĩ thời bố thí vô hối tâm,
Hỷ duyệt dữ nhân vô hy vọng.
Sở tác thí hữu dũng tuệ lực,
Tại sở cư xứ thường đại phú.

Diễn thơ lục bát:

Đúng thời đem tặng chẳng lo,
Lòng vui hớn hở, chẳng đo đáp đền.
Trí dũng, thí đức xây nền,
Đời đời giàu có vững bền hiển vinh.

III. Để không bị chia lìa

[sửa]

Bồ-tát tu bốn pháp: Một là không nói hai lời gây chia rẽ. Hai là dẫn dắt người u tối vào Phật đạo. Ba là bảo hộ chính pháp. Bốn là khuyên người cầu đạo Phật kiên cố.

Bài kệ:

Bất truyền ác thuyết đấu bỉ thử,
Đạo ngu minh giả hộ chính pháp.
Khuyến tiến nhân nhân sử cầu Phật,
Chung vô năng hữu biệt ly giả.

Diễn thơ lục bát:

Lời đâm thọc chẳng truyền ra,
Dắt người tăm tối tìm nhà chính chân.
Hộ trì Phật pháp ân cần,
Người chẳng lìa bỏ, tình thân vẹn mười.

IV. Để hóa sinh hoa sen trước Phật

[sửa]

Bồ-tát tu bốn pháp: Một là dùng các loại hoa quý nghiền bột cúng dường Phật và Tháp. Hai là không làm người khác nổi giận. Ba là tạc tượng Phật ngồi trên tòa sen. Hai là an trụ trong niềm vui chứng đắc giác ngộ tối thượng.

Bài kệ:

Thí tứ quý hoa cúng Thế Tôn,
Trừ khuất hận ý thụ pháp nghĩa.
Đắc thượng giác đạo lập Phật tiền,
Tác Phật hình tượng sinh hoa trung.

Diễn thơ lục bát:

Hoa quý dâng cúng tháp tòa,
Lòng không hờn giận, nương qua pháp mầu.
Đài sen hóa hiện công đầu,
Trước tòa Pháp Vương, đạo mầu nở hoa.

V. Để đắc thần túc

[sửa]

Bồ-tát tu bốn pháp: Một là thấy người làm công đức không ngăn cản. Hai là thấy người thuyết pháp không làm gián đoạn. Ba là thường thắp đèn nơi chùa tháp. Bốn là tu tập Tam-muội.

Bài kệ:

Hành công đức vi pháp thí hành,
Văn kinh thuyết pháp bất trung chỉ.
Thường nhiên đăng hỏa ư Phật tự,
Nhập Tam-muội lực biến chư quốc.

Diễn thơ lục bát:

Công đức người làm chẳng ngăn,
Nghe kinh thuyết pháp tâm hằng kề bên.
Đèn thiền thắp sáng chùa chiền,
Thần thông dạo khắp mọi miền tịnh bang.

VI. Để không bị thù oán, ganh ghét

[sửa]

Bồ-tát tu bốn pháp: Một là không nịnh hót bạn lành. Hai là không tham tài vật người khác. Ba là vui với việc bố thí của người. Bốn là không phỉ báng việc làm của các Bồ-tát.

Bài kệ:

Ư thiện tri thức vô nịnh tâm,
Bất san lận tiếc tha nhân vật.
Kiến nhân bố thí trợ kỳ hỷ,
Hành Bồ-tát hạnh vô cừu oán.

Diễn thơ lục bát:

Bạn lành chẳng chút nịnh lo,
Của người chẳng tham, chẳng đo tấc lòng.
Thấy người bố thí mừng cùng,
Oán thù tiêu sạch, đức hồng dài lâu.

VII. Để lời nói được tin theo

[sửa]

Bồ-tát tu bốn pháp: Một là miệng nói tâm làm đồng nhất. Hai là thành thực với thiện tri thức. Ba là nghe thuyết pháp không bàn đúng sai. Bốn là mời người giảng kinh mà không bới lông tìm vết.

Bài kệ:

Như sở niệm ngôn diệc như thị,
Ư thiện hữu nhân hữu thành tín.
Văn giảng kinh pháp bất cầu đoản,
Nhược thuyết kinh thời tâm hỷ dũng.

Diễn thơ lục bát:

Trong ngoài lời nói như nhau,
Với bạn chân thật, trước sau một lòng.
Nghe pháp lỗi chẳng bới tìm,
Lời ra ai cũng đắm chìm tin theo.

VIII. Để không tội lỗi, thiện hạnh sạch trong

[sửa]

Bồ-tát tu bốn pháp: Một là tâm thường nghĩ điều thiện. Hai là giữ Giới, Định, Tuệ. Ba là phát tâm Bồ-đề độ thoát chúng sinh. Bốn là có lòng đại từ bi.

Bài kệ:

Thường chí thiện niệm quảng độ nhân,
Giới định tuệ lực bất tương ly.
Thường giáo nhân nhân nhất thiết trí,
Hành từ bi ý đắc tịnh trụ.

Diễn thơ lục bát:

Thiện niệm hằng giữ trong tâm,
Giới - Định - Tuệ sáng chẳng lầm bước chân.
Dạy người trí tuệ chuyên cần,
Tội khiên dứt sạch, sạch ngần thân tâm.

IX. Để ma không thể làm hại

[sửa]

Bồ-tát tu bốn pháp: Một là thường niệm Phật. Hai là thường tinh tấn. Ba là thường niệm kinh pháp. Bốn là thường lập công đức.

Bài kệ:

Thường hỷ ý niệm Phật công đức,
Thường tinh tấn tại thâm diệu pháp.
Tự húc miễn lực lập công đức,
Ma dụng thị sự bất đắc tiện.

Diễn thơ lục bát:

Niệm Phật lòng mãi vui vầy,
Siêng năng học pháp, chẳng giây nghỉ ngơi.
Công đức bồi đắp không rời,
Lũ ma khiếp sợ, chẳng dời được chân.

X. Để lâm chung thấy Phật

[sửa]

Bồ-tát tu bốn pháp: Một là giúp người viên mãn tâm nguyện. Hai là giúp người thiếu thốn được đầy đủ. Ba là thấy người bố thí chưa đủ thì giúp thêm. Bốn là thường cúng dường Tam bảo.

Bài kệ:

Vị nhất thiết nhân mãn sở nguyện,
Vô cực ái khuyến túc đàn thí.
Dĩ tạp thí chí khiết tuệ lực,
Cung dưỡng Tam bảo đắc kiến Phật.

Diễn thơ lục bát:

Nguyện người vạn sự hanh thông,
Giúp người thiếu hụt, tấm lòng bao la.
Cúng dường Tam bảo thiết tha,
Lâm chung thấy Phật, đài hoa đón chờ.

Nghe xong, Tu Ma Đề thề sẽ thực hành đủ bốn mươi điều này.

Bấy giờ, Trưởng lão Ma-ha Mục-kiền-liên ngồi trong đại hội, liền hỏi Tu Ma Đề: "Bốn mươi việc này là hạnh của bậc Đại sĩ, là việc làm của Bồ-tát, vốn rất khó gánh vác; hạng con gái nhỏ như con sao có thể làm nổi?".

Lúc ấy, Tu Ma Đề đáp lời Mục-kiền-liên: "Ví bằng nay con thực sự có khả năng thực hành bốn mươi việc này, thì ba nghìn đại thiên thế giới đều sẽ vì con mà rúng động sáu cách, hoa trời tuôn rơi, các nhạc khí không đánh tự kêu." Tu Ma Đề vừa dứt lời, tức thì ba nghìn đại thiên thế giới rúng động sáu cách, hoa trời rơi xuống, nhạc khí vang lừng.

Cô gái nói với Mục-kiền-liên: "Đây là chứng minh cho lòng chí thành của con! Nếu vị lai có người phát tâm Bồ-tát cũng sẽ được như thế. Sau này con cũng sẽ đắc quả Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri; lời con nói là chân thật không hư dối. Nguyện cho những người trong đại hội này thảy đều đồng nhất biến thành sắc vàng." Ngay sau lời ấy, đại chúng liền biến thành màu vàng.

Mục-kiền-liên bèn rời tòa đứng dậy, sửa sang y phục, quỳ gối phải chắp tay đảnh lễ Phật và bạch rằng: "Nay với những vị mới phát tâm Bồ-tát đại thừa, con xin tự quy y và đảnh lễ. Vì sao thế? Vì bé gái tám tuổi còn cảm ứng được như vậy, huống nữa là bậc Cao sĩ Ma-ha-tát?".

Lúc bấy giờ, vị Đại Bồ-tát tên Văn Thù Sư Lợi bảo Tu Ma Đề: "Con trụ vào pháp nào mà hiện ra cảm ứng như thế?". Tu Ma Đề đáp: "Các pháp không thể tính đếm, cũng không có chỗ trụ; sao nhân giả lại hỏi con trụ vào pháp nào? Ngài hỏi như thế, thật chẳng bằng đừng hỏi." Văn Thù Sư Lợi hỏi: "Lời ấy nghĩa là sao?". Tu Ma Đề đáp: "Không trụ vào các pháp, cũng không có nghi ngờ, cũng không bàn chuyện thị phi."

Văn Thù Sư Lợi hỏi: "Như Lai vốn không tu hành sao?". Tu Ma Đề đáp: "Ví như bóng trăng hiện dưới nước, như mộng mị, như ánh nắng huyễn, như tiếng vang trong núi sâu; việc tu hành của Như Lai cũng lại như thế." Văn Thù lại hỏi: "Như lời con nói, hợp hội những việc đó có thể đắc thành Phật chăng?". Tu Ma Đề đáp: "Thưa nhân giả! Ngài cho rằng kẻ ngu và người trí hành ba việc là khác nhau sao? Chẳng khác vậy, thảy đều là một pháp, các pháp đều hợp nhất. Vì sao? Dù chính pháp hay phi pháp đều không có chỗ trụ, không có chỗ lấy, không có chỗ thu, vắng lặng không hình sắc."

Văn Thù Sư Lợi hỏi tiếp: "Người hiểu được nghĩa này có mấy ai?". Tu Ma Đề đáp: "Như kẻ huyễn sư tự ý biến hóa, há có hạn lượng sao? Huyễn sư biến hóa còn không hạn lượng, thì người tin hiểu pháp này cũng lại như vậy." Văn Thù lại hỏi: "Như tôi không hóa không huyễn, khởi hành pháp gì để hợp với đạo?". Tu Ma Đề đáp: "Như lời ngài nói thật là vui thay! Tất cả các pháp vốn chẳng có chẳng không, cho đến Như Lai cũng không hợp không tan."

Văn Thù Sư Lợi nghe vậy rất vui mừng khen ngợi, bèn bạch Phật rằng: "Hay thay! Lời Tu Ma Đề nói tự tại nhiệm mầu, thật đáng kinh ngạc! Có thể thâm nhập đạt được Pháp nhẫn; từ khi phát tâm đến nay đã bao lâu rồi?". Phật bảo: "Tu Ma Đề này phát tâm Bồ-đề, trụ trong bình đẳng đến nay đã vô số kiếp. Trước khi ngài phát tâm ba mươi ức kiếp, cô ấy đã phát ý độ sinh bình đẳng, vừa mới vào Vô sinh pháp nhẫn. Cô ấy chính là bậc thầy lúc ngài mới phát tâm vậy." Văn Thù nghe xong liền đảnh lễ Tu Ma Đề và nói: "Đã biệt ly lâu xa, nay mới được hầu chuyện, gặp lại thầy để nhận lời dạy bảo." Tu Ma Đề đáp: "Chớ khởi niệm ấy. Vì sao? Vô sinh pháp nhẫn vốn không có chỗ niệm, cũng không có bậc thầy."

Văn Thù hỏi: "Sao con không chuyển thân nữ?". Tu Ma Đề đáp: "Ở đây không có chỗ đắc. Vì sao? Pháp vốn không nam không nữ. Nay con sẽ dứt nghi ngờ cho ngài." Văn Thù nói: "Hay thay! Tôi muốn nghe điều đó." Tu Ma Đề bảo: "Nếu sau này không lâu nữa con đắc quả Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri... như lời xác thực này, con sẽ biến thành nam tử." Vừa dứt lời, cô liền thành nam giới, tóc rụng, áo cà sa đắp thân, làm vị Sa-di.

Tu Ma Đề lại bảo Văn Thù: "Khi con thành Phật ở đời sau, nguyện trong nước con không có ba việc: một là ma sự, hai là địa ngục, ba là dáng vẻ nữ nhân. Nếu lời con chí thành, thân con sẽ như vị Sa-môn ba mươi tuổi." Ngay lập tức, hình thể và sắc diện cô biến thành người ba mươi tuổi. Cô lại nói: "Khi con thành Phật, dân trong nước thảy đều sắc vàng, đất đai thành quách có cây bảy báu bao quanh, có ao nước bảy báu, hoa sen bảy báu mọc khắp nơi." Tu Ma Đề nói: "Cõi nước của con cũng sẽ như cõi của ngài. Nếu con chí thành, đại chúng ở đây hãy biến thành màu vàng." Tức thì cả hội chúng đều mang sắc vàng. Thần Trì Địa từ dưới đất hiện lên khen ngợi: "Khi Tu Ma Đề thành Phật, quốc độ sẽ đúng như lời ấy."

Phật bảo Văn Thù: "Tu Ma Đề này chẳng bao lâu sẽ thành Phật hiệu Viễn Văn Cụ Túc Tạng Như Lai. Này con, ý con thế nào? Pháp không chỗ trụ, há có cái tên 'Ta' sao?". Đáp rằng: "Bạch Thế Tôn, không ạ!". Phật hỏi tiếp về tính huyễn hóa: "Kẻ huyễn hóa có đến đời sau không? Có sinh diệt không? Có hình dáng không? Có thấy nghe là huyễn hay không huyễn không?". Tu Ma Đề thảy đều đáp: "Không ạ!".

Phật dạy: "Đúng thế! Vô minh không trong không ngoài, pháp ấy không thật có, không tên gọi. Người trí không đến đời sau cũng không trở lại. Vô minh không khởi không diệt, không hình tượng; nhưng do vô minh mà duyên sinh hành, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử, u sầu khổ não."

Cô gái Thủ Ý (Tu Ma Đề) bạch Phật: "Thật hi hữu thay! Thế Tôn ở trong hư không mà chuyển pháp luân. Pháp luân ấy bất khả tư nghì, vô lượng, vô hoạch, vô hình, vô sinh, là pháp luân diệt độ." Phật dạy: "Đúng thế! Ta chuyển luân là chuyển không luân, bất khả tư nghì, vô lượng, không sở đắc, không hình sắc, là diệt độ vậy."

Thủ Ý vui mừng, dùng hương chiên đàn và hoa cúng dường Phật, nguyện được hộ trì chính pháp, hàng phục các căn, chuyển pháp luân không. Phật liền mỉm cười, phóng quang minh năm sắc chiếu khắp mười phương rồi thu vào đỉnh đầu. Ngài A Nan thấy vậy liền thưa hỏi duyên cớ. Phật bảo A Nan: "Ông có thấy con gái Thủ Ý cúng dường Phật và phát nguyện chuyển pháp luân chăng? Nhờ đức bản này, cô ấy sẽ không đọa ác đạo trong 84 ức kiếp, cúng dường sáu vạn đức Phật, xuất gia hành đạo, thọ trì kinh pháp, độ thoát vô số chúng sinh, hiệu là Thiên Trung Thiên."

Khi Phật thụ ký, 30 ức người phát tâm Bồ-đề, 6 vạn thiên tử đắc pháp nhãn tịnh. Năm trăm vị Bồ-tát trong hội vốn chưa hiểu nghĩa sâu, nay thấy cảm ứng của Tu Ma Đề liền dâng y cúng dường, kiên cố đạo tâm, đắc bất thoái chuyển. Phật thụ ký cho 500 người này mười kiếp sau sẽ thành Phật tại quốc độ Diễm Khí, cùng hiệu là Trang Sức Dự Tri Nhân Ý Như Lai.

Phật bảo Văn Thù: "Kinh này mang lại lợi ích lớn lao. Nếu có người cầu đạo Bồ-tát, tu sáu Ba-la-mật mà chưa hiểu phương tiện, hãy biên chép, đọc tụng và diễn thuyết kinh này. Như vua Chuyển Luân trị vì thì bảy báu không thiếu, vua mất thì bảy báu tan; kinh Phật còn ở đời thì bảy giác chi còn, kinh mất thì pháp cũng tận." Phật khuyên Văn Thù phải siêng năng tìm cầu, học tập và truyền bá kinh này cho mọi người, chớ có hối tiếc. Phật thuyết kinh xong, các Bồ-tát và thiên long bát bộ thảy đều hoan hỷ.


 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.