Bước tới nội dung

Biên dịch:Tín Tâm Minh

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tín Tâm Minh  (Nhà Đường
của Tăng Xán, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Tín Tâm Minh (cách viết khác: Xin Xin Ming hoặc Xinxinming) (tiếng Trung Quốc: 信心銘 ; Pīnyīn : Xìnxīn Míng; Wade–Giles: Hsin Hsin Ming; Romaji: Shinjinmei; nghĩa đen là: "Bản khắc Tâm Tín") là một bài thơ được cho là của Tổ thứ ba của Thiền Trung Quốc là Tăng Xán (chữ Hán: 鑑智僧璨; Pīnyīn: Jiànzhì Sēngcàn; Wade–Giles: Chien-chih Seng-ts'an; Romaji: Kanchi Sōsan; Giám Trí Tăng Xán) và là một trong những biểu hiện sớm nhất của Thiền Trung Quốc về thực hành tu tập tâm Phật giáo. Bài thơ này nằm trong phần T2010 của Đại Tạng Kinh Taisho.

Không nên nhầm lẫn văn bản này với Tâm Minh, cũng được tìm thấy trong chương ba mươi của Cảnh Đức truyền đăng lục, vốn là một văn bản có liên quan nhưng riêng biệt. — Trích dẫn từ Tín Tâm Minh của Wikipedia, bách khoa toàn thư mở.

Nguyên văn chữ Hán

[sửa]

(Chí)(đạo)()(nan) (duy)(hiềm)(giản)(trạch) (Dãn)(mạc)(tăng)(ái) (động)(nhiên)(minh)(bạch) (Hào)(ly)(hữu)(sai) (thiên)(địa)(huyền)(cách)

(Dục)(đắc)(hiện)(tiền) (mạc)(tồn)(thuận)(nghịch) (Vi)(thuận)(tương)(tranh) (thị)(vi)(tâm)(bệnh) (Bất)(thức)(huyền)(chỉ) (đồ)(lao)(niệm)(tĩnh)

(Viên)(đồng)(thái)() ()(khiếm)()() (Lương)(do)(thủ)(xả) (sở)()(bất)(như) (Mạc)(trục)(hữu)(duyên) (vật)(trụ)(không)(nhẫn)

(Nhất)(chủng)(bình)(hoài) (mẫn)(nhiên)(tự)(tận) (Chỉ)(động)(quy)(chỉ) (chỉ)(cánh)(di)(động) (Duy)(trệ)(lưỡng)(biên) (ninh)(tri)(nhất)(chủng)

(Nhất)(chủng)(bất)(thông) (lưỡng)(xứ)(thất)(công) (Khiển)(hữu)(một)(hữu) (tùng)(không)(bội)(không) (Đa)(ngôn)(đa)(lự) (chuyển)(bất)(tương)(ưng)

(Tuyệt)(ngôn)(tuyệt)(lự) ()(xứ)(bất)(thông) (Quy)(căn)(đắc)(chỉ) (tùy)(chiếu)(thất)(tông) (Tu)(du)(phản)(chiếu) (thắng)(khước)(tiền)(không)

(Tiền)(không)(chuyển)(biến) (giai)(do)(vọng)(kiến) (Bất)(dụng)(cầu)(chân) (duy)(tu)(tức)(kiến) (Nhị)(kiến)(bất)(trụ) (thận)(vật)(truy)(tầm)

(Tài)(hữu)(thị)(phi) (phân)(nhiên)(thất)(tâm) (Nhị)(do)(nhất)(hữu) (nhất)(diệc)(mạc)(thủ) (Nhất)(tâm)(bất)(sinh) (vạn)(pháp)()(cữu)

()(cữu)()(pháp) (bất)(sinh)(bất)(tâm) (Năng)(tùy)(cảnh)(diệt) (cảnh)(trục)(năng)(trầm) (Cảnh)(do)(năng)(cảnh) (năng)(do)(cảnh)(năng)

(Dục)(tri)(lưỡng)(đoạn) (nguyên)(thị)(nhất)(không) (Nhất)(không)(đồng)(lưỡng) (tề)(hàm)(vạn)(tượng) (Bất)(kiến)(tinh)(thô) (ninh)(hữu)(thiên)(đảng)

(Đại)(đạo)(thể)(khoan) ()(dị)()(nan) (Tiểu)(kiến)(hồ)(nghi) (chuyển)(cấp)(chuyển)(trì) (Chấp)(chi)(thất)(độ) (tất)(nhập)()(lộ)

(Phóng)(chi)(tự)(nhiên) (thể)()(khứ)(trụ) (Nhậm)(tánh)(hợp)(đạo) (tiêu)(dao)(tuyệt)(não) (Hệ)(niệm)(quai)(chân) (hôn)(trầm)(bất)(hảo)

(Bất)(hảo)(lao)(thần) ()(dụng)()(thân) (Dục)(thủ)(nhất)(thừa) (vật)()(lục)(trần) (Lục)(trần)(bất)() (hoàn)(đồng)(chính)(giác)

(Trí)(giả)()(vi) (ngu)(nhân)(tự)(phược) (Pháp)()(dị)(pháp) (vọng)(tự)(ái)(trước) (Tương)(tâm)(dụng)(tâm) (khởi)(phi)(đại)(thác)

()(sinh)(tịch)(loạn) (ngộ)()(hảo)(ác) (Nhất)(thiết)(nhị)(biên) (lương)(do)(châm)(chước) (Mộng)(huyễn)(không)(hoa) ()(lao)(bả)(tróc)

(Đắc)(thất)(thị)(phi) (nhất)(thời)(phóng)(khước) (Nhãn)(nhược)(bất)(miên) (chư)(mộng)(tự)(trừ) (Tâm)(nhược)(bất)(dị) (vạn)(pháp)(nhất)(như)

(Nhất)(như)(thể)(huyền) (ngột)(nhĩ)(vong)(duyên) (Vạn)(pháp)(tề)(quán) (quy)(phục)(tự)(nhiên) (Mẫn)(kỳ)(sở)() (bất)(khả)(phương)(tỷ)

(Chỉ)(động)()(động) (động)(chỉ)()(chỉ) (Lưỡng)()(bất)(thành) (nhất)()(hữu)(nhĩ) (Cứu)(cánh)(cùng)(cực) (bất)(tồn)(quỹ)(tắc)

(Khế)(tâm)(bình)(đẳng) (sở)(tác)(câu)(tức) (Hồ)(nghi)(tịnh)(tận) (chính)(tín)調(điều)(trực) (Nhất)(thiết)(bất)(lưu) ()(khả)()(ức)

()(minh)(tự)(chiếu) (bất)(lao)(tâm)(lực) (Phi)()(lượng)(xứ) (thức)(tình)(nan)(trắc) (Chân)(như)(pháp)(giới) ()(tha)()(tự)

(Yếu)(cấp)(tương)(ưng) (duy)(ngôn)(bất)(nhị) (Bất)(nhị)(giai)(đồng) ()(bất)(bao)(dung) (Thập)(phương)(trí)(giả) (giai)(nhập)(thử)(tông)

(Tông)(phi)(xúc)(diên) (nhất)(niệm)(vạn)(niên) ()(tại)(bất)(tại) (thập)(phương)(mục)(tiền) (Cực)(tiểu)(đồng)(đại) (vong)(tuyệt)(cảnh)(giới)

(Cực)(đại)(đồng)(tiểu) (bất)(kiến)(biên)(biểu) (Hữu)(tức)(thị)() ()(tức)(thị)(hữu) (Nhược)(bất)(như)(thị) (tất)(bất)(tu)(thủ)

(Nhất)(tức)(nhất)(thiết) (nhất)(thiết)(tức)(nhất) (Đãn)(năng)(như)(thị) ()(lự)(bất)(tất) (Tín)(tâm)(bất)(nhị) (bất)(nhị)(tín)(tâm)

(Ngôn)(ngữ)(đạo)(đoạn) (phi)(khứ)(lai)(kim)

Dịch nghĩa

[sửa]

Đạo lớn chẳng khó,
Chỉ ngại chọn lựa.
Chớ ghét chớ yêu,
Rỗng nhiên sáng tỏ.

Sai một hào ly,
Đất trời cách biệt.
Muốn ngay hiện tiền,
Chớ còn thuận nghịch.

Thuận nghịch tranh nhau,
Ấy là bệnh tâm.
Chẳng rõ huyền chỉ,
Uổng công cầu lặng.

Tròn đồng thái hư,
Chẳng thiếu chẳng dư.
Chỉ vì lấy bỏ,
Nên chẳng như như.

Chớ theo duyên có,
Đừng trụ nhẫn không.
Giữ lòng bình đẳng,
Tự nhiên lặng hết.

Dừng động về dừng,
Dừng càng thêm động.
Mắc nơi hai bên,
Đâu hay một đạo.

Một đạo chẳng thông,
Hai đường đều mất.
Đuổi có thành không,
Theo không trái không.

Nói nhiều nghĩ lắm,
Càng chẳng tương ưng.
Dứt lời dứt nghĩ,
Đâu chẳng thông suốt.

Về nguồn được ý,
Theo chiếu mất tông.
Chốc lát phản chiếu,
Hơn cả không trước.

Cái không ban đầu,
Đổi thay đều vọng.
Chẳng cần cầu chân,
Chỉ nên dứt thấy.

Hai thấy chẳng trụ,
Chớ nên tìm nữa.
Vừa khởi thị phi,
Đã mất bản tâm.

Hai do một có,
Một cũng chớ giữ.
Một tâm chẳng sinh,
Muôn pháp không lỗi.

Không lỗi không pháp,
Không sinh không tâm.
Năng theo cảnh diệt,
Cảnh theo năng chìm.

Cảnh bởi năng cảnh,
Năng bởi cảnh năng.
Muốn hay hai mặt,
Vốn chỉ một không.

Một không dung cả,
Muôn tượng đồng gồm.
Chẳng thấy tinh thô,
Nào còn thiên lệch.

Đại đạo rộng lớn,
Chẳng dễ chẳng khó.
Kiến nhỏ hồ nghi,
Càng gấp càng chậm.

Chấp vào mất độ,
Ắt vào đường tà.
Buông ra tự tại,
Thể không đi ở.

Mặc tánh hợp đạo,
Tiêu dao dứt não.
Buộc niệm trái chân,
Hôn trầm chẳng phải.

Mệt nhọc tinh thần,
Thân sơ ích gì?
Muốn lấy nhất thừa,
Chớ ghét sáu trần.

Sáu trần chẳng ghét,
Chính là giác ngộ.
Người trí vô vi,
Kẻ ngu tự buộc.

Pháp vốn không khác,
Vọng tự yêu chấp.
Đem tâm dùng tâm,
Lỗi nào lớn hơn?

Mê sinh tịch loạn,
Ngộ chẳng ghét yêu.
Hết thảy hai bên,
Đều do cân nhắc.

Mộng huyễn hoa không,
Giữ lấy làm gì?
Được mất phải quấy,
Một phen buông sạch.

Mắt chẳng còn mộng,
Bao mộng tự tan.
Tâm nếu chẳng khác,
Muôn pháp nhất như.

Nhất như thể huyền,
Lặng quên các duyên.
Muôn pháp bình đẳng,
Trở về tự nhiên.

Quên luôn sở dĩ,
Chẳng thể ví lường.
Dừng động không động,
Động dừng không dừng.

Hai đều chẳng lập,
Một cũng chẳng còn.
Cùng tột cứu cánh,
Chẳng còn khuôn phép.

Khế tâm bình đẳng,
Việc làm đều lặng.
Hồ nghi sạch hết,
Chánh tín ngay thẳng.

Tất cả chẳng lưu,
Không gì ghi nhớ.
Hư minh tự chiếu,
Chẳng nhọc tâm lực.

Chẳng nơi nghĩ bàn,
Tình thức khó lường.
Chân như pháp giới,
Không người không ta.

Muốn chóng tương ưng,
Chỉ nói chẳng hai.
Chẳng hai bình đẳng,
Dung nhiếp tất cả.

Mười phương trí giả,
Đều vào tông này.
Tông không mau chậm,
Một niệm muôn năm.

Không đâu chẳng có,
Hiện khắp mười phương.
Cực nhỏ đồng lớn,
Quên hẳn cảnh giới.

Cực lớn đồng nhỏ,
Chẳng thấy bờ mé.
Có tức là không,
Không tức là có.

Chẳng được như thế,
Ắt chớ giữ gì.
Một tức tất cả,
Tất cả tức một.

Được như thế ấy,
Lo gì chẳng xong?
Tín tâm chẳng hai,
Chẳng hai tín tâm.

Đường lời dứt bặt,
Chẳng khứ chẳng lai,
Cũng chẳng hiện tại.


 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.