Bước tới nội dung

Biên dịch:Thù vực chu tư lục/Quyển 5

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Thù vực chu tư lục  (1574)  của Nghiêm Tòng Giản, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
quyển 5, Nam man: An Nam

Phương Nam

[sửa]

Phía Nam gọi là Man. Người Điêu Đề (雕题), Giao Chỉ (交耻) có kẻ không dùng lửa để nấu ăn. Hoàng Đế (黄帝) cai trị cực Nam, cưỡi hươu trắng dâng rượu thơm. Chu Thành Vương (周成) chính thống, cống chim trĩ trắng, phải qua nhiều lần phiên dịch. Việc họ thông với Trung Quốc, thật là từ xưa vậy.

Từ đó về sau, có kẻ ngồi xổm như Triệu Đà (赵佗), nhưng Lục Giả (陆贾) khiến hắn phải đứng dậy. Ngạo mạn như Lê Hoàn (黎桓), mà Lý Nhược Chuyết (李若拙) khiến hắn phải bước ra khỏi chiếu. Sử Hán, Tống đều ghi rõ Nam phương phục tùng như núi Đẩu vậy.

Đến thời thịnh trị rực rỡ, vua chỉ buông áo mũ mà phương Nam đã hướng về, múa cầm vũ để cảm hóa người Miêu, nơi văn giáo đến, biển Đỏ cũng lặng sóng. Trong nước thì thiên tử mở Minh Đường để tiếp triều cống, ngoài nước thì hành nhân cầm tiết ngọc để tuyên mệnh. Uy trời gần gũi, chỉ hô một tiếng mà đầu sừng cũng vỡ, ai nấy đều sợ đến sau.

Nay nêu rõ vùng biên nóng để chỉ theo “Tứ Mẫu” (《四牡》).

  • Phía Nam, chính Nam là: An Nam (安南), Chiêm Thành (占城), Chân Lạp (真腊), Mãn Lạc Gia (满剌加 Malacca), Xiêm La (暹罗), và Trảo Oa (爪哇 Chà Và, Java).
  • Phía Tây Nam là: Bột Nê (渤泥), Tỏa Lý (锁里), Cổ Lý (古里), Soan tô môn đáp lạt (闩苏门答剌 Sumatra), núi Tích Lan (锡兰山), Tam Phật Tề (三佛齐), và các nước Bách Di (百夷), Phật Lang Cơ (佛郎机) ở Vân Nam (云南) cũng thuộc về đó.

Xét theo sao trời và bánh xe, phong thổ không quen, khí độc, mưa núi, sương lam, rắn cắn, thú độc, là những điều quốc gia cần đặc biệt gìn giữ.

Còn như lễ vật trong túi, giá trị ngàn vàng, Sử Ký từng khoe đó là vinh dự của sứ giả, thì há phải điều ta dám mong sao!

Ghi chép về Nam Man.

An Nam 安南

[sửa]

An Nam (安南), xưa là Giao Chỉ (交趾). Từ thời Tống (宋), Nguyên (元) trở đi đều là quốc gia (độc lập), nay thuộc Đô thống ty.

Thời Tần (秦), là quận Tượng (象郡). Sau thuộc Nam Việt Vương Triệu Đà (南越王趙佗). Hán Vũ Đế (漢武帝) bình định Nam Việt, đặt ba quận Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), lại đặt Giao Chỉ Thứ sử.

Thời Kiến Vũ, Nhâm Diên (任延), Tích Quang (錫光) làm Thái thú Giao Chỉ, Cửu Chân. Dạy dân cày cấy, chế mũ giày, dần lập trường học, bắt đầu biết cưới gả.

Nữ tử là Chân Trắc (女子真側反 Nữ tử Chân Trắc phản) nổi loạn, Mã Viện (馬援) đánh dẹp yên, dựng cột đồng làm ranh giới. Tương truyền trên động Cổ Sâm (古森洞) ở Khâm Châu (欽州) có lời thề của Viện rằng: “Cột đồng gãy, Giao Chỉ diệt” (銅柱折,交趾滅 Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt) . Người Giao đi qua dưới đó, tất ném đất đá đắp thêm, đến phía nam phủ Tư Minh (思明府).

Lại ở quận Nhật Nam cũng dựng hai cột đồng, mỗi nơi đều có miếu Phục Ba thờ Viện.

Lại nữa, Vương Thủ Nhân (王守仁) trong bài thơ "Ngủ dưới chân miếu Phục Ba" (《宿伏波祠下詩》 Túc Phục Ba từ hạ thi ) có viết:

「樓船金鼓宿烏蠻,魚麗群舟夜上灘。
月繞旌旗千嶂靜,風傳鈴拆九溪寒。
荒夷未必無聲服,神武由來不殺難。
想見虞庭新氣象,兩階乾羽五雲端。」

  • Lâu thuyền kim cổ túc ô man, ngư lệ quần chu dạ thượng than. Nguyệt nhiễu tinh kỳ thiên chướng tĩnh, phong truyện linh sách cửu hoát hàn. Hoang di vị tất vô thanh phục, thần võ do lai bất sát nan. Tưởng kiến ngu đình tân khí tượng, lưỡng giai càn vũ ngũ vân đoan.

Tạm dịch:

Thuyền lầu trống vàng đêm nghỉ đất Ô Man,
Thuyền bè như cá vượt ghềnh trong đêm.
Trăng vờn cờ xí, ngàn núi lặng im,
Gió truyền tiếng chuông, chín khe lạnh buốt.
Man di chưa chắc không tâm phục,
Thần võ xưa nay chẳng cần giết hại.
Tưởng thấy cảnh mới nơi đình Ngu,
Hai bậc lông cầm vươn tận mây ngũ sắc.

Vậy thì miếu thờ ông không chỉ có ở Nhật Nam (日南) mà thôi.

Vào thời Kiến An[1], quận Giao Chỉ (交趾郡) đổi thành Giao Châu (交州). Nhà Ngô (吳) chia đất ấy đặt Quảng Châu (廣州), rồi dời trị sở Giao Châu đến Long Biên (龍編), khi ấy có rồng hiện nên lấy đó đặt tên huyện.

Đầu đời Đường (唐), đổi thành An Nam Đô hộ phủ (安南都護府), thuộc Lĩnh Nam đạo (嶺南道). Tên gọi An Nam bắt đầu từ đây. Sau đổi thành Tĩnh Hải quân (靜海軍), chia thuộc Lĩnh Nam Tây đạo (嶺南西道).

Khi nhà Đường mất, thổ hào Khúc Thừa Mỹ (曲承美) chiếm giữ vùng này. Lưu Ẩn (劉隱) từ Quảng Châu (廣州) chiếm lại. Sau bị tướng châu Ái là Dương Diên Nghệ (楊延藝) chiếm, truyền cho Thiệu Hồng (紹洪)[2]. Tướng của ông là Ngô Xương Cập (吳昌岌) lại đoạt lấy, truyền cho em là Ngô Xương Văn (昌文).

Đầu niên hiệu Càn Đức (乾德) nhà Tống (宋), Xương Văn chết. Họ Ngô như Ngô Xử Bình (吳處玶) tranh nhau lập người, trong vùng đại loạn. Có Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) dẹp yên, tự xưng là Đại Thắng Vương, tự phong con là Đinh Liễn (璉) làm Tiết độ sứ. Khi nghe tin Nam Hán (南漢) bị diệt, bèn dâng biểu xin nội phụ. Năm Khai Bảo thứ 8 (975), triều đình ban chiếu phong Đinh Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ quận vương, Đinh Liễn làm Tiết độ sứ. Từ đó đất An Nam được xem là phiên di (蕃夷).

Sau Bộ Lĩnh và Liễn đều mất, em Liễn là Đinh Toàn (璿) lên thay, còn nhỏ. Đại tướng Lê Hoàn (黎桓) cướp ngôi, họ Lê có Giao Chỉ từ đây. Họ Đinh truyền được 11 năm (丁氏傳世共十一年). Nhà Tống sai binh đánh Hoàn, Hoàn giả hàng. Quân Tống không thắng, rút về. Hoàn dâng biểu tạ tội, xin triều cống. Triều đình phong Hoàn làm An Nam Đô hộ, kiêm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, sau cũng phong làm Giao Chỉ quận vương. Hoàn mất, con bị đại tướng Lý Công Uẩn (李公蘊) cướp ngôi. Họ Lê truyền được 20 năm.

Nhà Tống phong Công Uẩn làm Tiết độ sứ, tước Nam Bình quận vương (南平郡王). Công Uẩn mất, cháu là Nhật Tôn (日尊 Lý Thánh Tông) xưng đế trong cõi, truyền ngôi cho con là Càn Đức (乾德 Lý Nhân Tông), đem quân xâm phạm Lĩnh Nam, liên tiếp chiếm Khâm (欽), Liêm (廉) hai châu. Cuối cùng triều đình sai Quách Quỳ (郭逵) đi hỏi tội, đánh bại quân hắn ở sông Phú Lương (富良江), giết con là Hồng Chân (洪真). Càn Đức sợ hãi, dâng biểu đến doanh trại xin hàng, xin khôi phục việc triều cống, trả lại các châu huyện đã chiếm, triều đình ban cho châu Quảng Nguyên (廣源州).

Đầu niên hiệu Càn Đức (乾德), có thỏa thuận trả lại ba châu Khâm (欽), Liêm (廉), Ung (邕), cùng 1.000 quan lại. Nhưng lâu sau chỉ đưa được 221 người dân. Nam giới từ 15 tuổi trở lên đều xăm trán, ghi là “Thiên ư binh” (天於兵); từ 20 tuổi trở lên thì xăm là “Đầu Nam triều” (投南朝). Phụ nữ thì xăm tay trái, ghi là “Quan khách” (官客). Họ dùng thuyền chở đi, trét bùn vào cửa sổ, thắp đèn nến, mỗi ngày đi 10 đến 20 dặm thì dừng, giả làm tiếng canh trống để báo hiệu. Trải mấy tháng mới đến nơi, cốt để tỏ ra đường biển xa xôi.

Tuy nhiên, châu Quảng Nguyên (廣源) vốn thuộc quản hạt Ung Châu (邕管), xưa nay không phải đất của Giao Chỉ (交趾). Dân ta chịu khổ sở bởi chúng, vậy mà lại còn mất thêm đất cho chúng.

Đến thời cháu là Thiên Tộ (孫天祚 Lý Anh Tông), năm đầu niên hiệu Thuần Hy (淳熙元年, 1174), được tiến phong làm An Nam Quốc vương (安南國王). Từ đây, An Nam chính thức trở thành quốc gia.

Truyền hai đời đến Hạo Sảm (昊旵 Lý Huệ Tông), khi chết không có con nối. Con gái là Chiêu Thịnh (昭盛) nắm quyền quốc sự. Họ Lý (李氏) truyền được 8 đời, tổng cộng 220 năm. Sau đó, bà nhường ngôi cho chồng là Trần Nhật Cảnh (陳日煚 Trần Thái Tông). Nhà Tống lại phong Nhật Cảnh làm An Nam Quốc vương.

Mông Cổ đem quân đánh phá nước này, Nhật Cảnh dâng biểu xin nhà Tống cho cha truyền con nối. Nhà Tống phong Nhật Cảnh làm Thái vương, lệnh cho con là Uy Hoảng (威晃) kế phong. Uy Hoảng còn có tên là Quang Bính (光昺 Trần Thánh Tông), khi mới lên ngôi đã dùng tên giả để lừa Trung Quốc. Quang Bính dâng biểu triều cống, vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt (忽必烈) cũng ban phong.

Sau khi nhà Tống mất, năm sau Quang Bính chết, con là Nhật Huyễn (日烜 Nhật Huyên)[3] lên ngôi. Khi ấy nhà Mông Cổ đã lập quốc hiệu là Nguyên (元), thống nhất thiên hạ, sai sứ triệu Nhật Huyễn, nhưng ông không đi. Năm sau lại triệu, ông lấy cớ bệnh từ chối, chỉ sai chú là Di Ái (遺愛 Trần Di Ái) thay mặt vào chầu. Thế Tổ (tức Hốt Tất Liệt) nổi giận, phong Di Ái làm vương, sai 1.000 quân hộ tống về nước. An Nam không tiếp nhận, Di Ái sợ hãi, bỏ trốn trong đêm.

Nhật Huyễn tự xưng là Đại Việt Hoàng đế (大越皇帝), dùng lại tên Uy Hoảng của cha, cha con cùng tên, giống như Lâm Ấp (林邑), Dương Mại (陽邁) ngày trước. Truyền ngôi cho con là Nhật Tôn (日燇 Trần Nhân Tông), tự xưng là Thái thượng vương. Xét từ Lý đến Trần đều là tự xưng đế hiệu.

Quang Bính đổi niên hiệu là Thiệu Long (紹隆)[4], Nhật Tôn đổi là Thiệu Bảo (紹寶). Nhật Huyễn chết, con là Nhật Tôn sai sứ vào triều cống, xin làm phiên thần. Về sau ba đời đều vào cống, chỉ xưng là Thế tử, không xưng vương, cũng không xin phong. Truyền đến Nhật Khuể (日煃 Trần Dụ Tông).

Thời nhà Minh[5]

[sửa]

Năm đầu niên hiệu Hồng Vũ (洪武元年, 1368), triều đình sai Phó sứ Thượng tân quán là Lưu Địch Giản (劉迪簡) mang chiếu đi dụ, nhưng mất tích ở Nam Ninh (南寧). Vua nghe tin, liền sai Tri phủ Hán Dương (漢陽) là Dịch Tế (易濟) đi dụ tiếp. Chiếu viết:

“Xưa các đế vương trị thiên hạ, nơi nào có ánh mặt trời mặt trăng soi đến, đều không phân xa gần, một lòng đối đãi như nhau. Vì thế Trung Quốc được tôn kính, bốn phương đều yên ổn, chẳng phải vì muốn bắt phục làm thần dân. Từ khi nhà Nguyên mất chính đạo, thiên hạ chiến tranh suốt 17 năm, bốn phương xa gần không thông hiếu nghị. Trẫm khởi nghiệp ở Giang Tả, quét sạch quần hùng, định lại Hoa Hạ, được dân chúng suy tôn, tự làm chủ Trung Quốc, lập quốc hiệu là Đại Minh (大明), đổi niên hiệu là Hồng Vũ (洪武). Gần đây đã bình định đô thành nhà Nguyên, cõi nước thống nhất, đã tiếp nối chính thống, đang cùng các nơi xa gần yên ổn vô sự, để hưởng phúc thái bình. Chỉ tiếc các vua chúa, tù trưởng nơi bốn phương còn xa chưa hay biết, nên nay ban chiếu này, mong các ngươi rõ biết.”

Năm thứ 2 (1369), Nhật Khuể (日煃) sai Thiếu trung đại phu Chu Thời Mẫn (周時敏), Chính đại phu Đoàn Đễ (段悌), Lê An Thế (黎安世), Nguyễn Pháp (阮法) bốn người đến triều cống sản vật, chúc mừng vua lên ngôi, và xin phong tước. Triều đình sai Hàn lâm Thị độc học sĩ Trương Dĩ Ninh (張以寧), Điển bạ Ngưu Lượng (牛諒) đi phong. Ban cho ấn núm lạc đà mạ vàng bạc.

Khi Dĩ Ninh và Lượng chưa đến biên giới, thì Nhật Khuể đã mất vào tháng 5. Cháu họ là Nhật Kiên (日熞 Dương Nhật Lễ) chuẩn bị kế vị. Người trong nước xin nhận chiếu thư và ấn phong của tiên vương để trao cho ông. Dĩ Ninh không đồng ý, nói: “Đây là lễ lành, không phải việc tang. Nay nước các ngươi có tang, huống chi văn thư ghi tên tiên quân, không phải tên người kế vị, ban ấn là trái lễ. Nước các ngươi nên sai sứ vào tâu, để theo đúng đại lễ.” Người trong nước nghe theo.

Nhật Kiên lại sai bề tôi là Đỗ Thuấn Khâm (杜舜欽) xin phong. Vua tự soạn văn chiếu, sai Hàn lâm Biên tu Vương Liêm (王廉) làm sứ thần đi viếng, Lại bộ Chủ sự Lâm Đường Thần (林唐臣) làm sứ thần ban phong. Lệnh lấy ấn và vật ban thưởng do Trương Dĩ Ninh, Ngưu Lượng mang theo trước đó giao cho họ.

Khi Vương Liêm lên đường, vua lại ban chiếu nhắc rằng xưa Hán Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援) từng đánh Giao Chỉ, trấn phục Man Di, công lao rất lớn, lệnh cho Liêm đến tế ông.

Theo sách vở chép, khi Mã Viện (馬援) đã bình định Giao Chỉ, ông nói với thuộc hạ rằng:

“Em ta là Thiếu Du (少遊) thường than ta hào sảng có chí lớn, từng nói: ‘Kẻ sĩ sống một đời, chỉ cần đủ ăn mặc là được. Làm lại trong quận huyện, giữ mồ mả tổ tiên, khiến làng xóm khen là người tốt là đủ. Còn cầu danh lợi dư thừa, chỉ là tự chuốc khổ mà thôi.’

Ta từng ở nơi sóng nước, vùng Lang Bạc (浪泊), Tây Lý (西里), khi giặc chưa dẹp, dưới thì lũ lụt, trên thì sương mù, khí độc bốc lên, ngẩng nhìn diều bay cũng rơi tõm xuống nước. Nhớ lời Thiếu Du, thật chẳng thể nào có được!”

Mã Viện vì việc nước mà lao khổ đến thế, vậy mà sau này vẫn không tránh khỏi lời gièm pha về việc mang ý dĩ và minh châu. Bậc trượng phu lập công nơi đất ngoài, há phải chuyện dễ dàng gì! Thánh Tổ ta nhớ đến ông mà sai tế lễ, không chỉ để biểu dương công lao ở một phương, mà còn để tỏ rõ tấm lòng ông qua muôn đời. Ý nghĩa khuyến khích người sau thật sâu sắc biết bao!

Thị lang Lưu Mai Quốc (劉梅國) có bài thơ Qua miếu Phục Ba (《過伏波廟詩》) rằng:

「勳業垂南粵,長懷馬伏波。
風雲疑戰陣,魚鳥畏兵戈。
廟倚高灘險,詩題古壁多。
重來三十載,還聽釣翁歌。」
Huân nghiệp thuỳ Nam Việt, trưởng hoài Mã Phục Ba.
Phong vân nghi chiến trận, ngư điểu uý binh qua.
Miếu ỷ cao than hiểm, thi đề cổ bích đa.
Trùng lai tam thập tải, hoàn thính điếu ông ca.

Tạm dịch:

Công nghiệp lưu Nam Việt, mãi nhớ Mã Phục Ba.
Gió mây như trận chiến, cá chim sợ binh đao.
Miếu dựng nơi ghềnh hiểm, thơ khắc vách cổ xưa.
Ba mươi năm trở lại, lại nghe tiếng ngư ông ca.

Tạm dịch:

Công tích vang Nam Việt,
Lòng thương Mã Phục Ba.
Mây gió như binh trận,
Cá chim sợ kiếm qua.
Miếu dựa ghềnh cao hiểm,
Thơ đề vách cổ xa.
Ba mươi năm trở lại,
Nghe khúc lão ngư ca.

Ý thơ cho rằng oai hùng trong chiến trận không bằng sự ung dung cầm cần câu. Nhưng người có chí khác nhau, cũng không thể lấy một lẽ mà luận hết được vậy.

Hai sứ thần đến nước ấy. Nhật Kiên (日熞) dẫn bề tôi ra ngoại thành nghênh đón, xe hoa rực rỡ tiến vào, thiết lập linh vị của Nhật Khuể (日煃). Vương Liêm (王廉) trực tiếp tuyên đọc văn chiếu. Nhật Kiên cùng bề tôi hai lần bái lạy, phủ phục lắng nghe. Hôm sau, Đường Thần (唐臣) cùng các sứ thần dâng chiếu thư và ấn phong. Nhật Kiên cùng bề tôi quay mặt về phương Bắc quỳ nhận, dập đầu, cúi đầu, làm lễ xong rồi lui.

Ban đầu, người Giao chỉ chỉ dùng lễ chắp tay dài để tỏ kính trọng, đến đây mới bắt đầu thực hành lễ bái. Vua nhận biểu tạ ơn, xem xong rất vui, ban cho Trương Dĩ Ninh (張以寧) một bài thơ, kèm lời tựa rằng:

“Trẫm nghe các bậc minh quân đời trước tất có hiền thần. Người giỏi phụng sự vua thì ở nhà biết can gián đúng mực, ra ngoài biết thể hiện uy đức để cảm hóa bốn phương. Như Lục Giả (陸賈) vâng chiếu đến Nam Việt, Mã Viện (馬援) mang thư đến Đậu Nhung, đều là như thế.

Trẫm ở Giang Tả đã 16 năm, hằng mong có được những bề tôi như thế, mà vẫn chưa gặp, lòng luôn canh cánh. Từ khi lên ngôi, đặc biệt sai Hàn lâm quan, người phụ trách chế cáo là Trương Dĩ Ninh, cùng Điển bạ Ngưu Lượng (牛諒) đi sứ An Nam. Ban đầu chưa rõ lòng dạ họ ra sao. Sau khi đi, năm nay thực hiện việc phong tước, về tâu lại, trẫm xem đi xem lại, vui mừng không xiết.

Trẫm nghĩ An Nam là vùng biên viễn, khí độc rất nặng, xưa người ta gọi là nơi hoang dã, thánh nhân không ở, hiền giả không đến, chỉ vì sợ khí độc làm hại thân thể. Nay thần Dĩ Ninh ôm khí chất trung thực, phát huy phong cách sứ giả xưa, giữ đại nghĩa, tuân pháp độ. Khiến An Nam hồi đáp rồi mới nhận ấn, lại nhanh chóng cảm hóa khiến họ thực hành lễ nghi Trung Quốc, thật là trí tuệ vậy!

Trẫm làm thơ để khích lệ. Câu tuy không liên mạch, trẫm vốn không phải nhà nho; văn không sâu sắc, chỉ là thuật lại sự việc mà thôi.”

Thơ rằng:

  • 聞說西南瘴似煙,林叢草木有蛇蚿。承差不避銜君命,自是前賢忠義傳 (送以寧初使)。
  • Văn thuyết tây nam chướng tự yên, lâm tùng thảo mộc hữu xà huyền. Thừa si bất tỵ hàm quân mệnh, tự thị tiền hiền trung nghĩa truyện (tống dĩ ninh sơ sử).
  • 嶺南南又海南邊,惟有安南奉我天。使者往還多議說,瘴雲埋樹若堆煙。人民跣足為鄉禮,斷髮衣袍似野禪。話到異方人異處,老臣何日得來前 (得以寧實封)
  • Lĩnh nam nam hựu hải nam biên, duy hữu an nam phụng ngã thiên. Sử giả vãng hoàn đa nghị thuyết, chướng vân mai thụ nhược đôi yên. Nhân dân tiển túc vy hương lễ, đoạn phát y bào tự dã thiền. Thoại đáo dị phương nhân dị xứ, lão thần hà nhật đắc lai tiền (đắc dĩ ninh thực phong).
  • 我臣奉命之丹徼,驛路迢遙渡幾河。野宿聽猿啼夜月,朝看狸走疾巖阿。風塵未紀何回日,取性觀山景態多。晴朗好瞻紅日勝,旦陰驅逐片雲過。
  • Ngã thần phụng mệnh chi đan kiêu, dịch lộ điều dao độ kỷ hà. Dã túc thính viên đề dạ nguyệt, triêu khán ly tẩu tật nham a. Phong trần vị kỷ hà hồi nhật, thủ tính quan sơn cảnh thái đa. Tình lãng hảo chiêm hồng nhật thắng, đán âm khu trục phiến vân quá.
  • 離馬乘舟涉大洋,風號帆掛幾尋檣。巨鼇聞詔衝前浪,淵底雄鮫翊駕航。舵轉水鳴聲霹靂,蚌開珠擁海雲光。我臣勁節遐方靜,好把丹衷奉上蒼 (念以寧涉江海)。
  • Ly mã thừa chu thiệp đại dương, phong hiệu phàm quải kỷ tầm tường. Cự ngao văn chiếu xung tiền lãng, uyên để hùng giao dực giá hàng. Đà chuyển thuỷ minh thanh tích lịch, bạng khai châu ủng hải vân quang. Ngã thần kình tiết hà phương tĩnh, hảo bả đan trung phụng thượng thương (niệm dĩ ninh thiệp giang hải).
  • 卿初奉命便前奔,道路崎嶇實慘魂。千尋樹杪猿飛走,萬壑風生瘴氣昏。日暮烏啼人不到,月沉象吼夜還溫。何時化作中原地,風俗流行禮樂敦。
  • Khanh sơ phụng mệnh tiện tiền bôn, đạo lộ khi khu thực thảm hồn. Thiên tầm thụ diểu viên phi tẩu, vạn hác phong sinh chướng khí hôn. Nhật mộ ô đề nhân bất đáo, nguyệt trầm tượng hống dạ hoàn ôn. Hà thì hoá tác trung nguyên địa, phong tục lưu hành lễ nhạc đôn.
  • 使者登山日進程,崎嶇石徑動人情。烏啼深樹聲投耳,獸立幽陰未識名。太古以來樵不到,至今人往獸無驚。蜂頭一點無科木,駐馬觀來四海平 (念以寧入重山)。
  • Sử giả đăng sơn nhật tiến trình, khi khu thạch kính động nhân tình. Ô đề thâm thụ thanh đầu nhĩ, thú lập u âm vị thức danh. Thái cổ dĩ lai tiều bất đáo, chí kim nhân vãng thú vô kinh. Phong đầu nhất điểm vô khoa mộc, trú mã quan lai tứ hải bình (niệm dĩ ninh nhập trùng sơn).
  • 卿因國事往期年,應是朝同世子賢。語善久知人道是,話非雖牡遠無邊。也知周廟三緘口,猶恐臨時不自然。彼處受封王即位,但將詩慶便回旋 (慎言)。
  • Khanh nhân quốc sự vãng kỳ niên, ưng thị triêu đồng thế tử hiền. Ngữ thiện cửu tri nhân đạo thị, thoại phi tuy mẫu viễn vô biên. Dã tri chu miếu tam giam khẩu, do khủng lâm thì bất tự nhiên. Bỉ xứ thâu phong vương tức vị, đãn tướng thi khánh tiện hồi toàn (thận ngôn).
  • 海賓邦國寶多珠,勿為區區化作迂。此去爾家豐俸祿,好將方寸向前圖。功名千載誠難得,一失應須目下汙。記得黃金乘夜送,四知不納卻非誣 (戒財)。
  • Hải tân bang quốc bảo đa châu, vật vy khu khu hoá tác vu. Thử khứ nhĩ gia phong bổng lộc, hảo tướng phương thốn hướng tiền đồ. Công danh thiên tải thành nan đắc, nhất thất ưng tu mục hạ ô. Ký đắc hoàng kim thừa dạ tống, tứ tri bất nạp khước phi vu (giới tài).
  • 華林江狹水湍流,為問民人是幾秋。水色紅黃民性獷,山生巨獸象為頭。我臣至彼還脩養,豈被南方瘴氣愁。彼國有人依禮待,卿當歸告甚崇優 (保身)。
  • Hoa lâm giang hiệp thuỷ thoan lưu, vy vấn dân nhân thị kỷ thu. Thuỷ sắc hồng hoàng dân tính quảng, sơn sinh cự thú tượng vy đầu. Ngã thần chí bỉ hoàn tu dưỡng, khởi bị nam phương chướng khí sầu. Bỉ quốc hữu nhân y lễ đãi, khanh đương quy cáo thậm sùng ưu (bảo thân).
  • 安南世子性惟賢,志氣將來必備全。初附能尊中國禮,訃音來報朕心憐。以寧休作殊邦看,萬里神交是宿緣。更把聖書深道與,直教素服衣三年 (諭令世子守服)。
  • An nam thế tử tính duy hiền, chí khí tướng lai tất bị toàn. Sơ phụ năng tôn trung quốc lễ, phó âm lai báo trẫm tâm liên. Dĩ ninh hưu tác thù bang khán, vạn lý thần giao thị túc duyên. Canh bả thánh thư thâm đạo dữ, trực giáo tố phục y tam niên (dụ linh thế tử thủ phục).

Trương Dĩ Ninh (以寧) ở lại An Nam để chờ lệnh. Qua hơn một năm, cùng với Đường Thần (唐臣), Vương Liêm (廉), Ngưu Lượng (諒) đều trở về. Trên đường mất, vua ban chiếu lệnh cho các nha môn hoàn trả linh cữu, các quận huyện nơi đi qua đều phải lập đàn tế lễ.

Theo Kinh Thi (《詩》), các thiên Tứ Mẫu (《四牡》) và Hoàng Hoa (《皇華》) đều là những bài thơ viết về sứ thần.

Bài Tứ Mẫu nói: “Ta lòng thương cảm”, “Chẳng được nghỉ ngơi”, là để thuật lại nỗi gian khổ khi đi sứ, dùng tình cảm mà an ủi.

Bài Hoàng Hoa nói: “Thường ôm nỗi không kịp”, lại nói: “Chu toàn việc hỏi han”, là để khuyên giữ bổn phận, lấy chính đạo mà răn dạy.

Dùng tình cảm để an ủi thì sinh lòng yêu mến, lấy chính đạo để răn dạy thì sinh lòng kính trọng. Sứ thần thời xưa sở dĩ không làm nhục mệnh vua, chính là vì cảm động sâu sắc như thế.

Thánh Tổ ta ban thơ cho Trương Dĩ Ninh (以寧), như các thiên Thiệp Giang (《涉江》) là lòng nhân ái an ủi như Tứ Mẫu, như các thiên Thận Ngôn (《慎言》) là nghĩa lý răn dạy như Hoàng Hoa. Lại trong lời tựa còn khiêm tốn nói: “Trẫm vốn không phải nhà nho, văn không sâu sắc”, nhưng lời vua hàm súc, âm vận như luật nhạc. Tha thiết như cha con thương nhau, nghiêm trang như thầy trò khuyên răn. Nếu sứ thần không khởi lòng yêu kính mà hoàn thành sứ mệnh, thì ắt chẳng phải người vậy!

Huống hồ Trương Dĩ Ninh vốn là tiến sĩ đời Nguyên, nổi tiếng văn học đương thời, người đời gọi là “Tiểu Trương học sĩ”, thanh liêm giữ mình, sống nơi thanh đạm. Khi đi sứ, chỉ mang theo chăn gối đơn sơ. Lúc lâm chung có thơ rằng:

  • 覆身惟有黔婁被,垂橐都無陸賈金。
  • Phúc thân duy hữu kiềm lâu bị, thuỳ thác đô vô lục giả kim.
  • Phủ thân chỉ có chăn Khiêm Lâu, túi trống chẳng mang vàng Lục Giả.”

Thì đủ biết ông không làm nhục mệnh vua. Đây chẳng phải là khuôn mẫu cho sứ thần nước ta đó sao!

Ngày Nhật Kiên (日熞 Dương Nhật Lễ) nối ngôi, kính cẩn tuân thủ việc triều cống. Hoàng thượng sai Lễ bộ viên ngoại lang Ngô Bá Tông (吳伯宗) sang báo đáp.

Bá Tông (伯宗) tên là Dụ (祐), người Kim Khê (金谿), thường dùng chữ tự để hành. Năm 10 tuổi, đã thông thạo nghiệp học thi cử. Người đi trước thấy văn chương của ông, cảm thán rằng: “Đứa trẻ này có khí chất như ánh ngọc và kiếm sắc, cuối cùng không thể bị che lấp.” Năm Hồng Vũ Canh Tuất (洪武庚戍, 1390), đỗ giải nguyên kỳ thi hương. Năm Tân Hợi (辛亥, 1391), vào thi đình, đỗ trạng nguyên. Có tác phẩm “Sứ Giao tập” (使交集).

Nhật Kiên (日熞) lại bị người bác là Thúc Minh (叔明 Trần Nghệ Tông) cướp ngôi. Thúc Minh sai sứ vào triều cống, Lễ bộ chủ sự Tăng Lỗ (曾魯) xem tờ biểu phụ, nói: “Vua trước là Trần Nhật Kiên (陳日熞), nay lại là tên Thúc Minh (叔明), là sao vậy?” Liền trình thư lên Thượng thư để tra hỏi. Sứ giả trả lời đúng sự thật. Thì ra Thúc Minh cướp ngôi, sợ tội, nên mượn cớ triều cống để dò xét ta mà thôi. Việc được tâu lên. Chiếu chỉ trả lại cống phẩm, không nhận. Hoàng thượng hỏi Tể tướng: “Tăng Lỗ hiện giữ chức gì ở Lễ bộ?” Tâu rằng: “Chủ sự.” Ngay trong ngày, triệu vào phong làm Thị lang.

Lỗ (魯), tự là Đắc Chi (得之), người Tân Cán (新淦), Giang Tây (江西). Uyên bác ngũ kinh, sớm đã có tiếng tăm đương thời. Nay được thăng tiến nhanh chóng. Sau đó, có mưa cam lộ rơi xuống núi Chung (鍾山), các cận thần soạn phú dâng lên. Hoàng thượng sai lấy các bài phú cho thị thần đọc. Đến bài phú của Lỗ, riêng nói: “Đây là do Lỗ làm sao? Há lại là kẻ mới vào triều mà được thăng tiến nhanh vậy ư!” Không lâu sau, ông xin về quê dưỡng bệnh. Mất tại Nam Xương (南昌).

Thúc Minh (叔明) dâng biểu tạ tội, xin được phong vương. Không được chấp thuận, chiếu cho dùng ấn của vua trước để xử lý chính sự. Không lâu sau, lại dâng biểu nói đã già, xin nhường cho em là Nhật Thoan (日煓 Trần Duệ Tông). Được chấp thuận. Nhật Thoan lên ngôi, xin định kỳ triều cống của nước mình. Chiếu định ba năm một lần triều cống, mỗi khi lập vua thì phải vào chầu.

Năm thứ 11 (1378), Thúc Minh (叔明) báo Nhật Thoan (日煓) đã mất. Em là Nhật Vĩ (日煒)[6] nối ngôi. Khi ấy, An Nam lâu nay giao chiến với Chiêm Thành, chiếu chỉ Thúc Minh cùng Chiêm Thành giảng hòa. Thúc Minh nhiều lần sai sứ dâng cống phẩm, chiếu răn bảo.

Năm thứ 21 (1388), quốc tướng Lê Quý Ly (黎季犛) giam Nhật Vĩ (日煒) ở ngoài thành, rồi giết đi. Lập con của Thúc Minh (叔明) là Nhật Côn (日焜)[7] lên ngôi, mọi quyền hành đều nằm trong tay Quý Ly.

Năm thứ 29 (1396), Thúc Minh (叔明) qua đời, báo tang. Hoàng thượng cho rằng Thúc Minh ôm lòng gian trá, dùng mưu lừa dối, cướp ngôi giết vua để chiếm nước; nếu sai sứ đến viếng an ủi, tức là khuyến khích loạn thần, giúp kẻ phản nghịch, không phải đạo Trung Quốc đối đãi với ngoại di. Lệnh cho Lễ bộ gửi văn thư, để họ biết rõ.

Năm thứ 30 (1397), An Nam xâm chiếm hơn 100 dặm đất phủ Tư Minh (思明). Quan thủ Tư Minh dâng sớ kiện lên triều đình. Sai hành nhân Trần Thành (陳誠) và Lữ Nhượng (呂讓) sang dụ Nhật Côn (日焜) trả lại đất. Nhật Côn nói: “Đây là đất cũ của An Nam, nay giữ lại, không phải xâm chiếm.”

Việc tranh luận qua lại không dứt. Lữ Nhượng cho rằng lời phiên dịch không truyền đạt đúng ý, bèn tự viết thư gửi Nhật Côn rằng:

"Gần đây thổ quan Hoàng Quảng Thành (黃廣成) phủ Tư Minh tâu rằng An Nam xâm chiếm đất đai. Triều đình tra cứu điển sách, bản đồ, sai sứ sang truyền dụ, yêu cầu trả lại phần đất đã chiếm. Từ khi Trần Thành và tôi đến nước vua tuyên đọc ý chỉ, trình bày sự việc, nhưng quý quốc vẫn cố chấp, chưa chịu nghe theo. Nay xin trình bày ranh giới và lợi hại theo sách vở xưa:

Theo ghi chép, An Nam xưa là đất Giao Châu. Thời Đông Hán, nữ tử là Trưng Trắc 徵側 nổi loạn, Quang Vũ sai Mã Viện đem quân dẹp yên, lập cột đồng ghi công, cũng là để phân định nội ngoại. Đến đời Đường, thuộc quản lý của Ngũ Lĩnh, đặt đô thống trấn giữ. Thời Tống, Lý Càn Đức[8] xâm lấn biên giới, Quách Đạt đem quân đánh, bắt được ngụy thái tử Hồng Trực 洪直. Càn Đức sợ hãi, cắt đất Quảng Lương Môn 廣涼門, Tư Lãng 思浪, Tô Mậu 蘇茂, Quang Lang 桄榔 để hàng. Như vậy, đất ấy khi đó vẫn thuộc Trung Quốc. Huống hồ đất phía bắc cột đồng như Khâu Ôn 丘溫 lại càng rõ ràng là của Tư Minh.

Đến đời Nguyên Thế Tổ, tổ của ngài là Quang Bính (光柄)[9] vào triều xưng thần. Khi Nhật Huyên (日烜)[10] nối ngôi, thất lễ với Thế Tổ, bị phát binh hỏi tội. Nhật Huyên phải trốn vào bụi rậm, dân chúng gần như bị diệt, thành quách hoang tàn. Nhật Tuấn (日燇)[11] nối ngôi, xin tha tội. Thế Tổ sai sứ ban chiếu, dụ vào chầu. Khi ấy chiếu thư có nói đến việc trả đất, Nhật Tuấn nói: 'Trước đây thiên sứ đến tiểu quốc, đón tiễn ở Lộc Châu. Tiểu quốc sợ tội xâm phạm, nên thường từ bỏ đất Khâu Ôn.' Như vậy, đất phía bắc Khâu Ôn thuộc Tư Minh đã rõ ràng.

Nay An Nam vượt qua sông sâu, chiếm cả Như Ngao, Khánh Viễn. Há chẳng phải nhân loạn cuối đời Nguyên mà chiếm đoạt hay sao? Khi hành nhân đến, vua tôi quý quốc đều nói đất này vốn thuộc An Nam. Không rõ căn cứ vào đâu mà nói vậy? Nếu đúng như lời quý quốc, thì sách vở ghi lời Nhật Côn chẳng phải chỉ là lời hư dối sao? Hay là vua sợ tội xâm chiếm, nên cố chấp lời vô căn cứ để tự biện hộ?

Hoàng thượng ta được trời ban dũng trí, làm gương cho muôn nước. Kẻ cố chấp dù lỗi nhỏ cũng không tha, người biết sửa dù tội nặng cũng được miễn. Sách có câu: 'Biết lỗi mà sửa, thì như không có lỗi; biết lỗi mà không sửa, mới là lỗi thật.' Sửa lỗi thì gặp lành, như chuyện Triệu Tông Thọ ở Long Châu năm trước là bằng chứng; cố chấp thì gặp họa, như các tù trưởng Nam Đan gần đây là ví dụ. Đó đều là những việc rõ ràng, ai cũng biết.

Nếu vua biết tránh họa, đón phúc, trả lại đất đã chiếm, thì không chỉ tổ tông được yên, mà dân cả nước cũng được hưởng phúc. Nếu bỏ qua điều đó, tranh giành không nhường, thì là cố chấp mà tự chuốc họa vậy. Mong quý quốc suy xét!"

Nhật Côn vẫn cãi biện như trước.

Lữ Nhượng (讓), tự là Khắc Tốn (克遜), người châu Bình Độ (平度州), Sơn Đông (山東). Thời Hồng Vũ, đỗ tiến sĩ, làm hành nhân. Sau thăng làm giám sát ngự sử, cuối đời giữ chức Thiêm sự ở Thiểm Tây (陝西).

Về sau, Nhật Côn (日焜) biếu vàng cùng các vật như trầm hương, đàn hương. Nhượng từ chối. Nhật Côn nói: “Quà tiễn là lễ, từ thời Lục Giả (陸賈) đã có, không cần từ chối nhiều.” Nhượng đáp: “An ủi kẻ như Triệu Đà (尉佗) lấy nước nhỏ chống thiên tử, là tự chuốc họa. Lục Giả nhận vàng để chia cho con, là ham lợi. Vua lại lấy Triệu Đà làm gương cho mình, lấy Lục Giả làm gương đối đãi người khác. Sao mà hèn vậy!” Nhật Côn hổ thẹn, chịu phục. Thành (誠) và Nhượng (讓) dâng việc ấy về triều.

Khi ấy, các đại thần xin phát binh đánh, Hoàng thượng nói: “Man di tranh chấp, xưa nay đều có. Chúng cậy ngu dốt, cuối cùng sẽ chuốc họa. Cứ chờ xem.” Việc bị bãi bỏ.

Năm đầu niên hiệu Kiến Văn (建文元年, 1399), Quý Ly (季犛) giết Nhật Côn (日焜), lập con Côn là Trần Ngung (顒)[12]. Chẳng bao lâu, lại giết Ngung, lập con nhỏ là Trần An 𭴣 (Trần Thiếu Đế). Rồi lại giết An 𭴣, giết hại nhiều người trong hoàng tộc họ Trần, cướp lấy nước.

Quý Ly tự xưng là hậu duệ Thuấn Đế, dòng Hồ Công Mãn (胡公滿), đổi tên là Hồ Nhất Nguyên (胡一元). Con là Thương (蒼) đổi tên là Hồ Khoa (胡誇). Quý Ly xưng đế trong nước, tự xưng là Thái Thượng Hoàng. Thương xưng là Đại Ngu Hoàng Đế (大虞皇帝), đổi niên hiệu là Nguyên Thánh (元聖).

Năm đầu niên hiệu Vĩnh Lạc (永樂元年, 1403), Hồ Thương (蒼) dâng biểu chúc mừng hoàng đế lên ngôi, tâu rằng mình là cháu họ Trần, được mọi người suy tôn, tạm quyền cai trị quốc sự, xin được ban phong tước. Sai hành nhân Dương Bột (楊渤) đến xét thực. Thương sai sứ theo Bột vào chầu, dâng danh sách thần dân nước mình. Trong tấu chương nói Thương thật là cháu họ Trần, nên được phong làm An Nam quốc vương. Nhưng Thương vẫn xưng đế như cũ, đổi niên hiệu là Thiệu Thành (紹成).

Năm thứ 2 (1404), bề tôi cũ họ Trần là Bùi Bá Kỳ (裴伯耆) bí mật đến kinh sư, tâu rằng cha con Quý Ly (季犛) giết vua cướp ngôi, xin phục lập con cháu họ Trần. Gặp lúc Tuyên úy ty Lão Qua cũng đưa cháu Trần Nhật Huyên (陳日烜) là Trần Thiên Bình (天平) đến kinh. Hoàng thượng thương xót, nhận vào, ban cho nhà ở, mỗi tháng cấp lương thực.

Đúng lúc sứ An Nam đến chúc Tết Nguyên đán, Hoàng thượng sai Lễ bộ đưa Thiên Bình ra cho xem. Sứ nhận ra là cháu vua cũ, đều kinh ngạc quỳ lạy, có người cảm động rơi lệ. Bá Kỳ có mặt, trách sứ về đại nghĩa, họ đều hoảng sợ không dám đáp. Hoàng thượng liền sai chiếu trách Thương. Thương dâng biểu tạ tội. Hoàng thượng sai hành nhân Vương Xu (王樞) dụ Thương, lệnh đón Thiên Bình về, tôn làm vua. Sẽ phong riêng cho Thương tước Thượng công cai trị đại quận. Thương tâu vâng mệnh.

Trong "Văn tập" của Kim Ấu Tư (金幼孜) có bài thơ “Tặng hành nhân Vương đi sứ An Nam” như sau:

承恩曉出九重天,
王事驅馳念獨賢。
奉詔尉佗煩陸賈,
尋源西域得張騫。
車書自昔通南紀,
聲教於今遍八埏。
聖主綏懷恩似海,
殷懃德意在敷宣。
Thừa ân hiểu xuất cửu trùng thiên,
Vương sự khu trì niệm độc hiền.
Phụng chiếu Uý Đà phiền Lục Giả,
Tầm nguyên tây vực đắc Trương Khiên.
Xa thư tự tích thông nam kỷ,
Thanh giáo ư kim biến bát duyên.
Thánh chủ tuy hoài ân tự hải,
Ân cần đức ý tại phu tuyên.

Tạm dịch:

Nhận ơn sáng sớm rời chín tầng trời,
Vì việc nước vội vã, nhớ người tài.
Vâng chiếu đến đất Đà, nhọc như Lục Giả,
Tìm nguồn Tây Vực, sánh với Trương Khiên.
Xe thư từ xưa đã thông Nam Kỷ,
Âm vang giáo hóa nay khắp tám phương.
Thánh chủ an dân, ơn sâu như biển,
Ân cần đức ý muốn truyền dương.

Năm thứ 4 (1406), sai hành nhân Nhiếp Thông (聶聰) đưa Trần Thiên Bình (天平) về nước. Hoàng thượng ra chiếu cho Tổng binh Quảng Tây là Hàn Quan (韓觀) tuyển 5.000 quân, giao cho Phó đô đốc Thiêm sự Hoàng Trung (黃中) dẫn đi, để phòng biến cố. Khi ấy, Đại lý tự khanh Tiết Nham (薛嵓) bị giáng chức đến Quảng Tây, được cử đi theo để trợ giúp.

Khi vào đến biên giới An Nam, đến Khâu Ôn (丘溫), Quý Ly (季犛) sai bề tôi là Hoàng Hối Khanh (黃晦卿) cùng người khác mang lương thực đến đón, lại có bò rượu để khao quân. Hối Khanh và các người đi theo thấy Thiên Bình, đều quỳ lạy, vui mừng nhảy múa. Hoàng Trung sai kỵ binh đi trước dò xét, nhưng đường đi không thấy gì khả nghi, người dân mang nước đón tiếp nối dài khắp đường. Trung tin là thật, liền tiến quân, vượt qua hai ải Ải Lưu và Kê Lăng.

Khi sắp đến Trạm Cần (芹站 trạm Ghè), đường núi hiểm trở, cây rừng rậm rạp, quân không thể đi theo đội hình, lại gặp hai trận mưa lớn. Bất ngờ phục binh nổi dậy, hô lớn cướp Thiên Bình. Tiếng trống hò reo vang động núi rừng, giặc hơn mười vạn người. Hoàng Trung vội chỉnh đốn quân đánh trả, nhưng giặc đã chặt cầu, không thể tiến lên. Thiên Bình cùng người đi theo đều chết. Hoàng Trung không còn cách nào, phải rút quân về.

Việc tâu lên, Hoàng thượng nổi giận, nói với Thành Quốc công Chu Năng (朱能) và người khác: “Chỉ là lũ tiểu nhân, tội ác ngập trời, mà còn dám ngấm ngầm mưu gian, ra tay độc ác như vậy. Trẫm thành tâm dung nạp, lại bị chúng lừa dối. Nếu việc này không trừng phạt, thì cần gì đến binh nữa?” Chu Năng và các tướng đều nói: “Nghịch tặc tội lớn, trời đất không dung. Thần xin mượn oai trời, một trận quét sạch.” Hoàng thượng quyết định phát binh.

Hôm sau, sau buổi thiết triều, Hoàng thượng ngự cửa Hữu Thuận, gọi Chu Năng và Tân Thành hầu Trương Phụ (張輔) đến, nói: “An Nam, nghịch tặc họ Lê tội ác tột cùng, trời đất không dung. Nay lệnh các ngươi đem quân đánh dẹp. Các ngươi đi đường Quảng Tây, Tây Bình hầu đi đường Vân Nam. Tính xem cần bao nhiêu quân?” Họ tâu: “Thần nghe rằng nhân nghĩa không thể làm theo số đông. Quân nhân nghĩa thì thiên hạ vô địch. Thần xin phụng mệnh, một trận quét sạch. Quân nhiều ít, xin tùy Hoàng thượng định đoạt.” Hoàng thượng khen ngợi, liền đại phát binh chinh phạt An Nam.

Sai Thành Quốc công Chu Năng đeo ấn Chinh Di tướng quân, làm Tổng binh, trấn giữ Vân Nam. Tây Bình hầu Mộc Thạnh (沐晟) làm Tả phó tướng quân; Tân Thành hầu Trương Phụ làm Hữu phó tướng quân; Phong Thành hầu Lý Bân (李彬) làm Tả tham tướng; Ninh Dương bá Trần Húc (陳旭) làm Hữu tham tướng. Sai Binh bộ thượng thư Lưu Quát (劉㑺) tham mưu quân sự; Hình bộ thượng thư Hoàng Phúc (黃福), Đại lý tự khanh Trần Trị (陳治) giám sát quân lương.

Lập năm đạo quân: Thần Cơ, Du Kích, Hoành Hải, Ưng Dương, Kiêu Kỵ, chọn các đô đốc, đô chỉ huy làm tướng, tổng cộng 25 tướng, chia đường tiến phát. Sai Mộc Thạnh dẫn quân Tứ Xuyên, Vân Nam đi từ phủ Lâm An, huyện Mông Tự; Chu Năng đi từ phủ Tư Minh, châu Bằng Tường, Quảng Tây. Lệnh hai đạo quân phối hợp, thanh thế vang dội.

Khi ấy có người nói Hoàng Phúc (黃福) là cựu thần của triều Kiến Văn, không nên dùng lại. Hoàng thượng nói: “Quan hệ vua tôi cốt ở thành tín, không thể giữ lòng nghi kỵ. Thời Đường Thái Tông, Vương Khuê, Ngụy Trưng, Vệ Trì Kính Đức cũng từng là kẻ thù. Nhưng vua biết lấy thành tín đối đãi, thì người ta vui lòng tận lực. Đừng nhắc lại chuyện ấy nữa.”

Về sau, Hoàng Phúc quả thực gây được lòng yêu mến ở Giao Chỉ, đủ thấy đã cảm hóa được dân.

Hoàng thượng đến Long Giang (龍江), làm lễ tế cờ, thề với ba quân rằng:

“Cha con nghịch tặc họ Lê tất bị bắt, không tha. Kẻ bị ép theo sẽ được tha. Không được dung dưỡng loạn đảng, không được khinh suất với giặc. Không được phá nhà mồ, không được hại mùa màng. Không được tự tiện lấy của cải, không được cướp vợ con người, không được giết người đầu hàng. Nếu phạm một điều, dù có công cũng không tha. Không được liều lĩnh hành động, không được tham lợi mà tiến bừa. Khi bắt được tội nhân, sẽ chọn con cháu họ Trần hiền đức để lập, cai trị một phương. Rồi rút quân, báo cáo tông miếu, lưu danh muôn thuở. Hãy cố gắng mà làm!”

Xét lời thề với ba quân, đủ thấy toàn bộ kế sách bình định và an dân đã được định sẵn. Thật đúng với đạo thần vũ không giết của các đế vương xưa, thật là rạng rỡ thay!

Hoàng thượng sai sứ tế cáo các thần núi, thần sông và thần biển. Lệnh cho Hoàng Trung (黃中) lập công để chuộc tội. Khi ấy giặc đang đắc thế, đổi niên hiệu là Khai Đại (開大)[13]. Quân đến Long Châu (龍州), lại sai hành nhân Chu Khuyến (朱勸) đến dụ cha con Quý Ly (季犛), cho phép họ đúc thân bằng vàng, dâng biểu xin hàng để chuộc tội, nhưng không nghe theo.

Chu Năng (朱能) bị bệnh, ở lại Long Châu. Trương Phụ (張輔) cùng các tướng dẫn quân xuất phát từ Bằng Tường (憑祥), vượt ải Pha Lũy (坡壘關), tiến vào đất An Nam. Tiền quân phá được ải Lưu và ải Kê Lăng, giặc đều thua chạy. Trương Phụ ra hịch kể tội lớn của giặc hai mươi điều, yêu cầu tìm con cháu họ Trần để phục hồi vương tước.

Quân tiến đến gần Trạm Cần (芹站), đến cầu sông Xương Giang (昌江市橋), dựng cầu phao vượt sông, đóng quân tại huyện Tân Phúc (新福縣), phủ Bắc Giang (北江府). Mộc Thạnh (沐晟) cũng dẫn quân Vân Nam đến Bạch Hạc (白鶴), sai người đến hội quân.

Khi ấy giặc dựa vào các nơi gọi là Đông Đô[14], Tây Đô[15], cùng các vùng Tuyên Giang, Thao Giang, Đà Giang, Phú Lương Giang để làm chỗ hiểm yếu. Ở bờ bắc sông, chúng dựng rào dọc theo sông, tại các cửa ải biên giới đều đắp thành đất, thành và rào nối liền nhau dài hơn 900 dặm. Huy động hơn 2 triệu dân các phủ châu phía bắc sông để canh giữ. Lại ở bờ nam sông Phú Lương, dọc theo sông dựng cọc gỗ, lấy toàn bộ thuyền bè trong nước xếp vào trong hàng cọc. Các cửa sông và cửa biển đều thả cọc gỗ để phòng bị tấn công. Việc phòng thủ ở Đông Đô cũng rất nghiêm ngặt, còn bày cả trận voi trong thành để giữ hiểm, mong làm quân ta mỏi mệt.

Trương Phụ và các tướng đóng quân tại cửa sông Thị Giang (市江口) thuộc châu Tam Đái (三帶州), đóng thuyền chuẩn bị tiến công.

Chinh Di tướng quân, Thành Quốc công Chu Năng mất tại Long Châu, hưởng thọ 37 tuổi. Trước đó, khi quân vượt qua núi Dữu (庾嶺), Hoàng thượng nói với thị thần: “Trẫm đêm xem thiên tượng, thấy quân phía tây có điều lo. Chu Năng e là không qua khỏi! Năng đủ tài lo việc này, chỉ ngại khí hậu không quen mà thôi!” Khi tin buồn đến, Hoàng thượng kinh sợ thương tiếc, ngừng thiết triều 5 ngày. Khi linh cữu đưa về, Hoàng thượng đích thân soạn văn tế, bày tỏ nỗi đau buồn sâu sắc. Truy phong làm Đông Bình quận vương (東平郡王), thụy là Vũ Liệt (武烈).

Chu Năng dung mạo khôi vĩ, thân cao tám thước, dũng mãnh nhanh nhẹn, có dũng khí. Mỗi khi gặp địch mạnh, thường hô lớn xông vào, một mình địch trăm người, địch đều sợ hãi lùi bước. Mưu lược chế thắng, không sót kế nào. Làm tướng biết thương quân, được lòng binh sĩ. Ngày mất, tướng sĩ đều rơi lệ.

Chu Năng (朱能) vừa mất, Hoàng thượng liền lệnh cho Trương Phụ (張輔) đeo ấn Chinh Di tướng quân, làm Tổng binh, chỉ huy quân tiếp tục tiến đánh An Nam. Sắc dụ rằng:

“Đại tướng quân Khai Bình vương Thường Ngộ Xuân (常遇春), thiên tướng quân Kỳ Dương vương Lý Văn Trung (李文忠) từng dẫn quân chinh phạt phương Bắc, Khai Bình vương mất ở Lưu Hà Xuyên, còn Kỳ Dương vương cùng các tướng quét sạch tàn Hồ, cuối cùng lập nên đại nghiệp. Các ngươi nên noi gương người xưa, tiêu diệt nghịch tặc.”

Lại điều thêm 8 vạn quân từ Lưỡng Quảng, Giang, Chiết, Kinh, Mân theo chinh phạt.

Tháng Chạp, Trương Phụ và các tướng chiếm được thành Đa Bang (多邦) của An Nam, Tây Đô của giặc cũng tan vỡ. Trước đó, Kiêu Kỵ tướng quân, Đô đốc Thiêm sự Chu Vinh (朱榮) đã đánh bại quân giặc ở sông Gia Lâm (嘉林江); quân của Mộc Thạnh cũng đến bờ bắc sông Thao (洮江), đối diện thành Đa Bang. Trương Phụ dẫn đại quân đóng trại ở bãi cát phía bắc thành, hợp lực với Mộc Thạnh.

Giặc mới đắp thành đất cao lớn, dưới thành đào hào sâu, trong hào cắm đầy chông tre, ngoài hào đào hố để bẫy người ngựa, trên thành phòng bị nghiêm ngặt, quân giặc đông như kiến. Khi ấy quân ta đã chuẩn bị đầy đủ công cụ công thành. Trương Phụ ra lệnh trong quân:

“Giặc dựa vào thành này, đại trượng phu báo quốc, lập công danh là ở trận này. Ai xung phong trước sẽ được thưởng không kể thứ bậc.”

Tướng sĩ đều hăng hái tuân lệnh. Bàn kế dùng quân tập kích ban đêm, lấy lửa và tù và đồng làm hiệu. Đêm ấy, canh tư, Trương Phụ sai Đô đốc Hoàng Trung (黃中) cùng quân ngậm hàm thiếc (giữ im lặng), khiêng công cụ vượt hào sâu, đến chân tây thành, dùng thang mây trèo lên. Các Đô chỉ huy Thái Dương (蔡楊) và người khác đều trèo lên trước, dùng đao chém loạn, giặc kinh hoảng kêu la. Trên thành đuốc sáng rực, tù và vang dội; dưới thành tướng sĩ đều dũng cảm trèo theo. Giặc hoảng loạn, không kịp bắn tên ném đá, đều bỏ chạy. Quân ta liền vào thành.

Tướng giặc lại bày trận trong thành nghênh chiến, dắt voi ra trước. Trương Phụ sai Du Kích tướng quân Tống Quảng (宋廣) dùng ngựa che hình sư tử, Thần Cơ tướng quân La Văn (羅文) dùng súng thần công đánh vào. Voi đều run rẩy, lại bị đạn và tên bắn trúng, quay đầu chạy, giẫm đạp quân giặc. Quân ta thừa thắng xông lên, giết tướng giặc Lương Dân Hiến (梁民獻), Thái Bá Nhạc (蔡伯樂) và nhiều người khác. Truy kích đến núi Tán Viên (傘圓山), giặc chết không đếm xuể.

Sau đó, quân theo sông Phú Lương (富良江) tiến xuống phía nam, phá được Đông Đô. Giặc bỏ thành trốn chạy. Quân ta đóng trại ở đông nam thành, chiêu an thu phục, mỗi ngày có hàng vạn người đến quy thuận, đều cấp giấy cho về làm ăn.

Hữu Tham tướng Lý Bân (李彬), Trần Húc (陳旭) đánh thành Tây Đô. Giặc bỏ kho lương, đốt cung điện, trốn ra biển. Từ đó, các châu huyện như Tam Giang lộ, Tuyên Giang, Thao Giang lần lượt đầu hàng. Sai huyện lệnh Bằng Tường là Lý Thăng (李昇) đến Khánh Thanh (慶清), kế tục chức cũ của cha, để dò xét tình hình giặc.

Năm thứ 5 (1407), Trương Phụ (張輔) hợp binh từ Bắc Giang (北江) vượt sông, tập kích trại rào sông Trù Giang (籌江), phá tan. Lại đánh vùng núi Phổ Lại (普賴山) bên sông Vạn Kiếp (萬劫江), chém hơn 37.300 thủ cấp giặc, bắt được tướng giặc rồi giết. Tàn quân tan rã, toàn bộ thuyền bè của giặc đều bị thu giữ. Sai hàng binh Trần Phong (陳封) đi chiêu an dân chúng các nơi Lạng Giang (諒江), Đông Triều (東潮) để ổn định sinh kế. Các châu huyện nghe tin đều lần lượt quy thuận.

Nhận được tin báo Quý Ly (季犛) cùng con là Lê Trừng (澄) tập trung thuyền ở Hoàng Giang (黃江), liền tiến quân thủy bộ. Đến sông Mộc Hoàn (木丸江), thuyền giặc mắc cạn, đại bại, giết tướng giặc Nguyễn Nhân Tử (阮仁子) cùng hơn 10.000 thủ cấp, bắt sống hơn 100 tướng giặc, đều bị xử chém. Trương Phụ và các tướng truy kích đến sông Phú Lương (富良江), giặc dốc toàn lực chống cự, mỗi thuyền nối dài hơn 10 dặm, chắn ngang sông, dùng thuyền nhỏ chở gỗ dựng rào để ngăn quân triều đình.

Trương Phụ nhân lúc rào chưa xong, đích thân đốc quân liều chiến, giặc không chống nổi. Đô đốc Liễu Thăng (柳升) cùng thủy quân đánh ngang, giặc đại bại, tướng sĩ chết hàng vạn, nước sông nhuộm đỏ. Quân ta thừa thắng tiến nhanh theo chiều gió đến Hoàng Giang, thẳng đến cửa biển Mận Hải (悶海口), thu được vô số thuyền giặc. Cha con Lê Quý Ly chỉ còn vài chiếc thuyền nhỏ trốn thoát. Ngụy quan Lễ bộ thượng thư Phạm Lãm (范覽), Đại lý khanh Nguyễn Phi Khanh (阮飛卿) cùng nhiều người ra đầu hàng.

Trương Phụ tìm con cháu họ Trần nhưng không thấy. Gặp lúc người châu Nam Sách (南策州) là Mạc Thúy (莫邃) cùng hơn 1.120 bô lão các phủ huyện Bắc Giang đến doanh trại, tâu rằng: “Con cháu họ Trần bị giặc Lê giết sạch, không còn ai kế thừa. An Nam vốn là đất cũ của Trung Quốc, xin phục lại các châu huyện, đặt quan cai trị, để thấm nhuần thánh hóa.”

Ngay trong ngày, sai người cấp báo về triều, tâu rằng:

“Thần tính rằng cha con giặc Lê sớm muộn cũng bị bắt. Sau khi các châu huyện bình định, cần có người thống lĩnh. Họ Trần đã tuyệt, không thể tìm được người kế vị. Nên lập ba ty Đô, Bố, Án để quản lý các châu huyện, an dân trị binh.”

Tấu lên, các đại thần cũng xin như vậy. Hoàng thượng nói: “Đợi bắt được cha con giặc Lê rồi sẽ định đoạt.”

Tháng Năm, quân triều đình bắt được Lê Quý Ly cùng con là Lê Thương (蒼), Lê Trừng (澄) và những kẻ đầu sỏ. An Nam được bình định.

Trước đó, Trương Phụ (張輔) cùng các tướng đốc quân truy kích giặc đến Hải Môn (海門), nhưng nước cạn do nắng lâu ngày, giặc dùng thuyền trốn thoát. Quân triều đình đến nơi thì gặp mưa lớn, nước dâng lên vài thước, thủy quân vượt sông được. Mọi người đều mừng, nói: “Trời giúp vương sư diệt giặc vậy!”

Khi Trương Phụ dẫn bộ kỵ đến Trà Long (茶龍), thủy quân cũng đến nơi. Tiền quân do Đô đốc Liễu Thăng (柳升) chỉ huy đánh bại giặc, thu được 300 chiếc thuyền, tàn quân bỏ chạy. Trương Phụ và các tướng thừa thắng truy kích đến cửa biển Kỳ La (奇羅) thuộc châu Nhật Nam (日南州). Liễu Thăng lại chạm trán giặc, đánh tan, địch quân tan rã. Bắt sống Lê Quý Ly (黎季犛) và con là Lê Trừng (黎澄) trong núi gần cửa biển.

Người bản địa Giao Chỉ là Vũ Như Khanh (武如卿) cùng đồng đội tại cửa biển Vĩnh Áng (永盎), núi Cao Vọng (高望山), bắt được vua ngụy Đại Ngu là Lê Thương (黎蒼), thái tử ngụy là Lê Nhuế (黎芮), cùng tướng giặc là ngụy Trụ quốc Đông Sơn hương hầu Hồ Đỗ (胡杜) và nhiều người khác. Tàn quân đều đầu hàng.

Giao Nam (交南) được bình định, thu được:

  • 15 phủ
  • 41 châu
  • 208 huyện
  • 3.120.000 hộ

An Nam được bình định, tin thắng trận được tâu về. Quần thần chúc mừng. Hoàng thượng nói: “Đây thật là nhờ linh thiêng của trời đất và tông miếu, cùng với tướng sĩ hết lòng tận lực mà thành. Trẫm có công gì trong đó đâu!” Quần thần lại xin lập ba ty và các châu huyện, chiếu cáo thiên hạ việc An Nam đã bình định.

Lập Giao Chỉ đô Bố chánh, Án sát, Đô chỉ huy ba ty cùng nha môn quân dân, đặt quan phân trị trong cõi. Người cao tuổi, đức vọng lớn, do nha môn tiếp đãi trọng hậu. Dân nghèo không nơi nương tựa, lập viện dưỡng tế để cứu giúp. Người có tài đức khả dụng, do nha môn lễ mời đưa về kinh, xét tài mà bổ dụng tại địa phương.

Lại ban chiếu khen ngợi Trương Phụ (張輔) và các tướng, cho nghỉ ngơi quân ngựa, đợi khi thời tiết trong lành sẽ rút quân. Lại chiếu bảo Trương Phụ rằng:

“Đã nhận được tấu, biết họ Trần thực sự đã tuyệt tự. Châu huyện không thể không có người thống lĩnh, xin lập ba ty để cai trị quân dân. Nay đều theo lời xin, lập Giao Chỉ đô chỉ huy sứ ty, giao cho Đô đốc Thiêm sự Lữ Nghị (呂毅) trông coi, Hoàng Trung (黃中) làm phó. Lại chọn hai Đô chỉ huy có năng lực làm phụ tá. Bố chánh ty, Án sát ty do Thượng thư Hoàng Phúc (黃福) kiêm nhiệm. Lấy Thị lang Bộ Công Trương Hiển Tông (張顯宗), Tả tham chính Bố chánh ty Phúc Kiến là Vương Bình (王平) làm Tả, Hữu Bố chánh sứ. Nguyên Tả, Hữu tham chính Bố chánh ty Hà Nam là Lưu Bản (劉本), Lưu Dự (劉昱) làm Tả, Hữu tham chính. Nguyên Án sát ty Giang Tây là Chu Quan Chính (周觀政), người An Nam quy thuận là Bùi Bá Kỳ (裴伯耆) làm Tả, Hữu tham nghị. Nguyên Án sát sứ Hà Nam là Nguyễn Hữu Chương (阮友彰), Án sát phó sứ Dương Trực (楊直) làm Án sát phó sứ. Nguyên Tri phủ Thái Nguyên là Lưu Hữu Niên (劉有年) làm Án sát Thiêm sự.

Lại chọn quan có năng lực phái đi, có thể dùng trong các nha môn phủ, châu, huyện, kê tên tâu lên. Nếu chưa đủ, sẽ lệnh Bộ Lại bổ sung. Nay sai đưa ấn tín đến cấp phát. Đổi Đại lý tự khanh Trần Hiệp (陳洽) làm Tả thị lang Bộ Lại, sai Lang trung Trương Tông Chu (張宗周) cùng người khác mang 2.000 đạo văn bằng của Bộ Lại đến. Lệnh họ cùng Tân Thành hầu Trương Phụ, Tây Bình hầu Mộc Thạnh (沐晟), Thượng thư Bộ Binh Lưu Tuấn (劉儁) xét tài cấp văn bằng bổ nhiệm.”

Lúc này, triều đình nhà Minh thiết lập 15 phủ tại An Nam như sau:

  1. Giao Châu phủ (交州府): lãnh 5 châu, 23 huyện
  2. Bắc Giang phủ (北江府): lãnh 3 châu, 7 huyện
  3. Lạng Giang phủ (諒江府): lãnh 3 châu, 15 huyện
  4. Tam Giang phủ (三江府): lãnh 3 châu, 7 huyện
  5. Kiến Bình phủ (建平府): lãnh 1 châu, 9 huyện
  6. Tân An phủ (新安府): lãnh 3 châu, 21 huyện
  7. Kiến Xương phủ (建昌府): lãnh 1 châu, 9 huyện
  8. Hóa phủ (化府): lãnh 4 huyện
  9. Thanh Hóa phủ (清化府): lãnh 3 châu, 19 huyện
  10. Trấn Man phủ (鎮蠻府): lãnh 4 huyện
  11. Lạng Sơn phủ (諒三府): lãnh 7 châu, 16 huyện
  12. Tân Bình phủ (新平府): lãnh 2 châu, 9 huyện
  13. Nghệ An phủ (義安府): lãnh 2 châu, 12 huyện
  14. Thuận Hóa phủ (順化府): lãnh 2 châu, 10 huyện
  15. Thái Nguyên phủ (太原府): lãnh 11 huyện

Ngoài ra, các châu Diễn Châu (演州), Tuyên Hóa (宣化州), Gia Hưng (嘉興州), Quy Hóa (歸化州), Quảng Oai (廣威州) được đặt trực thuộc Bố chánh ty.

Về sau lại lập thêm Thăng Hoa phủ (升華府), lãnh 4 châu, 11 huyện.

Các vệ sở phần lớn được đặt song song với phủ, châu, huyện.

Trương Phụ và các tướng sai Đô đốc Liễu Thăng (柳升) mang biểu dâng tù binh về kinh. Hoàng thượng ngự tại cửa Phụng Thiên môn tiếp nhận. Văn võ bá quan đều có mặt, Thị lang Bộ Binh là Phương Tân (方賓) đọc xong biểu văn.

Lê Quý Ly (黎季犛), con là Lê Thương (黎蒼), cùng tướng ngụy là Hồ Đỗ (胡杜) đều bị giao cho ngục xử tử, nhưng con cháu của họ được tha. Riêng em của Thương là Lê Trừng (黎澄)[16] dâng kỹ thuật chế tạo súng thần công, được ban chức quan.

Trương Phụ (張輔) trong “Bình Nam lộ bố” (《平南露布》) viết:

"Cúi nghĩ rằng trời phạt kẻ có tội, nên lập tức phát động binh chinh để báo oán; võ công đã hoàn thành, nay cử hành lễ hiến tù binh. Kẻ cầm đầu đều đã bắt được, vùng hải đảo đã được quét sạch. Việc trừ ác thì phải nhổ cả gốc rễ, dứt họa thì phải từ khi còn manh nha.

Tên nghịch tặc nước An Nam (安南) là Lê Quý Ly (黎季犛) đã đổi tên thành Hồ Nhất Nguyên (胡一元), cùng con là Lê Thương (黎蒼), đổi tên là Hồ Đê (胡𡗨), trú ngụ nơi biên viễn nóng nực, ẩn náu ở rìa biển, là tàn dư của loài lang sói, là độc hại còn sót của rắn rết. Chúng giết hại quốc chủ, lén thay thế tông miếu của họ Trần (陳氏); hại dân chúng, nhiều lần xâm phạm biên giới triều đình; tấn công và vây hãm sứ thần, quấy nhiễu nước láng giềng; mạo xưng Đại Ngu (大虞), chiếm lấy niên hiệu. Dùng hình phạt tàn khốc để hăm dọa mọi người, khiến dân chúng đều lo sợ vạ lây; thu thuế phi lý, bóc lột dân đen, khiến nhà nhà chịu họa.

Dân mang oan ức rung chuyển đất trời, người vô tội ngửa mặt kêu trời. Thánh thượng từng ban ơn cho chúng cải tà quy chính, nhưng phường cuồng nghịch cố chấp không hối cải. Chúng cản trở sứ giả triều đình, giết hại cháu của cố chủ. Tội ác hơn cả Tam Miêu, phép vua Thuấn nào thể dung tha. Tội trạng còn hơn Trưng Trắc, binh Hán nhất định phải ra tay tiêu diệt.

Thần vâng mệnh chiếu thư, chỉ huy binh mã, quân như chim ưng, diều hâu vượt mây xuống phương Nam; mãnh thú như gấu, hổ, beo, theo gió vượt núi. Đã phá xong các cửa ải hiểm trở, bay qua sông Trường Giang (長江), rồi đánh chiếm nhiều thành, tiêu diệt bọn giặc. Nhân đà chiến thắng, chia binh đuổi bắt giặc tàn. Đông Đô (東都) đã yên, Tây Đô (西都) cũng nhanh chóng bị hạ. Tàn quân tụ như kiến, bị quét sạch ở Bàn Than (盤灘), Khốn Mục (困牧); bè đảng giặc như đốm lửa nhỏ, bị dập tắt ở Lô Giang (嚕江), Tiên Lữ (仙侶). Thành quách chợ búa đều yên ổn, phủ huyện đón gió thần uy, sĩ dân dâng thư kể tội chúng có đến hàng ngàn, người bản xứ xin quy thuận và tham gia truy kích giặc chẳng dưới 10.000.

Bèn chỉ huy thủy quân tiến đến sông Giao Thủy (膠水), đuổi kình ngạc nơi cửa biển, dồn hổ tê vào chuồng sắt. Giặc chỉ còn sống lay lắt, trông chờ từng khắc, nhân quân ta tạm dừng mà lo bố trí phòng thủ, hòng bắt chúng để giết. Chúng vẫn còn cuồng vọng muốn tung hoành như cú, lũ xấu vẫn còn mộng phá vỡ vòng vây. Tin báo rằng giặc điều binh, cưỡi voi tiến đánh, khiến quân ta phẫn nộ, tuốt gươm vỗ tay mà xông tới.

Thần là Lý Bân (彬) và Trần Húc (旭) đã xuất binh đi xa, đô đốc Liễu Thăng (柳升) liền đến báo khẩn. Giặc tiến vào Hoàng Giang (黃江), thuyền đổ về Mẫn Hải (悶海), sai ngụy tướng Tạ Nhân Giám (謝仁鑒) cùng bọn đến phạm Ải Hàm Tử (咸子關) vào ngày 30 tháng 3 âm lịch[17]. Thần là Trương Phụ (張輔) bèn dùng nỏ điều khiển ngựa, cầm cờ ra trận chỉ huy quân lính. Sai Phiêu kỵ tướng quân là Ngô Vượng (吳旺) dẫn quân tinh nhuệ ra tiền tuyến, gấp rút đánh giặc mạnh vừa đổ bộ; Đô đốc Thiêm sự Liễu Thăng (柳升) cùng thủy quân quyết chiến, chém giết bọn phản nghịch trên sông. Giết được đám đầu sỏ, chém đầu tướng cầm đầu, nước Lô Giang (瀘水) đỏ ngầu, Trường Giang (長江) xác chất thành đống, máu tanh ngập trời, khí sát cuộn lên, suốt ngày trời u ám, mù sương thê lương.

Thần là Mộc Thạnh (晟) cùng Đô chỉ huy Liễu Tông (柳宗) dẫn quân thủy bộ, giáp công. Tên bay như mưa, không ai dám cản; súng nổ như sấm, đánh đâu thắng đó. Đại phá tiêu diệt quân giặc, tàn dư tan rã, thừa thế truy kích. Từ Lô Giang đến Hoàng Giang, quân giặc tan vỡ, bắt được chiến thuyền và tàu biển của chúng. Sau đó rút quân về Giao Thủy (膠水), đóng quân tại Giao Châu (交州), thề diệt giặc để yên bờ cõi, quyết đem thân mình mà khích lệ ba quân.

Ngày 29 tháng 4 âm lịch, năm 1407[18], thủy quân đến cửa Điển Dư (典臾門), trời nắng lâu ngày khiến nước cạn, quân giặc bỏ thuyền chạy trước, quân ta muốn tiến nhưng không cách nào vượt sông. Bỗng nhiên mây kéo đến, mưa đổ như trút, nước sông dâng cao mấy thước, hiển linh phù trợ, thuyền hơn 1.000 chiếc qua sông, há chẳng phải sức người làm được. Như gặp sông đông mà đóng băng, đâu cần cúng giếng mà có suối tuôn trào. Hễ có hành động chính nghĩa thì được đi trước, vui mừng vì kẻ có tội bị bắt. Mọi việc ứng nghiệm lớn lao, ngưỡng vọng đức thánh lan tỏa tận trời xanh.

Giặc thì do dự nghi hoặc, lo tìm ba hang để ẩn thân; ta thì sấm sét gió cuốn, không thể dung tha giặc thêm một ngày. Ngày 11 tháng 5 âm lịch, năm 1407 (tức 7/6/1407 dương lịch), bắt sống được tên giặc đầu sỏ Lê Quý Ly (黎季犛) cùng đồng bọn. Quân đi qua nơi nào, dân chúng đều mang cơm ra đón, cứu dân khỏi cảnh nước lửa, nhà nhà đều mừng rỡ. Tha thứ cho kẻ bị ép buộc, chiêu dụ những người lưu lạc, tuyên bố ân chiếu, giúp dân được sống lại. Quét sạch tà ma ở đất hoang, dập tắt khí độc nơi biển mặn.

Thần là Trương Phụ (張輔) xét các sách xưa, thấy rằng An Nam (安南) vốn là đất Giao Châu (交州) thời cổ. Thời Hán, Đường chỉ có thể kiềm chế lỏng lẻo; thời Tống, Nguyên vẫn bị khinh nhờn. Chúng mạo xưng, nhảy nhót, ỷ vào thói cũ, tuy biết quân đội sẽ trừng phạt, nhưng vẫn cứ phản rồi hàng, hàng rồi phản, trời đất không dung, người thần đều phẫn nộ.

Nay cha con anh em đều bị trói ở trước trại, tông tộc và ngụy quan đều bị bắt sống dưới trướng. Chúng tự cho rằng mình ở nơi sơn cùng thủy tận, khí hậu độc hại mà suốt các triều đại chưa từng bị chinh phục. Nào ngờ đâu thánh đức thần uy sánh ngang trời cao, thiên hạ đều thần phục, không ai dám chống đối. Việc bình định nhanh chóng vượt cả chiến thắng ba năm ở quỷ phương thời xưa, việc bắt giặc trở về còn ngắn hơn cả chiến dịch sáu tháng đánh giặc Diễn Duẫn. Giải nỗi hận của đời trước, cứu dân khỏi cảnh lầm than. Quân lính hoan hô, biết rằng trời giúp người thuận; man di múa hát, tin rằng đạo người trừ kẻ ác.

Tất cả đều nhờ vào mưu lược sâu xa của thánh thượng, sáng suốt nhìn xa vạn dặm, thiên uy lẫm liệt, ngồi mà thu được ba lần thắng trận. Hàng trăm sắc dân đầu chim lưỡi khác (ám chỉ người miền núi) đều được đưa vào cõi thịnh trị; mấy ngàn dặm đất đai trù phú cá muối đều được thu vào bản đồ. Khôi phục cương vực xưa, ban bố lễ nghi Trung Hoa.

Thần và các tướng không hề đổ máu mồ hôi, nhưng lại được toại chí phò vua giết giặc, đều nhờ vào kế sách đã định sẵn, nên mới có chút công lao nhỏ nhoi. Bình định Nam Di (南夷), dẹp sạch đại địch, hiến tù binh cáo tế tông miếu, ngưỡng vọng thần linh; dùng thịt hiến tế mà ban cho man di, để nêu rõ uy trời. Canh tân trị hóa muôn năm, đem lại yên vui bốn biển, không sao kể xiết nỗi mừng rỡ hân hoan của thần và ba quân vậy."


Trương Phụ (張輔) và các tướng rút quân về kinh, dâng bản đồ đất Giao Chỉ (交趾). Đông tây dài 1.700 dặm, nam bắc dài 2.800 dặm. Lập Giao Chỉ Bố chánh ty (交趾布政司), Án sát ty (按察司) và Đô chỉ huy sứ ty (都指揮使司) tại phủ Giao Châu (交州府). Thiết lập 17 phủ, 5 châu, quản lý các châu huyện, vệ là 10, sở Thiên hộ là 2, tổng cộng nha môn quân dân lớn nhỏ là 472. Từ đó, bản đồ nước lại khôi phục được cương vực cũ của Hán, Đường.

Lấy 11 người sĩ nhân tinh thông kinh nghĩa do Giao Chỉ tiến cử như Kỳ Nhuận Tổ (祺潤祖) làm đồng tri các phủ như Lạng Giang (諒江) v.v. Ban chiếu khen ngợi khích lệ, Hoàng thượng lại thân làm thơ ban tặng.

Năm thứ 6 (1408), luận công bình định Giao Chỉ (交趾), tiến phong Tân Thành hầu Trương Phụ (新城侯張輔) làm Anh Quốc công (英國公); Tây Bình hầu Mộc Thạnh (西平侯沐晟) làm Kiềm Quốc công (黔國公), đều được hưởng lộc 3.000 thạch, con cháu nối đời tập phong.

Phong Thành hầu Lý Bân (豐城侯李彬), Vân Dương bá Trần Húc (雲陽伯陳旭) mỗi người tăng lộc 500 thạch; Thanh Viễn bá Vương Hữu (清遠伯王友) được tiến phong làm Thanh Viễn hầu (清遠侯); Đô đốc Thiêm sự Liễu Thăng (柳升) phong làm An Viễn bá (安遠伯). Đô đốc Thiêm sự Cao Sĩ Văn (高士文) tử trận, được truy phong làm Kiến Bình bá (建平伯), con cháu nối đời tập phong.

Quân nhân trực tiếp bắt Lê Quý Ly (黎季犛), người đứng đầu là Vương Sài (王柴), Hồ Siêu (胡超) được thăng làm Chỉ huy sứ; người theo là Lý Phúc (李福) cùng 4 người khác đều được thăng làm Chỉ huy Thiêm sự.

Trước đó, Hoàng thượng hỏi Thượng thư Bộ Hộ Hạ Nguyên Cát (夏原吉): “Thăng chức và ban thưởng, cái nào tiện hơn?” Nguyên Cát tâu: “Thưởng chỉ tốn một lúc, có hạn; thăng chức thì tốn mãi về sau, vô cùng. Thăng nhiều không bằng thưởng hậu.” Hoàng thượng nghe theo. Vì vậy, chỉ thăng chức cho người có công đầu, còn lại đều ban thưởng theo thứ bậc.

Trần Thị Kiến (陳氏建) nói: “Hạ Trung Tĩnh (夏忠靖) cho rằng thưởng thì tốn có hạn, thăng thì tốn vô cùng, đó là lời bàn việc nước rất đúng; chỉ thăng người có công đầu, còn lại đều ban thưởng, đó là phép thưởng công tốt đẹp của triều tổ tông. Từ thời Chính Thống trở về sau thì không còn như vậy nữa.

Vương Tễ (王驥) trong chiến dịch Lộc Xuyên (麓川), phong tước và thăng chức đến hơn 10.000 người. Thời Thiên Thuận, có một vệ quan lên đến hơn 2.000 người. Đến thời Thành Hóa, chức vụ quân sự trong thiên hạ lên đến hơn 80.000 người. Đến thời Chính Đức, vượt quá 100.000 người. Nếu các triều đều theo phép thưởng công tốt đẹp của tổ tông, thì sao lại đến nỗi rườm rà, tràn lan như thế!”

Sách Thư có nói: “Noi theo phép đã thành của vua trước, thì sẽ không sai lầm lâu dài.” Người có nước nên ghi nhớ điều đó vậy!

Giặc man Giao Chỉ là Giản Định (簡定 Giản Định Đế) nổi loạn. Lệnh cho Kiềm Quốc công Mộc Thạnh (黔國公沐晟) làm Tổng binh đi đánh dẹp. Giản Định vốn là tông thất họ Trần (陳氏故宮), trước đó đã quy thuận, sắp được đưa về kinh, nhưng lại trốn về, cùng với ngụy quan ở Hóa Châu (化州) là Đặng Tất (鄧悉), Nguyễn Yến (阮宴) tụ tập quân chúng mưu làm loạn. Đám này tôn Giản Định làm chủ, xưng đế đặt niên hiệu.

Chúng kéo đến gần thành Giao Châu (交州), tàn dư của giặc Lê hưởng ứng rất nhiều, thế lực ngày càng mạnh. Quan quân nhiều lần xuất chinh nhưng không có kết quả, tâu xin thêm quân. Liền lệnh cho Mộc Thạnh phát binh Vân Nam (雲南), Quý Châu (貴州), Tứ Xuyên (四川) mấy vạn người đi đánh. Đồng thời sai Thượng thư Bộ Binh Lưu Huề (劉攜) đi theo tham mưu quân sự.

Mộc Thạnh dẫn quân giao chiến với giặc Giao Chỉ là Giản Định tại sông Sinh Quyết (生厥江), bị thua trận. Thượng thư Bộ Binh Lưu Huề, Đô đốc Thiêm sự Lữ Nghị (呂毅), Tham chính Bố chánh ty Giao Chỉ là Lưu Dự (劉昱) đều tử trận.

Từ đó giặc càng mạnh, đánh chiếm các châu huyện, tiến sát phủ Giao Châu. Việc tâu lên, liền lệnh cho Anh Quốc công Trương Phụ (英國公張輔) làm Tổng binh, Thanh Viễn hầu Vương Hữu (清遠侯王友) làm Phó tướng, dẫn 200.000 quân đi đánh dẹp.

Năm thứ 7 (1409) tháng 8, quân của Trương Phụ (張輔) đến Giao Chỉ (交). Đánh bại quân giặc ở các nơi Hàm Tử Quan (鹹子關), cửa biển Thái Bình (太平海口) v.v. Chém đầu hơn 3.000 người, chết đuối không đếm xuể, bắt sống hơn 200 người trong đảng giặc, gồm cả ngụy Giám môn vệ Tướng quân Phan Mân (潘岷), thu được hơn 400 chiếc thuyền. Giặc tôn Nguyễn Thế Mỗi (阮世每), Đặng Cảnh Dị (鄧景異)[19] trốn thoát.

Tháng 11, Trương Phụ tiến quân truy bắt thủ lĩnh giặc Giao Chỉ (交趾) là Giản Định (簡定), bắt được tại Mỹ Lương (美良). Đồng thời bắt được các ngụy Tướng tướng Trần Hi Cát (陳希葛), Nguyễn Yến (阮宴) v.v., giải về kinh sư. Chỉ còn Trần Quý Khoách (陳季擴 Trùng Quang Đế), Đặng Cảnh Dị (鄧景異) trốn sang Nghệ An (義安) chưa bắt được.

Tháng Giêng năm thứ 8 (1410), Trương Phụ (張輔) đánh bại tàn quân của Nguyễn Sư Cối (阮師檜 Nguyễn Súy) ở Đông Triều Châu (東潮州). Chém hơn 4.500 đầu, chết đuối càng nhiều, bắt sống hơn 2.000 người. Chiếu triệu Trương Phụ hồi kinh. Trương Phụ tâu xin lưu lại Quốc công xứ Quý Châu là Mộc Thạnh (沐晟), Vân Dương bá Trần Húc (陳旭) v.v. để dẹp tàn quân, còn mình thì dẫn quân về kinh.

Tháng Giêng năm thứ 9 (1411), lệnh cho Anh Quốc công Trương Phụ (張輔) tổng chỉ huy binh mã trở lại Giao Chỉ (交趾), hội cùng Quốc công xứ Quý Châu Mộc Thạnh (沐晟) truy bắt giặc phản loạn. Trước đó, Trần Quý Khoách (陳季擴) dâng biểu xin hàng, nhưng trong lòng vẫn hai lòng. Vua cho làm Giao Chỉ Bố chánh sứ, bọn Đặng Cảnh Dị (鄧景異) cũng đều được phong chức. Quý Khoách nghi ngờ, sợ hãi, không nhận mệnh. Thả quân cướp bóc, thế lực ngày càng lan rộng. Quan quân không thể chế ngự. Vua cho rằng dân Giao Chỉ sợ Trương Phụ, việc bình loạn không ai ngoài Phụ làm được, nên lại sai làm tổng chỉ huy đến đó.

Tháng 7, Trương Phụ đến Giao Chỉ đốc quân. Đánh bại bọn giặc Nguyễn Sư Cối (阮師檜), Hồ Cụ (胡具), Đặng Cảnh Dị (鄧景異) ở sông Nguyệt Thường (月常江), châu Cửu Chân (九真州), rồi lại đánh bại quân Lê Chỉ (黎芷) ở Phúc An (福安), chém đầu.

Tháng Chạp năm thứ 11 (1413), Trương Phụ (張輔) cùng các tướng đại phá quân giặc ở sông Ái Tử (愛子江), bắt được Trần Quý Khoách (陳季擴). Khi ấy, Trương Phụ cùng Mộc Thạnh (沐晟) tiến quân đến Thuận Châu (順州). Giặc Nguyễn Sư Cối (阮師檜) và đồng bọn đóng quân ở sông Ái Tử, bày voi phục để chờ quan quân. Trương Phụ dò biết, liền đề phòng. Sai quân bắn tên vào đàn voi: mũi tên đầu trúng người điều khiển voi, mũi tên thứ hai trúng vòi voi. Voi hoảng loạn quay về giẫm đạp lẫn nhau. Quan quân thừa thế đánh úp, giặc đại bại. Giết tướng giặc Nguyễn Sơn (阮山), bắt sống ngụy tướng quân Phan Kinh (潘經) cùng vài chục người, quân giặc chết vô số. Trần Quý Khoách bỏ chạy, bị bắt tại Lào (老撾). Tàn quân đều đầu hàng, Giao Chỉ (交趾) lại được bình định.

Năm thứ 12 (1414), Trương Phụ (張輔) áp giải thủ lĩnh giặc bị bắt là ngụy Quốc vương Đại Việt Trần Quý Khoách (陳季擴) cùng bọn ngụy Quốc công Nguyễn Sư Cối (阮師檜) v.v. về kinh sư, rồi xử chém.

Năm thứ 13 (1415), cựu Tham nghị Giao Chỉ (交趾) Giải Tấn (解縉) chết trong ngục của Cẩm y vệ (錦衣衛獄), gia quyến bị đày ra biên ải. Giải Tấn, người Cát Thủy (吉水), thiên tư thông minh xuất chúng, 7 tuổi đã biết làm thơ, mỗi ngày viết hàng ngàn chữ. Năm 18 tuổi, đỗ đầu kỳ thi Hương Giang Tây, rồi đỗ Tiến sĩ năm Hồng Vũ thứ 11 (1378). Vua đích thân chọn làm Thứ cát sĩ, đọc sách ở Trung thư. Ngày ngày hầu cận bên vua, được sủng ái đặc biệt.

Một hôm, vua cho ở tạm phòng phía tây nhà bếp lớn, bảo: “Ngươi thử viết điều nên làm trong chính sự hiện nay, cứ thẳng thắn trình bày.” Giải Tấn lui về, liền thảo bản tấu dài gần vạn chữ dâng lên. Lời lẽ thẳng thắn, không kiêng dè. Vua khen và sai ghi lại. Khi ấy, Thị lang Bộ Binh Thẩm Tiềm (沈溍) ghen tài, vu cáo Giải Tấn khinh nhờn lại thuộc. Vua không nghe, thăng làm Giám sát Ngự sử.

Khi Đô ngự sử Viên Thái (袁泰) ỷ thế làm càn, các ngự sử các đạo muốn hạch tội nhưng không ai dám viết, Giải Tấn cầm bút viết ngay, vạch rõ tội trạng. Vua lo Giải Tấn thiếu kiềm chế, dễ bị hại, bèn triệu cha ông đến, bảo: “Người tài khó có, mà khí chất lớn thì thành muộn.” Sai đưa con về, khuyên học thêm. Lại bảo Giải Tấn: “Trẫm với ngươi nghĩa là vua tôi, ân như cha con. Hãy về học theo cổ nhân, mười năm sau vào triều, dùng cũng chưa muộn.”

Gặp lúc Thái Tổ băng hà, Giải Tấn vội đến viếng. Các đại thần cho rằng không có chiếu mà đến là trái lễ, nên giáng làm lính vệ Hà Châu (河州衛). Khi vua mới lên ngôi, lại bổ làm Hàn lâm đãi chế, cho hầu cận. Giải Tấn tài giỏi, dám nói, vua rất thích, nên được trọng dụng. Sau khi Thị thư Hoàng Hoài (黃淮) đổi làm Trung thư xá nhân, được vào chầu, vua nói chuyện, rất khen. Mỗi lần thiết triều, vua đặc biệt cho Hoài và Giải Tấn đứng bên tả ngai để hỏi han. Tối đến thường triệu vào bàn luận đến khuya, có khi ngủ lại điện bên; ban cho ngồi trước giường, bàn việc chính sự, người khác không được nghe. Sau thăng làm Học sĩ.

Về sau, vua cùng võ thần Khâu Phúc (丘福) bàn lập Thái tử, văn thần chỉ có Kim Trung (金忠) dự, đều là công thần thời Bình Nam. Võ thần đều muốn lập Cao Hú (高煦), nói ông có công, lại được vua yêu quý. Kim Trung phản đối. Vua do dự chưa quyết, bèn triệu Giải Tấn bàn. Giải Tấn nói nên lập con trưởng chính thất. Lại nói: “Thánh tôn tốt nhất,” ý chỉ Tuyên Đế (宣廟). Vua bèn lập Thế tử tên là Cao Xí (高熾) làm Thái tử, Cao Hú làm Hán vương.

Khi vua muốn chinh phạt Giao Chỉ, Giải Tấn nói từ xưa các nước phiên thuộc chỉ nên thông hiếu, triều cống, nếu chiếm được đất cũng không nên đặt làm quận huyện. Vua không nghe. Khi ấy vua không ưa Thái tử, lại sủng ái phủ Hán. Giải Tấn nói không nên quá sủng, dễ sinh dòm ngó. Vua nổi giận, cho là chia rẽ huynh đệ. Cao Hú oán Giải Tấn, nói với vua: “Việc đổi Thái tử, chỉ có Giải Tấn tiết lộ.” Vua giận, giáng Giải Tấn làm Tham nghị Quảng Tây, rồi đổi sang Giao Chỉ.

Sau Giải Tấn vào kinh dâng sớ, gặp lúc vua bắc chinh. Giải Tấn yết kiến Thái tử rồi về. Vua trở về, Hán vương nói Giải Tấn nhân vua đi xa, lén gặp Thái tử, là vô lễ. Vua giận. Khi ấy, Giám khảo Vương Nhĩ (王你) cũng bị giáng sang Giao Chỉ vì tội. Giải Tấn cùng Nhĩ đến Quảng Đông du ngoạn sơn thủy, lại dâng sớ xin dùng hàng vạn dân đào sông Cám (贛江) để tiện giao thông. Vua nổi giận: “Làm bề tôi mà trốn tránh trách nhiệm, lại còn muốn làm khổ dân như thế!” Bèn bắt cả hai giam ngục.

Khi Giải Tấn và Vương Nhĩ bị giam, ngục quan tra khảo, ép khai đồng mưu. Giải Tấn không chịu nổi cực hình, khai ra các quan Dương Tông (楊宗), Cao Đắc Thức (高得睗), Lý Chí Cương (李至剛), Lý Quán (李貫), Vương Như Ngọc (王汝玉), Tống Hồng (宋綋), Tưởng Kỵ (蔣驥), Phan Kỳ (潘畿), Tiêu Dẫn Cao (蕭引高) v.v., đều bị bắt giam. Sau đó, Vương Nhĩ, Cao Đắc Thức, Vương Như Ngọc, Tống Hồng, Tiêu Dẫn Cao lần lượt chết trong ngục.

Chính sử chép rằng Giải Tấn về văn học, thư lễ, đứng đầu một thời. Tính tình phóng khoáng, không giấu giếm, thích tiến cử người tài, nhưng ít chọn lọc, hành sự tùy hứng, nên mắc tội. Mất năm 47 tuổi, gia quyến bị đày ra Liêu Đông (遼東). Đầu niên hiệu Hồng Hy (洪熙), mới được lệnh xá miễn cho về.

Năm thứ 14 (1416), triệu Anh Quốc công Trương Phụ (張輔), Tổng binh quan Giao Chỉ (交趾), về kinh sư. Trương Phụ trấn giữ Giao Chỉ trước sau tổng cộng 10 năm.

Năm thứ 15 (1417), phong Phong Thành hầu Lý Bân (李彬) mang ấn Trưng Di tướng quân, trấn thủ Giao Châu (交州), và sai hoạn quan Mã Kỳ (馬騏) giám quân cùng giữ. Mã Kỳ tham lam, tàn bạo, vơ vét, khiến các châu huyện nổi loạn, trộm cướp nổi lên khắp nơi.

Năm thứ 16 (1418), thổ quan Tuần kiểm huyện Nga Lạc (俄樂縣), phủ Thanh Hóa (清化府), Giao Chỉ là Lê Lợi (黎利) nổi dậy. Tổng binh quan Phong Thành hầu Lý Bân sai Đô đốc Chu Quảng (朱廣) đi đánh, Lê Lợi thua chạy. Lê Lợi vốn theo Trần Quý Khoách (陳季擴) làm phản, giữ chức ngụy Kim Ngô vệ Tướng quân. Sau đó tự trói mình ra hàng, được phong làm Tuần kiểm, nhưng trong lòng vẫn hai lòng. Đến nay xưng là Bình Định vương (平定王), lấy em là Lê Thạch (黎石) làm ngụy Tướng quốc, Giả Mãng (叚莽)[20] làm ngụy Đô đốc, tụ tập quân lính cướp bóc. Chu Quảng đem quân đánh bại, bắt chém vài trăm người. Lê Lợi trốn thoát. Lý Bân sai quân truy đánh nhưng không thắng. Hữu Tham chính người bản địa là Mạc Thúy (莫邃) tử trận.

Trần Thị Kiến (陳氏建) nói:

“Anh Quốc công Trương Phụ (張英國) bị triệu hồi, thì Lê Lợi (黎利) nổi loạn, từ đó Giao Chỉ (交趾) rối loạn. Kẻ ngu này cho rằng, khi Giao Chỉ đã được bình định, lẽ ra nên tiếp tục sai Anh Quốc công trấn giữ, mới là sách lược đúng đắn. Như thời Hồng Vũ, Mộc Anh (沐英) bình định Vân Nam (雲南) xong, liền được lệnh ở lại trấn thủ. Sau khi Mộc Anh mất, lại sai con cháu ông đời đời trấn giữ. Nhờ vậy, các man di đều quy phục, Vân Nam trở thành đất của Trung Quốc ta. Vì sao vậy? Vì người Tây Nam chỉ sợ phục họ Mộc, không phải tướng khác có thể trấn áp được.

Nay người Giao Chỉ sợ ai hơn được Anh Quốc công? Ba lần Giao Nam nổi loạn, không có Trương Phụ thì không dẹp yên được. Ba lần Trương Phụ bị triệu hồi, thì loạn lại bùng lên ngay. Người Giao Chỉ chỉ sợ Trương Phụ, còn các tướng khác thì họ chẳng coi ra gì. Nếu để Trương Phụ trấn giữ lâu dài, dư uy lan xa đến các dị tộc, trải qua hai ba mươi năm, gió tục đổi thay, thì Giao Nam có thể trở thành phiên thuộc lâu dài của Trung Quốc ta, sánh ngang với Vân Nam.

Cớ sao lại bỏ lỡ cơ hội ấy, khiến cho dân sĩ 22 châu quận lại rơi vào đất lạ, không được cùng Vân Nam thấm nhuần thánh hóa? Thật đáng tiếc thay!”

Năm thứ 18 (1419), Hữu Tham chính Giao Chỉ (交趾) là Hầu Bảo (侯保) tử trận khi giao chiến với giặc Lê Lợi (黎利). Tả Tham chính Phùng Quý (馮貴) cũng tử trận khi đi đánh giặc.

Hầu Bảo, người Tán Hoàng (贊皇), Trấn Định (真定), xuất thân Quốc tử sinh, từng làm Tri huyện Tương Thành (襄城), có chính tích tốt. Khi mới lập các châu huyện ở Giao Chỉ, triều đình chọn người cai trị, Bảo được bổ làm Tri phủ Giao Châu (交州府), rồi thăng Tham chính. Khi Lê Lợi cướp phá các châu huyện, Bảo dẫn dân binh đắp lũy ở nơi hiểm yếu để chống giữ. Giặc đến đánh, Bảo giao chiến, không địch nổi nên tử trận.

Phùng Quý, người Vũ Lăng (武陵), Hồ Quảng (湖廣), đỗ Tiến sĩ, làm Cấp sự trung, sau thăng Tham chính Giao Chỉ. Ông giỏi vỗ về dân lưu tán, người quy phục rất đông. Có hơn 20.000 quân thổ, đều dũng cảm thiện chiến, mỗi lần ra trận đều lập công. Sau bị hoạn quan Mã Kỳ (馬騏) và bọn đồng liêu ganh ghét, tước hết quân thổ. Đến khi Lê Lợi nổi dậy, thế giặc mạnh, Phùng Quý đi dẹp, chỉ có vài trăm quân yếu, gặp giặc, quân ít địch nhiều, ông chiến đấu đến cùng và tử trận.

Hầu Bảo làm chính thanh liêm, khoan hậu; Phùng Quý có mưu lược. Cái chết của hai người khiến ai cũng tiếc thương.

Tuần án ngự sử Hoàng Tông Tải (黃宗載) tâu rằng: “Giao Chỉ (交趾) mới nhập vào bản đồ quốc gia, việc an dân càng cần chọn đúng người. Nay các phủ, châu, huyện phần nhiều dùng sinh viên cống tiến hàng năm từ Lưỡng Quảng (兩廣), Vân Nam (雲南) hoặc cử nhân thi hỏng, chưa từng vào Quốc học, xin đi làm quan nơi xa, liền được bổ nhiệm. Những người này vừa thiếu nền tảng giáo dục đại học, lại không phải là nhân tài từng được các ty thử thách, nên người cai trị dân thì không biết vỗ về, người xử lý hình án thì không hiểu pháp luật. Nếu đợi đến kỳ khảo hạch 9 năm mới xét công tội thì sự trì trệ càng nhiều. Nên quy định: những người đã nhậm chức từ 2 năm trở lên, phải do Tuần án ngự sử cùng hai ty Bố chính và Án sát nghiêm túc khảo xét về sự thanh liêm và năng lực, rồi dâng tấu xin thăng giáng.” Vua nghe theo.

Vua dụ Lý Bân (李彬): “Giặc phản Lê Lợi (黎利) đến nay vẫn chưa bắt được, chưa rõ khi nào binh mới nghỉ, dân mới yên. Ngươi nên tận tâm vạch kế sách, sớm tiêu diệt giặc này.”

Tháng 5 năm thứ 19 (1420), Lý Bân (李彬) xin lập đồn điền.

Tháng 9, Lý Bân tâu rằng Lê Lợi (黎利) đã chạy sang Lào (老撾). Quân ta tiến binh truy bắt, nhưng Lào lập tức sai thủ lĩnh Lãm Kỳ Lang (覽耆郎) ra ngăn cản, không cho quân ta vào lãnh thổ, nói rằng không được vượt biên. Triều đình liền phát binh, sai tượng binh lục soát toàn diện, yêu cầu giao Lê Lợi cho quân doanh, nhưng lâu ngày vẫn không bắt được.

Vua nói: “Lào che giấu giặc, hai lòng. Lệnh cho Lý Bân sai thủ lĩnh vượt quan ải sang chất vấn.”

Theo sách Biệt chí (別志) chép: Hoàng An (黃安), người phủ Nam Ninh (南寧府), xuất thân cử nhân, thời Vĩnh Lạc (永樂) được bổ làm Đồng tri phủ Thường Châu (常州府), sau thăng làm Tri phủ Tuyên Hóa (宣化府), Giao Chỉ (交趾). Khi vào bộ khảo hạch, được xếp hạng nhất trong các quan trưởng Giao Chỉ. Sau đó được thăng làm Tham chính Hồ Quảng (湖廣). Khi họ Lê (黎氏) lại nổi loạn, Hoàng An đang đốc lương đến Trường Sa (長沙) thì mất.

Xem đó thì những người chết vì việc Giao Chỉ khi ấy, không chỉ có Hầu Bảo (侯保) và những người tử trận nơi chiến địa, mà còn có cả những người như Hoàng An, chết vì công vụ nơi đường xa. Than ôi!

Năm ấy (1420), chiếu chỉ bổ các quan Cấp sự trung Kha Tiêm (柯暹), Ngự sử Hà Trung (何忠), Trịnh Duy Tiêm (鄭惟暹), La Thông (羅通) đều làm Tri châu ở Giao Chỉ (交趾). Khi đó, bọn Tiêm thường dâng lời can gián thẳng thắn, từng chỉ trích các đại thần đương quyền không có lòng lo nước thương dân, đích danh công kích Thượng thư Bộ Công Lý Khánh (李慶). Lý Khánh không chịu nổi, tâu lên xin trị tội họ. Vua không cho.

Sau đó, Lý Khánh và các đại thần lại tiến cử rằng bọn Tiêm có tài trị dân, nên đều được thăng làm Tri châu và đưa đến các châu xa xôi nhận chức.

Năm thứ 22 (1423), vua thân chinh đánh Bắc Ngõa (北虜) trở về, lâm bệnh. Đến trạm Du Mộc Xuyên (榆木川) thì băng hà, hưởng thọ 60 tuổi. Nhân Tông (仁宗) lên ngôi, ban chiếu cấm việc khai thác vàng bạc ở Vân Nam (雲南) và Giao Chỉ (交趾).

Ban đầu, khi tin buồn đến kinh sư, Hoàng Thái tử lập tức sai Hoàng Thái tôn đi đến Khai Bình (開平) nghênh rước linh cữu. Trước khi đi, Thái tôn tâu với Thái tử rằng: “Ra ngoài nếu có việc cần tấu trình, không có ấn tín thì không thể phòng giả mạo.”

Thái tử quay sang hỏi các thị thần Dương Sĩ Kỳ (楊士奇) và những người khác. Sĩ Kỳ đáp: “Lúc Thái Tổ mới truyền ngôi cho Đông cung, có ban cho một ấn thư, nay có thể tạm giao cho Thái tôn, sau khi về sẽ nộp lại.”

Thái tử đồng ý, liền lấy ấn ấy trao cho Thái tôn và nói: “Đây là vật Thái Thượng Hoàng ban cho ta lúc đầu. Nếu có việc cần tấu, hãy dùng ấn này để niêm phong. Vật này chẳng bao lâu nữa cũng sẽ thuộc về con, cứ giữ lấy.”

Sau khi Thái tôn đi, Thái tử nói với Sĩ Kỳ: “Lời ngươi tuy là quyền biến, nhưng hợp thời thế. Xưa kia khi Thái Thượng Hoàng còn tại vị, ngôi Thái tử chưa định, dư luận xôn xao. Nay ta giao vật này cho Thái tôn, thì dư luận còn có thể dấy lên sao?”

Khi Thái tôn đến Bảo Điêu Ác (雕鶚堡), gặp linh cữu, khóc nghênh giữa quân doanh, bắt đầu phát tang. Ngày mồng 10 tháng ấy, nhằm ngày Nhâm Tý, linh cữu về đến kinh sư.

Lập tức thả cựu Thượng thư Bộ Hộ Hạ Nguyên Cát (夏原吉) và Thượng thư Bộ Hình Ngô Trung (吳中) khỏi ngục. Hai người từng can vua không nên bắc phạt, bị giam ở Nội quan giám suốt 4 năm. Hoàng Thái tử đích thân đến nơi giam, cùng khóc. Sau đó lệnh cho họ ra làm việc, hỏi về chính sự.

Nguyên Cát tâu rằng dân vùng Đông Nam khổ vì vận chuyển lương thực, xin dời đô về Nam Kinh để giảm chi phí. Lại xin vỗ về dân lưu tán, bãi bỏ việc sai thuyền ra Tây Dương tìm châu báu, và dừng việc khai thác vàng bạc ở Vân Nam, Giao Chỉ. Vua đều nghe theo.

Trước đó, Hán vương Cao Hú (高煦) được phong vương, lệnh cho trấn giữ nước Vân Nam (雲南), nhưng ông lấy cớ không muốn đi xa mà từ chối. Sau lại đổi sang Thanh Châu (青州), ông vẫn kiên quyết không đi. Khi Thành Tổ (成祖) đang ở Bắc Kinh, ông tha thiết xin về Nam Kinh. Cao Hú thường làm nhiều việc trái phép. Thành Tổ cho rằng các quan Trưởng sử Trình Tông (程琮), Kỷ Thiện (紀善), Chu Tốn (周巽) không thể uốn nắn ông, nên giáng họ làm lính ở Giao Chỉ (交趾).

Cao Hú vẫn không sửa đổi. Trong phủ có hơn 3.000 quân lính tư tuyển, không thuộc biên chế Bộ Binh. Ông thả vệ binh đi cướp bóc trong và ngoài kinh thành, chặt xác người vô tội ném xuống sông, giết chỉ huy quân mã Từ Dã Lô (徐野驢), lại còn dùng đồ ngự dụng trái phép. Thành Tổ nghe tin, trở về Nam Kinh, hỏi Kiển Nghĩa (蹇義), ông không dám trả lời, cố từ chối nói không biết. Hỏi Dương Sĩ Kỳ (楊士奇), ông đáp:

“Hán vương ban đầu được phong ở Vân Nam, không chịu đi, sau đổi sang Thanh Châu cũng không đi, nay biết triều đình định dời đô về Bắc Kinh, nên chỉ muốn ở lại Nam Kinh. Ý định ấy ai cũng rõ. Mong bệ hạ sớm có cách xử trí, định rõ nơi ở, để giữ trọn tình cha con, lưu phúc cho muôn đời.”

Thành Tổ im lặng. Vài ngày sau, ông lại biết Cao Hú bí mật chế tạo binh khí, nuôi tử sĩ, thu nhận kẻ trốn pháp, còn dùng da sơn để làm thuyền luyện thủy chiến. Thành Tổ nổi giận, triệu đến chất vấn, lột mũ áo, giam trong Tây Hoa môn. Hoàng Thái tử xin tha, ông mới được miễn tội. Thành Tổ nói với các thị thần:

“Với những việc như thế này, sau này chắc chắn không yên. Nay ta giảm hai vệ binh, đưa ông ta đến châu Lạc An (樂安州), Sơn Đông. Nơi ấy gần Bắc Kinh, nếu gây họa, sáng phát binh thì chiều bắt được.”

Sau đó, Hoàng Thái tử giám quốc, Thành Tổ thường có bệnh. Hai quân cách nhau hàng ngàn dặm, kẻ tiểu nhân ngầm theo Hán phủ đặt điều gièm pha. Các quan theo hầu Thái tử ngày đêm lo sợ, không ai tự bảo toàn được.

Gặp lúc có một viên Thiên hộ họ Trần (陳千戶) tự tiện lấy tài sản dân. Việc bị phát giác, Hoàng Thái tử giáng ông ta đi Giao Chỉ lập công. Vài ngày sau, nhớ đến công lao quân sự của ông, bèn tha tội. Có người gièm pha với Thành Tổ rằng: “Người bị giáng tội, Hoàng Thái tử lại tha.” Thành Tổ liền bắt Thiên hộ họ Trần, xử tử. Vì quan Tán thiện Nhạc Tiềm (樂潛) và Tư huấn Chu Miện (周冕) biết việc mà không can ngăn, cũng bị bắt giam, rồi đều chết trong ngục.

Năm Hồng Hy nguyên niên (1425), triều đình bổ Hữu Thị lang Bộ Binh Đái Luân (戴綸) đi trấn thủ Giao Chỉ (交趾). Khi ấy, các cựu thần Đông cung được thăng chức: Tả Trợ tử Trần Sơn (陳山) làm Tả Thị lang Bộ Hộ; Tẩy mã Trương Anh (張瑛) làm Hữu Thị lang Bộ Lễ; Đái Luân làm Hữu Thị lang Bộ Binh; Trung ẩn Từ Vĩnh Đạt (徐永達) làm Khanh Hồng Lô tự; Tán thiện Lận Tòng Thiện (藺從善), Vương Nhượng (王讓) làm Hàn lâm Thị độc; chỉ có Trung ẩn Lâm Trường Mậu (林長懋) bị điều ra làm Tri châu Ức Lâm (鬱林).

Sau đó, Đái Luân được sai đi trấn Giao Chỉ. Trước kia, Thành Tổ muốn Thái tôn học võ, ngoài giờ học văn, thường sai đi săn. Lâm Trường Mậu và Đái Luân thường can gián nhưng không được nghe. Đái Luân dâng sớ tâu rõ, không biết đó là ý của Thành Tổ, nên bị Thái tôn ghét. Trong khi đó, Trần Sơn và Trương Anh luôn thuận theo ý, nên được sủng ái.

Chẳng bao lâu, Lâm Trường Mậu và Đái Luân sinh lòng oán giận, bị giam vào ngục Cẩm y vệ. Vua xem được tấu của Đái Luân, đích thân tra hỏi. Đái Luân lớn tiếng biện bạch, lời lẽ cứng rắn. Vua nổi giận, đánh đòn ông, cuối cùng chết trong ngục. Lâm Trường Mậu bị giam 10 năm, đến đầu niên hiệu Chính Thống mới được tha.

Các chú bác của Đái Luân như Tri phủ Hà Nam là Đái Hiền (戴賢), Thái phó khanh Đái Hy Văn (戴希文), cùng cả tộc hơn 100 người đều bị bắt và tịch biên. Con nhỏ của Hy Văn được ban tên là Hoài Ân (懷恩), sau làm Thái giám Tư lễ giám thời Thành Hóa, được triệu về trông coi hai ty Bố chính và Án sát ở Giao Chỉ.

Thượng thư Bộ Công Hoàng Phúc (黃福) được triệu về, Bộ Binh Thượng thư Trần Hiệp (陳洽) thay ông trấn Giao Chỉ, kiêm quản hai ty Bố chính và Án sát. Hoàng Phúc cai trị Giao Chỉ, xem dân như con, chiều theo điều dân thích, trừ điều dân ghét, chăm lo giáo hóa, cần mẫn không mỏi. Ông thường răn dạy quan lại các phủ huyện phải thi hành chính sự nhân hậu. Ở vùng đất mới, mọi pháp lệnh lớn nhỏ đều được ông tận tâm thực hiện, nên người Giao Chỉ đều yêu kính ông như cha.

Các sĩ phu bị giáng chức đến Giao Chỉ đều được ông ân cần thăm hỏi, ai bệnh ông đích thân đến xem. Người nào có tài thì ông mời cùng làm việc, lại dùng họ để giáo hóa dân. Hoạn quan Mã Kỳ (馬騏) ỷ thế làm càn, Hoàng Phúc nhiều lần ngăn chặn. Mã Kỳ vu tấu rằng Hoàng Phúc có ý đồ khác. Văn Hoàng (tức Nhân Tông) thấu rõ sự vu cáo, nói: “Đây là người quân tử không được kẻ tiểu nhân dung.” Bèn bác bỏ tấu ấy.

Hoàng Phúc ở Giao Chỉ 18 năm, vua thương ông vất vả lâu ngày nơi biên thùy, bèn triệu về. Dân Giao Chỉ già trẻ đều ra tiễn, khóc lóc không nỡ chia tay.

Trần Thị Kiến (陳氏建) nói:

“Lúc ấy, Giao Chỉ (交趾) dựa vào hai người: Trương Phụ (張輔) giỏi dùng binh, uy chấn dị tộc, là chỗ dựa để Giao Thổ được yên ổn; Hoàng Phúc (黃福) giỏi cai trị, ân huệ lan xa, là chỗ dựa để dân Giao được an cư. Nay đã không để Trương Phụ trấn giữ, lại triệu Hoàng Phúc về triều, thì lại càng sai lầm. Đất Giao từ đây càng thêm rối loạn, chẳng phải lỗi của các phụ tá đương thời hay sao! Cho nên Hách Văn Mẫn (霍文敏) mới quy trách việc mất Giao Nam lần nữa cho nhóm Tam Dương (三楊) cũng là phải.

Khi ấy, hoạn quan Mã Kỳ (馬騏) truyền thánh chỉ, bảo Hàn lâm viện soạn chiếu, sai y trở lại Giao Chỉ để lo việc khai thác vàng bạc, châu báu, hương liệu. Lúc đó, Mã Kỳ mới được triệu về chưa lâu. Quan trong viện dâng tấu phản đối, vua nghiêm mặt nói: ‘Trẫm nào có nói thế! Khanh chẳng nghe y khi ở Giao Chỉ từng làm hại quân dân sao? Giao Chỉ từ khi y rời đi, như người được cởi trói. Nay lại sai y đi nữa sao? Gần đây y ở trong cung, nhiều lần cầu xin, trẫm đều không đáp. Các khanh nên hiểu ý trẫm.’ Việc ấy bèn bị đình chỉ.

Trần Thị Kiến lại nói: ‘Mã Kỳ truyền chỉ, nếu không có Hàn lâm viện dâng tấu phản đối, thì đã thành sai lầm lớn. Khi ấy Nhân Tông (仁廟) cương nghị, nắm vững quyền hành, mà Mã Kỳ vẫn dám có ý lộng quyền, huống chi là kẻ khác! Nhìn từ đây mà xét, cái hại của hoạn quan, dù bị kiềm chế còn lo họ lộng hành, huống chi lại sủng ái dung túng? Cho nên đến thời Chính Thống (正統), bọn Trấn, Trực, Quảng, Cẩn làm ác không còn giới hạn cũng là điều dễ hiểu. Kẻ ngu này cho rằng, hoạn quan truyền chỉ, đều nên theo lệ mà dâng tấu xác nhận, mới có thể ngăn ngừa mầm họa.’”

Năm đầu niên hiệu Tuyên Đức (1426), Tổng binh quan Giao Chỉ (交趾) là Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) dẫn quân đi đánh Lê Lợi (黎利) nhưng thất bại. Thượng thư Bộ Binh Trần Hiệp (陳洽) tử trận.

Trước đó, Nhân Tông (仁宗) sai hoạn quan Sơn Thọ (山壽) mang chiếu thư đến trách tội Lê Lợi, đồng thời phong ông làm Tri phủ Thanh Hóa (清化府). Lê Lợi không nhận, tụ tập quân lính cướp bóc, thế lực ngày càng lớn. Vương Thông dẫn quân các vệ đi đánh. Trần Hiệp cho rằng nên đóng quân ở Sa Hà (沙河), huyện Thạch Thất (石室縣), để dò xét thế giặc. Vương Thông muốn vượt sông, Trần Hiệp nhiều lần khuyên can, phân tích lợi hại, trình bày kế sách, nhưng Vương Thông không nghe.

Sáng hôm sau, vào giờ ngũ cốc (khoảng 3–5 giờ sáng), Vương Thông ra lệnh vượt sông. Trần Hiệp không thể ngăn. Đến cầu Ninh Kiều (寧橋), gặp quân giặc, giao chiến ác liệt, hai bên đều có thắng bại. Trần Hiệp thúc ngựa xông vào trận giặc, định bắt kẻ cầm đầu, bị thương nặng. Vương Thông sợ quân tan, Trần Hiệp liền tử trận.

Việc được tâu lên, triều đình truy tặng Trần Hiệp chức Thiếu bảo, ban thụy là Tiết Mẫn (節愍), phong con ông là Trần Xu (陳樞) làm Cấp sự trung.

Hà Trung (何忠), Tri châu Bình Châu (平州), Giao Chỉ (交趾), bị Lê Lợi (黎利) bắt và sát hại.

Hà Trung, người Hình Châu (邢州), đỗ Tiến sĩ thời Vĩnh Lạc (永樂), được bổ làm Ngự sử. Vì dâng lời can gián, bị điều ra làm Tri châu. Đến khi giặc Lê vây thành trấn, quan trấn thủ biết Hà Trung có dũng lược, sai ông bí mật mang tấu đi cầu viện triều đình. Hà Trung đi bộ trong đêm, vượt hơn 200 dặm, bị quân phục kích bắt được.

Các thủ lĩnh giặc vui mừng nói: “Tri châu Hà, danh tiếng đã lâu.” Rồi cùng nâng chén mời rượu, dụ ông: “Nếu theo chúng ta, sẽ cùng hưởng vinh hoa phú quý!” Hà Trung nổi giận, nhổ nước bọt xuống đất, mắng: “Lũ chó thối! Ta là thần tử triều Thiên triều, há lại ăn thứ cơm chó lợn của bọn bay sao!” Rồi giật chén ném thẳng vào mặt giặc, máu chảy đầy cằm. Ông liền bị giết.

Việc tâu lên, vua vô cùng thương tiếc, ban chiếu tuyên dương, phong thụy là Trung Tiết (忠節).

Khi đối mặt với cái chết, Hà Trung (何忠) vẫn điềm tĩnh làm bài thơ tuyệt mệnh như sau:

萬里孤城久困時,腹中懷奏請王師。
紅塵失路風霜苦,白日懸心天地知。
死向南荒應有日,生還北闕定無期。
英魂不逐西風散,願助天戈殄叛夷。
Vạn lý cô thành cửu khốn thì, phúc trung hoài tấu thỉnh vương sư.
Hồng trần thất lộ phong sương khổ, bạch nhật huyền tâm thiên địa tri.
Tử hướng nam hoang ưng hữu nhật, sinh hoàn bắc khuyết định vô kỳ.
Anh hồn bất trục tây phong tán, nguyện trợ thiên qua điễn bạn di.

Tạm dịch:

Vạn dặm cô thành khốn đã lâu,
Trong lòng ôm tấu, cầu vương hầu.
Đường bụi lạc lối, gió sương khổ,
Trời đất thấu lòng, nhật nguyệt sâu.
Chết nơi man rợ, ngày nào đến?
Sống trở về triều, chẳng có đâu.
Hồn thiêng chẳng tán theo gió tây,
Nguyện giúp thiên binh diệt giặc sâu.

Triều đình ban chiếu sai An Viễn hầu Liễu Thăng (柳升) dẫn quân sang Giao Chỉ (交趾) chinh phạt Lê Lợi (黎利), lấy Thượng thư Bộ Binh Lý Khánh (李慶) làm người phụ tá quân vụ.

Sau khi Trần Hiệp (陳洽) tử trận, thế lực của Lê Lợi càng thêm hung hãn, liền vây thành Giao Châu (交州). Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) dâng sớ xin thêm quân. Triều đình ra lệnh cho Liễu Thăng và các tướng đem 70.000 quân sang, đồng thời dụ Lý Khánh tuyển chọn những người có tài mưu lược trong vùng Lục Hương để trợ giúp. Lý Khánh tiến cử Lang trung Sử An (史安), Chủ sự Trần Dung (陳鏞) cùng hơn 10 người đi theo.

Lê Lợi tiến sát thành Giao Châu, Vương Thông ra quân chống giữ, giao chiến liên tiếp, chém được tướng giặc Lê Trĩ (黎豸), Lê Thiện (黎善), khiến quân giặc tan vỡ. Các tướng xin thừa thắng vượt sông truy kích, chắc chắn sẽ bắt được giặc. Nhưng Vương Thông không nghe, do dự ba ngày không xuất quân. Giặc dò biết Vương Thông nhút nhát, liền tập hợp tàn quân, chia quân bốn hướng, lại tiến đến vây thành Giao Châu.

Vương Thông thu quân, đóng cửa không ra. Lê Lợi gửi thư cho Vương Thông xin hòa, nguyện triều cống vật phẩm để tạ tội. Vương Thông sai người hộ tống sứ giả của giặc vào kinh.

Khi quân của Liễu Thăng (柳升) đến Ải Lưu Quan (隘留關), Lê Lợi (黎利) lại gửi thư đến doanh trại, xin đình binh để yên dân. Trong thư, ông nói đã tìm được người họ Trần tên Cảo (暠), tự xưng là cháu ba đời của Trần Phủ (陳暊 Trần Nghệ Tông), từng ẩn náu ở Lào (老撾) suốt 20 năm. Lê Lợi xin triều đình theo ý ban đầu của Thái Tông Hoàng đế, lập hậu duệ họ Trần làm vua nước An Nam, thì dân chúng sẽ rất mừng. Liễu Thăng và các tướng nhận thư nhưng không mở, sai người dâng lên triều đình.

Khi ấy, quân giặc lập trại ở phía nam Ải Quan để phòng thủ. Liễu Thăng liên tiếp phá được, tiến thẳng đến Tỏa Di Quan (鎖夷關), như chốn không người. Ông tỏ ra kiêu ngạo. Tuy dũng cảm nhưng Liễu Thăng không giỏi mưu lược. Khi đó, Tả Phó Tổng binh là Bảo Định bá Lương Minh (梁銘) phụ trách quân sự, Thượng thư Bộ Binh Lý Khánh (李慶) đều đang bệnh. Quan lại trong mưu phủ là Sử An (史安) và Trần Dung (陳鏞) nói với Lý Khánh:

“Chí của Tổng binh đã kiêu rồi, xin công nên hết lời can gián. Lòng người Man trá ngụy, không thể vì họ thua nhiều lần mà xem thường. Ai biết họ có phải cố ý tỏ ra yếu để nhử ta không? Huống chi chiếu thư nhiều lần đã răn rằng giặc chuyên dùng phục binh để thắng, không nên khinh suất. Xin công mau vào khuyên can.”

Lý Khánh gắng gượng dậy, cố vào khuyên Liễu Thăng. Liễu Thăng chỉ vâng dạ, nhưng trong lòng không hề cẩn trọng. Hôm sau, ông dẫn 100 kỵ binh đi trước, Phó tướng Thôi Tụ (崔聚) và Lý Khánh ở phía sau. Liễu Thăng vượt cầu trước, cầu liền sập, ông rơi xuống bùn, quân phía sau không tiến được. Giặc phục binh bốn phía nổi dậy, Liễu Thăng trúng tên mà chết. Phó Tướng Thôi Tụ thu quân về trại.

Hôm đó, Lương Minh qua đời; hôm sau, Lý Khánh cũng mất. Ngày kế tiếp, Thôi Tụ dẫn quân tiến đến Xương Giang (昌江), giặc dùng voi xung trận, quân rối loạn, bị bắt sống. Giặc lớn tiếng hô: “Ai đầu hàng thì không giết!” Quan quân hoặc chết, hoặc chạy, không ai chịu hàng. Sử An và Trần Dung nói: “Chúng ta gặp nguy mà xả thân, đó mới là lẽ phải!” Rồi cũng bị giết.

Giặc dùng trăm phương ngàn kế ép Thôi Tụ đầu hàng, ông vẫn không khuất phục, cuối cùng bị giết. Thôi Tụ là tướng kỳ cựu.

Thượng thư Bộ Công Hoàng Phúc (黃福) trở về từ Giao Chỉ (交趾). Trước đó, sau khi Mã Kỳ (馬騏) gây biến loạn ở Giao Chỉ, Trần Hiệp (陳洽) kế nhiệm Hoàng Phúc, nắm ấn hai ty Bố chính và Án sát, nhiều lần dâng sớ xin phục chức cho Hoàng Phúc, vì lòng dân Giao Chỉ rất mực tưởng nhớ ông. Vua nghe theo, lệnh cho Hoàng Phúc cùng Liễu Thăng (柳升) đồng hành sang Giao Chỉ.

Sau khi quân ta thất bại, Hoàng Phúc bị giặc bắt. Quân giặc đều xuống ngựa, quỳ lạy mà nói: “Ngài là cha mẹ của chúng tôi! Nếu ngày trước ngài không rời Giao Chỉ, chúng tôi đâu đến nỗi này!” Nói rồi ai nấy đều khóc.

Hoàng Phúc quát mắng, giảng giải đạo lý trung nghịch. Giặc không nỡ hại ông. Các thủ lĩnh đem lương thực biếu tặng, cho ông ngồi kiệu, tặng bạc trắng, rồi tiễn ra khỏi biên giới. Đến Long Châu (龍州), Hoàng Phúc đem toàn bộ lễ vật được tặng nộp lại cho triều đình.

Lê Lợi (黎利) đánh chiếm phủ Lạng Giang (諒江府), Tri phủ Lưu Tử Phụ (劉子輔) tử trận.

Lưu Tử Phụ, người Lư Lăng (廬陵), Giang Tây (江西), ban đầu làm Án sát sứ Quảng Đông, sau vì bị liên lụy nên bị giáng chức làm Tri phủ Lạng Giang. Ông là người chất phác, không phô trương, thương dân như con, được dân yêu mến.

Khi giặc thế mạnh, nhiều châu huyện đã thất thủ, Tử Phụ cùng tướng giữ thành kêu gọi binh dân quyết tử giữ thành suốt mấy tháng. Giặc tăng quân vây đánh, lương thực gần cạn nhưng lòng người càng kiên cố. Qua thêm hơn một tháng, giặc tăng cường công phá, cuối cùng phá được thành. Quân dân trong thành đều chiến đấu đến chết, không ai đầu hàng.

Lưu Tử Phụ biết không thể giữ được, nói: “Ta nhận mệnh giữ phủ, phủ mất thì ta cũng mất, không thể để ô danh rơi vào tay giặc.” Rồi tự thắt cổ chết. Một người con và một người thiếp của ông cũng chết trước ông.

Vua nghe tin, truy tặng ông chức Tham chính, ban lễ tế và cấp áo tế cho gia quyến.

Trần Thị Kiến (陳氏建) than rằng:

“Lúc ấy, hơn hai mươi châu quận ở Giao Chỉ (交趾), quan lại văn võ chết vì loạn Lê Lợi (黎利) không dưới hàng trăm, hàng nghìn người. Vậy mà tên tuổi, tiết nghĩa của những người như Hà Trung (何忠), Lưu Tử Phụ (劉子輔) chỉ được ghi chép sơ lược, còn phần lớn đều bị vùi lấp, không ai biết đến. Thật đáng tiếc thay!”

Sau khi Liễu Thăng (柳升) tử trận, Vương Thông (王通) vô cùng sợ hãi, liền triệu tập tướng sĩ bàn bạc. Ông cho rằng thành không thể giữ, chiến không thể thắng, chi bằng bảo toàn lực lượng rút về phương Bắc. Mọi người đều đồng ý. Vương Thông bèn tập hợp văn võ tướng sĩ, ra khỏi trại ở bờ sông Hạ Tiêu, lập đàn kết minh với Lê Lợi (黎利). Ông mở tiệc lớn đãi Lê Lợi, tặng gấm vóc dệt vàng. Lê Lợi cũng dâng bảo vật làm lễ đáp. Vương Thông không xin chỉ triều đình, lấy danh nghĩa quyền biến, dẫn Bố chính sứ Dực Khiêm (弋謙) cùng các quan rút quân về triều.

Trước đó, Mộc Thạnh (沐晟) được lệnh mang ấn Trưng Nam tướng quân, từ Vân Nam cùng Liễu Thăng đi đánh giặc. Đến huyện Thủy Vĩ (水尾縣), giặc thủy bộ đều phòng thủ. Mộc Thạnh thúc quân đóng thuyền, trấn giữ ở Cao Trại, chia đường tiến quân.

Khi ấy, triều đình đã nhận được thư của Lê Lợi gửi cho Liễu Thăng, cùng biểu văn dâng lên triều đình. Vua Tuyên Tông (宣宗皇帝) triệu các đại thần bàn luận. Anh Quốc công Trương Phụ (張輔) nói: “Quân sĩ khổ chiến nhiều năm mới có được đất này. Biểu văn của Lê Lợi đầy gian trá, nên càng phải phát binh trừng trị.”

Kiển Nghĩa (蹇義), Hạ Nguyên Cát (夏原吉) cũng nói: “Giao đất cho Lê Lợi là vô lý, chỉ khiến thiên hạ thấy ta yếu.”

Hỏi Dương Sĩ Kỳ (楊士奇), Dương Vinh (楊榮), thì Vinh nói: “Từ thời Vĩnh Lạc đến nay, người lao khổ chưa nghỉ, kẻ khốn cùng chưa được cứu. Chi bằng thuận theo lời xin, có thể chuyển họa thành phúc. Việc phát binh là không nên.”

Sĩ Kỳ nói: “Thái Tông (Chu Đệ) ban đầu muốn lập hậu duệ họ Trần. Tìm không được mới đặt quận huyện. Nay thực hiện ý ban đầu của tổ tông, để bảo vệ con dân tổ tiên, chính là việc đại đức, sao lại nói là vô danh? Hán triều từng bỏ Châu Nhai 珠崖, sử cũ khen là sáng suốt. Sao lại bảo là yếu thế? Xin bệ hạ quyết đoán.”

Vua nói: “Tiên hoàng từng tiếc nuối việc này, trẫm nghe nhiều lần rồi.”

Hôm sau, vua ban chiếu thư. Dụ các đại thần: “Người bàn luận không hiểu ý ‘dừng binh là tốt’. Cứ cho rằng thuận theo là không có võ. Nhưng chỉ cần dân được yên, thì lời người có gì phải lo?”

Bèn sai Thị lang Bộ Lễ La Nhữ Kính (羅汝敬) làm chánh sứ, Hữu Thông chính Hoàng Kỵ (黃驥), Khanh Hồng Lô tự Từ Vĩnh Đạt (徐永達) làm phó sứ, mang chiếu thư đến dụ hậu duệ họ Trần là Trần Cảo (陳暠). Đợi khi quan lại và kỳ lão xác minh rõ ràng, sẽ sai sứ phong vương.

Lệnh cho Mộc Thạnh rút quân về trấn thủ. Các Tổng binh quan và thuộc cấp đều giải tán, các nha môn lớn nhỏ mới lập đều bị bãi bỏ.

Trước đó, dân mới ở Giao Chỉ (交趾新民) không muốn theo giặc, có nơi hợp thành giữ thành đến chết, không ai đầu hàng. Có người mang cả gia đình vượt biển sang Trung Quốc, có người giấu tên theo quân đội về Trung Quốc.

Vương Thông (王通) đến kinh sư, văn võ bá quan dâng sớ hặc tội Vương Thông cùng Dịch Khiêm (弋謙), Mã Kỳ (馬騏) và những người khác vì trái mệnh tự ý hòa với giặc, bỏ đất rút quân. Lệnh cho pháp ty cùng các quan xét xử. Tất cả bị giam vào ngục Cẩm Y, tịch thu gia sản, miễn tội chết nhưng bị xóa tên khỏi sổ quan.

Việc Giao Chỉ (交趾) lại rơi vào tay man di, như thời Đường mất Hà Bắc lần nữa. Đó là do tể tướng thất sách, há phải vì Lê Lợi (黎利) giỏi dùng binh sao! Nếu khi ấy để Trương Anh công (張英公)[21] trấn thủ nơi đó, không để Mã Kỳ giám quân, thì dù có phản trắc cũng không lo; không triệu Hoàng Như Tích (黃如錫)[22] về triều, sai Trương Anh công đánh Lê Lợi, thì giặc sớm tối có thể dẹp yên. Hai Dương đều là trọng thần trong màn trướng, chẳng có một lời can gián, khiến cơ hội bị mất lần nữa. Lại chỉ khuyên triều đình bỏ đất nhường giặc, chẳng bằng Kiển (蹇), Hạ (夏) nhìn xa thấy rộng.

Đến như trận Lộc Xuyên (麓川) thời Chính Thống (正統), há bằng việc đánh Lê Lợi để bình định Giao Chỉ là điều tốt, mà sao không nghe ai ngăn việc xuất binh? Lại nữa, tội của Mã Kỳ phải xử theo luật phản biến. Tội hắn nặng hơn Vương Thông, khi về triều thời Hồng Hy (洪熙) mà không bị xử tử để tạ tội với người Giao, thoát tội thật đáng giận. Sau lại giả truyền thánh chỉ, sang Giao Chỉ thu vàng bạc, là dối vua làm việc riêng, dù Trấn (振), Trực (直), Lưu Cẩn (劉瑾) cũng không hơn! Nếu không gặp Nhân Miếu (仁廟) cương minh, chưa chắc không tiếp tục làm điều gian.

Than ôi! Trần thị (陳氏) nói: “Việc nghị bỏ giữ Giao Chỉ, hai Dương lấy lý do nghỉ binh dưỡng dân, ý thì hay thật. Nhưng khi ấy Giao Chỉ đặt văn võ các ty lớn nhỏ hơn 470 nơi, quan lại tướng sĩ há chẳng đến mấy vạn. Một khi bỏ Giao Chỉ, mấy vạn người đều thành ma nơi phương Nam, chẳng phải đáng buồn sao! Huyện ta có La công Hanh Tín (羅公亨信) vì làm cấp sự trung mà sai lầm, bị đày làm sứ ở Giao Chỉ 9 năm. Đầu thời Hồng Hy (1425), nhờ Tẩy mã Trương Anh (洗馬張瑛) tiến cử mới được triệu về làm ngự sử. Vừa về thì biến cố xảy ra. Sau Hanh Tín làm đến Đô ngự sử, có công nơi biên cương, là danh thần đương thời. Nếu không nhờ Trương Anh tiến cử, khó mà thoát nạn vậy!”

Theo ghi chép từ sách khác, vào thời Vĩnh Lạc (永樂), có một cháu trai nhỏ đùa nghịch đánh bà nội, bị luận tội đáng chết. Chủ sự bộ Hình là Lý Hậu (李厚) xét xử, nói: “Trẻ nhỏ không hiểu chuyện, há có ác ý. Kết tội nặng là oan uổng.” Dâng sớ xin giảm tội, nhưng không được chấp thuận. Ông tiếp tục khóc lóc, Thái Tông (太宗)[23] đích thân thẩm vấn. Dùng vật thử đứa trẻ, nó phân biệt được đông tây khá đúng ý chỉ. Vua tha tội, nói: “Trẻ đã biết trái phải, sao gọi là không hiểu?” Liền giáng Lý Hậu làm lại viên ở An Nam (安南). Lý Hậu ở An Nam tổng cộng 3 năm. Vua bỗng cảm ngộ, triệu ông về làm Chủ sự bộ Lại. Đi được 5 ngày thì An Nam nổi loạn, người Hoa sống lưu trú đều bị giết. Người đời cho rằng Lý Hậu thoát nạn là do lòng nhân được báo đáp.

Tuy nhiên, đầu thời Tuyên Đức (宣德), chiếu chỉ ban cho Vinh Xương bá Trần Trí (榮昌伯智) có nói: “Giặc Lê ôm lòng phản nghịch đã lâu, ban đầu tưởng dễ thu phục, tin lời người mà sai. Chỉ lo chiêu dụ, đến nay đã 8 năm, vẫn không chịu thần phục. Trung thần bị hại, lương dân bị hại, lỗi ấy là của ai? Trí và các tướng phải gấp rút tiến binh, đồng lòng lập công. Nếu mùa xuân tới không thắng, sẽ bị luận tội.” Có thể thấy Tuyên Tông (宣宗) đã quyết tâm diệt giặc. Nhưng sau lại bị lời hai Dương mê hoặc, bỏ đất nhường giặc. Không nghĩ rằng người làm quan ở nơi đó cũng cần có cách xử trí. Nếu khi ấy suy tính sâu xa, hoặc sai Trương Phụ (張輔) lại đem đại quân đến biên giới, tùy cơ hành động, có thể đánh thì tiến, không thể thì cho hàng. Đồng thời ra chiếu lệnh cho các quan lại ở Giao Chỉ, không kể lớn nhỏ, đều phải đưa về triều, rồi mới tha tội. Như vậy giặc được phong tước thì vui, tất sẽ nghe lệnh. Mà mũ áo Trung Hoa há lại bị chôn vùi nơi chốn nóng ẩm độc hại sao!

Khi La Nhữ Kính (羅汝敬) và những người khác đến Giao Châu (交州), Lê Lợi (黎利) đã giết Trần Cảo (暠) từ trước, giả nói Cảo bệnh chết. Bày tiệc rượu, dùng nữ nhạc để tiếp đãi. Nhữ Kính nổi giận, đập vỡ hết đồ, quát: “Người kế vị mất mà dùng lễ vui, là sao?” Năm thứ 4, tháng 2 (1429), Nhữ Kính và đoàn trở về. Lê Lợi sai người dâng cống phẩm. Tháng 3, triều đình sai Thông chính Từ Kỳ (徐琦), Vĩnh Đạt (永達), hành nhân Trương Thông (張聰) mang chiếu dụ Lê Lợi. Tháng 3, Kỳ và đoàn về, Lê Lợi lại sai người dâng vàng bạc, đồ cống. Đồng thời dâng tấu nói rằng cháu họ Trần là Cảo đã chết, con cháu đều tuyệt. Lê Lợi vỗ về dân chúng có phương pháp, được lòng dân, xin được trông coi, mãi làm phiên thần, phụng sự triều cống.

Năm thứ 6, tháng 5 (1431), Lê Lợi dâng biểu tạ tội, hiến người vàng thay thân. Tháng 6, triều đình sai Thị lang bộ Lễ hành tại là Chương Sướng (章敞), Thông chính Từ Kỳ ban chiếu cho Lê Lợi quyền xử lý quốc sự An Nam. Năm thứ 7, tháng 2 (1432), Sướng và đoàn về. Lê Lợi lại sai người dâng cống tạ ơn. Năm thứ 8 (1433), lại tiếp tục dâng cống.

Lưu Chấp Trai (劉執齋) trong bài thơ “Tặng cống sứ An Nam” (贈安南貢使詩 tặng An Nam cống sứ thi) viết:

  • 萬國提封總帝家,安南誰道隔天涯。金𣶬舊錫周王履,玉節頻浮漢客槎。山盡鯨波和雨露,星回鼇極記年華。諸射爺使承優渥,驛路馳驅莫憚賒。
  • Vạn quốc đề phong tổng đế gia, An Nam thuỳ đạo cách thiên nhai. Kim hàm cựu tích Chu vương lý, ngọc tiết tần phù Hán khách tra. Sơn tận kình ba hoà vũ lộ, tinh hồi ngao cực ký niên hoa. Chư xạ gia sứ thừa ưu ác, dịch lộ trì khu mạc đạn xa.

Tạm dịch:

Vạn nước đều thuộc về nhà vua,
An Nam ai bảo cách trời xa.
Giày vua Chu xưa từng ban đất,
Sứ Hán thường qua sóng vượt đà.
Mưa móc hòa cùng sóng biển lớn,
Sao xoay cực Bắc ghi năm qua.
Sứ giả chư xạ được ưu đãi,
Đường trạm dẫu xa chớ ngại mà.

Lê Lợi (黎利) khi ở ngôi đã xưng đế, tự ban chiếu lệnh, lại ngụy lập hai đô Đông và Tây, từng xâm phạm châu Ninh Viễn thuộc Vân Nam, cũng sáp nhập vào lãnh thổ. Chia nước làm 13 đạo, đặt quan lại, lập trường học. Mỗi đạo đặt Thừa chính ty, Hiến sát ty, Tổng binh sứ ty, mô phỏng theo ba ty Đô bộ, Đô sát, Đô chỉ của Trung Quốc.

Gồm các đạo: Sơn Nam (山南), Kinh Bắc (京北), Sơn Tây (山西), Hải Dương (海洋), An Bang (安邦), Đại Nguyên (大原), Minh Quang (明光), Lạng Hóa (諒化), Thanh Hoa (清華), Nghĩa An (義安), Thuận Hóa (順化), Quảng Nam (廣南), để tỏ đất đai rộng lớn. Nhưng mỗi ty thực ra không bằng một quận lớn của Trung Quốc.

Học trò trong trường đều gọi là sinh đồ, theo chế độ nhà Nguyên, lấy kinh nghĩa và thơ phú để tuyển chọn. Thơ dùng thể thất ngôn luật.

Lê Lợi chẳng bao lâu thì chết. Năm thứ 9 (1434), Tổng binh Quảng Tây là Sơn Vân (山雲) tâu rằng Lê Lợi đã chết. Con trưởng thì cuồng loạn, con thứ còn nhỏ. Gian thần Lê Vấn (黎問), Lê Sát (黎察) cấu kết giết hại lẫn nhau, dân man sợ hãi. Thổ quan Lạng Sơn là Nguyễn Thế Ninh (阮世寧), thổ quan Thất Nguyên là Nguyễn Công Đình (阮公廷) dẫn dân chạy nạn sang xin quy phục, nguyện ở Long Châu và phủ Thái Bình, thượng hạ Đống Châu thuộc Quảng Tây.

Vua ban chiếu cho Sơn Vân rằng: “Lê Lợi vốn xuất thân hèn mọn, do tâu lập Trần Cảo (暠), thuận theo lòng người. Trẫm muốn yên dân, nên ra chiếu bãi binh, từ từ bàn việc lập Cảo. Lê Lợi vội tâu Cảo chết. Cái chết của Cảo là do Lê Lợi gây ra. Triều đình vốn muốn hỏi tội, nhưng không nỡ hại dân, nên cho quyền xử lý quốc sự. Hắn làm nhiều điều bất nghĩa, bị trời phạt. Ngươi hãy răn dạy binh lính biên giới, nghiêm phòng thủ, chớ lơ là. Thế Ninh, Công Đình nên vỗ về cho tốt.”

Từ đó về sau, người Trung Quốc nhiều lần lén lút vào Giao Nam (交南). Có kẻ còn nhận chức ngụy ngự sử, dạy người dò xét Vân Nam, dụ dỗ kẻ trốn tránh của ta, do thám hư thực. Ngoài cửa ải Trấn Nam Quan (鎮南關), phần nhiều là người Hoa, mà các quận thuộc Lâm An (臨安) đều có giặc man. Bởi Nguyễn Thế Ninh (阮世寧) và những người khác có thể đến, thì người Hoa của ta cũng có thể đi. Do đó, người trốn tránh không thể lưu giữ, vì tự mở ra mối họa như thế.

Giao Chỉ (交趾) sai người báo quốc tang. Triều đình sai hành nhân Quách Tế (郭濟), Chu Bật (朱弼) sang tế. Lê Lợi (利) xưng đế trái phép, đổi niên hiệu là Thuận Thiên (順天), chiếm ngôi 6 năm thì chết, giả gọi là Đại Tổ (大祖)[24]. Con là Lê Long (利子龍)[25], ngụy danh là Lân (麟), xin phong vương, triều đình lại cho quyền xử lý quốc sự An Nam.

Năm Cảnh Thái Canh Ngọ (庚午, 1450)[26], sai hành nhân Biên Vĩnh (邊永) ban chiếu cho An Nam. Vua tôi nước ấy đến quán tiếp kiến, muốn quỳ trên bậc thềm. Biên Vĩnh nghiêm sắc mặt trách: “An Nam vốn là nước lễ nghĩa, nay sao lại kiêu ngạo như vậy!” Mọi người kinh sợ, liền quỳ dưới bậc thềm. Biên Vĩnh, người Nhâm Khâu, Hà Gian (河間任丘), đỗ tiến sĩ năm Thiên Thuận Ất Sửu (乙丑, 1465).

Năm Chính Thống thứ 7 (正統七年, 1442), triều đình ban chiếu phong Lê Lân (黎麟真) làm An Nam quốc vương, ban cho ấn bạc mạ vàng. Sai Thị lang bộ Lễ là Chương Sướng (章敞) và hành nhân Hầu Cẩn (侯璡) sang làm lễ. Khi đến biên giới, cửa ải hẹp và thấp, người đi trước nói phải cúi mình mới qua được. Hầu Cẩn quát: “Đây là lỗ chó lợn của Trung Quốc, người bản xứ ra vào thì được. Nay mệnh trời giáng xuống, sao có thể chui qua đây!” Người đón sợ hãi, liền phá cửa cho đoàn đi qua. Người Giao tiếp chỉ dụ, lễ nghi không dám vượt phép. Hầu Cẩn về, không nhận một chút lễ vật nào. Người Giao càng kính trọng ông. Hầu Cẩn là người Ức Châu, Sơn Tây (山西懌州), đỗ đầu kỳ hương thí năm Quý Mão thời Vĩnh Lạc (永樂癸卯), sau đỗ tiến sĩ.

Lê Lân chết, từ đó về sau các vua Giao đều có hai tên: tên thật dùng để tế thần, tên giả dùng để đối phó với Trung Quốc. Bởi thủ lĩnh nước ấy quen thói dối trá, từ thời Trần Uy Hoảng (陳威晃) giả tên là Quang Bính (光昺)[27] đã như vậy, không phải chỉ nay mới có.

Lê Lân xưng đế trái phép 9 năm, đổi niên hiệu hai lần: Thiệu Bình (紹平), Đại Bảo (大寶), giả xưng là Thái Tông (太宗)[28]. Con là Cơ Long (基隆)[29], giả danh là Tuấn (濬), được kế phong. Năm Thiên Thuận nguyên niên (天順元年, 1457), dâng biểu xin ban áo mũ hoàng bào như vua Triều Tiên, nhưng không được chấp thuận.

Năm thứ 3 (1459), người anh cùng cha khác mẹ là Nghi Dân (宜民) giết Lê Tuấn (基隆) để tự lập. Người trong nước giết Nghi Dân. Lê Tuấn xưng đế trái phép 17 năm, đổi niên hiệu hai lần: Đại Lợi (大利), Diên Ninh (延寧), giả thụy là Nhân Tông (仁宗). Nghi Dân giả danh là Tông (琮), được phong làm Lạng Sơn vương (諒山王), xưng đế chỉ được 9 tháng thì bị giết, đổi niên hiệu là Thiên Điển (天典), bị giáng làm Lệ Đức hầu (厲德侯).

Em Lê Tuấn là Tư Thành (思誠)[30], giả danh là Hạo (灝), được kế phong. Năm Hồng Trị nguyên niên (弘治元年, 1488), Hàn lâm thị giảng Lưu Tiễn (劉戩), người An Phúc, Giang Tây (江西安福), đỗ tiến sĩ, mang chiếu sách phong sang dụ Tư Thành. Khi ấy triều đình đang phát binh đánh Chiêm Thành và Miến Điện, Tư Thành khá ngang ngược. Lưu Tiễn nhận mệnh, chỉ cùng hai người hầu đi từ Nam Ninh, nhanh chóng đến biên giới. Người Giao đều kinh ngạc. Trên đường, từ trạm nghỉ đến lễ tiếp kiến, lễ nghi đều cung kính gấp bội so với trước. Khi đến nơi, lập tức ban chiếu. Hôm sau, sau tiệc tiễn, liền lên đường, lễ vật hậu hĩnh đều không nhận. Sai bề tôi đi theo truyền đạt ý vua, đuổi theo trên đường, nhất định phải trao được. Lưu Tiễn lại viết thư, kèm bài thơ lúc mới vào ải gửi lại, rồi mới rời đi.

Sau đó người Giao dâng biểu tạ ơn, có câu “triều thần thanh bạch” (廷臣清白), lại dựng đình “Khước Kim” (卻金亭) trên đường Tư Minh (思明道) để tưởng niệm. Về sau lại sai hành nhân Đổng Chấn (董振) mang chiếu sang nước ấy.

Lý Đông Dương (李東陽) trong bài thơ tiễn sứ rằng:

  • 紫泥新詔出彤宮,帝遣南乘使者驄。四面樓船通海氣,九霄旌節下天風。仙蓂萬葉占堯曆,化日重暉仰舜瞳。聞道奉楊恩澤遍,遠人無地不呼嵩。
  • Tử nê tân chiếu xuất đồng cung, đế khiển nam thừa sử giả thông. Tứ diện lâu thuyền thông hải khí, cửu tiêu tinh tiết hạ thiên phong. Tiên minh vạn diệp chiêm nghiêu lịch, hoá nhật trùng huy ngưỡng thuấn đồng. Văn đạo phụng dương ân trạch biến, viễn nhân vô địa bất hô tung.

Tạm dịch:

Tía bùn chiếu mới ra cung đỏ,
Vua sai ngựa sứ cưỡi về Nam.
Bốn phía lâu thuyền mang khí biển,
Chín tầng cờ tiết đón gió trời.
Ngàn lá tiên minh ghi lịch Nghiêu,
Nắng hóa trùng quang soi mắt Thuấn.
Nghe rằng ơn Dương lan khắp chốn,
Người xa đâu chẳng gọi là Tung.

Năm thứ 10 (1497), Tư Thành (思誠) chết. Ông là con thứ tư của Lê Long (龍)[31]. Xưng đế trái phép 38 năm, đổi niên hiệu hai lần: Quang Thuận (光順), Hồng Đức (洪德), giả xưng là Thánh Tông (聖宗). Con là Lê Tranh (鏳)[32], giả danh là Huy (暉), được kế phong.

Thần tử của ông là Lê Ngạn Tuấn (黎彥俊) phụ trách việc cống, muốn đi từ Long Châu vào Nam Ninh qua Bằng Tường. Tri châu Lý Quảng Ninh (李廣寧) cho rằng từ đầu triều đã lập Trấn Nam Quan (鎮南關) trong địa phận mình, nên tranh chấp, tâu lên triều đình. Triều đình phán quyết giữ như cũ.

Năm thứ 17 (1504), Lê Tranh chết, xưng đế trái phép 7 năm, đổi niên hiệu là Cảnh Thống (景統), giả xưng là Hiến Tông (憲宗). Con trưởng là Lê Thuần (𤀉) lên ngôi, đổi niên hiệu là Thái Chân (泰真), chưa kịp ghi năm thì chết, giả xưng là Túc Tông (肅宗)[33]. Em là Lê Tẩu (叟), tên là Nghị (誼)[34], được phong.

Ông sủng ái và trọng dụng họ ngoại là anh em Nguyễn Chủng (阮種)[35], tha hồ làm càn, tàn ác, giết hại tông thân, thậm chí đánh chết cả tổ mẫu (bà nội), khiến người trong nước oán hận. Nguyễn Chủng đoạt quyền, tự ý ban lệnh, dần dần không thể khống chế.

Năm Thành Hóa thứ 12 (成化十二年, 1476), triều đình ra chiếu điều chuyển Vương Thứ (王恕), Tả Thị lang bộ Hộ ở Nam Kinh, làm Tả Phó Đô ngự sử, tuần phủ Vân Nam.

Trước đó, trung quan trấn thủ Vân Nam là Tiền Năng (錢能) dựa thế tham lam, sai chỉ huy dưới quyền là Quách Anh (郭英) đi đường tắt sang An Nam để cầu hối lộ. Từ trước, sứ triều đình sang An Nam đều đi qua Quảng Tây, chưa từng đi qua Vân Nam. Vì vậy vua tôi An Nam kinh ngạc. Sau một thời gian, họ muốn nhân cơ hội mở đường, sai một thủ lĩnh mang binh đi theo phía sau. Khi gần đến biên giới, Quách Anh lừa thủ lĩnh ấy rằng sẽ báo trước với người giữ ải, rồi về muộn. Biên binh cảnh giác, quân An Nam mới rút lui.

Việc này truyền ra, dư luận xôn xao, cho rằng Quách Anh câu kết với ngoại bang để do thám biên giới. Triều đình bàn bạc, sai Vương Thứ đến tuần phủ nơi ấy. Vương Thứ đến, lập tức lệnh cho ty Hiến sát bắt Quách Anh trị tội. Quách Anh sợ, nhảy xuống giếng tự tử. Tịch thu bảo vật sung công, bắt đồng đảng giải về kinh xử tử.

Vương Thứ dâng sớ rằng: “Xưa Giao Chỉ trấn thủ không đúng người, khiến một phương rơi vào tay giặc. Vụ khơi chuyện ở Đằng Xung khiến giặc Lộc nổi loạn. Việc hôm nay còn nghiêm trọng hơn.” Ông còn khuyên vua không nên quý trọng vật lạ, các loại hoa cỏ, chim thú, đồ chơi quý hiếm đều nên từ chối. Ở Vân Nam chỉ trong vài tháng, ông dâng hơn 20 bản tấu, tiếng ngay vang khắp thiên hạ.

Năm thứ 16 (1480), triều đình bàn việc chinh phạt An Nam, nhưng sau đó bãi bỏ. Khi ấy An Nam nhiều năm xâm lấn Chiêm Thành. Chiêm Thành sai sứ vào triều xin đánh. Trung quan Uông Trực (汪直) nhân đó dâng kế lấy An Nam. Lang trung bộ Binh là Lục Dung (陸容) tâu rằng: “An Nam thần phục Trung Quốc đã lâu, nay lễ lớn vẫn giữ, chưa thấy dấu hiệu phản nghịch. Nếu đột nhiên dùng binh, e gây họa không nhỏ.” Nhưng Uông Trực vẫn chưa từ bỏ ý định, truyền chỉ hỏi số quân từng điều động thời Vĩnh Lạc. Khi ấy Lưu Đại Hạ (劉大夏) cũng đang ở bộ Binh, nên giấu sổ sách. Sau đó trình bày lợi hại với Thượng thư Dư Tử Tuấn (餘子俊), hết sức can ngăn. Việc mới được đình chỉ.

Trần thị Kiến (陳氏建) nói: “Trình Hoàng Đôn (程篁墩) ghi chép việc Lục Chức Phương (陸職方), cho rằng việc ông ngăn cản cuộc chinh phạt An Nam (安南) là điều đặc biệt vĩ đại. Khi ấy, Uông Trực (汪直) đã gây thù với Nữ Chân (女直) ở phía đông, khiêu khích Đát Đát (韃靼) ở phía bắc, hai bên đã giao tranh liên miên, gây họa cho dân, làm nhục quốc gia. Nếu chiến dịch ở Giao Nam (交南) khiến Trực lại đạt được ý đồ, thì sự an nguy của thiên hạ chưa thể biết được. May thay các quan Bộ Binh cùng nhau ngăn chặn, há chẳng phải là nhờ linh thiêng của tổ tông, phúc của xã tắc, là đại phúc của đời này và dân chúng đó sao.”

Năm Hồng Trị (弘治) thứ 8 (1495), An Nam (安南) xâm lấn Chiêm Thành (占城). Vua nước Chiêm Thành (占城國) sai sứ vào triều, xin cử quan đến hỏi tội. Vua muốn thuận theo. Đại học sĩ Từ Phổ (徐溥) cùng các quan dâng lời: “Kinh Xuân Thu (《春秋》) chép rằng vương giả không trị tội Di Địch. An Nam tuy nhận chính sóc, tu cống phẩm, nhưng dựa hiểm cố thủ đã nhiều năm. Nay nếu sai quan đến nước ấy, biển đảo mênh mông, chỉ là múa lưỡi vô ích. Nhỏ thì che giấu sai trái, lớn thì cố chấp kháng mệnh. Nếu bỏ qua không hỏi, thì đã tổn uy nhiều; nếu hỏi tội khởi binh, thì tai họa càng lớn. Nên không nên nghe theo.” Bèn thôi. Sau đó, trung quan truyền chỉ, vua mới thôi.

Vũ Tông (武宗) lên ngôi, ban chiếu sai Tu soạn Luân Văn Tự (倫文敘) mang chính sóc ban cho Giao Chỉ (交趾).

Về Luân Văn Tự (文敘), ông là trạng nguyên năm Kỷ Mùi niên hiệu Hồng Trị (弘治己未, 1499). Năm ấy, học sĩ Lý Đông Dương (李東陽) và Trình Mẫn Chính (程敏政) làm chủ khảo, ra đề từ sách Thoái Trai Ký (《退齋紀》) của Lưu Tĩnh Tu (劉靜修), ít người biết đến. Từ Giang Âm (江陰), Từ Kinh (徐經) và giải nguyên Nam Kinh là Đường Dần (唐寅) đều trả lời đầy đủ, tự đắc vui mừng, dư luận xôn xao. Hoa Xưởng (華昶), cấp sự trung khoa Lễ, dâng sớ hặc tội. Mẫn Chính tự nói đã soạn đề từ trước, nghi bị người nhà đánh cắp bán ra ngoài, nên ai biết đề đều bị loại. Sau khi công bố bảng, đồng khảo là cấp sự trung Lâm Đình Ngọc (林廷玉) lại dâng sớ nêu sáu điều khả nghi về Mẫn Chính. Vua ra lệnh tra xét, Từ Kinh khai từng dùng gấm song tặng Mẫn Chính, thường ra vào nhà ông, đề thi quả là do người nhà Mẫn Chính tiết lộ, nên mới cùng Đường Dần bàn bạc. Vụ án kết thúc, Mẫn Chính bị cách chức; Từ Kinh và Đường Dần đều bị giáng làm dân. Hoa Xưởng và Lâm Đình Ngọc đều bị đày ra ngoài. Còn Văn Tự (文敘) thì đỗ đầu bảng.

Lý Đông Dương (李東陽) có làm bài thơ tặng Luân Văn Tự (倫文敘):

  • 藩邦地重極炎洲,詔使名高出狀頭。一代風雲龍虎會,百年郊藪鳳麟遊。殊方盡處聞天語,舊屋歸時記海籌。彩得民風兼國俗,玉堂青史待刪修
  • Phiên bang địa trùng cực viêm châu, chiếu sử danh cao xuất trạng đầu. Nhất đại phong vân long hổ hội, bách niên giao tẩu phụng lân du. Thù phương tận xứ văn thiên ngữ, cựu ốc quy thì ký hải trù. Thái đắc dân phong kiêm quốc tục, ngọc đường thanh sử đãi san tu

“Phiên bang đất trọng tận châu nóng,
Chiếu chỉ danh cao đứng đầu bảng.
Một đời phong vân hội long hổ,
Trăm năm rừng nội hiện kỳ lân.
Nơi xa đều được nghe lời vua,
Nhà cũ về ghi nhớ mưu biển.
Phong tục dân hòa cùng quốc tục,
Sử xanh ngọc điện đợi tu biên.”

Chủng (种)[36] ép Nghị tự sát. Nghị xưng đế bốn năm, đổi niên hiệu là Đoan Khánh (端慶), sau bị giáng làm Lệ Mẫn vương (厲愍王). Chủng giả tôn làm Uy Mục đế (威穆帝), lập Nguyễn Bá Thắng (阮伯勝), em Chủng, làm vua. Quốc thần Lê Quảng (黎廣)[37] cùng người khác đánh giết, lập cháu của Tư Thành (思誠 Lê Thánh Tông) là Oánh (瑩), tên giả là Trừu (晭)[38], làm vua.

Năm thứ 6 (1511), triều đình sai Biên tu Trạm Nhược Thủy (湛若水) sang phong cho con trai thứ năm của Tư Thành (思誠) là Tấn (鑌), tên giả là Cư (琚). Tấn sinh ra Oánh (瑩) và Nghị (誼), nhưng bị giết, không có con. Người trong nước lập Oánh (瑩) lên ngôi, đổi niên hiệu là Hồng Thuận (洪順), ngụy tôn cha là Tấn (鑌) làm Đức Tông (德宗).

Năm thứ 10 (1515), Oánh (瑩) sai Nguyễn Trọng Huy (阮仲逵) sang triều cống.

Lý Đông Dương (李東陽) có làm thơ tặng Nhược Thủy (若水):

  • 聖朝荒服盡冠纓,嶺外安南舊有名。文字不隨言語別,道途長共海波平。一家兩被周封命,六載三回漢使旌。天上玉堂非遠別,故鄉重心尸火戈𢠢倚門情。
  • Thánh triêu hoang phục tận quan anh, lĩnh ngoại an nam cựu hữu danh. Văn tự bất tuỳ ngôn ngữ biệt, đạo đồ trưởng cộng hải ba bình. Nhất gia lưỡng bị chu phong mệnh, lục tải tam hồi hán sử tinh. Thiên thượng ngọc đường phi viễn biệt, cố hương trùng tâm thi hoả qua uỷ ỷ môn tình.

“Thánh triều man phục đều đội mũ tua,
Ngoài Lĩnh An Nam vốn có danh.
Văn tự chẳng theo lời nói khác,
Đường xa cùng biển sóng yên lành.
Một nhà hai lần được phong mệnh Chu,
Sáu năm ba lượt cờ sứ Hán.
Ngọc điện trời cao chẳng biệt xa,
Quê xưa lòng nặng lửa binh canh.”

Oánh (瑩) sau khi lên ngôi, tha hồ làm điều vô đạo.

Năm thứ 11 (1516), quan tế lễ ở xã đường là Trần Cảo (陳暠) cùng hai con là Bính (昺) và Thăng (昇) làm loạn, giết Oánh.

Oánh ngụy xưng đế trong 8 năm, sau bị giáng làm Linh Ẩn vương (靈隱王), rồi giả xưng là Tương Dực đế (襄翼帝).

Trần Cảo (陳暠) tự lập, xưng hiệu là Đại Ngu (大虞), đổi niên hiệu là Thiên Ứng (天應), giả xưng là hậu duệ họ Trần (陳氏).

Đô lực sĩ Mạc Đăng Dung (莫登庸) phản lại, đầu hàng. Trần Cảo sau đó lại cùng đại thần họ Lê là Nguyễn Hoằng Dụ (阮弘裕) khởi binh đánh Mạc. Cảo thua chạy, con là Bính 昺 và đồng đảng là Trần Toại (陳遂) bị bắt giết. Cảo và Thăng chạy đến Lạng Sơn (諒山), chiếm ba phủ Trường Khánh (長慶), Đại Nguyên (大原), và Thanh Đô (清都).

Mạc Đăng Dung cùng các đại thần lập con Oánh là Lê Y (椅)[39], tên giả là Huệ (譓), mưu xin phong nhưng vì loạn trong nước nên không thành. Lê Y ngụy phong Đăng Dung làm Vũ Xuyên bá (武川伯), tổng chỉ huy các doanh thủy bộ. Đăng Dung nắm binh quyền, ngầm nuôi ý khác.

Năm thứ 13 (1518), thần họ Lê là Trịnh Tuy (鄭綏) cho rằng Lê Y chỉ giữ hư vị, còn Đăng Dung không thần phục, bèn lập tộc tử họ Lê là Dậu Bảng (酉榜)[40], đánh kinh thành. Lê Y bỏ chạy, Đăng Dung đem quân đánh Tuy. Tuy thua chạy, Đăng Dung bắt Dậu Bảng giết đi. Lê Y trở về nước, Đăng Dung tự xưng là Thái phó Nhân quốc công (大傅仁國公).

Năm thứ 16 (1521), Đăng Dung đem quân đánh Trần Cảo. Cảo thua chạy, chết. Đăng Dung sau đó lấy mẹ của Lê Y làm vợ.

   




Chú thích

  1. Niên hiệu thời Hán Hiến Đế (196-2/220)).
  2. Dương Tam Kha.
  3. Thực ra đây cũng chính là vua Trần Thánh Tông. Thánh Tông có các tên Uy Hoảng, Quang Bính, Nhật Huyên.
  4. Niên hiệu của Trần Thánh Tông.
  5. Người dịch chia mục để tiện theo dõi.
  6. Trần Vĩ là con trưởng Trần Thoan (Duệ Tông) nhưng đã chết trước đó. Người nối ngôi Trần Thoan là Trần Hiện (Trần Phế Đế), cũng là con thứ của Trần Thoan chứ không phải em.
  7. Trần Thuận Tông
  8. Lý Nhân Tông
  9. Trần Thánh Tông có nhiều tên như Uy Hoảng, Quang Bính, Nhật Huyên.
  10. Trần Thánh Tông có nhiều tên như Uy Hoảng, Quang Bính, Nhật Huyên.
  11. Trần Nhân Tông, húy Trần Nhật Tôn 陳日尊.
  12. Trần Nhật Côn và Trần Ngung đều là tên của Trần Thuận Tông. Trần An (Trần Thiếu Đế) là con Trần Thuận Tông.
  13. Niên hiệu của Hồ Hán Thương Khai Đại (開大 1403 - 1407)
  14. Thăng Long.
  15. Thanh Hóa.
  16. Thực tế Trừng là anh Thương.
  17. năm 1407 (tức 28/4/1407 dương lịch)
  18. tức 26/5/1407 dương lịch
  19. Nguyễn Cảnh Dị.
  20. Có lẽ là 段莽 Đoàn Mãng.
  21. Trương Phụ.
  22. Hoàng Phúc.
  23. Chu Đệ.
  24. Thực tế là Lê Thái Tổ.
  25. Lê Thái Tông, húy Lê Nguyên Long 黎元龍.
  26. Niên hiệu của Minh Đại Tông, tương đương với thời vua Lê Nhân Tông, húy Lê Bang Cơ 黎邦基. Chưa rõ vì sao lại chèn đoạn này vào.
  27. Trần Thánh Tông có nhiều tên như Uy Hoảng, Quang Bính, Nhật Huyên.
  28. Lê Thái Tông, húy Lê Nguyên Long 黎元龍.
  29. Lê Nhân Tông, húy Lê Bang Cơ 黎邦基
  30. Lê Thánh Tông, húy Lê Tư Thành 黎思誠.
  31. Lê Thái Tông, húy Lê Nguyên Long 黎元龍.
  32. Lê Hiến Tông, húy Lê Tranh.
  33. Lê Túc Tông, húy Lê Thuần 黎㵮
  34. Lê Uy Mục.
  35. Có lẽ nói về Khương Chủng và Nguyễn Bá Thắng.
  36. Có lẽ nói về Khương Chủng và Nguyễn Bá Thắng.
  37. Có lẽ là Lê Quảng Độ.
  38. Lê Tương Dực.
  39. Lê Chiêu Tông, húy Lê Y 黎椅.
  40. Có lẽ đề cập đến Lê Do (黎槱) và Lê Bảng(黎榜)



Nguồn bổ sung: