Biên dịch:Sử ký/Quyển 113
Vua Nam Việt (南越) là quan úy[1] Đà (佗), người Chân Định (真定), họ Triệu (趙). Thời Tần (秦) đã thôn tính thiên hạ, chiếm định Dương Việt (楊越), đặt các quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng Quận (象郡), đưa dân bị đày đến ở lẫn với người Việt suốt 13 năm. Đà thời Tần làm Lệnh huyện Long Xuyên (龍川) thuộc Nam Hải.
Đến thời Nhị Thế (二世), quan úy Nam Hải là Nhậm Ngao (任囂) ốm sắp chết, gọi Lệnh Long Xuyên là Triệu Đà bảo rằng: Nghe tin bọn Trần Thắng (陳勝) làm loạn, nhà Tần vô đạo, thiên hạ khổ sở, bọn Hạng Vũ (項羽), Lưu Quý (劉季), Trần Thắng, Ngô Quảng (吳廣) ở các châu quận đều cùng dấy quân tụ tập đông người, tranh giành thiên hạ như hổ, Trung Hoa nhiễu loạn, chưa biết yên định thế nào, hào kiệt phản Tần tự lập. Nam Hải xa xôi hẻo lánh, ta sợ quân trộm cướp đánh đến đây, ta muốn dấy quân cắt đứt đường mới mở để tự phòng bị, đợi chư hầu biến chuyển, gặp lúc bệnh nặng. Vả lại Phiên Ngung (番禺) dựa núi hiểm, ngăn cách bởi Nam Hải, đông tây mấy nghìn dặm, có nhiều người Trung Hoa giúp đỡ, đây cũng là chủ một châu, có thể lập quốc. Trong quận các quan lại không ai đáng cùng bàn bạc, nên gọi ông đến bảo. Liền trao cho Đà văn thư, thực hiện công việc của Úy Nam Hải.
Ngao chết, Đà liền gửi hịch báo các cửa ải Hoành Phố (橫浦), Dương Sơn (陽山), Hoàng Khê (湟谿) rằng: Quân cướp sắp đến, gấp cắt đứt đường xá, tụ tập quân tự giữ! Rồi dần dùng luật pháp giết các quan lại do nhà Tần đặt ra, dùng vây cánh của mình thay thế. Nhà Tần đã diệt, Đà liền đánh chiếm Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương.
Cao Đế (高帝) đã định thiên hạ, vì Trung Hoa lao khổ nên tha cho Đà không đánh. Năm Hán thứ 11 (năm 196 TCN), sai Lục Giả (陸賈) nhân đó lập Đà làm Nam Việt Vương, cùng xẻ phù tín thông sứ giả, hòa hợp Bách Việt (百越), không để làm họa hại biên giới phía Nam, tiếp giáp đất Trường Sa (長沙).
Thời Cao Hậu (高后), hữu ty xin cấm Nam Việt mua sắt ở quan thị. Đà nói: Cao Đế lập ta, thông sứ vật dụng, nay Cao Hậu nghe lời sàm thần, phân biệt di địch, ngăn cách khí vật, đây hẳn là kế của vua Trường Sa, muốn dựa vào Trung Hoa đánh diệt Nam Việt để thôn tính làm vua, tự lập công vậy. Thế là Đà bèn tự tôn hiệu là Nam Việt Vũ Đế, phát binh đánh các ấp biên giới Trường Sa, đánh bại mấy huyện rồi đi. Cao Hậu sai Tướng quân Long Lự Hầu Tào (灶) sang đánh. Gặp lúc nóng ẩm, sĩ tốt bị dịch bệnh lớn, quân không qua nổi núi Lĩnh. Hơn 1 năm, Cao Hậu băng (năm 180 TCN), liền bãi binh. Đà nhờ đó dùng binh uy hiếp biên giới, dùng tài vật hối lộ Mân Việt (閩越), Tây Âu (西甌), Lạc (駱), khiến họ lệ thuộc, đông tây hơn 10000 dặm. Bèn dùng xe mui vàng cắm cờ tả đuôi nheo, xưng chế, ngang hàng với Trung Hoa.
Đến năm Kiến Nguyên thứ 1 (năm 179 TCN) thời Hiếu Văn Đế (孝文帝), mới vỗ về thiên hạ, sai người báo cho chư hầu bốn phương di địch ý định lên ngôi từ đất Đại (代) đến, dụ bảo về đức lớn. Bèn vì Đà mà đặt mộ tổ ở Chân Định, đặt hộ giữ ấp, hàng năm cúng tế. Gọi anh em họ hàng của Đà, cho làm quan cao ban thưởng hậu hĩnh. Di chiếu cho Thừa tướng Trần Bình (陳平) cử người có thể sai đi Nam Việt, Bình nói người huyện Hảo Chỉ là Lục Giả thời Tiên đế đã quen đi sứ Nam Việt. Bèn triệu Giả làm Thái trung đại phu, sang sứ. Nhân đó trách Đà tự lập làm Đế, chưa từng có một sứ giả nào báo cáo.
Lục Giả đến Nam Việt, Vương rất sợ, viết thư tạ lỗi, xưng rằng: Lão phu thần Đà là đại trưởng lão vùng man di, ngày trước Cao Hậu ngăn cách Nam Việt, trộm nghi vua Trường Sa sàm nịnh, lại nghe xa rằng Cao Hậu giết sạch tông tộc của Đà, đào đốt mồ mả cha ông, vì thế tự vứt bỏ mình, phạm vào biên cảnh Trường Sa. Vả lại phương Nam thấp ẩm, giữa đám man di, phía đông có Mân Việt 1000 người cũng xưng vương, phía tây có nước trần truồng Âu Lạc (甌駱) cũng xưng vương. Lão thần mạo muội trộm hiệu Đế, để tự vui chốc lát, há dám để Thiên vương nghe thấy! Bèn dập đầu tạ lỗi, nguyện mãi làm phiên thần, dâng lễ cống. Thế là hạ lệnh trong nước rằng: Ta nghe hai hùng không cùng lập, hai hiền không cùng đời. Hoàng đế là Thiên tử hiền minh. Từ nay về sau, bỏ đế chế, xe mui vàng và cờ tả đuôi nheo. Lục Giả về báo, Hiếu Văn Đế rất mừng.
Đến thời Hiếu Cảnh (孝景), vẫn xưng thần, sai người triều cống. Nhưng Nam Việt khi ở trong nước vẫn trộm dùng hiệu cũ, khi đối với Thiên tử thì xưng vương và nhận mệnh như chư hầu. Đến năm Kiến Nguyên thứ 4 (năm 137 TCN) thì chết.
Cháu Đà là Hồ (胡) làm Nam Việt Vương. Lúc này vua Mân Việt là Dĩnh (郢) hưng binh đánh các ấp biên thùy Nam Việt, Hồ sai người dâng thư nói: Hai nước Việt đều là phiên thần, không được tự ý dấy binh đánh nhau. Nay Mân Việt hưng binh xâm lấn thần, thần không dám hưng binh, chỉ đợi chiếu chỉ của Thiên tử. Thế là Thiên tử khen Nam Việt có nghĩa, giữ chức trách, vì đó hưng sư, sai 2 tướng quân đi đánh Mân Việt. Quân chưa qua núi Lĩnh, em vua Mân Việt là Dư Thiện (餘善) giết Dĩnh để hàng, thế là bãi binh.
Thiên tử sai Trang Trợ (莊助) sang dụ ý cho Nam Việt Vương, Hồ dập đầu nói: Thiên tử vì thần dấy binh đánh Mân Việt, chết cũng không lấy gì báo đức được! Sai Thái tử Anh Tề (嬰齊) vào làm túc vệ. Bảo Trợ rằng: Nước mới bị giặc, sứ giả đi thôi. Hồ đang ngày đêm sắm sửa để vào kiến diện Thiên tử. Trợ đi rồi, các đại thần can Hồ rằng: Hán dấy binh giết Dĩnh, cũng là hành động để làm kinh động Nam Việt. Vả lại Tiên vương ngày trước nói, thờ Thiên tử cốt không thất lễ, tóm lại không thể nghe lời đường mật mà vào kiến diện. Vào kiến diện thì không được trở về, đó là thế mất nước. Thế là Hồ cáo bệnh, rốt cuộc không vào kiến diện. Sau hơn 10 năm, Hồ thực sự bệnh nặng, Thái tử Anh Tề xin về. Hồ mất (năm 122 TCN), thụy là Văn Vương (文王).
Anh Tề (嬰齊) thay ngôi, liền cất giấu ngọc tỷ của tiền nhân là Vũ Đế. Thời Anh Tề vào làm túc vệ tại Trường An (長安), cưới người con gái họ Cù (樛) ở Hàm Đan (邯鄲), sinh con là Hưng (興). Đến khi lên ngôi, dâng thư xin lập Cù thị làm Hậu, Hưng làm người nối dõi. Nhà Hán nhiều lần sai sứ giả đến ngầm bảo Anh Tề vào chầu, Anh Tề vẫn ưa thói quen tay giết chóc tự ý, sợ vào kiến diện phải dùng pháp luật nhà Hán, bị đối xử như chư hầu nội địa, nên kiên quyết cáo bệnh, cuối cùng không vào kiến diện. Sai con là Thứ Công (次公) vào làm túc vệ. Anh Tề mất (năm 113 TCN), thụy là Minh Vương (明王).
Thái tử Hưng thay ngôi, mẹ là Thái hậu. Thái hậu từ lúc chưa làm thiếp của Anh Tề, từng thông dâm với người ở Bá Lăng (霸陵) là An Quốc Thiếu Quý (安國少季). Đến sau khi Anh Tề mất, năm Nguyên Đỉnh (元鼎) thứ 4 (năm 113 TCN), nhà Hán sai An Quốc Thiếu Quý sang dụ Vương và Vương thái hậu vào triều, đối xử như chư hầu nội địa; lệnh cho biện sĩ Gián đại phu Chung Quân (終軍) tuyên lời dụ, dũng sĩ Ngụy Thần (魏臣) hỗ trợ, Vệ úy Lộ Bác Đức (路博德) đem quân đóng ở Quế Dương (桂陽) để đợi sứ giả. Vương còn trẻ, Thái hậu là người Trung Hoa, từng thông dâm với An Quốc Thiếu Quý, nay sứ giả đến lại tư thông lần nữa. Người trong nước đều biết rõ, nhiều người không theo Thái hậu. Thái hậu sợ loạn nổi lên, cũng muốn dựa vào uy thế nhà Hán, nhiều lần khuyên Vương và quần thần xin nội thuộc. Liền nhân sứ giả mà dâng thư, xin đối xử như chư hầu nội địa, 3 năm vào chầu 1 lần, bỏ các cửa ải biên giới. Thế là Thiên tử hứa cho, ban cho Thừa tướng Lữ Gia (呂嘉) ấn bạc, cùng ấn Nội sử, Trung úy, Thái phó, còn lại được tự đặt quan chức. Bãi bỏ các hình phạt cũ như khắc chữ vào mặt hay xẻo mũi, dùng pháp luật nhà Hán, như chư hầu nội địa. Sứ giả đều ở lại để vỗ về. Vương và Vương thái hậu chỉnh đốn hành trang, mang nhiều của cải để chuẩn bị vào triều.
Tướng quốc Lữ Gia tuổi đã cao, làm quan qua 3 đời vua, tông tộc làm quan lớn đến hơn 70 người, con trai đều lấy con gái Vương, con gái đều gả cho con trai, anh em và tông thất của Vương, lại có liên kết với Thương Ngô Tần Vương (蒼梧秦王). Gia ở trong nước rất có uy trọng, người Việt tin tưởng, nhiều người làm tai mắt, được lòng dân hơn cả Vương. Khi Vương dâng thư, Gia nhiều lần can ngăn, Vương không nghe. Gia có lòng phản nghịch, nhiều lần cáo bệnh không gặp sứ giả nhà Hán. Các sứ giả đều chú ý đến Gia, nhưng thế chưa thể giết nổi. Vương và Vương thái hậu cũng sợ bọn Gia ra tay trước, bèn đặt tiệc rượu, mượn uy của sứ giả nhà Hán để mưu giết bọn Gia. Sứ giả đều ngồi hướng đông, Thái hậu hướng nam, Vương hướng bắc, Tướng quốc Gia và các đại thần đều hướng tây, hầu rượu. Em Gia làm tướng, cầm quân đóng ở ngoài cung. Rượu uống vài tuần, Thái hậu bảo Gia rằng: Nam Việt nội thuộc là lợi cho nước, mà Tướng quân cho là bất tiện, tại sao vậy? Ý muốn khích nộ sứ giả. Sứ giả nghi ngờ cầm trượng, cuối cùng không dám ra tay. Gia thấy tai mắt không ổn, liền đứng dậy đi ra. Thái hậu giận, muốn dùng giáo đâm Gia, Vương ngăn lại. Gia bèn ra ngoài, chia quân của em mình về nơi ở, cáo bệnh, không chịu gặp Vương và sứ giả. Rồi ngầm cùng đại thần làm loạn. Vương vốn không có ý giết Gia, Gia biết vậy, nên mấy tháng không phát động. Thái hậu có hành vi dâm loạn, người trong nước không theo, muốn một mình giết bọn Gia nhưng sức lại không đủ.
Thiên tử nghe tin Gia không nghe mệnh Vương, Vương và Vương thái hậu yếu thế cô độc không chế ngự được, sứ giả thì khiếp nhược không quyết đoán. Lại cho rằng Vương và Vương thái hậu đã theo Hán, chỉ mình Lữ Gia làm loạn, không đáng dấy đại binh, muốn sai Trang Tham (莊參) đem 2000 người sang sứ. Tham nói: Đi bằng giao hảo thì vài người là đủ; đi bằng vũ lực thì 2000 người không làm gì được. Tham từ chối, Thiên tử bãi chức Tham. Tráng sĩ đất Giáp là cựu Tướng quốc Tế Bắc Hàn Thiên Thu (韓千秋) hăng hái nói: Với nước Việt nhỏ bé, lại có Vương và Thái hậu ứng cứu, chỉ mình Lữ Gia làm hại, xin được 200 dũng sĩ, nhất định chém Gia để báo đáp. Thế là Thiên tử sai Thiên Thu cùng em Thái hậu là Cù Lạc (樛樂) đem 2000 người đi, vào đất Việt.
Bọn Lữ Gia bèn thực sự làm phản, hạ lệnh trong nước rằng: Vương còn nhỏ. Thái hậu là người Trung Hoa, lại cùng sứ giả dâm loạn, chuyên ý muốn nội thuộc, đem hết bảo vật của tiên vương vào dâng Thiên tử để lấy lòng, đưa nhiều người theo, đến Trường An sẽ bị bán làm nô tỳ. Đó là lấy cái lợi thoát thân nhất thời mà không màng xã tắc họ Triệu, không lo cho kế vạn thế. Bèn cùng em trai dẫn quân đánh giết Vương, Thái hậu và các sứ giả nhà Hán. Sai người báo cho Thương Ngô Tần Vương cùng các quận huyện, lập con trưởng của Minh Vương là Kiến Đức (建德) – người có vợ là con gái của Thuật Dương Hầu – lên làm vương. Lúc đó quân Hàn Thiên Thu vào, phá được vài ấp nhỏ. Sau đó người Việt trực tiếp mở đường cung cấp lương thực, khi chưa đến Phiên Ngung 40 dặm, người Việt dùng binh đánh bọn Thiên Thu, diệt sạch. Sai người lấy tráp đựng phù tiết của sứ giả nhà Hán đặt ở cửa ải, dùng lời lẽ lừa dối tạ tội, nhưng lại phát binh giữ nơi yếu hại. Thế là Thiên tử nói: Hàn Thiên Thu tuy không thành công nhưng cũng là bậc hàng đầu của quân phong. Phong cho con là Diên Niên làm Thành An Hầu. Cù Lạc có chị làm Vương thái hậu, đi đầu nguyện theo Hán, phong cho con là Quảng Đức làm Long Kháng Hầu. Bèn hạ chiếu xá tội rằng: Thiên tử suy vi, chư hầu dùng sức cai trị, chê thần tử không đánh kẻ tặc. Nay Lữ Gia, Kiến Đức làm phản, tự lập ngang nhiên, lệnh cho tội nhân và 10 vạn quân lâu thuyền từ Giang Hoài đổ xuống phía nam đi đánh.
Mùa thu năm Nguyên Đỉnh thứ 5 (năm 112 TCN), Vệ úy Lộ Bác Đức làm Phục Ba tướng quân, xuất phát từ Quế Dương, xuống sông Hối; Chủ tước đô úy Dương Phục (楊仆) làm Lâu Thuyền tướng quân, xuất phát từ Dự Chương (豫章), xuống Hoành Phố; hai viên Quy Nghĩa Việt hầu làm Qua Thuyền và Hạ Lệ tướng quân, xuất phát từ Linh Lăng (零陵), kẻ xuống sông Ly, người tới Thương Ngô; sai Trì Nghĩa hầu đem tội nhân Ba Thục, huy động binh Dạ Lang (夜郎), xuống sông Tường Kha: thảy đều hội quân tại Phiên Ngung.
Mùa đông năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), Lâu Thuyền tướng quân dẫn tinh binh đánh chiếm Tầm Hiệp trước, phá Thạch Môn (石門), thu được thuyền lương của Việt, nhân đó đẩy tới trước, bẻ gãy quân tiên phong của Việt, đem mấy vạn người đợi Phục Ba. Phục Ba tướng quân dẫn tội nhân, đường xa, lỡ hẹn sau, khi gặp Lâu Thuyền thì chỉ có hơn 1000 người, bèn cùng tiến. Lâu Thuyền đi trước, đến Phiên Ngung. Kiến Đức, Gia đều giữ thành. Lâu Thuyền tự chọn chỗ thuận lợi, đóng quân phía đông nam; Phục Ba đóng phía tây bắc. Gặp lúc tối, Lâu Thuyền đánh bại người Việt, phóng lửa đốt thành. Người Việt vốn nghe danh Phục Ba, trời tối, không biết quân nhiều ít thế nào. Phục Ba bèn lập doanh trại, sai sứ giả chiêu hàng, ban ấn, lại thả cho họ về chiêu dụ nhau. Lâu Thuyền ra sức đánh đốt quân địch, địch lại chạy cả vào trong doanh trại Phục Ba. Đến mờ sáng, trong thành đều hàng Phục Ba. Lữ Gia, Kiến Đức đã trong đêm cùng thuộc hạ mấy trăm người trốn ra biển, dùng thuyền đi về phía tây. Phục Ba nhân hỏi những người quý tộc đã hàng để biết Lữ Gia đi đâu, sai người đuổi theo. Cựu Hiệu úy Tư mã Tô Hoằng (蘇弘) bắt được Kiến Đức, phong làm Hải Thường Hầu; Lang quan người Việt là Đô Kê (都稽) bắt được Gia, phong làm Lâm Thái Hầu.
Vua Thương Ngô là Triệu Quang (趙光) vốn cùng họ với vua Việt, nghe quân Hán đến, cùng Lệnh huyện Yết Dương (揭陽) là Định (定) tự ý quy thuộc nhà Hán; Giám quân Quế Lâm của Việt là Cư Ông (居翁) dụ bảo Âu Lạc quy thuộc nhà Hán: đều được phong hầu. Quân của Qua Thuyền, Hạ Lệ tướng quân và binh Dạ Lang do Trì Nghĩa hầu huy động chưa xuống tới nơi thì Nam Việt đã bình định xong. Bèn chia làm 9 quận. Phục Ba tướng quân được tăng thêm đất phong. Lâu Thuyền tướng quân nhờ đánh phá cửa hiểm mà được phong làm Tương Lương Hầu.
Từ khi quan úy Đà bắt đầu làm vương, trải qua 5 đời, 93 năm thì nước mất.
Thái Sử Công nói: Việc làm vương của quan úy Đà vốn do Nhậm Ngao. Gặp lúc nhà Hán mới định, được liệt vào hàng chư hầu. Quân Long Lự gặp nóng ẩm dịch bệnh, Đà nhờ đó càng thêm kiêu ngạo. Âu Lạc đánh nhau, Nam Việt dao động. Quân Hán đến biên cảnh, Anh Tề vào triều. Việc mất nước sau đó khởi đầu từ Cù nữ; Lữ Gia trung thành nhỏ mọn, khiến cho Đà không có người sau. Lâu Thuyền theo ý riêng, trễ nải kiêu ngạo mà lầm lạc; Phục Ba gặp khốn cùng, trí lự càng nảy nở, nhờ họa mà thành phúc. Sự chuyển đổi thành bại ví như sợi dây thừng bện lại.
Tán của Sách Ẩn (索隱述贊): Hươu chạy Trung Nguyên, quần hùng không chế ngự được. Việc nhà Hán hướng về phía tây, quyền nhà Việt ở cõi nam. Lục Giả thuyết phục, quan úy Đà bỏ hiệu Đế. Cù Hậu hướng về nội triều, Lữ Gia hung bạo. Quân thần không hòa thuận, cuối cùng đều bị diệt vong.
Chú thích
- ▲ 尉 Úy: là một chức quan thời Tần, cai quản quận nhỏ. Quan cai quản quận lớn gọi là Thú.
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.