Biên dịch:Tống sử/Quyển 488
Giao Chỉ 交趾
[sửa]Giao Chỉ 交趾, đầu thời Hán vốn là đất Nam Việt 南越, Hán Vũ đế bình định Nam Việt, chia đất ấy thành Đam Nhĩ (儋耳), Châu Nhai (珠崖), Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交阯), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), tất cả 9 quận, đặt Giao Chỉ Thứ sử 交阯刺史 để cai quản.
Đời Hậu Hán đặt Giao Châu 交州, các đời Tấn, Tống[1], Tề, Lương, Trần[2] tiếp tục theo đó, lại lập Giao Chỉ quận 交阯郡.
Nhà Tùy bình định nhà Trần, bỏ quận lập châu; đầu thời Tùy Dạng Đế, bỏ châu lập quận.
Giữa niên hiệu Vũ Đức nhà Đường[3], đổi thành Giao Châu Tổng quản phủ 交州總管府; giữa niên hiệu Chí Đức[4], đổi thành An Nam Đô hộ phủ 安南都護府.
Giữa niên hiệu Trinh Minh nhà Hậu Lương[5], thổ hào Khúc Thừa Mỹ (曲承美) chuyên chiếm đất ấy, dâng biểu quy thuận Mạt Đế, nên được ban tiết việt.
Khi đó Lưu Ẩn (劉隱)[6] tự ý ra lệnh ở Lĩnh Biểu 嶺表[7], sai tướng Lý Tri Thuận (李知順) đánh Thừa Mỹ, bắt được ông ta, rồi sáp nhập đất ấy.
Sau có Dương Diên Nghệ (楊延藝)[8], Thiệu Hồng (紹洪)[9] đều nhận chức Quảng Nam Thự 廣南署, kế tiếp làm Giao Chỉ Tiết độ sứ 交阯節度使. Thiệu Hồng mất, châu tướng Ngô Xương Ngập (吳昌岌) liền chiếm giữ chức ấy. Xương Ngập chết, em là Xương Văn (昌文) kế vị.
Đầu niên hiệu Càn Đức (乾德)[10], Xương Văn (昌文) chết, tham mưu Ngô Xử Bình (吳處玶), Phong Châu (峯州) Thứ sử Kiểu Tri Hộ (矯知護), Vũ Ninh Châu (武寧州) Thứ sử Dương Huy (楊暉), Nha tướng Đỗ Cảnh Thạc (杜景碩) tranh nhau lập người, 12 châu trong khu vực đại loạn. Dân trong bộ tụ tập, nổi dậy làm giặc cướp, tấn công Giao Châu.
Trước kia, Dương Đình Nghệ (楊廷藝) sai Nha tướng Đinh Công Trứ (丁公著) quyền giữ chức Hoan Châu (驩州) Thứ sử kiêm Ngự Phiên Đô đốc, Bộ Lĩnh (部領) chính là con ông ta. Công Trứ chết, Bộ Lĩnh kế nhiệm. Đến lúc này, Bộ Lĩnh cùng con là Liễn (璉) đem quân đánh bại Xử Bình và những người khác, đảng giặc tan rã, trong cõi yên ổn, dân Giao cảm đức, bèn suy tôn Bộ Lĩnh làm Giao Châu Soái 交州帥, xưng là Đại Thắng Vương (大勝王), phong con là Liễn làm Tiết độ sứ. Tổng cộng 3 năm, Bộ Lĩnh nhường ngôi cho Liễn. Liễn trị vì 7 năm, nghe tin Lĩnh Ngoại đã bình định, bèn sai sứ dâng cống sản vật địa phương, dâng biểu quy thuận.
Chiếu phong quyền Giao Châu Tiết độ sứ Đinh Liễn (丁璉) làm Kiểm hiệu Thái sư 檢校太師, kiêm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ 靜海軍節度使, An Nam Đô hộ 安南都護. Lại ban chiếu phong sứ giả tiến cống là Trịnh Tú (鄭琇), Vương Thiệu Tộ (王紹祚) đều làm Kiểm hiệu Tả Tán kỵ Thường thị kiêm Ngự sử Đại phu.
Năm Khai Bảo thứ 8 (975), (Đinh Bộ Lĩnh) sai sứ dâng cống tê giác, voi, hương liệu. Triều đình bàn việc ban thưởng Bộ Lĩnh, hạ chiếu rằng: “Khắp cõi về quy phục, nên lấy ân tín mà đối đãi; cả họ phụng sự quốc gia, nên ban phong tước trọng. Ngươi Bộ Lĩnh đời đời là dòng họ lớn, giữ yên phương xa; sớm ngưỡng mộ văn hóa Hoa Hạ, không quên quy thuận. Nay chín châu thống nhất, Ngũ Lĩnh đã yên, không còn giới hạn biển khơi, vui lòng dâng cống báu vật. Mừng con ngươi xứng đáng, được liệt vào hàng chư hầu. Đặc biệt ban ân lớn, để biểu dương nghĩa cử. Mong ngươi sống lâu, hưởng vinh sủng này. Có thể phong làm Khai phủ Nghi đồng Tam ti, Kiểm hiệu Thái sư, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王).”
Tống Thái Tông vừa lên ngôi, Đinh Liễn lại sai sứ mang sản vật đến chúc mừng. Bộ Lĩnh và Liễn đều đã mất, em Liễn là Đinh Toàn (璿 Đinh Tuyền) còn nhỏ, kế vị, xưng là Tiết độ hành quân Tư mã quyền lãnh quân phủ sự 節度行軍司馬權領軍府事. Đại tướng Lê Hoàn (黎桓) chuyên quyền kết đảng, dần dần không thể kiềm chế, ép chuyển Toàn đến nơi khác, bắt cả họ giam giữ, thay quyền nắm giữ binh chúng.
Thái Tông nghe tin, nổi giận, bèn bàn việc phát binh. Mùa thu năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 (980), ban chiếu cử Lan Châu 蘭州 Đoàn luyện sứ Tôn Toàn Hưng (孫全興), Bát Tác sứ Trương Tuyên (張璿), Tả Giám môn Vệ tướng quân Thôi Lượng (崔亮) làm bộ phận binh mã đường bộ, tiến quân từ đường Ung Châu; Ninh Châu Thứ sử Lưu Trừng (劉澄), Quân khí khố Phó sứ Giả Thập (賈湜), Cung phụng quan Hợp môn Chi hậu Vương Chuẩn (王僎) làm bộ phận binh mã đường thủy, tiến quân từ đường Quảng Châu.
Mùa đông năm ấy, Lê Hoàn sai Nha hiệu Giang Cự Hoàng (江巨湟) mang sản vật đến cống, đồng thời thay Đinh Toàn dâng biểu rằng: “Thần tộc vốn là man tù trưởng, ở nơi hải ngoại, tuân theo lễ cống với triều đình, được ban tiết chế ở phương xa. Cha anh thần đời đời nhận trọng trách, giữ yên cõi bờ, không dám lười nhác. Nay gặp cảnh suy vong, cơ nghiệp sắp đổ, tướng sĩ và bô lão đều giao phó cho thần, cho quyền nắm việc quân để yên dân chúng. Phong tục nơi đây hung bạo, khẩn cầu càng gấp, nếu khước từ e sinh biến loạn. Thần đã tạm giữ chức Tiết độ hành quân Tư mã quyền lãnh quân phủ sự, mong được ban chính chức, để vào hàng chư hầu. Mạo phạm thiên nhan, cúi xin run sợ.”
Vua xét thấy y muốn trì hoãn binh triều, nên không trả lời. Quân triều tiến đánh, phá hơn 1 vạn quân giặc, chém hơn 2.000 thủ cấp. Mùa xuân năm thứ 6 (981), lại phá giặc ở cửa sông Bạch Đằng 白藤江口, chém hơn 1.000 thủ cấp, thu được 200 chiến thuyền, hàng vạn giáp trụ.
Chuyển vận sứ Hầu Nhân Bảo (侯仁寶) dẫn tiền quân tiến trước, Toàn Hưng và các tướng đóng quân ở Hoa Bộ 花步 70 ngày chờ Trừng, Nhân Bảo nhiều lần thúc giục nhưng không tiến. Đến khi Trừng tới, hợp quân theo đường thủy đến thôn Đa La 多羅村, không gặp giặc, lại tự ý quay về Hoa Bộ. Lê Hoàn giả hàng để dụ Nhân Bảo, rồi giết ông ta.
Chuyển vận sứ Hứa Trọng Tuyên (許仲宣) phi báo việc ấy, triều đình bèn lui quân. Vua sai sứ tra xét Trừng, Thập, Chuẩn. Trừng sau đó bệnh chết, Thập và Chuẩn bị xử tử ở chợ Ung Châu. Toàn Hưng về đến kinh, cũng bị giao cho quan lại xử tử, những người khác bị xử phạt theo mức độ. Nhân Bảo được truy phong làm Công bộ Thị lang.
Năm thứ 7 mùa xuân, Hoàn lo sợ triều đình rốt cuộc sẽ tiến hành thảo phạt, lại dùng Đinh Toàn (丁璿) làm danh nghĩa, sai sứ cống sản vật địa phương, dâng biểu tạ tội.
Năm thứ 8, Hoàn tự xưng là Quyền Giao Châu Tam Sứ Lưu Hậu 交州三使留後, sai sứ cống sản vật, đồng thời dâng biểu của Toàn lên. Hoàng đế ban chiếu cho Hoàn rằng: “Họ Đinh truyền nối ba đời, giữ vững một phương, khanh đã được họ nương cậy, là tâm phúc của họ, có thể theo lời thỉnh cầu của dân chúng, không phụ lòng họ Đinh. Trẫm muốn lấy Toàn làm danh nghĩa thống soái, khanh giữ chức phó, mọi việc chế định đều giao cho khanh. Đợi đến khi Đinh Toàn đội mũ trưởng thành, có chút thành tựu, sự phò tá của khanh sẽ càng thêm rạng rỡ, công lao trung nghĩa được tôn vinh, trẫm há lại tiếc gì! Nếu Đinh Toàn không có tài làm tướng, vẫn còn tính trẻ con, nhưng vì đời đời kế thừa, dòng dõi kéo dài, một sớm bỏ tiết việt, hạ xuống ngang hàng binh sĩ, lý đã không thuận, ở cũng chẳng yên. Chiếu đến, khanh nên sai mẹ con Đinh Toàn cùng thân thuộc cả nhà đến quy thuận. Đợi họ vào triều, sẽ chọn ngày ban chiếu, trao tiết mao cho khanh. Hai con đường này, khanh nên xét kỹ chọn một. Đinh Toàn đến kinh, ắt sẽ được đãi ngộ hậu hĩnh. Nay sai Cung phụng quan Trương Tông Quyền (張宗權) mang chiếu truyền ý chỉ, để bày tỏ lòng trẫm.” Cũng ban chiếu cho Toàn như lời. Khi đó Lê Hoàn đã chuyên chiếm đất ấy, không nghe lệnh. Năm ấy, tháng 5 (tức tháng 6 năm 979), tâu rằng nước Chiêm Thành đem thủy lục, voi ngựa mấy vạn đến xâm lược, đem quân bản bộ đánh lui, bắt chém hơn 1.000.
Năm Ung Hi thứ 2 (985), sai Nhai hiệu Trương Thiệu Phùng (張紹馮), Nguyễn Bá Trâm (阮伯簪) cùng những người khác cống sản vật địa phương, tiếp tục dâng biểu xin chính thức nhận lãnh tiết trấn.
Năm thứ 3 (986) mùa thu, lại sai sứ cống sản vật. Đạm Châu báo rằng người nước Chiêm Thành là Bồ La Át (蒲羅遏) dẫn hơn 100 người trong tộc nội phụ, nói là vì bị Giao Châu bức bách.
Năm ấy (986), tháng 10, ban chiếu rằng: “Vương giả lấy việc xây dựng hoàng cực làm trọng, ân sủng vỗ về các phiên trấn. Lập quán ở kinh sư là để thể hiện lễ hội tụ lớn; ban đất ở các phương là để biểu dương uy thế tiết chế. Huống chi nơi góc trời chim yến bay đến này, có thể tu sửa cống phẩm lông vũ, đúng lúc thay tướng, nên lập hầu, không quên lòng thành cầu mệnh, dùng để thực hiện lễ báo đáp công lao. Quyền Tri Giao Châu Tam Sứ Lưu Hậu Lê Hoàn, kiêm có nghĩa dũng, đặc biệt trung thuần, có thể được lòng dân, càng kính giữ lễ thần phiên. Trước đây, Đinh Tuyên còn thơ ấu, chưa biết vỗ về cai trị. Hoàn là thân thích ruột thịt, chuyên nắm việc quân, hiệu lệnh tự mình ban ra, uy và ân cùng thi hành. Tuyên đã giao hết quyền Tam Sứ, để thuận theo lòng người. Từ xa dâng lòng thành, xin nhận tiết mao. Sĩ Nhiếp cường minh, cảm hóa dân Việt mà đều trị; Úy Đà cung thuận, nhận chiếu Hán mà không trái. Nên chính danh nguyên nhung, xếp vào hàng thông hầu, cai quản các bộ lạc man di, để tuyên dương ân huệ trời. Nay phong làm Kiểm hiệu Thái bảo, Sứ trì tiết, Đô đốc Giao Châu chư quân sự, An Nam đô hộ, kiêm Tĩnh Hải quân tiết độ, Giao Châu quản nội quan sát xử trí đẳng sứ, phong làm hầu quận Kinh Triệu, ban thực ấp 3.000 hộ, lại ban hiệu là Thôi thành thuận hóa công thần.” Sai Tả bổ khuyết Lý Nhược Chuyết (李若拙), Quốc tử bác sĩ Lý Giác (李覺) làm sứ thần để ban chiếu ấy.
Năm Đoan Củng nguyên niên (988), gia phong cho Lê Hoàn chức Kiểm hiệu Thái úy, tăng thực ấp 1.000 hộ, thực phong 500 hộ. Sai Hộ bộ Lang trung Ngụy Tường (魏庠), Ngu bộ Viên ngoại lang, Trực Sử quán Lý Độ (李度) sang sứ.
Năm Thuần Hóa nguyên niên mùa hạ (990), gia phong cho Lê Hoàn chức Đặc tiến, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ. Sai Tả chính ngôn Trực Sử quán Tống Hạo (宋鎬), Hữu chính ngôn Trực Sử quán Vương Thế Tắc (王世則) lại sang sứ.
Năm sau (991), tháng 6, về triều, Hoàng thượng lệnh kê khai địa thế núi sông và sự tích của Lê Hoàn để tâu trình. Tống Hạo cùng các sứ thần dâng tấu đầy đủ rằng:
Cuối thu năm ngoái (990), đến biên giới Giao Châu, Lê Hoàn sai Nhai nội Đô chỉ huy sứ Đinh Thừa Chính (丁承正) cùng những người khác mang 9 chiếc thuyền, 300 lính đến Thái Bình Quân 太平軍[11] nghênh đón, từ cửa biển ra đại dương, vượt sóng gió, khá nhiều hiểm nguy. Qua nửa tháng đến Bạch Đằng, đi thẳng vào nhánh biển, theo thủy triều mà tiến. Mỗi nơi nghỉ đều có ba gian nhà tranh, mới dựng, gọi là quán dịch.
Đến Trường Châu 長州, gần sát bản quốc, Lê Hoàn phô trương hư dối, cố làm vẻ huy hoàng, đem toàn bộ thuyền chiến, mái chèo ra gọi là “diệu quân 耀軍” (diễu binh, khoe quân).
Từ đó đi đêm đến bờ biển, cách thành Giao Châu chỉ 15 dặm, có năm gian nhà tranh đề là “Mao Kính Dịch 茅徑驛”. Cách thành 100 dặm, lùa dân và gia súc, bịa là trâu quan, số không đến 1.000, nhưng rêu rao là 10 vạn. Lại huy động dân lẫn vào quân, mặc áo nhiều màu, lên thuyền đánh trống reo hò. Gần thành, trên núi căng cờ trắng, giả làm trận thế. Chẳng bao lâu, Lê Hoàn đến, làm lễ nghênh đón ngoài thành, Hoàn ghìm ngựa nghiêng mình, hỏi thăm sức khỏe hoàng đế, rồi cùng đi, thường tặng trầu cau, ăn ngay trên ngựa, đó là phong tục trọng đãi khách.
Trong thành không có dân cư, chỉ có vài chục đến trăm khu nhà tranh tre, làm doanh trại. Phủ nha chật hẹp, đề cửa là “Minh Đức Môn 明德門”.
Lê Hoàn thô kệch, mắt mù một bên (目眇), tự nói gần đây giao chiến với man tặc, ngã ngựa bị thương chân, nhận chiếu không lạy. Sau hai đêm, mới bày tiệc rượu. Lại ra cửa biển chơi, gọi là du ngoạn đãi khách. Hoàn chân trần cầm sào, xuống nước đánh cá, mỗi lần trúng cá, bọn tả hữu reo hò vui mừng. Mỗi lần yến tiệc, người ngồi đều phải cởi đai lưng, đội mũ. Hoàn thường mặc áo hoa dệt, áo đỏ, mũ trang sức bằng ngọc trai, có khi tự hát mời rượu, không ai hiểu lời. Từng sai vài chục người khiêng con rắn lớn dài mấy trượng, đem đến sứ quán, nói: “Nếu ăn được, sẽ chế biến làm món dâng.” Lại dẫn hai con hổ đến để xem. Đều bị từ chối không nhận.
Quân lính gần 3.000 người, đều xăm trán chữ “Thiên tử quân 天子軍”. Lương thực là lúa thóc, phát theo ngày, phải tự giã mà ăn. Vũ khí chỉ có cung nỏ, khiên gỗ, lao gỗ, giáo tre, yếu không dùng được.
Lê Hoàn khinh bạc tàn nhẫn, thân cận tiểu nhân, tâm phúc là bọn hoạn quan 5–7 người đứng quanh. Thích chè chén, dùng tay ra hiệu làm trò vui. Quan lại giỏi việc thì cho ở gần bên, có lỗi nhỏ cũng giết, hoặc đánh lưng 100–200 roi. Tùy tùng không vừa ý, cũng bị đánh 30–50 roi, giáng làm lính gác cổng; khi nguôi giận thì gọi về phục chức. Có một tháp gỗ, kiến trúc thô sơ, một hôm Hoàn mời cùng lên chơi.
Đất không có khí lạnh, tháng 11 vẫn mặc áo kép, phe phẩy quạt.
Năm thứ 4 (993), tiến phong Lê Hoàn làm Giao Chỉ quận vương. Năm thứ 5 (994), sai Nhai hiệu Phí Sùng Đức (費崇德) cùng những người khác sang tu sửa việc cống nạp. Tuy nhiên, bản tính Lê Hoàn vốn hung bạo, dựa vào địa thế núi biển hiểm trở, nhiều lần quấy nhiễu, dần mất lễ thần phiên.
Năm Nguyên niên niên hiệu Chí Đạo (995) mùa xuân, Chuyển vận sứ Quảng Nam Tây lộ Trương Quan (張觀), Giám áp binh mã trấn Như Hồng châu Khâm là Vệ Chiêu Mỹ (衞昭美) đều tâu rằng có hơn 100 chiến thuyền Giao Châu đến cướp trấn Như Hồng, bắt dân, cướp kho lương rồi rút. Mùa hạ năm ấy, châu Tô Mậu do Lê Hoàn quản lý lại dùng 5.000 dân binh đánh cướp châu Lục thuộc Ung châu, Đô tuần kiểm Dương Văn Kiệt (楊文傑) đánh lui được.
Thái Tông chủ trương vỗ yên man phục, không muốn hỏi tội. Trương Quan lại tâu rằng nghe tin Lê Hoàn bị họ Đinh đuổi, ôm tàn quân lẩn khuất nơi núi biển, mất chỗ dựa, nên phải cướp bóc để sinh sống, nay thì Lê Hoàn đã chết. Quan nhân đó dâng biểu chúc mừng. Chiếu sai Thái thường thừa Trần Sĩ Long (陳士隆), Cao phẩm Vũ Nguyên Cát (武元吉) làm sứ sang Lĩnh Nam, nhân đó dò xét tình hình. Sĩ Long cùng các sứ thần về báo, lời giống như Trương Quan.
Kỳ thực Lê Hoàn vẫn còn sống, chỉ là tin đồn sai lạc, Trương Quan và những người khác không thể xác minh rõ. Chẳng bao lâu, có thương nhân lớn từ Giao Chỉ về, nói rõ Lê Hoàn vẫn làm chủ như cũ. Chiếu tội Trương Quan và những người liên quan, nhưng Trương Quan đã bệnh mất, còn Chiêu Mỹ, Sĩ Long, Nguyên Cát đều bị xử tội.
Trước đó, ba trấn ở Khâm Châu là Như Hồng, Đốt Bộ, Như Tích đều giáp biển. Người dân ở Triều Dương thuộc Giao Châu là Bốc Văn Dũng (卜文勇) cùng đồng bọn giết người, cả nhà bỏ trốn đến trấn Như Tích, Trấn tướng Hoàng Lệnh Đức (黃令德) cùng những người khác che giấu. Lê Hoàn sai Trấn tướng Triều Dương là Hoàng Thành Nhã (黃成雅) gửi công văn đến bắt, nhưng Lệnh Đức kiên quyết không giao. Từ đó hải tặc liên tiếp cướp bóc nhiều năm.
Năm thứ 2 (996), lấy Công bộ Viên ngoại lang, Trực Sử quán Trần Nghiêu Tẩu (陳堯叟) làm Chuyển vận sứ, nhân đó ban chiếu cho Lê Hoàn. Nghiêu Tẩu vừa đến, sai Huyện úy Hải Khương, châu Lôi là Lý Kiến Trung (李建中) mang chiếu đến thăm hỏi Lê Hoàn. Nghiêu Tẩu lại đến Như Tích, tra rõ nguyên do che giấu Bốc Văn Dũng, bắt toàn bộ nam nữ già trẻ 130 người, giao cho quan lại Triều Dương, lại dặn không được dùng hình phạt tàn khốc. Thành Nhã nhận người, dâng thư tạ Nghiêu Tẩu. Lê Hoàn bèn dâng chương tạ ơn, đồng thời bắt 25 tên hải tặc giao cho Nghiêu Tẩu, lại nói đã răn đe các thủ lĩnh khe động, không được quấy nhiễu.
Tháng 7, Thái Tông sai Chủ khách Lang trung, Trực Chiêu Văn quán Lý Nhược Chuyết (李若拙) mang chiếu thư, làm Quốc tín sứ, đem đai ngọc quý ban cho Lê Hoàn. Nhược Chuyết đến nơi, Lê Hoàn ra ngoài thành nghênh đón, nhưng lời lẽ vẫn ngạo mạn, nói với Nhược Chuyết:
- “Trước đây đánh trấn Như Hồng 如洪鎮 là bọn man tặc ngoài biên, hoàng đế có biết đó không phải quân Giao Châu chăng? Nếu Giao Châu thật sự phản mệnh, thì phải đánh Phiên Ngung 番禺 trước, rồi đến Mân 閩, Việt 越, há chỉ dừng ở trấn Như Hồng thôi sao!”
Nhược Chuyết điềm tĩnh đáp:
- “Hoàng thượng lúc đầu nghe tin giặc đánh trấn Như Hồng, tuy chưa rõ xuất xứ bọn giặc, nhưng vì ngài (Hoàn) vốn xuất thân từ Nha hiệu Giao Châu, được trao tiết chế, thì lẽ ra phải tận trung báo đáp, sao lại có điều nghi ngờ! Đến khi thấy bắt được hải tặc, sự việc rõ ràng. Tuy nhiên các đại thần bàn rằng: triều đình lập tiết soái là để yên vùng biển, nay giặc man gây hại, tức là Giao Châu không thể tự chế ngự, xin phát vài vạn tinh binh, hợp quân Giao Châu tiêu diệt, để Giao Quảng không còn hậu hoạn. Hoàng thượng (vua Tống) nói: ‘Chưa nên khinh động, e Giao Châu không hiểu ý chỉ, sinh kinh hãi, chi bằng tạm giao cho Lê Hoàn đánh dẹp, rồi sẽ dần yên ổn.’ Nay sẽ không hợp binh nữa.”
Lê Hoàn kinh ngạc, bước ra khỏi chiếu, nói: “Hải tặc phạm biên, là lỗi của quan giữ đất. Thánh quân dung tha, ơn hơn cha mẹ, chưa trách phạt. Từ nay xin giữ chức phận, bảo vệ biển cả mãi được yên bình.” Rồi hướng về phương Bắc lạy tạ.
Chân Tông lên ngôi, tiến phong Lê Hoàn làm Nam Bình vương, kiêm Thị trung. Trước đó, Hoàn sai Đô tri binh mã sứ Nguyễn Thiệu Cung (阮紹恭), Phó sứ Triệu Hoài Đức (趙懷德) mang đến cống một ghế giao long khảm thất bảo bằng vàng bạc, 10 chậu bạc, 50 chiếc sừng tê và ngà voi, cùng 10.000 tấm lụa, the, vải. Chiếu cho bày ở điện Vạn Tuế trước thần ngự của Thái Tông, cho Thiệu Cung cùng các sứ thần bái tế. Khi về, ban cho Lê Hoàn ngựa đeo giáp, chiếu thư an ủi khen thưởng.
Năm Hàm Bình thứ 4 (1001), lại sai Hành quân Tư mã Lê Thiệu (黎紹), Phó sứ Hà Khánh Thường (何慶常) mang đến cống một con tê giác thuần, hai con voi, hai con tượng san 象𱮄[犭+朋][12], một bình vàng khảm thất bảo. Năm ấy, Khâm Châu báo rằng dân Hiệu Thành Trường 効誠場 thuộc Giao Châu cùng thủ lĩnh tám châu là Hoàng Khánh Tập (黃慶集) và mấy trăm người đến đầu hàng, có chiếu an phủ, cho trở về bản đạo.
Quảng Nam Tây Lộ tâu rằng Lê Hoàn đón nhận chiếu thư phong quan, sai Hoàng Thành Nhã dâng biểu, xin từ nay triều đình ban ân, cử sứ đến bản đạo để vinh hiển vùng biển xa. Trước đó, mỗi lần sứ đến Giao Châu, Hoàn đều lấy cớ cung phụng mà nhân đó thu thuế nặng. Hoàng thượng nghe vậy, bèn lệnh từ nay chỉ đến biên giới mà gọi Hoàn đến ban mệnh, không cử sứ đến tận nơi nữa.
Năm Cảnh Đức nguyên niên (1004), lại sai con là Minh Đề (明提), nhiếp Hoan Châu Thứ sử 攝驩州刺史, đến cống, khẩn cầu ban ân, cử sứ đến bản đạo để an phủ vùng xa, được chấp thuận, và phong Minh Đề làm Thứ sử Hoan Châu. Năm thứ 2, tiết Thượng Nguyên (tức rằm tháng Giêng năm 1005), ban tiền cho Minh Đề, cho cùng sứ Chiêm Thành và Đại Thực 大食 xem đèn, yến tiệc, rồi sai Công bộ Viên ngoại lang Thiệu Diệp (邵曄) làm Quốc tín sứ.
Năm thứ 3 (1006), Lê Hoàn mất, lập con thứ là Long Việt (龍鉞). Anh của Long Việt là Long Toàn (龍全 Long Tích) cướp kho tàng rồi trốn, em là Long Đình (龍廷 Long Đĩnh) giết Long Việt để tự lập. Anh của Long Đình là Minh Hộ (明護 Long Cân) dẫn quân trại Phù Lan giao chiến. Minh Đề (明提) vì nước loạn không thể về, được đặc chiếu cho Quảng Châu cấp dưỡng thêm.
Tri châu Quảng Châu là Lăng Sách (凌策) cùng các quan tâu: “Các con Lê Hoàn tranh nhau lập ngôi, lòng người ly tán, thủ lĩnh Hoàng Khánh Tập (黃慶集), Hoàng Tú Man (黃秀蠻) cùng hơn 1.000 người vì không theo bị giết cả thân tộc, chạy sang Liêm Châu xin phát 2.000 quân bản đạo để bình định, Khánh Tập nguyện làm tiên phong.” Hoàng thượng cho rằng Lê Hoàn xưa nay trung thuận, nhiều lần cống hiến, nay nhân loạn mà đánh là không nên. Bèn đổi Quốc tín sứ Thiệu Diệp (邵曄) làm Duyên hải An phủ sứ, lệnh đến dụ bảo. Khánh Tập cùng thuộc hạ được cấp ruộng lương theo khẩu phần.
Thiệu Diệp gửi thư sang Giao Châu, khuyên răn bằng uy đức triều đình, rằng nếu cứ tàn sát lẫn nhau, lâu ngày không ổn định, khi quân triều đến hỏi tội thì họ Lê sẽ bị diệt. Minh Hộ sợ hãi, lập tức tôn Long Đình làm chủ quân sự. Long Đình tự xưng Tiết độ, Khai Minh vương, muốn dâng cống. Thiệu Diệp tâu lên, hoàng thượng nói: “Vùng xa phong tục khác lạ, không hiểu lễ nghi, cũng chẳng có gì lạ.” Lệnh xóa bỏ chức tước giả (ngụy).
Thiệu Diệp lại tâu: Thủ lĩnh Hoàng Khánh Tập trước tránh loạn quy thuận, dòng họ còn nhiều, nếu trả về e bị tàn sát. Chiếu cho Khánh Tập nhập tam ban, làm việc ở Sâm Châu, cho phép vào cống.
Năm thứ 4 (1007), Long Đình xưng Quyền An Nam Tĩnh Hải quân Lưu hậu, sai em là Thứ sử Phong Châu Minh Sưởng (明昶), Phó sứ, An Nam Chưởng thư ký, Điện trung thừa Hoàng Thành Nhã (黃成雅) đến cống. Gặp lúc đại yến ở điện Hàm Quang, Hoàng thượng thấy Thành Nhã ngồi xa, muốn nâng vị trí, hỏi tể tướng Vương Đán, Đán nói: “Xưa Tử Sản vào chầu Chu, được Chu vương đãi bằng lễ thượng khanh, Tử Sản từ chối, nhận lễ hạ khanh mà về. Triều đình ban ơn xa xôi, đãi sứ thần hậu hĩnh, vốn không có gì đáng ngại.” Bèn nâng Thành Nhã lên hàng ngũ phẩm tại Thượng thư tỉnh.
Chiếu phong Long Đình làm Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái úy, sung Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát Xử trí đẳng sứ, An Nam Đô hộ, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, phong Giao Chỉ quận vương, thực ấp 3.000 hộ, thực phong 1.000 hộ; ban hiệu “Thôi thành thuận hóa công thần 推誠順化功臣”; ban tên là Chí Trung (至忠), cấp cờ tiết. Truy tặng Lê Hoàn chức Trung thư lệnh, tước Nam Việt vương. Các sứ như Lê Minh Sưởng đều được thăng chức.
Năm Đại Trung Tường Phù nguyên niên (1008), thiên thư giáng, gia phong Chí Trung làm “Dực đới công thần 翊戴功臣”, thực ấp 700 hộ, thực phong 300 hộ. Sau lễ Đông phong, gia phong Chí Trung làm “Đồng bình chương sự”, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ.
Năm thứ 2 (1009), Quảng Nam Tây Lộ tâu: Man Khâm Châu cướp dân chài cửa biển, trại chủ Như Hồng là Lý Văn Trứ (李文著) dùng quân nhẹ tập kích, trúng tên chết giữa dòng. Chiếu lệnh An Nam truy bắt giặc. Năm sau bắt được 13 người Địch Liêu 狄獠, dâng nộp. Chí Trung lại sai Thôi quan Nguyễn Thủ Cương (阮守疆) mang sừng tê, ngà voi, vàng bạc, vải gấm đến cống, dâng thêm một con tê giác thuần. Hoàng thượng cho rằng tê không hợp thổ nhưỡng, không thể nuôi, từ chối nhận. Lại sợ trái ý Chí Trung, đợi sứ đi rồi mới thả tê ra bờ biển.
Năm thứ 3 (1010), sai sứ sang chầu, dâng biểu xin áo giáp, vũ khí, chiếu cho theo yêu cầu. Lại xin mở chợ trao đổi ở Ung Châu, Chuyển vận sứ bản đạo tâu lên, hoàng thượng nói: “Dân ven biển thường bị Giao Châu xâm lấn, trước đã chỉ cho phép mở chợ ở Liêm Châu và trại Như Hồng, vì đó là nơi trọng yếu biên giới. Nay nếu tiến sâu vào nội địa thì không tiện.” Chiếu lệnh bản đạo theo lệ cũ mà bảo ban.
Năm thứ 4 (1011), Chí Trung (至忠) mới 26 tuổi, tàn bạo vô đạo, dân không theo. Đại tướng Lý Công Uẩn (李公蘊) được Chí Trung đặc biệt tín nhiệm, từng cho mang họ Lê. Năm ấy, Công Uẩn mưu lật đổ Chí Trung, đuổi đi, giết Minh Đề (明提), Minh Xưởng (明昶), rồi tự xưng Lưu hậu, sai sứ dâng cống. Hoàng thượng nói: “Lê Hoàn đoạt ngôi bất nghĩa, Công Uẩn lại noi theo, thật đáng ghét.” Nhưng vì là phong tục man di, không thể trách cứ, nên theo lệ cũ của Lê Hoàn, ban cho chức Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái phó, sung Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát Xử trí đẳng sứ, An Nam Đô hộ, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, phong Giao Chỉ quận vương, thực ấp 3.000 hộ, thực phong 1.000 hộ, ban hiệu “Thôi thành thuận hóa công thần”.
Công Uẩn lại dâng biểu xin bút tích của Thái Tông, chiếu ban 100 quyển. Năm thứ 4, tế Hậu Thổ ở Phần Âm, Công Uẩn sai Tiết độ Phán quan Lương Nhậm Văn (梁任文), Quan sát Tuần quan Lê Tái Nghiêm (黎再嚴) mang sản vật đến cống. Lễ xong, gia phong Công Uẩn làm Đồng bình chương sự, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ, Nhậm Văn cùng các sứ đều được thăng chức.
Năm thứ 5 mùa hạ (1012), phong Tiến phụng sứ Lý Nhân Mỹ (李仁美) làm Thứ sử Thành Châu, Đào Khánh Văn (陶慶文) làm Thái thường thừa. Người tùy tùng có kẻ chết vì bệnh, chiếu cho mang hài cốt về quê. Mùa đông, Thánh Tổ giáng chiếu[13], gia phong Công Uẩn làm Khai phủ Nghi đồng tam tư, thực ấp 700 hộ, thực phong 300 hộ, ban hiệu “Dực đãi công thần”.
Năm thứ 7 mùa xuân (1014), lại gia phong “Bảo tiết thủ chính công thần”, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ. Chiếu lệnh các sứ Giao Chỉ vào cống, nơi nào cũng phải cung cấp đầy đủ lễ nghi, vật phẩm. Năm ấy, sai Tri Đường Châu Thứ sử Đào Thạc (陶碩) đến cống, chiếu phong Thạc làm Thứ sử Thuận Châu, sung An Nam Tĩnh Hải quân Hành quân Tư mã; Phó sứ Ngô Hoài Tự (吳懷嗣) làm Thứ sử Trừng Châu, sung Tiết độ Phó sứ.
Trước đó, người Địch Liêu Giao Châu là Trương Bà Khán (張婆看) trốn tội chạy sang, Tri Khâm Châu Mục Trọng Anh (穆重穎) triệu đến, giữa đường lại cự tuyệt, Đô Tuần kiểm Tàng Tự (臧嗣) sai trại Như Hồng chiêu đãi bằng bò rượu. Giao Châu biết việc, bắt người Địch Liêu, nhân đó cướp trại Như Hồng, bắt người súc vật rất nhiều. Chiếu lệnh Chuyển vận sứ đốc thúc Công Uẩn truy bắt, lại lệnh quan biên từ nay không được dụ man di gây loạn.
Công Uẩn hoặc cách năm, hoặc liên tiếp các năm đều dâng cống sản vật. Năm Thiên Hy nguyên niên (1017), tiến phong Công Uẩn làm Nam Bình vương, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ. Năm thứ 3 (1019), gia phong Kiểm hiệu Thái úy, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ. Mỗi lần ban ân đều sai sứ mang chiếu đến tận biên giới, ban thêm đồ quý, áo mũ, đai vàng, yên ngựa.
Nhân Tông lên ngôi, gia phong Công Uẩn làm Kiểm hiệu Thái sư. Sai Thứ sử Trường Châu Lý Khoan Thái (李寬泰), Đô hộ Phó sứ Nguyễn Thủ Cương (阮守疆) đến cống. Năm Thiên Thánh thứ 6 (1028), sai Thứ sử Hoan Châu Lý Công Hiển (李公顯) đến cống, phong làm Thứ sử Tự Châu. Sau đó, sai con cháu và con rể là Thân Thừa Quý (申承貴) dẫn quân xâm nhập nội địa, chiếu lệnh Quảng Nam Tây Lộ Chuyển vận sứ phát binh khe động bắt dẹp. Không lâu sau, mất, thọ 44 tuổi.
Con của Lý Công Uẩn là Đức Chính (德政)[14] tự xưng Quyền Tri Lưu hậu sự, sang báo tang. Triều đình truy tặng Công Uẩn chức Thị trung, tước Nam Việt vương, sai Chuyển vận sứ bản lộ là Vương Duy Chính (王惟正) làm Tế điển sứ, đồng thời làm Sứ thần ban quan cáo. Phong Đức Chính làm Kiểm hiệu Thái úy, Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân, An Nam Đô hộ 安南都護, Giao Chỉ quận vương 交阯郡王.
Năm Thiên Thánh thứ 9 (1031), sai Tri Phong Châu Thứ sử Lý Ốc Toàn (李偓佺), Tri Ái Châu Thứ sử Soái Nhật Tân (帥日新) sang tạ ơn, phong Ốc Toàn làm Thứ sử Hoan Châu, Nhật Tân làm Thứ sử Trân Châu. Năm Minh Đạo nguyên niên (1032), sang tạ ơn, được gia phong Đồng Trung Thư Môn Hạ Bình Chương Sự.
Thời Cảnh Hựu, dân quận là Trần Công Vĩnh (陳公永) cùng hơn 600 người nội phụ, Đức Chính sai hơn 1.000 quân truy bắt ở biên giới. Chiếu lệnh trả về, đồng thời răn Đức Chính không được tự ý giết hại. Sau đó sai Tiết độ Phán quan Tĩnh Hải quân là Trần Ứng Cơ (陳應機), Chưởng thư ký Vương Duy Khánh (王惟慶) sang cống, phong Ứng Cơ làm Thái tử Trung doãn, Duy Khánh làm Đại lý tự thừa, Đức Chính được gia phong Kiểm hiệu Thái sư.
Năm thứ 3 (1036), các động Giáp Động, Lạng Châu, Môn Châu, Tô Mậu Châu, Quảng Nguyên Châu, Đại Phát Động, huyện Đan Ba cùng bọn man tặc xâm lược các châu Tư Lăng, Tây Bình, Thạch Tây và các động thuộc Ung Châu, cướp dân, ngựa, trâu, đốt nhà rồi rút. Chiếu lệnh truy cứu, bắt thủ lĩnh xét tội, tâu lên.
Năm Bảo Nguyên nguyên niên (1038), tiến phong Nam Bình vương. Năm Khánh Định nguyên niên (1040), sai Tri Phong Châu Thứ sử Soái Dụng Hòa (帥用和), Tiết độ Phó sứ Đỗ Do Hưng (杜猶興) sang cống. Năm Khánh Lịch thứ 3 (1043), lại sai Tiết độ Phó sứ Đỗ Khánh An (杜慶安), Tam ban Phụng chức Lương Tài (梁材) sang, phong Khánh An làm Thứ sử Thuận Châu, Lương Tài làm Thái tử Tả Giám môn Suất phủ suất.
Năm thứ 6 (1046), lại sai Binh bộ Viên ngoại lang Tô Nhân Tộ (蘇仁祚), Đông đầu Cung phụng quan Đào Duy [巾+雇] (陶惟[巾+雇]) sang, phong Nhân Tộ làm Công bộ Lang trung, Duy [巾+雇] làm Nội điện Sùng ban. Năm sau, lại sai Bí thư thừa Đỗ Văn Phủ (杜文府), Tả Thị cấm Văn Xương (文昌) sang, phong Văn Phủ làm Thôn điền Viên ngoại lang, Văn Xương làm Nội điện Sùng ban.
Ban đầu, Đức Chính phát binh đánh Chiêm Thành, triều đình nghi ngờ y nuôi mưu gian, bèn tra xét từ thời Đường đến nay có 16 đường thông thương, lệnh cho Chuyển vận sứ Đỗ Kỷ (杜杞) đo đạc các nơi hiểm yếu để đặt quân trấn giữ. Tuy vậy, về sau Đức Chính cũng không hề xâm phạm biên giới. Trước sau nhiều lần dâng cống voi thuần.
Năm Hoàng Hựu thứ 2 (1050), Ung Châu dụ hơn 3.000 người thuộc châu Tô Mậu là Vi Thiệu Tự (韋紹嗣), Thiệu Khâm (紹欽) vào cư trú trong đất tỉnh. Đức Chính dâng biểu xin trả lại những người bị dụ. Chiếu cho trả hết, đồng thời lệnh Đức Chính ràng buộc dân biên giới, không được xâm phạm lẫn nhau.
Về sau, Man Quảng Nguyên Châu là Nùng Trí Cao (儂智高) làm phản, Đức Chính đem 2 vạn quân theo đường thủy muốn vào giúp triều đình, triều đình ban thưởng hậu hĩnh nhưng từ chối nhận quân. Năm Trị Hòa thứ 2 (1055), Đức Chính qua đời.
Con của Đức Chính là Nhật Tôn (日尊)[15] sai người sang báo tang. Triều đình sai Chuyển vận sứ Quảng Nam Tây Lộ, Thượng thư Thôn điền Viên ngoại lang Tô An Thế (蘇安世) làm Sứ thần điếu tế, truy tặng Đức Chính chức Thị trung, tước Nam Việt vương, ban lễ phúng rất hậu. Sau đó phong Nhật Tôn làm Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái úy, Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân, An Nam Đô hộ, phong Giao Chỉ quận vương.
Năm Gia Hựu thứ 3 (1058), dâng cống hai con dị thú. Năm thứ 4, đánh phá Tư Bẩm Quản thuộc Khâm Châu. Năm thứ 5, cùng giặc Giáp Động xâm lược Ung Châu. Chiếu lệnh Tri Quế Châu Tiêu Cố (蕭固) phát binh phối hợp với Chuyển vận sứ Tống Hàm (宋咸), Đề điểm Hình ngục Lý Sư Trung (李師中) bàn kế đánh úp; lại chiếu cho An phủ sứ Dư Tĩnh (余靖) phát binh truy dẹp. Tĩnh sai gián điệp dụ Chiêm Thành cùng binh lính Quảng Nam Tây Lộ tiến vào Giao Chỉ, Nhật Tôn hoảng sợ, dâng biểu xin chịu tội. Chiếu rằng chưa được phép khởi binh, cho Nhật Tôn được dâng cống vào kinh.
Năm thứ 8 (1063), sai Văn tư sứ Mai Cảnh Tiên (梅景先), Phó sứ Đại lý Bình sự Lý Kế Tiên (李繼先) dâng cống 9 con voi thuần. Ngày Mậu Dần tháng 4, ban chiếu của Đại Hành hoàng đế[16] cùng di vật cho Nhật Tôn, gia phong Đồng Trung Thư Môn Hạ Bình Chương Sự. Hôm ấy, sứ Giao Chỉ từ biệt. (Nhật Tôn) lệnh Nội thị tỉnh Áp ban Lý Kế Hòa (李繼和) truyền dụ cho Thân Thiệu Thái (申紹泰) vào xâm lược, bản lộ nhiều lần xin đánh, nhưng triều đình cho rằng Thiệu Thái chỉ là kẻ cuồng vọng, hơn nữa bản đạo (Giao Chỉ) đã sai sứ xin lỗi, nên chưa muốn khởi binh.
Đầu niên hiệu Trị Bình (1064), Tri Quế Châu Lục Thâm (陸詵) tâu rằng Giao Châu xin giao nộp con trai Nùng Tông Đán 儂宗旦 là Nhật Tân (日新), và muốn lấy lại các vùng động Ôn Muộn. Vua hỏi Giao Chỉ từ năm nào chiếm cứ, các đại thần đáp: “Từ thời Đường Trí Đức đổi làm An Nam Đô hộ phủ, đến thời Lương Trinh Minh, thổ hào Khúc Thừa Mỹ chiếm giữ đất này.” Hàn Kỳ nói: “Trước đây Lê Hoàn phản mệnh, Thái Tông sai tướng đánh, không phục, sau lại sai sứ dụ, mới chịu thần phục. Giao Châu đường núi hiểm trở, nhiều mưa mù, khí độc, dù chiếm được cũng khó giữ.”
Thần Tông lên ngôi, tiến phong Nhật Tôn làm Nam Bình vương. Năm Hy Ninh nguyên niên (1068), gia phong Khai phủ Nghi đồng tam tư. Năm thứ 2, dâng biểu nói: “Nước Chiêm Thành lâu không cống, thần thân chinh đem quân đánh, bắt được vua nước ấy.” Chiếu phong sứ giả Quách Sĩ An (郭士安) làm Lục trạch Phó sứ, Đào Tông Nguyên (陶宗元) làm Nội điện Sùng ban.
Nhật Tôn tự lập làm vua nước mình, xưng hiệu là “Pháp Thiên Ứng Vận Sùng Nhân Chí Đạo Khánh Thành Long Tường Anh Vũ Duệ Văn Tôn Đức Thánh Thần Hoàng Đế” 法天應運崇仁至道慶成龍祥英武睿文尊德聖神皇帝, tôn Lý Công Uẩn làm “Thái Tổ Thần Vũ Hoàng Đế” 太祖神武皇帝, quốc hiệu là Đại Việt 大越, đổi niên hiệu Bảo Tượng 寶象, sau lại đổi là Thần Vũ 神武.
Năm thứ 5, tháng 3 (1072), Nhật Tôn (日尊) mất. Sai Chuyển vận sứ Quảng Tây là Khang Vệ (康衞) làm sứ đi viếng và ban thưởng. Trả lại các châu huyện đã bị chiếm. Chiếu đáp rằng: “Khanh cai quản Nam Giao, đời đời nhận vương tước, vậy mà lại phản đức trái mệnh, cướp phá biên thành. Bỏ đi kế sách trung thuận của tổ tiên, khiến triều đình phải phát binh thảo phạt. Quân tiến sâu, thế cùng mới quy phục. Xét tội lỗi rõ ràng, đáng bị bãi miễn. Nay sai sứ tu sửa việc cống, dâng biểu tỏ lòng cung kính, xét lời văn tình ý, thấy rõ sự ăn năn hối cải. Trẫm vỗ về muôn nước, không phân gần xa. Nhưng dân Khâm, Ung bị bắt đưa đến nơi nóng bức, lâu ngày mất quê hương, đợi khi đưa hết về biên giới, thì sẽ ban cho Giao Châu các nơi như Quảng Nguyên.”
Thời Càn Đức (乾德)[17], ban đầu hứa trả lại 3 châu và 1.000 quan lại, lâu sau chỉ đưa về 221 dân, nam giới từ 15 tuổi trở lên đều xăm trán chữ “Thiên tử binh” 天子兵, từ 20 tuổi trở lên xăm chữ “Đầu Nam triều” 投南朝, phụ nữ xăm tay trái chữ “Quan khách” 官客, dùng thuyền chở đi, trét bùn cửa sổ, đặt đèn bên trong, mỗi ngày đi 10–20 dặm thì nghỉ, giả làm tiếng trống canh để báo hiệu, mất vài tháng mới đến, là để giả vờ đường biển xa xôi. Thuận Châu ở sâu phía nam, đặt đồn trấn giữ, bị sương độc nhiều người chết, Đào Bật (陶弼) cũng mất tại chức. Triều đình biết không hiệu quả, bèn trả lại toàn bộ 4 châu 1 huyện. Tuy nhiên, Quảng Nguyên vốn thuộc quản lý của Ung Châu, là đất phiên thuộc, vốn không phải của Giao Chỉ.
Năm Nguyên Phong thứ 5 (1082), dâng voi thuần 2 con, sừng tê và ngà voi 100 chiếc. Năm thứ 6 (1083), lấy cớ truy bắt Nùng Trí Hội 儂智會, xâm phạm châu Quy Hóa. Lại sai bề tôi là Lê Văn Thịnh (黎文盛) đến Quảng Tây phân định ranh giới Thuận An, Quy Hóa. Kinh lược sứ Hùng Bổn (熊本) sai Tuần kiểm Tả Giang là Thành Trác (成卓) cùng bàn, Văn Thịnh xưng là bề tôi phụ thuộc, không dám tranh cãi. Chiếu khen Văn Thịnh biết giữ lễ cung thuận như Càn Đức, ban áo đai và 500 tấm lụa. Lại ban cho Càn Đức các nơi ngoài Bát Ải gồm 6 huyện Bảo Lạc, 2 động Túc Tang.
Thời Triết Tông lên ngôi, gia phong chức Đồng Trung Thư Môn Hạ Bình Chương Sự. Thời Nguyên Hựu, nhiều lần dâng biểu xin đất động Vật Ác, Vật Dương, chiếu không cho.
Năm thứ 2 (1087), sai sứ vào cống, tiến phong Nam Bình vương. Thời Hy Tông, nhiều lần gia phong Khai phủ Nghi đồng Tam ti, Kiểm hiệu Thái sư. Đầu niên hiệu Đại Quan, sứ cống đến kinh xin mua sách, quan phụ trách nói luật không cho, chiếu khen lòng mộ nghĩa, trừ các loại sách cấm như: sách cấm, bói toán, âm dương, lịch toán, thuật số, binh thư, sắc lệnh, thời vụ, cơ mật biên giới, địa lý, còn lại đều cho mua. Cuối thời Chính Hòa, lại chiếu rằng người Giao từ thời Hy Ninh đến nay không gây sự, đặc biệt nới lệnh cấm mua bán. Năm đầu niên hiệu Tuyên Hòa (1119), gia phong Càn Đức chức Thủ Tư Không.
Năm đầu niên hiệu Kiến Viêm (1127), chiếu cho Kinh lược An phủ ty Quảng Tây cấm dân biên giới không được chứa người trốn từ An Nam, theo lời thỉnh cầu của chủ Càn Đức. Năm thứ 4 (1130), An Nam vào cống, chiếu trả lại các sản vật hoa mỹ, ban sắc thư, hậu đãi để vỗ về.
Năm Thiệu Hưng thứ 2 (1132), Càn Đức (乾德) mất. Triều đình truy tặng chức Thị trung, truy phong Nam Việt vương. Con là Dương Hoán (陽煥)[18] kế vị, được phong làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân, Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái úy, phong Giao Chỉ quận vương, ban hiệu “Thôi thành thuận hóa công thần”.
Năm thứ 8 (1138), Dương Hoán mất, sai Chuyển vận Phó sứ Chu Phất (朱芾) làm Sứ thần điếu tế, truy tặng Dương Hoán chức Khai phủ Nghi đồng tam tư, truy phong Nam Bình vương. Con là Thiên Tộ (天祚)[19] kế vị, được phong chức như cha khi mới được phong.
Năm thứ 9 (1139), chiếu lệnh Soái phủ Quảng Tây không được nhận Triệu Trí Chi (趙智之) vào cống. Trước đó, Càn Đức có con thứ thất thân bỏ sang Đại Lý, đổi tên là Triệu Trí Chi, tự xưng Bình vương[20]. Nghe tin Dương Hoán mất, Đại Lý đưa về, tranh ngôi với Thiên Tộ, xin vào cống, muốn mượn binh đưa về, nhưng hoàng đế không cho.
Năm thứ 17 (1147), chiếu lệnh Viện Văn Tư chế yên ngựa ban cho Thiên Tộ. Năm thứ 21 (1151), nhiều lần gia phong Thiên Tộ là “Sùng nghĩa hoài trung bảo tín hương đức an viễn thừa hòa công thần”. Năm thứ 25 (1155), chiếu lệnh đón tiếp sứ An Nam tại trạm Hoài Viễn, ban yến tiệc để thể hiện đãi ngộ đặc biệt. Tiến phong Thiên Tộ làm Nam Bình vương, ban áo mũ, đai vàng, yên ngựa.
Năm thứ 26 (1156), lệnh cho Hữu ti Lang trung Uông Ứng Thần (汪應辰) khoản đãi sứ An Nam tại Ngọc Tân viên. Tháng 8 năm ấy, Thiên Tộ sai Lý Quốc (李國) cùng những người khác mang vàng ngọc, trầm hương, lông chim quý, ngựa tốt, voi thuần đến cống. Chiếu gia phong Thiên Tộ làm Kiểm hiệu Thái sư, tăng thực ấp. Năm Long Hưng thứ 2 (1164), Thiên Tộ sai Doãn Tử Tư (尹子思), Đặng Thạc Nghiễm (鄧碩儼) dâng vàng bạc, ngà voi, hương liệu.
Năm Kiến Đạo thứ 6 (1170), nhiều lần gia phong Thiên Tộ là “Quy nhân hiệp cung kế mỹ tuân độ lữ chính chương thiện công thần”. Từ khi hoàng đế lên ngôi, nhiều lần từ chối sứ An Nam vào cống. Năm thứ 9 (1173), Thiên Tộ lại sai Doãn Tử Tư, Lý Bang Chính (李邦正) xin vào cống, hoàng đế khen lòng thành, cho phép, chiếu lệnh đón tại trạm Hoài Viễn.
Kinh lược An phủ sứ Quảng Nam Tây Lộ là Phạm Thành Đại (范成大) tâu: “Bản ty kinh lược các man, An Nam thuộc vùng an phủ, bề tôi của họ sao có thể ngang hàng với quan lại Trung Quốc? Thời Chính Hòa, sứ vào cảnh nội đều chỉ triều tham, không đáp lễ. Nên theo lệ cũ, mới hợp lễ nghi.” Triều đình nghe theo.
Năm Thuần Hy nguyên niên, tháng 2 (1174), tiến phong Thiên Tộ làm An Nam quốc vương 安南國王, gia hiệu “Thủ khiêm công thần” 守謙功臣. Năm thứ 2 (1175), ban quốc ấn An Nam 安南國印. Năm thứ 3 (1176), ban lịch ngày cho nước An Nam 安南國曆日. Sau đó, Thiên Tộ qua đời.
Năm sau (1177), con là Long Trát (龍𣉙)[21] kế vị, được phong làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân, Quan sát Xử trí đẳng sứ, Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái úy, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, đặc phong An Nam quốc vương, tăng thực ấp; ban hiệu “Thôi thành thuận hóa công thần”. Chiếu rằng: “Đã phong quốc vương, lại cho thế tập; đã là chân vương, ban mệnh không cần đợi thăng cấp nữa.” Tỏ rõ sự đãi ngộ đặc biệt.
Năm thứ 5 (1178), dâng sản vật, biểu tạ ơn. Năm thứ 9 (1182), chiếu từ chối voi cống của An Nam vì vô dụng mà làm khổ dân, các vật khác cũng chỉ nhận một phần mười. Năm thứ 16 (1189), nhiều lần gia phong Long Trát là “Thủ nghĩa phụng quốc lữ thường hoài đức công thần”.
Quang Tông lên ngôi, Long Trát dâng biểu vào cống chúc mừng. Đến triều Ninh Tông, ban áo đai, đồ quý, nhiều lần gia phong các hiệu như “Cẩn độ tư trung tế mỹ cần lễ bảo tiết quy nhân sùng khiêm hiệp cung công thần” và tăng thực ấp.
Năm Gia Định thứ 5 (1212), Long Trát (龍𣉙) mất. Chiếu sai Vận phán Quảng Tây là Trần Khổng Thạc (陳孔碩) làm sứ đi viếng, đặc biệt truy phong chức Thị trung. Theo lệ cũ phong làm An Nam quốc vương, cho con là Hạo Sảm (昊旵)[22] kế vị tước vương, ban thưởng như lệ phong ban đầu của Long Trát, lại ban hiệu “Thôi thành thuận hóa công thần”. Về sau không thấy biểu tạ ơn, nên đình chỉ việc ban ân.
Hạo Sảm mất, không có con, lấy con gái là Chiêu Thánh 昭聖[23] làm chủ quốc sự, rồi về tay phò mã là Trần Nhật Cảnh (陳日煚)[24].
Họ Lý giữ nước, từ Công Uẩn đến Hạo Sảm, truyền được 8 đời, hơn 220 năm thì mất nước.
Năm Thuần Hựu thứ 2 (1242), chiếu phong Trần Nhật Cảnh làm An Nam quốc vương, ban hiệu “Hiệu trung thuận hóa bảo tiết công thần”, thêm hai chữ “Thủ nghĩa”.
Năm Bảo Hựu thứ 6 (1258), chiếu rằng tình hình An Nam khó đoán, lệnh tăng cường phòng bị biên giới. Năm Cảnh Định thứ 2 (1261), cống voi 2 con.
Năm thứ 3 (1262), dâng biểu xin thế tập 世襲[25]. Chiếu phong Nhật Cảnh làm Kiểm hiệu Thái sư, An Nam quốc đại vương 安南國大王, tăng thực ấp; con là Uy Hoảng (威晃)[26] được phong làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân, Quan sát xử trí sứ, Kiểm hiệu Thái úy kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, An Nam quốc vương, Hiệu trung thuận hóa công thần, ban đai vàng, tiền vật, ngựa yên.
Năm Hàm Thuần thứ 5 (1269), chiếu tăng thực ấp cho An Nam quốc vương phụ (cha) 安南國王父 là Nhật Cảnh và quốc vương Uy Hoảng. Năm thứ 8 (1272), lễ Minh Đường 明堂禮 hoàn thành, Nhật Cảnh và Uy Hoảng đều được tăng thực ấp, ban ngựa yên và các vật phẩm.
Chú thích
- ▲ nhà Lưu Tống 劉宋
- ▲ nhà Trần của Trần Bá Tiên
- ▲ Niên hiệu của Đường Cao Tổ, từ năm 618-626.
- ▲ Niên hiệu của Đường Túc Tông, từ năm 756-758
- ▲ Niên hiệu của Hậu Lương Mạt Đế Chu Hữu Trinh, từ năm 915-921.
- ▲ Nguyên văn Lưu Ẩn. Thực tế, người sai quân đánh Khúc Thừa Mỹ là Nam Hán Cao Tổ Lưu Trắc (劉陟).
- ▲ Chỉ vùng phía nam núi Ngũ Lĩnh.
- ▲ Các sách khác ghi là Dương Đình Nghệ 楊廷藝.
- ▲ Có thuyết nói là Dương Tam Kha 楊三哥
- ▲ Niên hiệu của Tống Thái Tổ, từ năm 963-968
- ▲ Đơn vị hành chính, năm 983 nhà Tống đổi Liêm Châu thành Thái Bình Quân.
- ▲ Loài thú giống giống sói.
- ▲ Ý nói việc hiển linh của Tống Thái Tổ, được truy tôn Thánh tổ.
- ▲ Lý Thái Tông.
- ▲ Lý Thánh Tông.
- ▲ Tống Nhân Tông.
- ▲ Lý Nhân Tông.
- ▲ Lý Thần Tông.
- ▲ Lý Anh Tông.
- ▲ Theo Ngô Sĩ Liên thì đây là Thân Lợi.
- ▲ Lý Cao Tông.
- ▲ Lý Huệ Tông.
- ▲ Lý Chiêu Hoàng.
- ▲ Trần Thái Tông.
- ▲ Trần Thái Tông nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông rồi làm Thái thượng hoàng.
- ▲ Trần Thánh Tông.
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.