Biên dịch:Sử ký tam gia chú/Quyển 113
Nam Việt Vương (南越王)
- Chính nghĩa: Đóng đô ở huyện Nam Hải (南海) thuộc Quảng Châu (廣州).
Úy Đà (尉佗) là người Chân Định (真定), họ Triệu (趙).
- Sách ẩn: Vệ Chiêu (韋昭) nói: Tên quận cũ, sau đổi thành huyện, thuộc Thường Sơn (常山).
- Sách ẩn (về tên gọi): Úy (尉) là chức quan; Đà (佗) là tên; họ Triệu. Đà đọc là "Đồ Hà". Sách "Thập Tam Châu Ký" chép: "Quận lớn gọi là Thủ, quận nhỏ gọi là Úy".
Thời Tần (秦) đã thôn tính thiên hạ, đánh chiếm Dương Việt (楊越).
- Tập giải: Trương Án (張晏) nói: Là vùng Nam Việt thuộc Dương Châu (揚州).
- Sách ẩn: Án theo "Chiến Quốc Sách" nói Ngô Khởi (吳起) vì nước Sở mà chiếm lấy Dương Việt.
- Chính nghĩa: Chín châu của Hạ Vũ vốn thuộc Dương Châu nên gọi là Dương Việt.
Lập các quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng Quận (象郡), đưa dân bị đày đến ở lẫn với người Việt suốt 13 năm.
- Sách ẩn (về Quế Lâm): Theo "Địa Lý Chí", Vũ Đế đổi tên thành Uất Lâm (鬱林).
- Sách ẩn (về Tượng Quận): Theo "Bản Kỷ", năm 214 TCN (Tần Thủy Hoàng năm 33) chiếm đất Lục Lương, lập Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận. "Địa Lý Chí" nói: "Vũ Đế đổi tên thành Nhật Nam (日南)".
- Tập giải: Từ Quảng (徐廣) nói: Tần thôn tính thiên hạ đến năm 209 TCN (Nhị Thế năm thứ 1) là 13 năm. Nhưng từ lúc bình định đất Việt (năm 214 TCN) đến năm 209 TCN thì chỉ mới 6 năm.
Đà, thời Tần được dùng làm Lệnh huyện Long Xuyên (龍川) thuộc Nam Hải.
- Sách ẩn: Tên huyện thuộc Nam Hải.
- Chính nghĩa: Nhan Sư Cổ (顏師古) nói: Long Xuyên là huyện thuộc Nam Hải, nay là Tuần Châu (循州). "Quảng Châu Ký" của họ Bùi chép: "Vốn là hương phía đông huyện Bác La, có rồng xuyên đất mà lên, nơi đó chảy ra suối, nên lấy làm tên".
Đến thời Nhị Thế năm 209 TCN, quan Úy quận Nam Hải là Nhâm Ngao (任囂) ốm nặng sắp chết, triệu Lệnh huyện Long Xuyên là Triệu Đà đến bảo: "Nghe tin bọn Trần Thắng (陳勝) làm loạn, nhà Tần vô đạo, thiên hạ khổ sở, bọn Hạng Vũ (項羽), Lưu Ký (劉季), Trần Thắng, Ngô Quảng (吳廣) cùng dấy binh tụ tập ở các châu quận, tranh giành thiên hạ như hổ, Trung Hoa loạn lạc, chưa biết yên định ra sao, các hào kiệt phản Tần tự lập. Nam Hải hẻo lánh, ta sợ quân trộm cướp đánh chiếm đến đây, muốn dấy binh cắt đứt con đường mới mở để tự phòng thủ, chờ biến động của chư hầu, nhưng bệnh đã nặng. Vả lại Phiên Ngung (番禺) dựa núi hiểm, có Nam Hải ngăn trở, đông tây rộng mấy nghìn dặm, khá nhiều người Trung Hoa phò tá, đây cũng là chủ một châu, có thể lập quốc. Trong quận các quan lại không ai đáng để bàn bạc, nên triệu ông đến bảo."
- Tập giải: Từ Quảng nói: Lúc bấy giờ chưa gọi là Đô úy.
- Sách ẩn (về Tân Đạo/Đường mới): Tô Lâm (蘇林) nói: Là con đường nhà Tần thông sang đất Việt.
Ngao liền trao thư cho Đà, để Đà hành chức quan Úy Nam Hải.
- Tập giải: Vệ Chiêu nói: Trao cho bức thư. Chữ "Bị" (被) đọc âm như trong "Quang Bị".
- Sách ẩn: Phục Kiền (服虔) nói: Ngao giả làm chiếu thư, khiến Đà làm Úy Nam Hải.
Ngao chết, Đà liền gửi hịch báo các cửa ải Hoành Phố (橫浦), Dương Sơn (陽山), Hoàng Khê (湟谿) rằng: "Quân cướp sắp đến, gấp cắt đứt đường xá, tụ binh tự giữ!"
- Sách ẩn (Hoành Phố): "Nam Khang Ký" chép: "Huyện Nam Dã đến đèo Đại Dự 30 dặm tới Hoành Phố, có cửa ải thời Tần, dưới đó gọi là Tắc Thượng".
- Sách ẩn (Dương Sơn): Theo "Địa Lý Chí", Yết Dương có huyện Dương Sơn. Nay phía thượng lưu huyện này hơn 100 dặm có đèo Kỵ Điền, chính là cửa ải Dương Sơn.
- Tập giải (Hoàng Khê): Từ Quảng nói: Ở Quế Dương, thông đến Tứ Hội.
- Sách ẩn (Hoàng Khê): Các bản của họ Trâu, họ Lưu đều chép là "Niết" (涅). "Hán Thư" chép là "Hoàng" (湟). Diêu Sát nói "Sử Ký" chép "Niết", nay chép "Hoàng" là do người đời sau nghe sao sửa vậy. "Thủy Kinh" nói huyện Hàm Hối có quan Hối Phố, chưa biết cái nào đúng. Nhưng họ Trâu chép "Niết", "Hán Thư" chép "Hoàng" là gần với cổ thư nhất.
Nhân đó dần dùng luật pháp giết các quan lại do nhà Tần bổ nhiệm, thay bằng vây cánh của mình làm quan giữ quyền.
- Sách ẩn: Tức là Đà lập thân tín của mình giữ chức vụ ở quận huyện hoặc làm quan tạm quyền.
Nhà Tần đã bị diệt, Đà liền đánh chiếm cả Quế Lâm và Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương (南越武王).
- Tập giải: Vệ Chiêu nói: Lúc sống tự lấy hiệu là "Vũ", không theo lệ cổ (thường đặt thụy sau khi chết).
Hán Cao Đế (漢高帝) sau khi định được thiên hạ, vì Trung Hoa đã mệt nhọc nên tha cho Đà không đánh. Năm 196 TCN (Hán năm thứ 11), sai Lục Giả (陸賈) nhân đó phong Đà làm Nam Việt Vương, trao phù tiết thông sứ giả, hòa hợp Bách Việt (百越), không để làm mối lo cho biên giới phía nam, tiếp giáp địa giới Trường Sa (長沙).
Thời Cao Hậu (高后 - năm 187 TCN - 180 TCN), hữu ty xin cấm Nam Việt mua sắt ở các cửa ải. Đà nói: "Cao Đế lập ta, thông sứ giả và vật dụng, nay Cao Hậu nghe lời sàm thần, phân biệt đối xử với man di, ngăn tuyệt khí cụ, đây hẳn là kế của Trường Sa Vương (長沙王), muốn dựa vào Trung Hoa để đánh diệt Nam Việt mà kiêm tính làm vương, tự lập công vậy."
Thế là Đà bèn tự tôn hiệu là Nam Việt Vũ Đế (南越武帝), phát binh đánh các ấp biên thùy của Trường Sa, đánh bại mấy huyện rồi rút đi. Cao Hậu sai Tướng quân Long Lự Hầu Táo (隆慮侯竈) sang đánh.
- Sách ẩn: Vệ Chiêu nói: Họ Chu (周). Long Lự là tên huyện, thuộc Hà Nội (河內).
Gặp lúc nóng ẩm, sĩ tốt bị dịch bệnh lớn, quân không thể vượt qua núi (Lĩnh).
- Sách ẩn: Án theo đây là dãy Dương Sơn Lĩnh (陽山嶺).
Hơn một năm sau, Cao Hậu băng (năm 180 TCN), liền bãi binh. Đà nhờ đó dùng binh uy hiếp vùng biên, dùng tài vật lễ vật hối lộ Mân Việt (閩越), Tây Âu (西甌), Lạc (駱), khiến họ phụ thuộc vào mình.
- Tập giải: "Hán Thư Âm Nghĩa" nói: Là Lạc Việt (駱越).
- Sách ẩn: Họ Trâu nói "lại có Lạc Việt". Diêu Sát án theo "Quảng Châu Ký" chép: "Giao Chỉ có ruộng Lạc, nhìn thủy triều lên xuống, dân ăn lộc từ ruộng đó nên gọi là 'người Lạc'. Có Lạc Vương, Lạc Hầu. Các huyện tự gọi là 'Lạc Tướng', dùng ấn đồng dải xanh, tức là chức Lệnh, Trưởng ngày nay vậy. Sau có con vua Thục (蜀王子) đem binh đánh Lạc Hầu, tự xưng là An Dương Vương (安陽王), trị vì ở huyện Phong Khê (封溪). Sau đó Nam Việt Vương Úy Đà đánh phá An Dương Vương, lệnh cho hai sứ giả điển chủ người hai quận Giao Chỉ (交阯) và Cửu Chân (九真)". Xét thấy chữ Lạc này chính là Âu Lạc (甌駱).
Đất đai rộng đông tây hơn 10.000 dặm. Bèn ngồi xe mui vàng, cắm cờ tả đạo, xưng chế, ngang hàng với Trung Hoa.
Đến năm thứ 1 đời Hiếu Văn Đế (孝文帝 - năm 179 TCN), ban đầu trấn phủ thiên hạ, sai người báo cho chư hầu bốn phương di biết ý định lên ngôi từ đất Đại (代) của mình, dụ về đức lớn lao. Lại vì Đà mà tu sửa mộ cha mẹ ở Chân Định (真定), đặt hộ giữ ấp, hàng năm cúng tế. Triệu các anh em họ hàng của Đà, phong quan cao, ban thưởng hậu hĩnh để sủng ái. Hạ chiếu cho Thừa tướng Trần Bình (陳平) cử người có thể đi sứ Nam Việt, Bình nói có Lục Giả (陸賈) ở Hạo Chỉ, thời Tiên đế đã quen đi sứ Nam Việt. Bèn triệu Giả làm Thái trung đại phu, sang đi sứ. Nhân đó trách Đà tự lập làm Đế, mà không có lấy một sứ giả đến báo.
Lục Giả đến Nam Việt, Vương rất sợ, viết thư tạ lỗi rằng: "Lão phu là đại trưởng lão man di, tôi tớ là Đà. Trước đây Cao Hậu ngăn cách Nam Việt, trộm nghi Trường Sa Vương có sàm thần, lại nghe từ xa rằng Cao Hậu giết sạch tông tộc của Đà, đào đốt mộ tổ tiên, vì thế tự vứt bỏ mình, phạm vào biên cảnh Trường Sa. Vả lại phương nam thấp ẩm, giữa đám man di, phía đông có Mân Việt với 1.000 dân cũng xưng Vương, phía tây có nước trần truồng Âu Lạc (甌駱)
- Sách ẩn: Nước trần truồng (khỏa quốc). Chữ Khỏa (躶) nghĩa là lộ hình.
Cũng xưng vương. Lão thần mạo muội trộm hiệu Đế, chỉ để tự vui, há dám để Thiên vương nghe thấy sao!" Bèn dập đầu tạ lỗi, nguyện mãi làm phiên thần, dâng lễ vật. Thế là hạ lệnh trong nước rằng: "Ta nghe hai hùng không cùng đứng, hai hiền không cùng đời. Hoàng đế là bậc thiên tử hiền minh. Từ nay về sau, bỏ đế chế, xe mui vàng và cờ tả đạo." Lục Giả về báo, Hiếu Văn Đế rất vui. Đến thời Hiếu Cảnh (孝景), Đà vẫn xưng thần, sai người triều cống. Nhưng ở trong nước Nam Việt, Đà vẫn trộm dùng danh hiệu như cũ, khi tiếp sứ giả Thiên tử thì xưng Vương và tuân mệnh như chư hầu. Năm 137 TCN (Kiến Nguyên năm thứ 4) thì mất.
Cháu của Đà là Hồ (胡) làm Nam Việt Vương.
- Tập giải: Từ Quảng nói: Hoàng Phủ Mật bảo Việt Vương Triệu Đà mất năm Kiến Nguyên thứ 4, bấy giờ nhà Hán hưng thịnh được 70 năm, Đà có lẽ đã 100 tuổi.
Lúc này Mân Việt Vương là Dĩnh (郢) dấy binh đánh các ấp biên thùy Nam Việt, Hồ sai người dâng thư nói: "Hai nước Việt cùng là phiên thần, không được tự ý dấy binh đánh nhau. Nay Mân Việt dấy binh xâm phạm thần, thần không dám dấy binh, chỉ đợi chiếu chỉ của Thiên tử." Thế là Thiên tử khen Nam Việt có nghĩa, giữ chức trách ước hẹn, bèn vì đó dấy binh, sai hai tướng quân đi đánh Mân Việt.
- Sách ẩn: Là Vương Khôi (王恢) và Hàn An Quốc (韓安國).
Binh chưa vượt núi, em trai Mân Việt Vương là Dư Thiện (餘善) giết Dĩnh để hàng, thế là bãi binh.
Thiên tử sai Trang Trợ (莊助) sang dụ ý Nam Việt Vương. Hồ dập đầu nói: "Thiên tử vì thần mà dấy binh đánh Mân Việt, thác cũng không lấy gì báo đáp được ơn đức!" Bèn cử Thái tử Anh Tề (嬰齊) vào làm Túc vệ. Hồ bảo Trợ rằng: "Nước mới bị giặc đánh, mời sứ giả đi trước. Hồ đang ngày đêm chuẩn bị hành trang để vào kiến diện Thiên tử." Sau khi Trợ đi, các đại thần can Hồ rằng: "Nhà Hán dấy binh giết Dĩnh, cũng là hành động để làm kinh động Nam Việt. Vả lại tiên vương xưa từng dặn: thờ Thiên tử cốt ở chỗ không thất lễ, tóm lại không thể nghe lời đường mật mà vào kiến diện.
- Sách ẩn: Chữ "Duyệt" (悅 - vui/thích) trong "Duyệt hảo ngữ", "Hán Thư" chép là "Xuất" (怵 - lo sợ/dụ dỗ). Vệ Chiêu nói là "dụ dỗ bằng lời đường mật".
Vào kiến diện thì không được trở về nữa, đó là cái thế mất nước vậy." Thế là Hồ cáo bệnh, rốt cuộc không vào kiến diện. Hơn 10 năm sau, Hồ thực sự ốm nặng, Thái tử Anh Tề xin về nước. Hồ mất (năm 125 TCN), thụy hiệu là Văn Vương (文王).
Anh Tề lên ngôi thay thế, liền cất giấu bảo ấn của tiền nhân là Vũ Đế.
- Sách ẩn: Lý Kỳ (李奇) nói: "Bỏ danh hiệu tiếm hiệu".
Khi Anh Tề vào làm Túc vệ ở Trường An, đã cưới người con gái họ Cù (樛氏) ở Hàm Đan.
- Sách ẩn: Họ Cù. Chữ Cù đọc là "Kỷ Cầu". Họ Cù xuất phát từ Hàm Đan.
Sinh con tên là Hưng (興).
- Tập giải: Từ Quảng nói: "Có bản chép là Điển (典)".
Đến khi lên ngôi, dâng thư xin lập người con gái họ Cù làm Hậu, Hưng làm người nối dõi. Nhà Hán nhiều lần sai sứ giả ám chỉ dụ bảo Anh Tề vào chầu, nhưng Anh Tề vẫn thích tự ý giết chóc cho thỏa lòng, sợ vào kiến diện sẽ phải dùng luật pháp nhà Hán, bị đối xử như chư hầu nội địa, nên kiên quyết cáo bệnh, rốt cuộc không vào chầu. Ông sai con là Thứ Công (次公) vào làm Túc vệ. Anh Tề mất (năm 113 TCN), thụy hiệu là Minh Vương (明王).
Thái tử Hưng lên ngôi thay thế, mẹ là Thái hậu. Thái hậu từ lúc chưa làm thiếp của Anh Tề, từng thông dâm với người ở Bá Lăng là An Quốc Thiếu Quý (安國少季).
- Sách ẩn: An Quốc là họ; Thiếu Quý là tên.
Đến sau khi Anh Tề mất, năm 113 TCN (Nguyên Đỉnh năm thứ 4), nhà Hán sai An Quốc Thiếu Quý sang dụ Vương và Vương thái hậu vào chầu, để được đối xử như chư hầu nội địa; lệnh cho biện sĩ là Gián nghị đại phu Chung Quân (終軍) tuyên đọc lời dụ, dũng sĩ Ngụy Thần (魏臣) phò trợ chỗ thiếu sót.
- Tập giải: Từ Quảng nói: "Có bản chép là Quyết (決)".
Vệ úy Lộ Bác Đức (路博德) đem binh đóng ở Quế Dương để đợi sứ giả. Vương còn nhỏ tuổi, Thái hậu là người Trung Hoa, từng thông dâm với An Quốc Thiếu Quý, nay sứ giả sang lại tư thông với nhau. Người trong nước khá nhiều người biết chuyện, đa số không phục Thái hậu. Thái hậu sợ loạn nổi lên, cũng muốn dựa vào uy thế nhà Hán, nhiều lần khuyên Vương và quần thần xin nội thuộc. Liền nhân sứ giả dâng thư, xin được như chư hầu nội địa, 3 năm vào chầu 1 lần, bỏ các cửa ải biên giới. Thế là Thiên tử hứa cho, ban cho Thừa tướng Lã Gia (呂嘉) ấn bạc, cùng các ấn Nội sử, Trung úy, Thái phó, còn lại được tự đặt. Bãi bỏ các hình phạt cũ như xăm mặt, cắt mũi, dùng luật pháp nhà Hán, như chư hầu nội địa. Sứ giả đều ở lại để trấn phủ. Vương và Vương thái hậu sửa soạn hành trang cùng nhiều của cải để chuẩn bị vào chầu.
Tể tướng Lã Gia tuổi đã cao, làm tướng qua 3 đời vua, tông tộc làm quan lớn đến hơn 70 người, con trai đều lấy con gái vua, con gái đều gả cho vương tử, anh em tông thất, và có liên kết với Thương Ngô Tần Vương.
- Tập giải: "Hán Thư Âm Nghĩa" nói: "Thương Ngô Việt Trung Vương tự đặt tên là Tần Vương, 'liên' là kết thân cưới hỏi vậy."
- Sách ẩn: Thương Ngô Việt Trung Vương tự xưng Tần Vương, tức là Triệu Quang (趙光) ở phần dưới, nên nói là "có liên". Liên nghĩa là thông gia. Họ Triệu cùng họ với nhà Tần (do tổ tiên ở quận Triệu thuộc nước Tần xưa), nên xưng là Tần Vương.
Lã Gia ở trong nước thế lực rất trọng, người Việt tin cẩn, nhiều người làm tai mắt cho lão, chiếm được lòng dân hơn cả vua. Khi vua dâng thư, Gia nhiều lần can ngăn nhưng vua không nghe. Gia có lòng phản nghịch, nhiều lần cáo bệnh không tiếp sứ giả nhà Hán. Các sứ giả đều dồn sự chú ý vào Gia, nhưng thế chưa thể giết nổi. Vương và Vương thái hậu cũng sợ bọn Gia ra tay trước, bèn đặt tiệc rượu, dựa vào uy quyền của sứ giả nhà Hán.
- Tập giải: Vệ Chiêu nói: "Cậy sứ giả làm giáp trụ che chở."
- Sách ẩn: Vệ Chiêu nói "Cậy sứ giả làm giáp trụ", sách "Chí Lâm" nói "Giới (介) nghĩa là nhân (因 - nhân dịp), muốn nhân quyền thế sứ giả để giết Lã Gia", cả hai thuyết đều thông. Ngu Hỷ cho rằng "Giới" là người dẫn dắt giữa khách và chủ.
Mưu tính giết bọn Gia. Trong tiệc, sứ giả đều ngồi hướng đông, Thái hậu hướng nam, Vương hướng bắc, Tể tướng Gia và các đại thần đều ngồi hướng tây, ngồi hầu rượu. Em trai Gia là tướng, cầm quân đóng ngoài cung. Khi rượu đang chuốc, Thái hậu bảo Gia rằng: "Nam Việt nội thuộc là cái lợi cho nước, mà tướng quân lại khổ sở cho là không tiện, tại sao vậy?" Ý muốn kích nộ sứ giả. Sứ giả còn hồ nghi, lăm lăm cầm gậy (trượng), rốt cuộc không dám ra tay. Gia thấy tai mắt có biến, liền đứng dậy đi ra. Thái hậu giận, muốn dùng giáo đâm Gia.
- Tập giải: Vệ Chiêu nói: "Xung (鏦) là đâm/đâm va."
- Sách ẩn: Chữ "Xung" đọc là "Thất Hung".
Vua ngăn Thái hậu lại. Gia bèn ra ngoài, chia quân của em trai về chỗ ở.
- Sách ẩn: Nghĩa là lấy bớt quân về chỗ mình. "Hán Thư" chép là "Giới" (介), nghĩa là cậy nhờ, dựa vào.
Cáo bệnh, không chịu gặp Vua và sứ giả. Rồi ngầm cùng các đại thần mưu loạn. Vua vốn không có ý giết Gia, Gia biết vậy nên qua mấy tháng vẫn không phát động. Thái hậu có hành vi dâm loạn, quốc nhân không theo, muốn một mình giết bọn Gia nhưng sức lại không đủ.
Thiên tử nghe tin Gia không nghe lời Vương, Vương và Vương thái hậu yếu thế cô độc không chế ngự được, sứ giả thì nhát gan không quyết đoán. Lại cho rằng Vương và Vương thái hậu đã phụ thuộc nhà Hán, chỉ có Lã Gia làm loạn, không đáng để dấy binh lớn, bèn muốn sai Trang Tham (莊參) đem 2.000 người sang đi sứ. Tham nói: "Nếu đi với ý đồ tốt, vài người là đủ; nếu đi bằng vũ lực, 2.000 người không bõ bèn gì." Tham từ chối không đi, Thiên tử bèn bãi chức Tham.
Tráng sĩ đất Giáp (郟) nguyên là Tướng quốc nước Tế Bắc tên là Hàn Thiên Thu (韓千秋) hăng hái nói: "Với một nước Việt nhỏ bé, lại có Vương và Thái hậu hưởng ứng, chỉ một mình Tướng quốc Lã Gia làm hại, tôi xin được 200 dũng sĩ, quyết chém Gia để báo đáp."
- Tập giải: Từ Quảng nói: Huyện thuộc Dĩnh Xuyên (潁川).
- Sách ẩn: Như Thuần nói: Huyện Giáp thuộc Dĩnh Châu (潁州).
- Chính nghĩa: Nay là huyện Giáp Thành (郟城) thuộc Nhữ Châu (汝州).
Thế là Thiên tử sai Thiên Thu làm Hiệu úy cùng với em trai Vương thái hậu là Cù Nhạc (樛樂) dẫn 2.000 người tiến vào đất Việt. Lã Gia và bọn thuộc hạ bèn chính thức làm phản, hạ lệnh trong nước rằng: "Vua còn nhỏ. Thái hậu là người Trung Hoa, lại cùng sứ giả dâm loạn, chuyên quyền muốn nội thuộc, đem hết bảo vật của tiên vương dâng cho Thiên tử để lấy lòng, bắt nhiều người đi theo đến Trường An để bán làm nô tỳ. Họ chỉ lo cái lợi thoát thân nhất thời mà không màng đến xã tắc họ Triệu, không lo kế vạn thế."
Gia bèn cùng em trai dẫn quân đánh giết Vương, Thái hậu và các sứ giả nhà Hán. Sai người báo cho Thương Ngô Tần Vương (蒼梧秦王) cùng các quận huyện, lập con trưởng của Minh Vương (Anh Tề) là Thuật Dương Hầu Kiến Đức (建德) làm Vương.
- Tập giải: Năm 113 TCN (Nguyên Đỉnh thứ 4), lấy anh trai Nam Việt Vương là Việt phong làm Cao Xương Hầu.
- Sách ẩn: Vệ Chiêu nói là do nhà Hán phong. Theo "Công thần biểu", Thuật Dương thuộc Hạ Bì (下邳).
Lúc bấy giờ quân của Hàn Thiên Thu tiến vào, đánh phá được vài ấp nhỏ. Sau đó người Việt giả vờ mở đường cấp lương thực, khi cách Phiên Ngung (番禺) 40 dặm, quân Việt đánh úp bọn Thiên Thu, tiêu diệt sạch. Gia sai người bỏ phù tiết của sứ giả nhà Hán vào hòm, niêm phong để ở biên giới (Sắc Thượng), dùng lời lẽ dối trá để tạ tội, đồng thời phát binh giữ các nơi hiểm yếu.
- Sách ẩn: Theo "Nam Khang Ký", "Sắc Thượng" là tên gọi vùng Đại Dự (大庾).
Thiên tử nói: "Hàn Thiên Thu tuy không thành công nhưng cũng là người dẫn đầu mũi nhọn quân đội." Bèn phong con ông là Diên Niên làm Thành An Hầu. Cù Nhạc có chị là Vương thái hậu, vốn muốn thuộc về nhà Hán, phong con là Quảng Đức làm Long Kháng Hầu.
Bèn xuống chiếu xá tội rằng: "Thiên tử suy vi, chư hầu dùng sức mạnh để trị quốc, chê trách thần tử không đi đánh kẻ tặc loạn. Nay Lã Gia, Kiến Đức phản nghịch, tự lập bình thản, lệnh cho tội nhân cùng 10 vạn quân Lâu thuyền từ vùng Giang Hoài trở về nam đi đánh."
- Tập giải (về Lâu thuyền): Ứng Thiệu nói: "Lúc ấy muốn đánh Việt, không có đường thủy thì không đến được, nên đóng thuyền lớn. Trên thuyền dựng lầu nên gọi là 'Lâu thuyền'."
Mùa thu năm 112 TCN (Nguyên Đỉnh năm thứ 5), Vệ úy Lộ Bác Đức (路博德) làm Phục Ba Tướng quân, xuất quân từ Quế Dương, xuống dòng sông Hối.
- Tập giải: Có bản chép là sông "Hoàng". "Địa lý chí" nói Quế Dương có sông Hối thông đến Tứ Hội.
- Sách ẩn: Lưu thị nói "Hối" đáng lẽ là "Hoàng" (湟). "Hán thư" chép là "xuống sông Hoàng".
Chủ tước Đô úy Dương Phục (楊僕) làm Lâu Thuyền Tướng quân, xuất quân từ Dự Chương, xuống Hoành Phố. Hai vị Việt Hầu đã quy nghĩa trước đó làm Qua Thuyền và Hạ Lệ Tướng quân.
- Tập giải (về Qua thuyền): Trương Án nói: "Người Việt ở dưới nước vác thuyền, lại có họa giao long, nên đặt cây qua (giáo) dưới thuyền, vì thế lấy làm tên." Ứng Thiệu nói: "Lệ (瀨) là dòng nước chảy ngược lên trên." Phục Kiền nói: "Sách của Ngũ Tử Tư có nhắc đến Qua thuyền để chở can qua."
Xuất quân từ Linh Lăng, hoặc xuống dòng Ly Thủy, hoặc thẳng đến Thương Ngô.
- Tập giải: Ly Thủy ở Linh Lăng, thông đến Quảng Tín.
- Chính nghĩa: "Địa lý chí" nói huyện Linh Lăng có sông Ly, chảy về đông đến Quảng Tín vào Uất Lâm, dài 980 dặm.
Sai Trì Nghĩa Hầu (馳義侯) dẫn theo những tội nhân vùng Ba Thục, phát binh Dạ Lang (夜郎), xuống sông Tường Kha (牂柯江), tất cả hội quân tại Phiên Ngung.
- Chính nghĩa: Dạ Lang nằm ở phía nam Khúc Châu, Hiệp Châu. Sông Tường Kha chảy ra ngoài cõi nam, phía đông thông đến Tứ Hội, đến Phiên Ngung thì đổ ra biển.
Mùa đông năm 111 TCN (Nguyên Đỉnh 六年), Lâu Thuyền Tướng quân (樓船將軍) dẫn tinh binh đánh chiếm Tầm Thiểm (尋陝) trước.
- Sách ẩn: Diêu thị nói: Tầm Thiểm ở phía tây Thủy Hưng (始興) 300 dặm, gần Liên Khẩu (連口).
Phá Thạch Môn (石門), thu được thuyền và lương thực của quân Việt, nhân đó đẩy quân về phía trước, làm nhụt chí khí quân Việt, đem vài vạn người đợi Phục Ba Tướng quân (伏波將軍).
- Sách ẩn: Án theo "Quảng Châu Ký*: "Thạch Môn ở phía bắc huyện Phiên Ngung (番禺) 30 dặm. Xưa Lã Gia (呂嘉) chống nhà Hán, chất đá chặn sông, nên gọi là Thạch Môn. Lại tục truyền nước ở Thạch Môn tên là 'Tham Tuyền' (suối Tham), uống vào khiến người ta biến đổi tính nết. Cho nên Ngô Ẩn Chi (吳隱之) đến Thạch Môn, múc nước uống rồi làm bài ca về việc đó".
Phục Ba Tướng quân dẫn những tội nhân, đường xa, gặp lúc quá hạn, khi hội quân với Lâu Thuyền thì chỉ có hơn 1.000 người, bèn cùng tiến quân. Lâu Thuyền đi trước, đến Phiên Ngung. Kiến Đức (建德) và Lã Gia đều giữ thành cố thủ. Lâu Thuyền tự chọn chỗ thuận lợi, đóng ở mặt đông nam; Phục Ba đóng ở mặt tây bắc. Gặp lúc trời tối, Lâu Thuyền đánh bại người Việt, phóng lửa đốt thành. Người Việt vốn nghe danh Phục Ba, lúc chiều tối không biết quân của ông nhiều hay ít. Phục Ba bèn dựng doanh trại, sai sứ giả chiêu hàng những kẻ đến quy thuận, ban cho ấn tín, rồi lại thả cho họ đi chiêu hàng lẫn nhau. Lâu Thuyền dốc sức đánh đốt quân địch, quân địch lại bị đuổi mà chạy ngược vào trong doanh trại của Phục Ba.
Đến lúc tảng sáng (Lê đán), trong thành đều đầu hàng Phục Ba.
- Tập giải: Từ Quảng (徐廣) nói: Lã Tĩnh (呂靜) nói "Lê" là kết, đọc là Lực Hề phản. Kết nghĩa là liên tiếp, đợi đến lúc. "Hán Thư" chép "Lê đán" là "Trì đán", nghĩa là đợi sáng.
- Sách ẩn: Trâu thị nói "Lê" cũng có bản chép là "Tỉ" (比). Lê tức là nghĩa của chữ Tỉ (đến lúc). Lại giải thích Lê là đen, tức là lúc trời chưa sáng hẳn còn mờ tối. "Hán Thư" cũng chép là "Trì minh". Trì nghĩa là đợi, cũng là nghĩa của chữ Lê.
Lã Gia và Kiến Đức ngay trong đêm đã cùng bộ hạ hơn vài trăm người trốn ra biển, dùng thuyền đi về phía tây. Phục Ba lại nhân đó hỏi những quý nhân đã đầu hàng để biết nơi Lã Gia đến, sai người đuổi theo. Cựu hiệu úy tư mã là Tô Hoằng (蘇弘) bắt được Kiến Đức, phong làm Hải Thường Hầu (海常侯).
- Tập giải: Từ Quảng nói: Ở Đông Lai (東萊).
Lang quan Nam Việt (Việt lang) là Đô Kê (都稽) bắt được Lã Gia, phong làm Lâm Thái Hầu (臨蔡侯).
- Tập giải: Từ Quảng nói: Đô Kê là chức Lang quan của Nam Việt.
- Sách ẩn: Án theo biểu, Lâm Thái thuộc Hà Nội (河內).
Vua Thương Ngô là Triệu Quang (趙光), là người cùng họ với vua Việt, nghe tin quân Hán đến, cùng với Lệnh huyện Yết Dương là Định (定) tự mình hàng Hán.
- Tập giải: Vệ Chiêu nói: Chữ Yết (揭) đọc là Kỳ Thệ phản.
- Sách ẩn: "Địa Lý Chí" nói huyện Yết Dương thuộc Nam Hải (南海). Định là tên của viên Huyện lệnh.
Giám quận Quế Lâm là Cư Ông (居翁) dụ người Âu Lạc (甌駱) hàng Hán.
- Tập giải: "Hán Thư Âm Nghĩa" nói: Viên Giám trong quận Quế Lâm, họ Cư tên Ông.
- Sách ẩn: Án theo "Hán Thư", hơn 30 vạn dân Âu Lạc đã hàng Hán.
Tất cả đều được phong Hầu.
- Sách ẩn: "Hán Thư" chép Triệu Quang phong làm Tùy Đào Hầu (隨桃侯), Sử Định làm An Đạo Hầu (安道侯), tướng Việt Tất Thủ làm Liêu Hầu (膫侯), Cư Ông làm Tương Thành Hầu (湘城侯).
Quân của các tướng Qua Thuyền, Hạ Lệ và quân Dạ Lang (夜郎) do Trì Nghĩa Hầu điều động chưa xuống tới nơi thì Nam Việt đã bình định xong. Bèn chia làm 9 quận (九郡).
- Tập giải: Từ Quảng nói 9 quận gồm: Đạm Nhĩ (儋耳), Châu Nhai (珠崖), Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Cửu Chân (九真), Uất Lâm (鬱林), Nhật Nam (日南), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交阯).
Phục Ba Tướng quân được tăng phong thêm đất. Lâu Thuyền Tướng quân nhờ công đánh chiếm thành kiên cố được phong làm Tướng Lương Hầu. Kể từ khi Úy Đà bắt đầu xưng vương, truyền được 5 đời, trải 93 năm thì nước mất.
Thái Sử Công nói: Úy Đà xưng vương, vốn do Nhâm Ngao (任囂). Gặp lúc nhà Hán mới định, được liệt vào hàng chư hầu. Long Lự Hầu gặp khí ẩm dịch bệnh, Đà nhờ đó càng thêm kiêu ngạo. Âu Lạc đánh nhau, Nam Việt lung lay. Quân Hán đến sát biên cảnh, Anh Tề (嬰齊) vào chầu. Việc mất nước sau này, mầm mống từ họ Cù (樛女); Lã Gia giữ cái trung nhỏ mọn, khiến Đà không có người nối dõi. Lâu Thuyền theo tư dục, trễ nải kiêu ngạo mà lầm lạc; Phục Ba gặp khốn cùng, trí lự càng nảy nở, nhờ họa mà thành phúc. Sự chuyển đổi giữa thành và bại, ví như sợi dây mực bện vào nhau vậy.
Sách Ẩn thuật tán: Trung nguyên hươu chạy (tranh hùng), quần hùng khó chế ngự. Nhà Hán xua quân sang tây, Việt nắm quyền cõi nam. Lục Giả đem lời thuyết phục, Úy Đà bỏ hiệu Đế. Cù Hậu hướng về nội triều, Lã Gia tính tình hung lệ. Quân thần không hòa hợp, rốt cuộc bị diệt vong.
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.