Bước tới nội dung

Biên dịch:Tâm Minh

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tâm Minh  (Nhà Đường
của Pháp Dung, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Tâm Minh (Tiếng Trung Quốc: 心銘; tiếng Việt: Tâm Minh) còn được viết theo hệ thống chuyển ngữ Wade-Giles là Hsin ming, là một văn bản Phật giáo Thiền tông được cho là của Ngưu Đầu Pháp Dung (牛頭法融; 594–657), người được tông phái Ngưu Đầu coi là tổ sáng lập. Tâm Minh có thể được tìm thấy trong chương ba mươi của Cảnh Đức truyền đăng lục. Không nên nhầm lẫn văn bản này với Tín Tâm Minh nổi tiếng, cũng được tìm thấy trong chương ba mươi của Cảnh Đức truyền đăng lục, vốn là một văn bản có liên quan nhưng riêng biệt. — Trích dẫn từ Tâm Minh của Wikipedia, bách khoa toàn thư mở.

Nguyên văn chữ Hán

[sửa]

(Tâm)(tánh)(bất)(sinh)()(tu)(tri)(kiến)(Bản)()(nhất)(pháp)(thùy)(luận)(huân)(luyện)(Vãng)(phản)()(đoan)(truy)(tầm)(bất)(kiến)(nhất)(thiết)(mạc)(tác)(minh)(tịch)(tự)(hiện)(Tiền)(tế)(như)(không)(tri)(xứ)()(tông)(phân)(minh)(chiếu)(kính)(tùy)(chiếu)(minh)(mông)(Nhất)(tâm)(hữu)(trệ)(chư)(pháp)(bất)(thông)(khứ)(lai)(tự)(nhĩ)(hồ)(giả)(thôi)(cùng)(Sinh)()(sinh)(tướng)(sinh)(chiếu)(nhất)(đồng)(dục)(đắc)(tâm)(tịnh)()(tâm)(dụng)(công)(Tung)(hoành)()(chiếu)(tối)(vi)(vi)(diệu)(tri)(pháp)()(tri)()(tri)(tri)(yếu)(Tương)(tâm)(thủ)(tĩnh)(do)(vị)(ly)(bệnh)(sinh)(tử)(vong)(hoài)(tức)(thị)(bản)(tánh)(Chí)()()(thuyên)(phi)(giải)(phi)(triền)(linh)(thông)(ứng)(vật)(thường)(tại)(mục)(tiền)(Mục)(tiền)()(vật)()(vật)(uyển)(nhiên)(bất)(lao)(trí)(giám)(thể)(tự)()(nguyên)(Niệm)(khởi)(niệm)(diệt)(tiền)(hậu)()(biệt)(hậu)(niệm)(bất)(sinh)(tiền)(niệm)(tự)(diệt)(Tam)(thế)()(vật)()(tâm)()(Phật)(chúng)(sinh)()(tâm)(y)()(tâm)(xuất)(Phân)(biệt)(phàm)(thánh)(phiền)(não)(chuyển)(thịnh)(kế)(giảo)(quai)(thường)(cầu)(chân)(bội)(chính)(Song)(mẫn)(đối)(trị)(trạm)(nhiên)(minh)(tịnh)(bất)(tu)(công)(xảo)(thủ)(anh)(nhi)(hạnh)(Tinh)(tinh)(liễu)(tri)(kiến)(võng)(chuyển)()(tịch)(tịch)()(kiến)(ám)(thất)(bất)(di)(Tinh)(tinh)()(vọng)(tịch)(tịch)(minh)(lượng)(vạn)(vật)(thường)(chân)(sâm)(la)(nhất)(tướng)(Khứ)(lai)(tọa)(lập)(nhất)(thiết)(mạc)(chấp)(quyết)(định)()(phương)(thùy)(vi)(xuất)(nhập)()(hợp)()(tán)(bất)(trì)(bất)(tật)(minh)(tịch)(tự)(nhiên)(bất)(khả)(ngôn)(cập)(Tâm)()(dị)(tâm)(bất)(đoạn)(tham)(dâm)(Tánh)(không)(tự)(ly)(nhậm)(vận)(phù)(trầm)(phi)(thanh)(phi)(trọc)(phi)(thiển)(phi)(thâm)(Bản)(lai)(phi)(cổ)(hiện)(tại)(phi)(kim)(hiện)(tại)()(vãng)(hiện)(tại)(bản)(tâm)(Bản)(lai)(bất)(tồn)(bản)(lai)(tức)(kim)(Bồ)(đề)(bản)(hữu)(bất)(tu)(dụng)(thủ)(phiền)(não)(bản)()(bất)(tu)(dụng)(trừ)(linh)(tri)(tự)(chiếu)(vạn)(pháp)(quy)(như)()(quy)()(thụ)(tuyệt)(quán)(vong)(thủ)(tứ)(đức)(bất)(sinh)(tam)(thân)(bản)(hữu)(Lục)(căn)(đối)(cảnh)(phân)(biệt)(phi)(thức)(nhất)(tâm)()(vọng)(vạn)(duyên)調(điều)(trực)(Tâm)(tánh)(bản)(tề)(đồng)()(bất)(huề)()(sinh)(thuận)(vật)(tùy)(xứ)(u)(thê)(Giác)(do)(bất)(giác)(tức)(giác)()(giác)(đắc)(thất)(lưỡng)(biên)(thùy)(luận)(hảo)(ác)(nhất)(thiết)(hữu)(vi)(bản)()(tạo)(tác)(tri)(tâm)(bất)(tâm)()(bệnh)()(dược)()(thời)(xả)(sự)(ngộ)(bãi)(phi)(dị)(bản)()(khả)(thủ)(kim)()(dụng)(khí)(Vị)(hữu)(ma)(hưng)(ngôn)(không)(tượng)(bị)(mạc)(diệt)(phàm)(tình)(duy)(giáo)(tức)(ý)(Ý)()(tâm)(diệt)(tâm)()(hạnh)(tuyệt)(bất)(dụng)(chứng)(không)(tự)(nhiên)(minh)(triệt)(Diệt)(tận)(sinh)(tử)(minh)(tâm)(nhập)()(khai)(mục)(kiến)(tướng)(tâm)(tùy)(cảnh)(khởi)(Tâm)(xứ)()(cảnh)(cảnh)(xứ)()(tâm)(tương)(tâm)(diệt)(cảnh)(bỉ)(thử)(do)(xâm)(Tâm)(tịch)(cảnh)(như)(bất)(khiển)(bất)(câu)(cảnh)(tùy)(tâm)(diệt)(tâm)(tùy)(cảnh)()(Lưỡng)(xứ)(bất)(sinh)(tịch)(tĩnh)()(minh)(Bồ)(đề)(ảnh)(hiện)(tâm)(thủy)(thường)(thanh)(Đức)(tánh)(như)(ngu)(bất)(lập)(thân)()(sủng)(nhục)(bất)(biến)(bất)(trạch)(sở)()(Chư)(duyên)(đốn)(tức)(nhất)(thiết)(bất)(ức)(vĩnh)(nhật)(như)(dạ)(vĩnh)(dạ)(như)(nhật)(Ngoại)(tự)(ngoan)(ngân)(nội)(tâm)()(chân)(đối)(cảnh)(bất)(động)(hữu)(lực)(đại)(nhân)()(nhân)()(kiến)()(kiến)(thường)(hiện)(thông)(đạt)(nhất)(thiết)(vị)(thường)(bất)(biến)()(duy)(chuyển)(hôn)(cốt)(loạn)(tinh)(hồn)(tương)(tâm)(chỉ)(động)(chuyển)(chỉ)(chuyển)(bôn)(Vạn)(pháp)()(sở)(duy)(hữu)(nhất)(môn)(bất)(nhập)(bất)(xuất)(phi)(tĩnh)(phi)(huyên)(Thanh)(văn)(Duyên)(giác)(trí)(bất)(năng)(luận)(Thật)()(nhất)(vật)(diệu)(trí)(độc)(tồn)(Bản)(tế)()(xung)(phi)(tâm)(sở)(cùng)(chính)(giác)()(giác)(chân)(không)(bất)(không)(Tam)(thế)(chư)(Phật)(giai)(thừa)(thử)(tông)(thử)(tông)(hào)(mạt)(sa)(giới)(hàm)(dung)(Nhất)(thiết)(mạc)(cố)(an)(tâm)()(xứ)()(xứ)(an)(tâm)(xứ)(minh)(tự)(lộ)(Tịch)(tĩnh)(bất)(sinh)(phóng)(khoáng)(tung)(hoành)(sở)(tác)()(trệ)(khứ)(trụ)(giai)(bình)(Tuệ)(nhật)(tịch)(tịch)(định)(quang)(minh)(minh)(chiếu)()(tướng)(uyển)(lãng)(Niết)(bàn)(thành)(Chư)(duyên)(vong)(tất)(thuyên)(thần)(định)(chất)(bất)(khởi)(pháp)(tọa)(an)(miên)()(thất)(Lạc)(đạo)(điềm)(nhiên)(ưu)(du)(chân)(thật)()(vi)()(đắc)(y)()(tự)(xuất)(Tứ)(đẳng)(lục)(độ)(đồng)(nhất)(thừa)(lộ)(tâm)(nhược)(bất)(sinh)(pháp)()(sai)(hỗ)(Tri)(sinh)()(sinh)(hiện)(tiền)(thường)(trụ)(trí)(giả)(phương)(tri)(phi)(ngôn)(thuyên)(ngộ)

Dịch nghĩa

[sửa]

Tâm tánh chẳng sinh, cần gì tri kiến?
Vốn không một pháp, ai luận huân luyện?
Đi về không mối, tìm mãi chẳng thấy,
Muôn việc chớ làm, sáng lặng tự hiện.

Mé trước như không, chỗ biết lầm tông,
Rõ ràng gương chiếu, theo soi mịt mùng.
Một tâm còn ngại, muôn pháp chẳng thông,
Đi về vốn gần, cần gì cùng tận?

Sinh không tướng sinh, sinh chiếu một đồng,
Muốn tâm thanh tịnh, vô tâm dụng công.
Dọc ngang không chiếu, nhiệm mầu bậc nhất,
Biết pháp không biết, không biết là tông.

Đem tâm giữ lặng, bệnh kia chưa dứt,
Quên cả tử sinh, ấy tánh xưa nay.
Chí lý không lời, chẳng mở chẳng buộc,
Linh thông ứng vật, thường ở trước đây.

Trước mắt không vật, không vật rõ ràng,
Chẳng nhọc trí xét, thể vốn hư nguyên.
Niệm khởi niệm diệt, trước sau không khác,
Niệm sau chẳng sinh, niệm trước tự yên.

Ba đời không vật, không tâm không Phật,
Chúng sinh không tâm, từ vô tâm ra.
Phân biệt phàm thánh, phiền não càng thịnh,
So đo trái đạo, cầu chân lìa xa.

Đôi bên đều dứt, trong lặng sáng ngời,
Chẳng cần khéo léo, giữ hạnh trẻ thơ.
Tỉnh tỉnh biết rõ, lưới thấy càng buộc,
Lặng lặng không thấy, tối chẳng dời chỗ.

Tỉnh mà không vọng, lặng mà sáng trong,
Muôn vật thường thật, sum la một tướng.
Đi về ngồi đứng, thảy chớ chấp trước,
Quyết chẳng phương hướng, ai vào ai ra?

Không hợp không tán, chẳng chậm chẳng mau,
Sáng lặng tự nhiên, lời nào đến được.
Tâm không tâm khác, chẳng dứt tham dâm,
Tánh không tự lìa, nổi chìm mặc vận.

Chẳng sạch chẳng đục, chẳng cạn chẳng sâu,
Xưa nay chẳng cũ, hiện tại chẳng nay.
Hiện tại không đến, hiện tại bản tâm,
Xưa nay chẳng còn, xưa nay là đây.

Bồ-đề vốn có, chẳng cần gì giữ,
Phiền não vốn không, chẳng cần gì trừ.
Linh tri tự chiếu, muôn pháp về Như,
Không về không nhận, dứt quán quên giữ.

Bốn đức chẳng sinh, ba thân vốn đủ,
Sáu căn đối cảnh, phân biệt chẳng thức.
Một tâm không vọng, muôn duyên điều thuận,
Tâm tánh vốn đều, cùng ở chẳng mang.

Vô sinh thuận vật, theo chốn an cư,
Giác từ chẳng giác, giác chẳng có giác.
Được mất hai bên, ai bàn yêu ghét?
Hữu vi xưa vốn, chẳng hề tạo tác.

Biết tâm không tâm, không bệnh không thuốc,
Mê thì bỏ việc, ngộ chẳng khác gì.
Vốn không gì lấy, nay cần gì bỏ?
Nói có ma dấy, nói không tướng bày.

Chớ dứt tình phàm, chỉ nên lặng ý,
Ý không tâm diệt, tâm chẳng dứt hành.
Chẳng cần chứng không, tự nhiên sáng suốt,
Diệt hết sinh tử, thầm hợp vào chân.

Mở mắt thấy tướng, tâm theo cảnh khởi,
Nơi tâm không cảnh, nơi cảnh không tâm.
Đem tâm diệt cảnh, đôi bên xâm lấn,
Tâm lặng cảnh như, chẳng đuổi chẳng cầm.

Cảnh theo tâm diệt, tâm theo cảnh không,
Hai nơi chẳng sinh, lặng sáng rỗng rang.
Bóng Bồ-đề hiện, nước tâm thường sạch,
Đức tánh như ngu, chẳng lập thân sơ.

Được yêu bị nhục, vẫn không đổi khác,
Chẳng chọn nơi nào để ở an nhiên.
Các duyên dứt sạch, chẳng nhớ một điều,
Ngày dài như đêm, đêm dài như ngày.

Ngoài như ngu độn, trong rỗng mà chân,
Đối cảnh chẳng động, bậc đại lực nhân.
Không người không thấy, thấy không thường hiện,
Thông suốt tất cả, chưa từng chẳng khắp.

Suy nghĩ càng tối, rối loạn tinh thần,
Đem tâm dừng động, càng dừng càng chạy.
Muôn pháp không chỗ, chỉ có một môn,
Chẳng vào chẳng ra, chẳng lặng chẳng ồn.

Thanh văn Duyên giác, trí chẳng thể bàn,
Thật không một vật, diệu trí riêng còn.
Bờ gốc rỗng suốt, chẳng tâm nào tới,
Chánh giác vô giác, chân không chẳng không.

Ba đời chư Phật, đều nương tông ấy,
Tông này đầu lông, chứa trọn sa giới.
Muôn việc chớ đoái, an tâm không chỗ,
Không chỗ an tâm, sáng tự bày thôi.

Lặng lẽ chẳng sinh, thênh thang dọc ngang,
Việc làm không ngại, đi ở đều bằng.
Mặt trời trí lặng, ánh định rạng ngời,
Soi vườn vô tướng, sáng thành Niết-bàn.

Các duyên quên hết, thần yên tánh định,
Chẳng bày pháp tọa, ngủ giữa nhà không.
Vui đạo thản nhiên, dong chơi chân thật,
Vô vi vô đắc, từ vô mà ra.

Bốn đẳng sáu độ, cùng một đường xe,
Tâm nếu chẳng sinh, pháp không sai khác.
Biết sinh vô sinh, hiện tiền thường trụ,
Bậc trí mới hay, chẳng lời nào tỏ.


 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.