Bước tới nội dung

Biên dịch:Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh  (Tùy
của Tì-ni-đa-lưu-chi, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Kinh Phật thuyết Tượng Đầu Tinh Xá (tên Phạn: *Gayaśīrṣa Sūtra*) là một bản kinh Đại thừa quan trọng, ghi lại cuộc đối thoại giữa Đức Phật và Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi tại núi Tượng Đầu (Gayaśīrṣa). Nội dung kinh tập trung vào các chủ đề cốt lõi sau:
  • Bản chất của Bồ-đề: Đức Phật giải thích rằng Bồ-đề (giác ngộ) không phải là một pháp hữu hình có thể nắm bắt. Nó không có tướng trạng, không thể diễn tả bằng ngôn từ và bản tính vốn là Không, vắng lặng.
  • Hành vi của Bồ-tát (Bồ-tát hạnh): Kinh nhấn mạnh rằng Bồ-tát dù thấu hiểu tính Không nhưng không rời bỏ chúng sinh. Bồ-tát thực hành các thiện pháp nhưng không chấp vào tướng, duy trì sự cân bằng giữa trí tuệ (thấy rõ thực tại) và phương tiện (cứu độ đời).
  • Sự khác biệt giữa các thừa: Đức Phật phân tích sự khác biệt trong tư duy và quả vị giữa Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát. Tuy nhiên, Ngài khẳng định đích đến cuối cùng của Bồ-tát là trí tuệ toàn giác, vượt lên trên sự giải thoát cá nhân đơn thuần.
  • Trí tuệ Văn Thù: Qua những câu hỏi sắc bén của Bồ-tát Văn Thù, kinh làm sáng tỏ tư tưởng "vô sinh" (không sinh không diệt). Mọi hiện tượng pháp giới đều như mộng huyễn, người tu hành cần đạt đến tâm thái không phân biệt để chạm tới chân lý.

Tóm lại: Kinh Tượng Đầu Tinh Xá là bài học sâu sắc về Tính KhôngTrí Tuệ, dạy người tu hành cách nhập thế mà không bị nhiễm ô, dùng trí tuệ bát-nhã để phá tan mọi kiến chấp.

PHẬT THUYẾT TƯỢNG ĐẦU TINH XÁ KINH

Đời nhà Tùy, Thiên Trúc Tam Tạng là Tì Ni Đa Lưu Chi (毘尼多流支) dịch

Tôi nghe như thế này:

Một thời, Đức Bà Già Bà ở tại tinh xá Tượng Đầu, thành Già Da. Khi ấy, Như Lai thành Phật chưa bao lâu, cùng với chúng đại Tì-kheo đủ một ngàn người — đều là các vị tiên nhân búi tóc xoắn ngày trước, việc làm đã xong, đặt gánh nặng xuống, vĩnh ly sinh tử, dứt sạch phiền não, trí tuệ không tịch bình đẳng, tâm trí chánh thọ, giác tri tất cả, đã đến bờ kia, đều là bậc A-la-hán — lại cùng với vô lượng chúng đại Bồ-tát Ma-ha-tát câu hội.

Bấy giờ, Thế Tôn ngồi một mình tư duy, nhập các tam muội, quán khắp pháp giới, tự giác thành đạo — đủ nhất thiết trí, việc làm đã xong, bỏ các gánh nặng, vượt dòng sinh tử, lìa bỏ bỏn xẻn tham lam, nhổ gai ba độc, dứt sạch khát ái, tập hợp thuyền pháp lớn, đánh trống pháp lớn, thổi ốc pháp lớn, dựng cờ pháp lớn, đã đoạn sinh tử — diễn nói chánh pháp:

"Đóng các đường ác, mở cửa đạo lành, vĩnh viễn lìa đất dữ, dạo chơi các nước tịnh. Ta quán pháp kia, ai tu Bồ-đề, ai đắc Bồ-đề, ai muốn đắc? Quá khứ, hiện tại và vị lai, là ai sở chứng? Là thân đắc hay tâm đắc?

Nếu lấy thân đắc, thì thân này không biết, như cỏ cây, cát sỏi, tường vách, chẳng có giác tri. Bốn đại hòa hợp, cha mẹ sinh ra, thường cần ăn uống, mặc áo, tắm rửa, xoa xát, cuối cùng quy về bại hoại, là pháp mài diệt. Bồ-đề ấy chỉ có hư danh mà không thực tướng, không thanh, không sắc, không thành, không thấy, không vào, không biết, không đi, không đến; các pháp như thế cũng không trói buộc. Có thể vượt qua các pháp, ra khỏi ba cõi, không thấy, không nghe, không ngã và ngã sở, không người làm, không nơi chốn, không hang ổ, không lấy, không dính, không ra, không vào, không nguyện, không trụ, không tướng, không vẻ, không kia, không đây, không hiển thị, ví như huyễn hóa. Do mười hai nhân duyên sinh, không nơi chốn, không thể thấy, lìa tướng, như hư không hiện ra, tịch tĩnh, không tiếng, không vang, không văn, không chữ, cũng không ngôn thuyết. Biết được như thế, gọi là Bồ-đề.

Nếu lấy tâm đắc, thì tâm này không định, ví như huyễn hóa, đều do nghiệp vọng tưởng quá khứ sinh ra, không hình, không chấp, ví như hư không. Bồ-đề ấy không có nơi chốn, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, tất cả pháp đều không. Dẫu có ngôn thuyết, cũng có danh không thực, là pháp vô vi, không, vô tướng, vô tác, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng thể hiển hiện, không nói, không nghe. Bồ-đề ấy chẳng phải quá khứ đắc, chẳng phải vị lai đắc, chẳng phải hiện tại đắc, cũng chẳng lìa ba đời mà đắc; không tướng, chẳng phải làm, chẳng phải không làm; nếu có thể giác hiểu pháp ba đời như thế, tức là Bồ-đề."

Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Nếu vô tướng là Bồ-đề, thì nay các thiện nam tử, thiện nữ nhân nương vào đâu mà trụ để đắc thành Bồ-đề?"

Phật bảo Văn Thù Sư Lợi: "Các Bồ-tát học Bồ-đề, nên trụ như thế này."

Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Các Bồ-tát nên trụ như thế nào?"

Phật bảo Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-đề ấy vượt ra khỏi ba cõi, vượt ngoài ngôn thuyết, lìa các văn tự, không có chỗ trụ. Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi! Bồ-tát Ma-ha-tát trụ vào chỗ không có chỗ trụ, ấy là trụ Bồ-đề; trụ vào không chấp trước, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi pháp không, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi pháp tánh, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi tất cả pháp không có thể tướng, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi lòng tin vô lượng, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi không tăng giảm, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi không dị niệm, ấy là trụ Bồ-đề; trụ như hình bóng trong gương, như tiếng vang trong hang trống, như trăng dưới nước, như bóng nắng giữa trời nóng. Văn Thù Sư Lợi! Trụ vào các pháp như thế, ấy là trụ Bồ-đề."

Bấy giờ, Tịnh Quang Diễm Thiên Tử bạch Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử rằng: "Tu hành thế nào? Dùng nghiệp gì để làm hạnh Bồ-tát?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Đối với các chúng sinh khởi tâm đại từ, đó là hạnh Bồ-tát."

Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Các Bồ-tát tu hành thế nào để khởi tâm đại từ?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Tâm không xiểm nịnh dối trá, đó là đại từ của Bồ-tát."

Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Tu hành thế nào để được không xiểm nịnh dối trá?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Đối với tất cả chúng sinh khởi tâm bình đẳng, đó là không xiểm nịnh dối trá, các Bồ-tát nên học như thế."

Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát tu hành thế nào để đối với tất cả chúng sinh khởi tâm bình đẳng?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Không kia, không đây, không các kiến giải khác biệt, đó là hạnh bình đẳng, các Bồ-tát nên học như thế."

Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát lại tu thế nào để không kia, không đây, không các kiến giải khác biệt và thực hiện hạnh bình đẳng đối với tất cả chúng sinh?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Khéo niệm cung kính, không kia, không đây, không các kiến giải khác biệt và pháp bình đẳng, các Bồ-tát nên tu như thế."

Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát khéo niệm cung kính, cho đến không kia không đây không các dị kiến, do đâu mà khởi?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Khéo niệm cung kính là do phát tâm Bồ-đề, các Bồ-tát nên học như thế."

Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Tâm Bồ-đề do đâu mà khởi?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Tâm Bồ-đề từ sáu Ba-la-mật mà khởi."

Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Sáu Ba-la-mật từ đâu mà khởi?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Từ phương tiện trí tuệ mà khởi."

Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát phương tiện trí tuệ từ đâu mà khởi?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Phương tiện trí tuệ từ không phóng dật mà khởi."

Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Không phóng dật lại từ đâu mà khởi?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Không phóng dật từ tu ba nghiệp lành mà khởi."

Thiên tử lại hỏi: "Tu ba nghiệp lành do đâu mà khởi?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Từ tu mười nghiệp thiện mà khởi."

Thiên tử lại hỏi: "Tu mười nghiệp thiện do đâu mà khởi?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Từ khéo nhiếp phục thân, khẩu, ý mà khởi."

Thiên tử lại hỏi Văn Thù Sư Lợi: "Ba nghiệp lành này lại do đâu khởi?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Từ khéo tư duy mà khởi."

Thiên tử lại hỏi: "Khéo tư duy do đâu mà khởi?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Từ khéo tư duy quán hạnh mà khởi."

Thiên tử lại hỏi: "Khéo tư duy quán hạnh do đâu mà khởi?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Từ ức trì không quên mà khởi."

Thiên tử lại hỏi: "Ức trì không quên có mấy loại tâm? Do nhân duyên gì mà được quả báo?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Bồ-tát Ma-ha-tát có bốn loại phát tâm, từ nhân mà được quả. Bốn loại đó là gì? Một là sơ phát tâm, hai là hệ niệm tu hành, ba là bất thoái, bốn là cùng thiện đồng sinh. Nhờ sơ phát tâm mà được hệ niệm; nhờ tu hệ niệm mà được bất thoái chuyển; nhờ bất thoái chuyển mà cùng thiện đồng sinh.

Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như gieo hạt giống xuống ruộng lành; hệ niệm tu hành như mầm cây mọc lên; tu hành bất thoái như thân, cành, lá tăng trưởng; cùng thiện đồng sinh như hoa quả kết trái, chín muồi. Phát tâm, hệ niệm tu hành, bất thoái và cùng thiện đồng sinh cũng lại như thế.

Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như thợ làm xe, khéo biết các loại gỗ; hệ niệm tu hành như lắp ghép gỗ; tu hành bất thoái như xe đã làm xong; cùng thiện đồng sinh như đem xe ra chở đồ và sử dụng. Phát tâm, hệ niệm tu hành, bất thoái và cùng thiện đồng sinh cũng lại như thế.

Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như trăng mới mọc; hệ niệm tu hành như trăng mùng năm đến mùng bảy; tu hành bất thoái như trăng mười ngày; cùng thiện đồng sinh như trăng mười bốn; trí tuệ Như Lai viên mãn không khuyết như trăng rằm mười lăm. Phát tâm, hệ niệm tu hành, bất thoái và cùng thiện đồng sinh cũng lại như thế.

Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm vượt qua địa vị Thanh văn; phát tâm thứ hai vượt qua địa vị Bích-chi Phật; phát tâm thứ ba vượt qua địa vị bất định; phát tâm thứ tư đạt đến địa vị định.

Lại nữa, Thiên tử! Như các âm 'A', 'A-xà' là căn bản của tất cả văn tự; sơ phát tâm cũng lại như thế, là căn bản của tất cả điều thiện. Như học văn tự thì được phần nhỏ trí tuệ; hệ niệm tu hành cũng lại như thế. Được ít phần trí tuệ như người giỏi tính toán tính hết vô lượng, biết rõ giới hạn của nó; tâm bất thoái chuyển cũng lại như thế. Biết tâm chẳng thoái lùi ví như có người hiểu rõ kinh luận; cùng thiện đồng sinh khiến tâm lành sáng suốt cũng lại như thế.

Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là hệ niệm nhân lành; phát tâm thứ hai là hệ niệm trí tuệ; phát tâm thứ ba là hệ niệm thiền định; phát tâm thứ tư là hệ niệm nơi quả.

Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là thụ trì nhân lành; phát tâm thứ hai là thụ trì trí tuệ; phát tâm thứ ba là thụ trì thiền định; phát tâm thứ tư là thụ trì nơi quả.

Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là thành tựu nhân lành; phát tâm thứ hai là thành tựu trí tuệ; phát tâm thứ ba là thành tựu thiền định; phát tâm thứ tư là thành tựu chính quả.

Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là nhờ thiện mà vào đạo; phát tâm thứ hai là nhờ trí mà vào đạo; phát tâm thứ ba là nhờ thiền mà vào đạo; phát tâm thứ tư là nhờ quả mà vào đạo.

Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như thầy thuốc biết dược tính; phát tâm thứ hai là khéo biết liều lượng thuốc; phát tâm thứ ba là tùy bệnh cho thuốc; phát tâm thứ tư là khiến người bệnh uống và thực hành theo.

Lại nữa, Thiên tử! Nhờ sơ phát tâm mà sinh vào nhà Pháp vương; phát tâm thứ hai là học pháp của Pháp vương; phát tâm thứ ba là tu hạnh của Pháp vương; phát tâm thứ tư là viên mãn ngôi vị vương giả. Đó gọi là bốn loại phát tâm."

Bấy giờ, Tịnh Quang Diễm Thiên tử bạch Văn Thù Sư Lợi: "Đâu là đạo mau chóng của Bồ-tát Ma-ha-tát? Bồ-tát đi theo đạo này sẽ mau đắc A-nốt-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề."

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Đạo mau chóng có hai loại, Bồ-tát cưỡi hai đạo này sẽ mau đắc đạo quả vô thượng. Hai loại đó là gì? Một là phương tiện đạo, hai là bát-nhã đạo. Thụ trì phương tiện trí nên có thể quan sát tất cả chúng sinh; thụ trì bát-nhã nên quán thấy tất cả pháp đều không, có thể đoạn trừ nghi chấp. Dùng phương tiện trí nên hòa hợp các pháp; dùng bát-nhã nên các pháp không hòa hợp. Phương tiện là nhân, bát-nhã là quả. Dùng phương tiện nên biết tất cả pháp; dùng bát-nhã nên biết các pháp đều không. Dùng phương tiện trí để trang nghiêm cõi Phật; dùng bát-nhã nên biết các cõi Phật thảy đều bình đẳng. Dùng phương tiện nên biết căn tính chúng sinh sai biệt; dùng bát-nhã nên biết căn tính chúng sinh đều không. Dùng phương tiện nên được vị cam lộ, chứng thành Bồ-đề; dùng bát-nhã nên giác ngộ các Phật pháp, đạt chính đạo bình đẳng.

Lại nữa, Thiên tử! Lại có hai hạnh có thể khiến Bồ-tát mau đắc quả vị vô thượng. Một là hữu vi, hai là vô vi. Hữu vi tổng nhiếp năm Ba-la-mật; vô vi tổng nhiếp Bát-nhã Ba-la-mật. Lại có hai hạnh khiến Bồ-tát mau đắc Bồ-đề: Một là hữu lậu hạnh (năm Ba-la-mật), hai là vô lậu hạnh (Bát-nhã Ba-la-mật). Lại có hai hạnh nữa: Một là trụ hạnh (năm Ba-la-mật), hai là bất trụ hạnh (Bát-nhã Ba-la-mật). Lại có hai hạnh nữa: Một là hữu lượng (năm Ba-la-mật), hai là vô lượng (Bát-nhã Ba-la-mật). Hữu lượng hạnh là pháp có tướng; vô lượng hạnh là pháp không tướng. Lại có hai hạnh nữa: Một là trí hạnh, hai là định hạnh. Nhờ trí hạnh nên đi từ sơ địa đến thất địa; nhờ định hạnh nên đi từ bát địa đến thập địa."

Khi ấy, Bồ-tát Bất Khiếp Nhược Trí Tổng Trì bạch Văn Thù Sư Lợi Đồng tử: "Bồ-tát Ma-ha-tát làm sao biết Nghĩa? Làm sao biết Trí?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiện nam tử! Nghĩa không có thực thể, Trí cũng không có thực thể."

Bồ-tát Bất Khiếp Nhược Trí Tổng Trì hỏi lại: "Tại sao Nghĩa không thực thể, Trí cũng không thực thể?"

Văn Thù Sư Lợi đáp: "Nghĩa không thực thể là vô vi, vô tác, vô tướng, không hình dáng, không đến không đi. Trí không thực thể là chẳng phải pháp định, chẳng phải pháp bất định. Nghĩa không thực thể là phi hữu phi vô; Trí thể tánh là không, phi hữu phi vô, không lấy không bỏ. Lại nữa, Nghĩa chẳng phải định hay chẳng định; Trí gọi là tâm đạo, tâm và trí bình đẳng không sai biệt. Trí lấy thiền làm thể, thiền trí bình đẳng. Dùng phương tiện quán ngũ uẩn, thập nhị nhập, thập bát giới, mười hai nhân duyên và sự lưu chuyển sinh tử, thấy tướng thiện ác như huyễn hóa, phi hữu phi vô. Bồ-tát nên quán các pháp như thế.

Lại nữa, Bồ-tát có mười loại trí hạnh: trí về nhân, trí về quả, trí về nghĩa, trí phương tiện, trí bát-nhã, trí thụ trì, trí ba-la-mật, trí đại bi, trí lân mẫn giáo hóa chúng sinh, và trí không dính mắc tất cả pháp.

Bồ-tát phát mười loại hạnh thanh tịnh: tự phát thân nghiệp thanh tịnh, phát thân nghiệp thanh tịnh cho chúng sinh; tự phát khẩu nghiệp thanh tịnh, phát khẩu nghiệp thanh tịnh cho chúng sinh; tự phát ý nghiệp thanh tịnh, phát ý nghiệp thanh tịnh cho chúng sinh; phát hạnh thanh tịnh bình đẳng bên trong, phát hạnh thanh tịnh bình đẳng bên ngoài cho chúng sinh; phát trí hạnh thanh tịnh của Phật; phát hạnh tịnh Phật quốc độ thành tựu chúng sinh (ban thuốc cho người bệnh, dùng trí vô vi giáo hóa người phiền não lìa ba cõi, khiến đủ công đức trí tuệ).

Bồ-tát có mười loại phương tiện: phương tiện bờ kia, thụ trì, trí tuệ, phương tiện của phương tiện, đại bi, trí mãn, huệ mãn, tĩnh niệm, thực hạnh, và phương tiện bình đẳng không ghét thương đối với chúng sinh.

Bồ-tát có mười loại phân biệt thân vô tận: phân biệt sự vật, phiền não, pháp, khát ái, các kiến giải, thiện ác, tạo tác, không chấp trước, hòa hợp, và trí Bồ-đề viên mãn; tất cả đều vô tận.

Bồ-tát có mười loại hạnh điều phục: điều phục thiện hạnh, điều phục bỏn xẻn (bố thí như mưa), tinh tiến, ba nghiệp, tâm độc (không sân hận), khởi tâm từ mẫn, biếng nhác, siêng tu Phật pháp, tâm bất thiện, và thiền định giải thoát tự tại. Lại có mười hạnh điều phục khác: phá ngu si, phương tiện tổng trì bát-nhã, điều phục phiền não, sinh khởi đạo nghiệp, tổng trì tín thực, không đọa đường ác, tâm bất thiện, thời và phi thời tự tại, điều phục bản thân, và quán không.

Bồ-tát có mười cách điều phục người khác: điều phục để xa lìa ba ác nghiệp của thân, bốn của miệng, ba của ý. Lại có mười pháp quán nội ngoại không chấp trước: quán nội giới không, ngoại giới không, nội ngoại pháp không, trí tuệ không, đạo hạnh không, thánh địa không, thanh tịnh không, bát-nhã không, giáo hóa không, và từ bi phương tiện không; tất cả đều không chấp trước.

Bồ-tát phải lập tâm kiên cố tu đạo Bồ-đề. Kiên cố là ba nghiệp tương ưng, không trái nghịch; không kiên cố là ba nghiệp trái nghịch nhau.

Có các cặp chính hạnh kiên cố: một là chính niệm Bồ-đề và tu thiền đoạn phiền não; hai là tự điều thân và điều thân chúng sinh; ba là siêng tu tập và không tu tập (vô công dụng hạnh) mà đắc nhất thiết trí; bốn là trụ địa phương tiện và trụ địa bất động; mười là xa lìa nhiễm địa và tu tập viên mãn các địa; mười một là thị hiện địa Thanh văn, Duyên giác mà không thoái chuyển nơi Bồ-đề. Nhờ các chính hạnh và phương tiện này, Bồ-tát sẽ đắc quả Vô thượng Chính đẳng Chính giác."

Bấy giờ Thế Tôn khen ngợi Văn Thù Sư Lợi: "Lành thay! Lành thay! Ngươi đã khéo nói lời ấy." Văn Thù Sư Lợi cùng đại chúng trời, người, A-tu-la... nghe Phật thuyết pháp, đều tin nhận, đảnh lễ và vui vẻ làm theo.


 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.