Bước tới nội dung

Biên dịch:Tân Nguyên sử/Quyển 251

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tân Nguyên sử  (1920)  của Kha Thiệu Mân, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Quyển 251 Liệt truyện 148 Ngoại quốc 3 An Nam 安南

An Nam 安南

[sửa]

An Nam, xưa gọi là Hiệu Chỉ (效趾), vốn là đất quận Nhật Nam (日南郡) thời Hán (漢). Năm Điều Lộ nguyên niên (調露元年, năm 679) đời Đường Cao Tông (唐高宗), đổi thành An Nam đô hộ phủ (安南都護府), thuộc Lĩnh Nam đạo (嶺南道), tên An Nam (安南) bắt đầu từ đây.

Vào thời Hậu Lương Trinh Minh (後梁貞明, khoảng năm 915–921), đất này bị thổ hào Khúc Thừa Mỹ (曲承美) chiếm giữ, Nam Hán (南漢) Lưu Ẩn (劉隱) đánh Thừa Mỹ bắt được, sáp nhập đất ấy. Sau đó bị tướng châu Ái (愛州) là Dương Diên Nghệ (楊延藝) chiếm giữ, châu tướng Ngô Xương Cập (吳昌岌) lại đoạt lấy, truyền cho em là Xương Văn (昌文). Năm Khai Bảo thứ 7 (開寶七年, năm 974) đời Tống (宋), sai sứ sang triều cống, bắt đầu phong làm Giao Chỉ quận vương (交趾郡王), từ đó bỏ làm ngoại vực. Sau bị tướng của mình là Lê Hoàn (黎桓) cướp ngôi, sau Lê Hoàn lại bị đại tướng Lý Công Uẩn (李公蕴) cướp ngôi. Sau thời Công Uẩn, (hậu duệ) là Lý Hạo Sảm 昊旵 (旵 = Nhật + Sơn 曰山)[1] không có con trai, lấy con gái Chiêu Thánh (昭盛) chủ quốc sự.

Năm Thiệu Nhất thứ 3 (紹一三年, năm 1226) đời Tống Lý Tông (宋理宗), Chiêu Thánh nhường ngôi cho chồng là Trần Nhật Cảnh (陳日煚)[2], họ Trần (陳氏) từ đó có nước. Năm Cảnh Định thứ 3 (景定三年, năm 1262) đời Tống Lý Tông, phong Nhật Cảnh làm Thái vương (太王), lấy con là Quang Cảo (光暠)[3] làm quốc vương (國王).

Năm Hiến Tông thứ 7 (憲宗七年, năm 1271), đại tướng Ô Lương Hợp Thai (兀良合台 Uriyangqatai, Ngột Lương Hợp Thai) sau khi bình xong Đại Lý (大理), chuyển quân tiến về Giao Chỉ (交趾), ba lần sai sứ dụ hàng, đều không trở về, bèn chia đường tiến công.

Quân đến sông Thao (洮江), Nhật Cảnh (日煚) sai quân cưỡi voi ra chống cự. Con của Ô Lương Hợp Thai là A Thuật (阿术 A Truật, Aju), lúc ấy 18 tuổi, dẫn đội thiện xạ bắn vào voi, voi hoảng loạn quay lại giẫm đạp quân mình, khiến đội quân tan vỡ lớn. Hôm sau, Nhật Cảnh chặt cầu Phù Lỗ (扶卤桥) bên kia sông rồi bày trận. Đại quân chưa rõ độ sâu nông của nước, bèn men theo sông bắn lên trời, thấy tên rơi xuống nước không nổi, biết là chỗ cạn, liền cho kỵ binh vượt qua. Nhật Cảnh thua chạy, bị chém tông tử là Phú Lương hầu (富良侯)[4].

Vào thành, bắt được ba sứ trước đó, đem ra khỏi ngục, thấy bị trói bằng tre chẻ xuyên vào da thịt, khi tháo trói thì một người đã chết, bèn giết sạch trong thành. Ở lại 9 ngày, vì nắng nóng nên rút quân, lại sai hai sứ đi chiêu dụ Nhật Cảnh quy thuận. Nhật Cảnh từ biển trở về, thấy kinh đô tan hoang, nổi giận lớn, bèn trói ba sứ gửi trả lại. Gặp lúc Nhật Cảnh truyền ngôi cho con là Quang Cảo (光暠), đổi niên hiệu là Thiệu Long (紹隆), sai con rể là Phương Đặc (方特) đến yết kiến.

Ô Hợp Thai (兀合台) đưa đến hành tại, lại sai Na Lạt Đinh (納剌丁) đến dụ rằng: “Trước ta sai sứ giao hảo, các ngươi bắt giữ không trả, nên mới có chiến sự năm ngoái. Nay các ngươi chủ trì nơi rừng núi, ta lại sai hai sứ chiêu an trở về nước, các ngươi lại trói trả sứ ta. Nay đặc biệt thêm một lần dụ rõ, nếu thật lòng quy phục thì quốc chủ phải đích thân đến. Nếu còn không hối cải, thì cứ báo rõ cho ta.”

Quang Cảo nhận thư, lập tức xin quy thuận, lại nói: “Đợi khi nhận được chiếu thư ban ân, sẽ sai con cháu làm con tin.”

Vào đầu niên hiệu Trung Thống đời Thế Tổ (Hốt Tất Liệt, 1260), sai Lễ bộ lang trung Mạnh Giáp (孟甲), viên ngoại lang Lý Văn Tuấn (李文俊) làm chính phó sứ, mang chiếu đến dụ rằng: “Tổ tiên ta lấy võ công dựng nghiệp, văn hóa chưa được tu sửa. Trẫm nối nghiệp lớn, đổi mới cải cách, lo việc thống nhất muôn phương. Nay nghe nước các ngươi có lòng hướng về đạo nghĩa, nhớ các khanh xưa từng thần phục triều trước, xa xôi tiến cống sản vật, nên ban chiếu dụ, bảo quan lại sĩ dân nước các ngươi rằng, mọi lễ phục, điển lễ, phong tục đều theo chế độ cũ của bản quốc, đã răn các tướng biên không được tự ý khởi binh, xâm phạm biên giới, làm loạn dân chúng. Mỗi người nên yên ổn trị nước như cũ.”

Quang Cảo (光暠) liền sai thông thị đại phu Trần Phụng Công (陈奉公) cùng đến triều dâng thư xin thần phục. Vua phong Quang Cảo làm An Nam quốc vương, ban ba tấm gấm Tây, sáu tấm gấm Kim Thục, lại trao hổ phù. Lại hạ chiếu rằng: “Khánh đã dâng lễ vật xin làm thần, thì từ năm Trung Thống thứ 4 (1263), cứ ba năm một lần tiến cống, có thể chọn nho sĩ, thầy thuốc và người giỏi âm dương bói toán, thợ các nghề, mỗi loại ba người, cùng với dầu tô hợp, hương thơm, vàng bạc, chu sa, trầm hương, sừng tê, đồi mồi, ngà, tơ, chén sứ trắng và các vật phẩm khác cùng đến.”

Lại sai Nạp Lạt Đinh (纳剌丁 ) giữ chức Đạt Lỗ Hoa Xích (达鲁花赤 Darughachi), đi lại nước ấy. Quang Cảo sai viên ngoại lang Dương An Dưỡng (杨安养) vào triều tạ ơn, vua ban đai ngọc, lụa là, thuốc men, yên cương các loại.

Năm Chí Nguyên thứ 2 (1265), ban lịch cho Quang Cảo (光暠) và ban chiếu đổi niên hiệu. Quang Cảo lại sai Dương An Dưỡng (杨安养) dâng biểu ba việc: một là định rõ các vật phẩm tiến cống, hai là xin miễn việc yêu cầu nho sĩ, thầy thuốc, thợ thủ công, ba là xin cho Nạp Lạt Đinh (纳剌丁) làm tiếp chức Đạt Lỗ Hoa Xích của bản quốc. Vua chấp thuận.

Năm thứ 4 (1267), lại hạ chiếu dụ sáu việc rằng:

“Phàm các nước thân thuộc, vua chúa đến triều, con cái vào làm con tin, kê số dân, xuất quân phục dịch, nộp thuế, đều đặt Đạt Lỗ Hoa Xích cai quản. Các việc ấy biểu hiện lòng quy phục, thật là chân thành. Nay các ngươi đến tiến cống không quá ba năm một lần, lòng thành đã rõ, nên báo cho biết pháp tổ tông ta, cũng lấy thành ý mà dụ. Vả lại vua chúa đến triều, con cháu làm con tin, kê dân, định thuế, xuất quân giúp đỡ, xưa nay đều có, đâu phải chế định mới của ngày nay. Các ngươi nêu việc xuất quân, không cần lo việc đi xa đóng đồn. Nhưng người đến là Dương An Dưỡng nói có nạn Chiêm Lạp và Sơn Liêu. Hai giặc ấy nếu hàng phục được thì còn việc gì nữa? Đạo giao chiến, lấy dễ làm trọng! Nếu không tuân lệnh, tất phải chinh phạt. Huống chi các ngươi tâu rằng từng có lời của một người trong nhà. Nay nghe Nạp Lạt Đinh ở đó bị nhiều cấm đoán của người Hồi Cốt, không cho giao tiếp. Nếu thật như lời, lễ của một nhà sao lại như thế? Đạo vua tôi thực như cha con, há có chuyện bề tôi mà phản lại vua cha? Nên suy nghĩ kỹ để giữ trọn đạo lý từ đầu đến cuối.”

Năm thứ 5 (1268), lấy Hốt Lung Hải Nha (忽笼海牙) thay Nạp Lạt Đinh (纳剌丁) làm Đạt Lỗ Hoa Xích, Trương Đình Trân (张庭珍) làm phó. Quang Cảo (光暠) đứng nhận chiếu, Đình Trân trách về đại nghĩa, bắt phải quỳ lạy, rồi nói: “Ngươi là quan triều, ta là vương, sao lại ngang lễ với ta?” Đình Trân đáp: “Người của vương tuy thấp, nhưng xếp trên chư hầu, huống chi thiên tử sai ta làm trưởng của An Nam, địa vị ở trên ngươi!” Quang Cảo không đáp được.

Trung Thư Tỉnh lại gửi công văn trách Quang Cảo, nói việc nhận chiếu không quỳ, đối đãi sứ giả không theo lễ của vương nhân, dẫn nghĩa trong sách Xuân Thu để trách. Quang Cảo hồi thư rằng: “Bản quốc kính phụng thiên triều, đã được phong vương, há chẳng phải là vương nhân sao? Sứ giả thiên triều lại nói: vương nhân ngang lễ, e làm nhục triều đình. Huống chi bản quốc trước đã nhận chiếu dụ, đều theo tục cũ, phàm nhận chiếu lệnh, đều đặt ở chính điện rồi lui vào phòng khác, đó là điển cũ của bản quốc, mong các hạ xét rõ.”

Trung Thư Tỉnh lại gửi công văn nghiêm trách rằng: “Xét trong Xuân Thu, xếp vương nhân trên chư hầu, Thích Lệ nói: vương nhân vốn là hạ sĩ. Năm bậc quý tộc, quý thần bên ngoài là cao, hạ sĩ là thấp trong nội thần. Lấy người thấp mà đặt trên người cao, chính là vì trọng mệnh vua. Về sau các vương được phong tước, là chư hầu quý nhất, há lại có chuyện lấy tước vương mà làm người sao? Vương chẳng lẽ không biết mà nói vậy, hay là lời lẽ của thần có sai chăng? Đến như chiếu của thiên tử, thần nhân phải quỳ nhận, đó là nghĩa lý xưa nay. Nay theo tục cũ, đặt chiếu ở chính điện rồi lui vào phòng khác, vương há có thể yên lòng sao? Chiếu trước nói rằng: thiên hạ không dưới vạn nước, mỗi nước có tục riêng, nếu bắt đổi ngay thì bất tiện, nên cho theo tục cũ, há lại vì không quỳ nhận chiếu mà gọi là theo tục sao? Vả lại lệnh của vương thi hành trong nước, nếu thần tử nhận mà không quỳ, thì vương nghĩ sao?”

Năm ấy, Quang Cảo sai Phạm Nhai (范崖), Chu Lãm Nhân (周览人) tiến cống.

Năm thứ 7 (1270), lấy Diệp Thức Niết (叶式捏) làm Đạt Lỗ Hoa Xích ở An Nam. Quang Cảo (光暠) sai Lê Đà (黎佗), Đinh Củng Viên (丁拱垣) dâng biểu tiến cống, nói rằng:

“Thần hèn mọn ở nơi góc biển, được thấm nhuần thánh hóa và ơn dưỡng dục, vui mừng nhảy múa. Cúi xin nhớ đến thần từ khi quy phục triều đình, tuy theo lệ ba năm một lần tiến cống, nhưng sứ thần đi lại vất vả, không ngày nào được nghỉ. Đến như các Đạt Lỗ Hoa Xích do thiên triều sai đến, hạ cố đến cõi thần, thường có hành vi áp chế, khinh rẻ nước nhỏ. Tuy thiên tử sáng suốt như mặt trời mặt trăng, nhưng sao có thể soi đến nơi úp bát? Vả lại, Đạt Lỗ Hoa Xích có thể đặt ở nơi man di nhỏ bé, còn thần đã được phong làm phiên trấn một phương, mà lại đặt Đạt Lỗ Hoa Xích để giám sát, há chẳng bị các nước khác chê cười sao? Lại mong thánh ân thương xót, phàm các quan do thiên triều sai đến, xin đổi làm Dẫn Tiến Sứ, để tránh sự quấy nhiễu của Đạt Lỗ Hoa Xích.”

Năm thứ 12 (1275), vua lại hạ chiếu rằng: “Theo định chế của triều đình, phàm các nước nội phụ, vua chúa đến triều, con cháu làm con tin, kê hộ khẩu, nộp thuế hàng năm, điều dân giúp binh, đều đặt Đạt Lỗ Hoa Xích cai quản. Sáu việc này, năm trước đã dụ khanh rồi. Quy phục đã hơn 15 năm, chưa từng thân đến triều kiến, các việc ấy vẫn chưa thực hiện. Tuy nói ba năm một lần tiến cống, nhưng vật phẩm tiến cống đều không có ích dụng. Nghĩ rằng khanh lâu ngày tất sẽ tự hiểu, nên không hỏi đến, sao đến nay vẫn chưa tỉnh ngộ? Vì thế lại sai Hợp Tát Nhi Hải Nha (合撒儿海牙) đến nước khanh, dụ khanh vào triều. Nếu có lý do khác mà không thể đến, thì có thể sai con cháu vào triều thay. Ngoài ra, hộ khẩu bản quốc nếu chưa có sổ sách rõ ràng, thì việc nộp thuế, điều binh lấy gì làm căn cứ? Nếu dân thực sự ít, mà lấy nhiều, thì sức sẽ không kham nổi. Nay kê hộ khẩu của khanh, là để biết số nhiều ít, mà định chế độ binh lí và thuế khóa. Việc điều binh cũng không sai đi xa, chỉ cùng quân trú ở Vân Nam phối hợp mà thôi.”

Quang Cảo sai Lê Khắc Phục (黎克复), Lê Văn Túy (黎文粹) dâng biểu tạ tội. Năm thứ 8 (1271), sai Phùng Trang (冯庄), Nguyễn Nguyên (阮元) tiến cống. Năm thứ 9 (1272), lại sai Đồng Tử Dã (童子野), Đỗ Bổn (杜本) tiến cống. Năm thứ 11 (1274), sai Lê Khắc Phục, Lê Văn Túy tiến cống. Gặp lúc đại quân bình xong nhà Tống, Khắc Phục và Văn Túy từ Hồ Quảng trở về nước.

Năm thứ 14 (1277), Quang Cảo (光暠) mất[5], người trong nước lập thế tử là Nhật Huyên (日烜)[6]. Nhật Huyên sai Trung thị đại phu Chu Trọng Nhan (周仲颜), Trung đế đại phu Ngô Đức Thiệu (吴德邵) vào triều. Vua sai Thượng thư Sài Xuân (柴椿) cùng các quan mang chiếu thúc giục Nhật Huyên vào chầu.

Trước đó, đường thông sứ chỉ đi qua giữa Thiện Xuyên và Lê Hóa. Đến đây, vua lệnh cho Sài Xuân đi từ Giang Lăng thẳng đến Ung Châu để đến Giao Chỉ. Khi Xuân đến trại Vĩnh Bình ở Ung Châu, Nhật Huyên sai người dâng thư nói: “Gần đây nghe sứ triều đình đến cõi hèn, dân biên ai nấy kinh sợ, không biết là sứ giả nước nào.” Xuân hồi thư rằng: “Thượng thư Lễ bộ vâng mệnh vua, theo đường Ung Châu vào nước ngươi, có quân hộ tống, nên đến xa mà nghênh tiếp.”

Nhật Huyên sai Ngự sử trung tán kiêm tri Thẩm phán viện sự Đỗ Quốc Kế (杜国计) đến trước, Thái úy dẫn bá quan từ bờ sông Phú Lương ra đón. Nhật Huyên đến quán, tiếp sứ giả. Sau khi tuyên chiếu xong, Sài Xuân (柴椿) nói: “Nước ngươi nội phụ hơn 20 năm, cha ngươi nhận mệnh làm vương, ngươi không xin mệnh mà tự lập, nay lại không vào triều, sau này triều đình trách tội, ngươi lấy gì để biện bạch?” Nhật Huyên theo lệ cũ bày tiệc dưới hành lang, Xuân không dự. Về quán, Nhật Huyên sai Phạm Minh Vũ (范明宇) đến tạ tội, đổi tiệc sang điện Tập Hiền, tự nói: “Tiên quân mới mất, ta mới nối ngôi, thiên sứ đến khiến ta lo sợ. Nghe nói vua Tống còn nhỏ, thiên tử thương xót, còn phong tước công, với nước nhỏ ắt cũng có lòng thương. Nay lễ vào triều, ta sinh trưởng nơi thâm cung, không quen phong thổ, e chết dọc đường. Đợi thiên sứ về, ta sẽ dâng biểu tỏ lòng thành và tiến vật lạ.” Xuân nói: “Vua Tống chưa đến 10 tuổi, cũng sinh trưởng nơi thâm cung, sao vẫn đến kinh sư? Nhưng ngoài chiếu chỉ, ta không dám nghe mệnh. Ta đến là để triệu ngươi, không phải để lấy lễ vật.”

Sài Xuân (柴椿) về, Nhật Huyên sai Phạm Minh Vũ, Trịnh Quốc Toản (郑国瓒), Đỗ Quốc Kế dâng biểu bày tỏ: “Thần cô đơn yếu đuối, lại đường sá hiểm trở, chỉ uổng xác trắng, khiến bệ hạ thương xót, chẳng ích gì cho thiên triều. Cúi xin thương thần, cho được cùng kẻ góa bụa cô độc giữ lấy tính mạng, để trọn lòng thờ bệ hạ. Đó là điều may lớn của thần, là phúc lớn của sinh dân nước nhỏ.” Đồng thời tiến cống hai voi thuần.

Triều đình bàn rằng lời lẽ hoa mỹ mà kháng mệnh, kéo dài thời gian, nên tiến binh đến biên giới, sai quan hỏi tội. Vua không theo, lại sai Thượng thư Lương Tằng (梁曾) đến dụ Nhật Huyên vào triều, nếu thật không thể thân đến, thì nộp vàng thay thân, hai ngọc trai thay mắt, kèm theo nho sĩ, phương sĩ, thợ thủ công mỗi loại hai người thay cho dân. Nếu không, thì sửa thành trì để đợi thiên binh đến. Nhật Huyên sai thúc phụ là Trần Di Ái (陳遗爱) vào triều.

Năm thứ 18 (1281), lập An Nam Tuyên úy ty, lấy Bột Nhan Thiếp Mộc Nhi (卜颜帖木尔) làm sứ, riêng đặt các quan phụ tá. Nhật Huyên (日烜) từ chối không tiếp nhận. Vua hạ chiếu rằng:

“Trước kia khi An Nam quốc vương Trần Quang Cảo (陈光暠)[7] còn sống, từng lấy sáu điều theo lệ tổ tông thu phục các man để dụ, nhưng ông ta chưa từng thực hiện. Quang Cảo[8] đã mất, con ông lại không xin mệnh mà tự lập. Sai sứ đến lập, sai sứ triệu vào triều, lại lấy cớ không đến. Nay lại dùng lời lẽ để kháng mệnh, chỉ sai thúc phụ vào triều, đã muốn khởi binh chinh phạt. Nhưng vì các ngươi nội phụ, tiến cống đã nhiều năm, há lại bắt chước kẻ ngu mà làm hại sinh mạng dân chúng! Ngươi đã nói bệnh không thể vào triều, nay cho phép dùng thuốc dưỡng bệnh, nên lập thúc phụ Di Ái (遗爱) thay ngươi làm An Nam quốc vương, để cai trị dân chúng. Nếu có kẻ nào cùng dân chúng mưu đồ khác thường, đại quân tiến vào, giết hại sinh mạng, chớ có oán trách, thực là lỗi của ngươi và dân chúng vậy!”

Năm ấy, Nhật Huyên vẫn sai Nguyễn Đạo Học (阮道学) tiến cống. Bấy giờ phong Sài Xuân (柴椿) làm Hành An Nam Tuyên úy sứ giả Nguyên soái, Lý Chấn (李振) làm phó, đem theo một nghìn quân mới hộ tống Di Ái về nước. Nhật Huyên giết chết họ.

Năm thứ 21 (1284), Nhật Huyên (日烜) lại sai Trung đại phu Trần Khiêm Phủ (陈谦甫) tiến cống các vật: chén ngọc, bình vàng, dây ngọc trai, vòng vàng, cùng bạch viên, cưu xanh và các vật phẩm khác.

Ban đầu, Trấn Nam vương Thoát Hoan (脱欢) vâng mệnh đi đánh Chiêm Thành, sai Tả thừa hành tỉnh Kinh Hồ là Đường Ngột Thương (唐兀觞), Hữu thừa là Tô Đô (唆都) đem quân hội binh. Vua nghi ngờ An Nam thông tin với Chiêm Thành, lệnh cho quân đi qua nước này, đồng thời trách Nhật Huyên phải vận lương đến Chiêm Thành để giúp quân. Sai Đạt Lỗ Hoa Xích ở Ngạc Châu là Triệu Chước Tuy (赵翥隹) đến dụ.

Khi quân triều đình đến huyện Hành Sơn, nghe tin Hưng Đạo vương Trần Tuấn (陈峻), anh họ Nhật Huyên, đem quân giữ biên giới, tâu rằng từ bản quốc đến Chiêm Thành đường thủy đều không tiện, xin dâng lương rồi lui quân. Đến Vĩnh Châu, ra văn lệnh Nhật Huyên mở đường nghênh tiếp. Đến Tư Minh Châu, vương (Thoát Hoan) lại hạ lệnh thúc ép. Đến Lộc Châu, nghe tin Nhật Huyên ngầm đặt quân ở huyện Khâu Ôn, Khâu Cấp có núi hiểm đường hẹp, bèn chia quân làm hai đường tiến vào: Vạn hộ Lý La Hợp Đáp Hòa (李罗合答和), Chiêu thảo sứ Tề Thâm (齐深) đi đường Tây qua huyện Khâu Ôn; Khuyết Xuất Tát Lược Nhi (怯薛撒略儿), Vạn hộ Lý Bang Hiến (李邦宪) đi đường Đông qua Khâu Cấp lĩnh; vương đem đại quân theo sau, lại sai Tổng bả A Lý (阿里) đến dụ rằng việc khởi binh là đánh Chiêm Thành, không phải đánh An Nam.

Đến huyện Cấp Bảo, quân An Nam ngầm ngăn cản không cho tiến. Quân Đông phá ải Khả Ly và ải Anh Nhi Quan, bắt được gián điệp Đỗ Vĩ (杜伟) cùng đồng bọn, chém đầu. Đến ải Động Bản, lại gặp quân An Nam, đánh bại. Thực tế Trần Tuấn ở trong vùng gần ải, quân triều tiến đến thôn Biến Trụ, dụ mở đường sau để nghênh tiếp triều quân, nhưng không theo. Quân triều chia sáu đường tiến công, đến sông Vạn Kiếp, phá hết các ải. Trần Tuấn còn giữ hơn 1,000 thuyền, đóng quân cách Vạn Kiếp 10 dặm, hai cánh thủy quân giao chiến đều thắng. Vương cùng quan hành tỉnh thân đến bờ đông đốc chiến, đoạt hơn 20 thuyền, Trần Tuấn thua chạy. Quân triều nhân lúc đó buộc bè làm cầu, vượt sông Phú Lương. Lúc ấy quân Tây cũng phá ải Chi Linh.

Sang tháng Giêng năm sau (1285), Nhật Huyên tự đem 10 vạn quân giao chiến lớn với quân triều tại Bãi Than, Nguyên soái Ô Mã Nhi (乌马儿), Chiêu thảo sứ Nạp Hải (纳海), Trấn phủ Tôn Lâm Đức (孙林德) đánh bại. Nhật Huyên lui giữ sông Thiếp Lô, lại thua chạy, bèn sai Nguyễn Giao Duệ (阮郊锐) dâng thư tạ tội, xin rút quân. Đại quân vượt sông, đóng trại dưới thành An Nam.

Ngày hôm sau, vương (Thoát Hoan) tiến vào kinh đô nước ấy, biết được Nhật Huyên (日烜) đã tự xưng là Đại Việt quốc chủ Hiến Thiên Thể Đạo Đại Minh Quang Hiếu Hoàng Đế 大越国主宪天体道大明光孝皇帝, nhường ngôi cho thái tử, dùng ấn Hạo Thiên Thừa Mệnh chi bảo 昊天成命之宝. Nhật Huyên liền xưng là Thái thượng hoàng 太上皇.

Người được lập làm quốc vương là con của Nhật Huyên, lấy niên hiệu là Thiệu Bảo 绍宝[9]. Cung điện nơi ở có năm cửa, đề biển là Đại Hưng chi môn 大兴之门, hai cửa tả hữu là Dực môn, chính điện chín gian đề là Thiên An ngự điện, cửa chính phía nam đề là Triều Thiên các.

Lúc ấy, quân An Nam bỏ thuyền lên bờ vẫn còn đông, Nhật Huyên dẫn tông tộc và quan lại tụ tập ở Thiên Trường, Trường An (Tràng An), Trần Tuấn lại đem binh thuyền tụ ở cửa sông Vạn Kiếp, chỉnh đốn quân đội để chờ ứng chiến.

Đúng lúc đó, Đường Ngột Niệm (唐兀撚) và Tô Đô (唆都) rút quân từ Chiêm Thành trở về, hợp binh với đại quân. Quân triều chia đường tiến công: Hữu thừa Khoan Triệt (宽彻) dẫn Vạn hộ Mông Cổ Niệm (忙古撚) và Bột La Ha Đáp Nhĩ (孛罗哈答尔) đi đường bộ; Tả thừa Lý Hằng (李恒) dẫn Ô Mã Nhi (乌马尔) đi đường thủy, đánh bại quân thuyền của An Nam.

Nhật Huyên (日烜) sai em là Văn Chiêu vương Trần Dật Hầu (陈遹侯 Trần Nhật Duật) và Trịnh Đình Toản (郑廷瓒) chống cự tại Nghệ An, lại thua trận. Cháu là Chương Hiến hầu Trần Kiện (陈键) lại thua trận ở cửa biển, Kiện đem quân đầu hàng.

Ba ngày sau, Trấn Nam vương truy kích đánh bại Nhật Huyên tại sông Đại Hoàng. Nhật Huyên sợ hãi, sai tông nhân là Trung Hiến hầu Trần Dương (陈阳) xin hòa, lại sai cận thần Đào Kiên (陶坚) đem quốc thư đến doanh trại, xin lui binh. Trấn Nam vương sai Thiên hộ Ai (艾千户) dụ rằng: “Đã xin hòa, sao không thân đến bàn bạc?” Nhật Huyên không nghe, đến cửa biển An Bang, bỏ thuyền bè, binh giáp, trốn vào núi rừng.

Quân triều thu được một vạn thuyền, chọn thuyền tốt để dùng, còn lại đều đốt bỏ.

Nhật Huyên (日烜) chạy đến phủ Thanh Hóa. Em là Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc (陈益稷) dẫn tông nhân Tú Hoãn (秀嵈 Trần Tú Hoãn) cùng vợ con, quan lại ra nghênh hàng.

Nhật Huyên lại sai tông nhân Trung Hiến hầu Trần Dương (陈阳) cùng Nguyễn Duệ (阮锐) và những người khác đến xin hòa, Trấn Nam vương giữ họ lại trong doanh trại.

Các tướng cho rằng tuy quân An Nam nhiều lần thất bại, nhưng lại càng tăng binh lực, thế lực dần mạnh lên. Trời nóng, mưa nhiều, dịch bệnh phát sinh, quân sĩ chết và bị thương cũng nhiều. Chiêm Thành lại không thể tiến đến, nên quyết định rút quân. Trấn Nam vương không còn cách nào khác, bèn rút quân về.

Khi quân triều đình đến sông Như Nguyệt 如月江, Nhật Huyên (日烜) sai quân truy kích phía sau. Đến sông Sách 册江, chưa kịp vượt qua, thì quân phục trong rừng tre bất ngờ phát động. Tô Đô (唆都) và Lý Hằng (李恒) đều trúng tên giữa dòng mà chết. Quân triều liều chết chiến đấu, mới bảo vệ được Trấn Nam vương thoát ra khỏi biên giới, nhưng số quân tử trận quá nửa.

Nguyễn Duệ (阮锐) trốn trong bụi cỏ, định bỏ trốn, bị quân triều bắt được và chém đầu.

Đây là một thất bại lớn trong năm Chí Nguyên thứ 22 (1285). Khi việc đến tai, vua nổi giận, bèn bãi bỏ việc chinh phạt Nhật Bản, quyết định đại binh đánh An Nam.

Năm thứ 23 (1286) tháng Tư, vua ban chiếu rằng:

“Trước đây nước các ngươi đã xưng thần phục, hàng năm tiến cống, nhưng không thân vào triều. Vì thúc phụ ngươi là Trần Di Ái (陈遗爱) đến, nên giao việc An Nam cho ông ta, đến nơi thì bị giết hại. Các Đạt Lỗ Hoa Xích được sai đến cũng bị khước từ, việc dùng binh đánh Chiêm Thành thì hoàn toàn không được cung cấp, khiến Trấn Nam vương Thoát Hoan (脱欢) phải tiến binh. Nay do thân thích của ngươi là Trần Ích Tắc (陈益稷), Trần Tú Hoãn (陈秀嵈) lo sợ nước nhà diệt vong, vạ lây người vô tội, nhiều lần khuyên ngươi vào triều mà không được, nên họ tự rút về quy thuận. Trẫm thương lòng trung hiếu của họ, đặc biệt phong Ích Tắc làm An Nam quốc vương, Trần Tú Hoãn làm Phụ Nghĩa công 辅义公, để phụng thờ họ Trần. Lệnh cho Thoát Hoan, Áo Lỗ Xích (奥鲁赤) khởi binh bình định nước ấy. Những tội lỗi trước đây chỉ quy về ngươi, quan dân không liên can. Khi chiếu đến, ai nấy nên trở về ruộng vườn, yên ổn làm ăn.”

Năm ấy, Nhật Huyên (日烜) sai Nguyễn Nghĩa Toàn (阮义全), Nguyễn Đức Vinh (阮德荣) tiến cống, vua giữ Nghĩa Toàn lại ở kinh sư. Quan tỉnh Hồ Nam là Ti Tư Ca (丝哥) tâu rằng: “Nhiều năm chinh phạt Nhật Bản và dùng binh đánh Chiêm Thành, dân chúng kiệt quệ vì vận chuyển, binh sĩ mắc bệnh sốt rét chết nhiều, quần thần lo lắng, bốn dân bỏ nghề. Nay lại có việc ở Giao Chỉ, động đến hàng triệu người, không phải là cách thương dân. Nên giảm sức dân, tích trữ lương thảo, sửa sang binh giáp, đợi sang năm thời tiết thuận lợi rồi đại binh cũng chưa muộn.” Vua ra chiếu cho Ích Tắc tạm trú tại Ngạc Châu.

Sang năm (1287), lấy A Bát Xích (阿八赤) làm Tả thừa hành tỉnh chinh phạt Giao Chỉ, phát binh Mông Cổ, Hán, quân khoán của ba tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng tổng cộng 70,000 người, 500 chiến thuyền, quân Vân Nam 6,000 người, quân Lê ở bốn châu hải ngoại 15,000 người, Vạn hộ Trương Văn Hổ (张文虎) và các tướng vận lương 170,000 thạch theo đường biển, chia đường đánh An Nam. Lấy Áo Lỗ Xích làm Bình chương chính sự, Ô Mã Nhi (乌马尔), Phàn Tiếp (樊楫) làm Tham tri chính sự, đều chịu sự tiết chế của Trấn Nam vương.

Nhật Huyên lại sai Trung đại phu Nguyễn Văn Thông (阮文通) tiến cống.

Tháng 11 năm Chí Nguyên thứ 24 (1287), đại quân đến Tư Minh Châu, để lại 2,000 quân do Vạn hộ Hạ Chỉ (贺祉), Trương Ngọc (张玉) chỉ huy, lệnh cho Hữu thừa Trình Bằng Phi (程鹏飞) dẫn 10,000 quân Hán và quân khoán đi đường tây vào Vĩnh Bình; Áo Lỗ Xích (奥鲁赤) dẫn 10,000 quân theo Trấn Nam vương đi đường đông vào ải Nữ Nhi Quan. Phàn Tiếp (樊楫) và Ô Mã Nhi (乌马尔) chỉ huy thủy quân theo đường biển, qua Ngọc Sơn, Song Môn, cửa biển An Bang, gặp hơn 400 thuyền địch, đánh bại, đoạt thuyền.

Trình Bằng Phi qua ba ải Lão Thử, Hãm Sa, Tư Trúc, đánh 17 trận đều thắng. Trấn Nam vương tiến đến cảng Mao La, đánh phá trại Phù Sơn. Vương lệnh cho Bằng Phi đem 20,000 quân giữ cửa Vạn Kiếp, đồng thời sửa hai trại Phổ Lại và Chí Linh. Sai Ô Mã Nhi, A Bát Xích (阿八赤) hợp thủy lục quân tiến thẳng đến thành An Nam. Vương dẫn các quân vượt sông Phú Lương, đóng quân dưới thành. Nhật Huyên (日烜) chạy đến thành Cảm Nam, vương đánh thành.

Tháng Giêng năm Chí Nguyên thứ 25 (1288), Nhật Huyên cùng con chạy ra biển, quân triều truy không kịp. Sai Ô Mã Nhi đi cửa Đại Bàng đón thuyền lương của Giao Hồ. Gặp lúc Trương Văn Hổ (张文虎) đến núi Vân Đồn, gặp quân địch, giao chiến ngang sức, đến vùng biển Lục Thủy, địch thuyền càng đông, thấy không chống nổi, lại thuyền bị dính kẹt nhau không đi được, bèn đổ gạo xuống biển, tự chạy về đảo Hải Nam.

Lúc ấy quân triều thiếu lương, chia đường vào núi tìm gạo. Trấn Nam vương tự dẫn quân về Vạn Kiếp. A Bát Xích dẫn tiền quân chiếm cầu Quan Hệ, phá cửa sông Tam Giang, đánh hạ 32 trại, thu được hơn 113,000 thạch gạo. Ô Mã Nhi từ cửa Đại Bàng tiến đến núi Tháp, gặp hơn 1,000 thuyền địch, đánh bại, đến cửa biển An Bang, đón thuyền lương của Văn Hổ không thấy, lại về Vạn Kiếp, thu được hơn 40,000 thạch gạo, chia quân đóng ở hai trại Phổ Lại và Chí Linh.

Nhật Huyên sai anh họ là Hưng Ninh vương Trần Tung (陈嵩) nhiều lần đến xin hàng, nhưng lại ngầm đánh quân triều. Ban đêm, sai tử sĩ tập kích doanh trại các tướng. Trấn Nam vương nổi giận, lệnh Vạn hộ Giải Chấn (解震) đốt kinh thành, nhưng bị các tướng can ngăn nên dừng lại.

Tháng 11 năm Chí Nguyên thứ 25 (1288), Tổng quản Thần Na là Giả Nhược Ngô (贾若愚) dâng lời rằng: “Vương nên rút quân, không thể giữ lâu.” Các tướng cũng nói thời tiết đã nóng, lương thực sắp cạn, nên rút quân. Trấn Nam vương nghe theo.

Phàn Tiếp (樊楫) và Ô Mã Nhi (乌马尔) đi trước theo đường thủy, bị quân An Nam phục kích, toàn quân bị tiêu diệt. Trình Bằng Phi (程鹏飞) chọn binh tinh nhuệ hộ tống vương rút lui, đến ải Nội Bàng, quân An Nam tụ tập đông đảo, nhờ Vạn hộ Trương Quân (张均) đem 3,000 quân tinh nhuệ đánh chặn, chiến đấu quyết liệt mới thoát khỏi ải.

Do thám báo rằng Nhật Huyên (日烜) chia hơn 300,000 quân giữ ải Nữ Nhi Quan và Khâu Cấp Lĩnh, kéo dài hơn 100 dặm, chặn đường về. Các quân vừa đánh vừa tiến, quân An Nam từ trên cao bắn tên độc, Trương Ngọc (张玉) và A Bát Xích (阿八赤) đều tử trận. Vương đi qua huyện Đơn Dĩ, theo đường nhỏ đến Lộc Châu, rồi về Tư Minh Châu, lệnh Áo Lỗ Xích (奥鲁赤) dẫn quân về phía bắc.

Nhật Huyên sai cận thần Lý Tu (李修), Đoạn Khả Dung (段可容) tiến cống vật phẩm, dâng tượng vàng thay thân để chuộc tội, đồng thời trả lại tù binh bị bắt, tất cả đều bị xăm chữ trên trán: “Thiên tử binh” 天子兵, hoặc “Đầu Nam triều” 投南朝. Đây là thất bại lần thứ hai trong năm Chí Nguyên thứ 25.

Tháng Chạp năm ấy, vua lại hạ chiếu dụ Nhật Huyên rằng:

“Biểu văn của ngươi nói nhận tội, dường như đã biết hối. Theo lời người thay mặt, ngươi tự nhận ba lỗi: một là bị triệu không đến; hai là Thoát Hoan đem quân mà không ra nghênh tiếp; ba là Tô Đô bị giết mà không can thiệp. Nếu được tha tội, sẽ dâng con làm con tin, tiến mỹ nữ, hàng năm cống vật. Những lời cung kính giả dối ấy dùng để làm gì? Nếu thật lòng, sao không thân đến bày tỏ? Há có chuyện nghe tin sai tướng thì trốn tránh, thấy quân rút thì nói tiến cống? Qua đó đủ biết thật giả. Ngươi thử nghĩ, giữa việc sống lén ngoài núi, không lo binh họa, với việc vào triều nhận mệnh, được ân sủng trở về, hai kế ấy, bên nào là đúng? Nay một niệm sai lầm của ngươi liên quan đến sự tồn vong của cả một phương. Vì thế sai Lưu Đình Trực (刘廷直) – Ti hành án sát sứ Liao Đông, Lý Tư Diễn (李思衍) – Lễ bộ đãi lang, Vạn Nô (万奴) – Binh bộ lang trung, cùng Đường Ngột Thương (唐兀觞), Hợp Tán (合散), Ông Cát Lợi Thương (瓮吉利觞) dẫn theo 24 người từng sai đến, như Nguyễn Toàn (阮全), trở về nước để thân dụ. Trẫm sẽ tha hết lỗi trước, phục lại phong cũ. Nếu còn do dự, thì không thể tha thứ nữa.”

Tháng Ba năm sau (1289), Lưu Đình Trực và đoàn sứ đến An Nam, Nhật Huyên sai Trung đại phu Trần Khắc Minh (陈克明) cùng các người khác dâng biểu tạ tội, nói rõ:

“Đã sai Tòng nghĩa lang Nguyễn Thịnh (阮盛) theo đại vương Lý Cát Đại (昔里吉大王) vào triều. Về việc Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp – tham tri chính sự – đang trên đường về. Phàn Tiếp bệnh mất, đã hỏa táng, Thiên hộ Mai Thế Anh (梅世英), Tiết Văn Chính (薛文正) hộ tống vợ con về quê. Ô Mã Nhi bị lật thuyền giữa đường, chết đuối, vợ con được cứu, sẽ tiếp tục cấp phí đưa về sau. Quân lính bị bắt hơn 8,000 người, đã tìm lại được một số đầu mục và binh sĩ, cùng theo thiên sứ về Trung Quốc.”

Thực tế, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đều bị quân An Nam giết, biểu văn nói Phàn Tiếp bệnh mất, Ô Mã Nhi chết đuối, đều là lời che giấu.

Năm Chí Nguyên thứ 27 (1290), Nhật Tôn (日尊)[10] – con của Nhật Huyên (日烜) – sai thần là Nghiêm Trọng Duy (严仲维), Đông Tử Lương (东子良) đến báo tang và xin kế thừa tước vị, biểu rằng:

“Thần là kẻ cô thân nhỏ bé, sớm được cha dạy bảo, việc thần phục thiên triều không dám bỏ bê, việc tiến cống hằng năm luôn ghi nhớ trong lòng. Nay đặc sai Trung lượng đại phu Nghiêm Trọng Duy, Hữu võ đại phu Trần Tử Lương (陈子良) mang lễ vật tiến cống.”

Vua chọn Trương Lập Đạo (张立道) làm Lễ bộ thị lang, triệu Nhật Tôn thân vào triều. Nhật Tôn sai thần Nguyễn thay mặt. Hà Duy Nghiêm (何维严) và các người khác dâng biểu xin tha tội, hẹn sang năm vào triều. Triều đình nghị rằng: phải vào triều trước rồi mới xét tha tội. Nhật Tôn sợ hãi, cuối cùng không đến.

Vua lại sai Thượng thư Lương Tằng (梁曾), Lang trung Trần Phu (陈孚) đến dụ rằng:

“Ngươi đã tự nhận tội, trẫm còn nói gì nữa? Nếu nói sợ chết dọc đường mà không dám vào triều, thì trong loài sống há có ai được an toàn mãi? Thiên hạ há có nơi nào không chết? Trẫm không hiểu, chỉ thấy lời lẽ hoa mỹ giả dối, sao có thể tin được?”

Nhật Tôn lại sai bề tôi là Đào Tử Kỳ (陶子奇) đến xin tội, dâng bài tụng vạn thọ và biểu vàng.

Vua ghét việc kháng mệnh, lại bàn việc khởi binh, bèn giữ con là Đại Kỳ (大奇)[11] ở Giang Lăng, sai Lưu Quốc Kiệt (刘国杰) cùng các vương như Lý Cát Đại (昔里吉) xuất quân, lập hành tỉnh Hồ Quảng – An Nam, cấp hai ấn, mua 1,000 thuyền loại 100 hộc, dùng 56,570 quân, lương 350,000 thạch, cỏ ngựa 30,000 thạch, muối 210,000 cân, cấp trước lương bổng cho quân, mỗi binh sĩ và thủy thủ được hai thoi tiền giấy, chia đường thủy bộ cùng tiến, lệnh Ích Tắc (益稷) theo quân đến Trường Sa.

Gặp lúc Thế Tổ (Hốt Tất Liệt) băng hà, Nguyên Thành Tông kế vị, bãi binh, cho Đào Tử Kỳ trở về nước. Nhật Tôn dâng biểu chia buồn quốc tang, đồng thời tiến cống vật phẩm. Sai Thị lang Lý Cán (李衎), Lang trung Tiêu Thái Đăng (萧泰登) mang chiếu dụ rằng:

“Trẫm kế thừa đại thống, mới lên ngôi, ban đại xá rộng khắp, không phân xa gần. Riêng An Nam cũng được khoan thứ, đã lệnh cho các quan bãi binh. Từ nay về sau, ai biết sợ trời, thờ lớn, thì hãy suy nghĩ cho kỹ.”

Năm Nguyên Trinh thứ 2 (1296), Nhật Tôn (日尊) dâng biểu xin phong vương tước, không được chấp thuận; xin "Đại Tạng Kinh", được ban cho.

Năm Đại Đức nguyên niên (1297), sai Nguyễn Văn Tịch (阮文籍), Phạm Cát (范葛) tiến cống. Từ đó đến năm thứ 10 (1306), An Nam mỗi lần có 5 người tiến cống.

Năm thứ 3 (1299), Thừa tướng Hoàn Trạch (完泽) và các quan tâu rằng: “Sứ An Nam là Đặng Như Lâm (邓汝霖) lén vẽ bản đồ cung điện, bí mật mua bản đồ địa lý và sách cấm, lại ghi chép tình hình quân sự biên giới phía bắc, các việc về lăng tẩm, nên trách về đại nghĩa.” Sai Thượng thư Mã Hợp Mã (马合马), Thị lang Kiều Tông Lượng (乔宗亮) đến dụ rằng: “Việc Như Lâm làm là trái pháp, lẽ ra phải trị tội. Trẫm lấy thiên hạ làm trọng, nên lệnh cho các quan tha về. Từ nay sứ giả phải chọn người cẩn thận, có điều thỉnh cầu phải thành thật, chớ dùng mưu mẹo mà hối không kịp.”

Năm thứ 5 (1301), lệnh Thượng thư Mã Hợp Mã và các quan đưa Đặng Như Lâm về nước, dụ An Nam theo lệ ba năm một lần tiến cống.

Khi Vũ Tông lên ngôi (1307), sai Lễ bộ Thượng thư An Lỗ Uy (安鲁威), Binh bộ Thị lang Cao Phục Lễ (高复礼) ban chiếu đăng cơ cho An Nam, rằng:

“Triều đình ta lấy võ công định thiên hạ, lấy văn đức cảm hóa người xa. Xưa nay An Nam đời đời tiến cống, trẫm rất khen ngợi. Gần đây tiên hoàng băng hà, trẫm đang trấn giữ phương bắc, được tông thất và công thần suy tôn, cho rằng trẫm là cháu đích tôn của Thế Tổ, nối dòng trời, chư vương thần phục, dân chúng trông đợi, lòng người quy thuận, ngôi báu có chủ. Trẫm thuận theo lòng người, đã lên ngôi ở Thượng Đô. Nay sai Thượng thư A Lý Hôi (阿里灰) tuyên chiếu, mong các ngươi đồng lòng, càng thêm thành ý thờ lớn, giữ yên nước các ngươi để hợp lòng trẫm.”

Năm ấy, An Nam sai Nguyễn Khắc Tuân (阮克遵), Phạm Y Tư (范欹资) tiến cống chúc mừng đăng cơ. Đến năm Chí Đại thứ 2 (1309), lại sai Đồng Ứng Thiều (童应韶), Tạ Đại Huân (谢大薰) tiến cống.

Khi Nhân Tông lên ngôi (1311), thế tử Trần Nhật Sáo (陈日套)[12] sai sứ vào triều. Sai Lễ bộ Thượng thư Nãi Mã Đài (乃马台), Lại bộ Thị lang Niếp Cổ Bá (聂古伯), Binh bộ Thị lang Trung Đỗ Dữ Khả (中杜与可) sang An Nam, ban chiếu đổi niên hiệu rằng:

“Tổ tông ta nhận mệnh trời, cai trị muôn nước, uy đức lan xa, cảm hóa kẻ ngoài. Nay tiên đế băng hà, trẫm vì lòng trung hiếu của vương hầu và thần dân, đã lên ngôi ở Đại Đô. Lấy năm sau làm Hoàng Khánh nguyên niên. Nay sai Thượng thư Nãi Mã Đài và các quan mang chiếu tuyên dụ, kèm theo một bộ lịch mới. Khanh hãy kính cẩn ban bố thời tiết, càng thêm giữ đạo thần phục, chớ phụ lòng trẫm không quên người xa.”

Năm Hoàng Khánh thứ 2 (1313), hơn 30.000 quân An Nam bất ngờ xâm phạm châu Trấn An, lại chia quân đánh châu Quy Thuận, đóng quân chưa rút. Thế tử lại thân dẫn quân đánh chiếm châu Dưỡng Lợi, lấy cớ rằng tri châu Triệu Quắc (赵珏) bắt thương nhân nước họ ở châu Tư Lãng, chiếm một cối vàng, xâm lấn hơn 1.000 khoảnh ruộng, nên đến báo thù.

Viện Khu mật sai Thiên hộ Lưu Nguyên Hanh (刘元亨) đến Hồ Quảng điều tra. Nguyên Hanh thân đến các thôn Thượng, Trung, Hạ Du, gửi công văn dụ nước An Nam rằng:

“Xưa Hán đặt chín quận, Đường lập năm đạo, An Nam vốn là nơi giáo hóa vươn tới. Huống chi các ngươi dâng bản đồ, tiến cống, trên dưới phân minh, triều đình đãi hậu mà nhận ít, lòng thương yêu cũng sâu. Triều đình có lỗi gì với quý quốc, mà nay lại tự gây bất ổn, xảo trá mở rộng biên giới? Đất thôn Trung Du tuy nhỏ, nhưng liên quan đến bản đồ quốc gia rất lớn. Huống chi việc giết cướp đều là dân thuộc sổ sách triều đình, tỉnh viện chưa dám tâu lên. Chưa rõ mưu đồ bất chính, ai là chủ mưu?”

An Nam hồi công văn rằng: “Bọn chuột nơi biên giới tự gây bất ổn, bản quốc sao biết được?” Đồng thời đem nhiều lễ vật đến. Nguyên Hanh lại gửi công văn trách lời lẽ giả dối, từ chối nhận lễ, nói rằng: “Vàng phương nam, ngà voi là vật quý của quý quốc, nhưng sứ giả lấy không tham làm quý. Xin xét rõ sự việc, nói rõ cho triều đình biết.”

Nhưng vì đường sá xa xôi, lời lẽ mơ hồ, cuối cùng không rõ đầu đuôi. Nguyên Hanh tâu rằng: “Trước đây người An Nam từng xâm phạm biên giới Vĩnh Bình, nay lại bắt chước thành thói. Kế sách hiện nay là: sai quan tuyên dụ, trả lại đất đai, dân chúng, lệnh người bản quốc xác định ranh giới, truy xét kẻ khơi mào chiến sự, xử tử tại biên giới, răn bảo quan biên không được xâm lấn. Lại lập trại ở Vĩnh Bình, tuyển binh, đặt quan chỉ huy, cấp ruộng đất, trâu cày, cho tự canh tác, lập đội ngũ rõ ràng, thưởng phạt phân minh, để khi có việc thì ứng cứu lẫn nhau, như vậy biên giới mới yên ổn lâu dài.” Việc được tâu lên, vua ra lệnh chờ sứ An Nam đến sẽ tuyên dụ.

Năm Diên Hựu thứ 3 (1316), lệnh hành tỉnh Hồ Quảng dụ An Nam trả lại vua nước Chiêm Thành. Trước đó, người An Nam đánh nước Chiêm, bắt vua nước ấy đem về, rồi rút quân. Khi nhận chiếu, họ dâng biểu tạ tội.

Năm thứ 7 (1320), Nhật Sáo (日套)[13] mất, thế tử Nhật Hoảng (日爌 Nhật Khoáng)[14] sai bề tôi Đặng Cung Khiêm (邓恭俭), Đỗ Sĩ Du (杜士游) tiến cống.

Năm Chí Trị nguyên niên (1321) đời Anh Tông, sai Lại bộ Thượng thư Giáo Hóa (教化), Lễ bộ Lang trung Văn Cứ (文矩) ban chiếu đăng cơ.

Khi Thái Định Đế lên ngôi, ban chiếu cho thế tử nước An Nam là Trần Nhật Hoảng (陈日爌) rằng:

“Triều đình ta nối mệnh trời, cai trị muôn nước, đức ân lan khắp, không phân Hoa Hạ. Nay tiên triều đã khuất, trẫm là cháu đích tôn của Dụ Hoàng, được tông thất và đại thần suy tôn, nối nghiệp từ đất tổ Thái Tổ khai cơ, lấy năm Giáp Tý làm Thái Định nguyên niên. Nay sai Thượng thư Mã Hợp Mưu (马合谋), Lễ bộ Lang trung Dương Tăng Thụy (杨增瑞) mang chiếu tuyên bố, ban cho một bộ "Thụ Thời Lịch" 授时历. Tổ phụ các ngươi đã nội phụ tiến cống nhiều năm, triều đình đãi ngươi rất hậu. Nay quan giữ đất Chiêm Thành dâng biểu nói biên quan nước ngươi nhiều lần phát binh xâm phạm, trẫm rất lấy làm đau lòng. Không rõ ngươi vì sao đến nỗi như vậy, há lại là thật sao? Trẫm trị thiên hạ, coi xa như gần, mong dân yên ổn, ai nấy được yên. Ngươi hãy hiểu lòng trẫm, răn bảo quân lính, giữ yên dân chúng, chớ quên lòng trung thuận của tổ tiên các ngươi.” Nhật Hoảng sai bề tôi Mạc Tiết Phu (莫节夫 Mạc Đĩnh Chi) vào triều chúc mừng.

Năm thứ 2 (1325), tri châu Ninh Viễn là Thiêm Tháp tâu rằng: “Quan sĩ An Nam là Áp Na đánh cướp các trại thuộc địa phương.” Vua ra lệnh Áp Na phải trả lại tù binh.

Năm thứ 3 (1326), tướng An Nam là Nguyễn Khấu xâm phạm đường Tư Châu, lệnh hành tỉnh Hồ Quảng chuẩn bị binh lực phòng bị.

Trước đó, Trần Ích Tắc (陈益稷) ở lâu tại Ngạc Châu, được phong làm Bình chương hành tỉnh Hồ Quảng, nhưng vợ con đều bị nước cũ hại. Thời Thành Tông, ban cho 500 khoảnh ruộng ở Hán Dương để tự nuôi, sau bị tước đoạt. Vũ Tông thương ông già yếu, ban thêm ân huệ, chế rằng:

“Ngươi dâng lễ quy thuận, bỏ nghịch theo thuận, được phong tước cao, nên báo đền công đức. Ngươi biết sợ trời mà thờ lớn, mong giữ đất yên dân, ngưỡng mộ đế vương có đạo, thấy cơ mà hành động, sợ tổ tông không được thờ, nên tự đến quy phục, lấy lòng trung hiếu mà được vua biết đến, nhờ ơn trời đất mà được phong ở cố quốc. Trước kia Chu Vương nổi giận, đánh phạt để cứu dân, như Nghiêu Thuấn ban sư trở về. Kẻ mê muội không quay lại, ngươi giữ vững lòng trung. Theo quân vương hai lần xuất chinh, ở lại Hồ Nam gần mười năm, thân trải qua bốn triều, lòng không đổi. Nay trẫm lên ngôi, vội triệu vào triều. Nay ban thêm phẩm trật để tỏ ân, giữ phong cũ mà trao chức. Than ôi! Trong ngoài đều yên, trẫm không quên phương nam dưới cột đồng, gần thì vui, xa thì đến, ngươi càng thêm sáng như sao Bắc Đẩu. Hãy đáp lại mệnh lành, giữ lòng một dạ. Nay phong làm Kim tử Quang lộc đại phu 金紫光禄大夫, An Nam quốc vương, cấp ruộng như cũ.”

Năm Thiên Lịch thứ 2 đời Văn Tông (1329), Ích Tắc mất, thọ 76 tuổi, được ban 5,000 quan tiền, truy tặng thụy hiệu Trung Ý.

Năm thứ 3 (1330), thế tử Trần Nhật Phụ (陈日㷆 〈火阜〉)[15] sai bề tôi Đặng Thế Diên (邓世延) cùng 24 người tiến cống.

Năm Chí Thuận nguyên niên (1330), có giặc Quảng Nguyên là Bế Phục cướp động La Hồi thuộc châu Long. Vạn hộ châu Long gửi văn thư hỏi An Nam, nước này hồi đáp rằng: “Từ khi quy phục thiên triều, thần kính giữ chức phận, biên giới đã phân rõ, đều thuộc một phía. Há vì La Hồi vốn thuộc bản quốc mà sinh tranh chấp? Đây là do quan biên gây sự, lấy danh nghĩa Bế Phục làm cớ, các ngươi nên điều tra rõ.” Vua lệnh vạn hộ châu Long trả lại những gì đã cướp.

Năm sau (1331), Nhật Phụ sai bề tôi Đoàn Tử Trinh (段子贞), Lê Khắc Tuấn (黎克逊) tiến cống. Năm thứ 3 (1332), sai Lại bộ Thượng thư Tát Chỉ Oa (撒只瓦) và các quan sang An Nam.

Năm Nguyên Thống thứ 2 đời Huệ Tông (1334), sai Thượng thư Thiếp Trụ (帖住), Lễ bộ Lang trung Trí Hy Thiện (智熙善) sang An Nam, ban "Thụ Thời Lịch". An Nam sai Đồng Hòa Khanh (童和卿), Nguyễn Cố Phu (阮固夫) tiến cống, chúc mừng đăng cơ.

Năm Hậu Chí Nguyên nguyên niên (1335), triều đình phong thế tử Trần Đoan Ngọ (陈端午)[16] làm quốc vương. Trần Nhật Phụ (日㷆 〈火阜〉)[17] lui về học đạo, tự xưng là Thái Hư tử 太虚子, nhưng trong các biểu văn vẫn ký tên mình.

Từ năm thứ 4 (1338) đến năm thứ 6 (1340), nước này lại hai lần sai sứ vào triều tiến cống. Trước kia, vì Nhật Huyên (日烜)[18] không xin mệnh mà tự lập, nên từ ông trở xuống 4 đời đều chỉ gọi là An Nam thế tử 安南世子. Đến Trần Đoan Ngọ mới được chính thức phong làm An Nam quốc vương[19].

Chế độ nước An Nam thời ấy

[sửa]
  • Hành chính: chia làm 13 đạo, 52 phủ, 219 châu huyện; thực tế một đạo không bằng một quận của Trung Quốc.
  • Giáo dục: nơi nào cũng lập trường học.
  • Thành trì: chỉ có Lạng Sơn có thành, gạch màu đỏ tím, tương truyền do Mã Phục Ba xây.
  • Kiến trúc: cung vua lợp ngói vàng, mái cao không quá 1 trượng; nhà dân lợp cỏ, cửa cao khoảng 3 thước, phải cúi đầu ra vào.
  • Chữ viết: giống Trung Quốc, nhưng thêm vài chục chữ riêng, thường thêm bộ thổ để phân biệt, chỉ dùng trong nước.
  • Sản vật: nhiều lúa, không có lúa mì; trọng nghề tằm, có vải lụa, không trồng bông; tre gỗ mọc thành rừng, che kín trời.
  • Chức vụ:
    • Văn: Tam công, Thái úy, Bình chương chính sự, Phụ quốc, Tả hữu Phó xạ, Tham tri chính sự, Ngự sử đài, Hàn lâm tự, Thượng thư...
    • Võ: Đô nguyên soái, Tiết độ sứ, Đại tướng quân, Nội điện tiền chỉ huy sứ, Chiêu thảo sứ...
    • Có quan phương trấn và quan xã kế thừa.
  • Khoa cử: ba năm một lần:
    • Lần 1: kinh nghĩa
    • Lần 2: văn biền ngẫu
    • Lần 3: thơ
    • Lần 4: sách luận
    • Đỗ ba kỳ gọi là sinh đồ, bốn kỳ là cống sinh, đến hội thí đỗ bốn kỳ là tiến sĩ, không định số lượng.
  • Họ tộc: chỉ có họ như Nguyễn, Bùi, Ngô, Dương, Đào, Hoàng, Vũ, Tống, Trần, Trình, Lương, Hồ, không có họ khác.
  • Phong tục:
    • Nam nữ đều để tóc xõa, dùng sáp thơm buộc lại cho khỏi rối.
    • Dùng thuốc bôi răng cho đen bóng.
    • Dù nắng mưa đều đội nón.
    • Gặp người quý gọi là “ông trà”, nghĩa là đại quan.
    • Ăn thịt sống, không dùng bàn ghế, nhà giàu mới có giường nệm, dân thường nằm trên cỏ.
    • Thích điều kỳ lạ, tin vào ma quỷ, không theo đạo Phật hay đạo Khổng.
  • Hôn nhân:
    • Nhà giàu có mai mối, theo lễ nghi.
    • Nhà nghèo nam nữ tự ý, có tiền là thành vợ chồng, cùng họ cũng không kiêng.
  • Tang lễ:
    • Theo lễ cổ, cấm quan dân chọn đất, chỉ được chôn ở ruộng.
    • Chỉ quốc vương được chọn đất trên núi.
  • Quân đội:
    • Không có giáp trụ, chỉ dùng hỏa khí, trường đao, lao, khiên mây.
    • Khi ra trận dùng voi làm chủ lực.
  • Khí hậu:
    • Cây cỏ bốn mùa không rụng.
    • Ngày đêm không dài ngắn rõ rệt.
    • Đúng như xưa gọi là “Nhật Nam”, không phải lời hư dối.

   




Chú thích

  1. Lý Huệ Tông, tên thật là Lý Sảm (李旵) hay Lý Hạo Sảm.
  2. Theo Khang Hi từ điển: 〔cổ văn 〕煛【quảng vận 】【tập vận 】câu vĩnh thiết, âm cảnh. 【quảng vận 】hoả dã. Như vậy, 煚 đọc là Cảnh. Và 煚 cảnh có nghĩa là nhật quang, ánh sáng mặt trời.
  3. Trần Thánh Tông, húy Trần Quang Bính (陳光昺). Có thể Tân Nguyên sử nhầm chữ Bính 昺 thành Cảo 暠.
  4. Theo nguồn chưa kiểm chứng: Trần Quốc Toản là con của Vũ Uy vương Trần Nhật Duy (陳日維) và Quận chúa Trần Ý Ninh (陳懿寧), em gái của Phú Lương hầu Trần Tử Đức (富良侯陳子德). Trần Tử Đức cùng vợ là Bùi Thiệu Hoa (裴紹華) đều là anh hùng lưu danh thiên cổ, chặn giặc ở Phù Lỗ để cứu vua Trần Thái Tông, sử sách cảm thán trung liệt muôn đời. Quận chúa Trần Ý Ninh và Bùi Thiệu Hoa đều là học trò của Vô Huyền Bồ Tát.
  5. Người mất là Thái thượng hoàng Trần Thái Tông, húy Trần Cảnh. Tân Nguyên sử có lẽ lẫn lộn tên của Trần Thái Tông (Trần Cảnh) với Trần Thánh Tông (Trần Quang Bính (陳光昺)).
  6. Trần Thánh Tông, cũng chính là Quang Cảo (光暠) mà Tân Nguyên sử nói ở trên đến đây.
  7. Người mất là Thái thượng hoàng Trần Thái Tông, húy Trần Cảnh. Tân Nguyên sử có lẽ lẫn lộn tên của Trần Thái Tông (Trần Cảnh) với Trần Thánh Tông (Trần Quang Bính (陳光昺)).
  8. Người mất là Thái thượng hoàng Trần Thái Tông, húy Trần Cảnh. Tân Nguyên sử có lẽ lẫn lộn tên của Trần Thái Tông (Trần Cảnh) với Trần Thánh Tông (Trần Quang Bính (陳光昺)).
  9. Trần Nhân Tông.
  10. Trần Nhân Tông
  11. Nguyên văn 遂拘子大奇于江陵, có lẽ Tân Nguyên sử lầm, đúng ra phải là giữ Đào Tử Kỳ (陶子奇) ở Giang Lăng.
  12. Trần Anh Tông. Ở đoạn dưới nói Nhật Sáo mất năm 1320, con là Nhật Hoảng (Trần Minh Tông) nối.
  13. Trần Anh Tông
  14. Trần Minh Tông. Chữ 爌 có thể đọc là Khoáng, Hoảng.
  15. Trần Hiến Tông.
  16. Trần Đoan Ngọ chính là Trần Hiến Tông. Xem chi tiết chính thức được phong An Nam quốc vương phía sau.
  17. Ở phía trên Trần Nhật Phụ là Trần Hiến Tông. Tuy nhiên, năm 1335, Trần Hiến Tông (Trần Nhật Phụ) mới có 16 tuổi. Có lẽ ở đây muốn nói Thượng hoàng Trần Minh Tông (1300-1357) (Trần Nhật Hoảng). Sau khi nhường ngôi cho Trần Hiến Tông năm 1329, Trần Minh Tông lui về phủ Thiên Trường nhưng vẫn nắm thực quyền.
  18. Trần Thánh Tông.
  19. Trần Đoan Ngọ chính là Trần Hiến Tông vì từ đời Trần Thánh Tông (Nhật Huyên) xuống 4 đời là đến Trần Minh Tông chỉ được phong là An Nam thế tử. Đến đời thứ 5 (Trần Hiến Tông), được phong An Nam quốc vương.