Biên dịch:Thù vực chu tư lục/Quyển 6
An Nam
[sửa]Năm Gia Tĩnh thứ 1 (1522), Mạc Đăng Dung (莫登庸) xưng là An Hưng vương (安興王). Mưu sát vua Lê Y (椅)[2]. Mẹ vua Y bí mật báo cho vua, nên vua cùng thần là Đỗ Ôn Nhuận (杜溫潤) lén đi đến Thanh Hoa (清華) trú ngụ. Mạc Đăng Dung lập em cùng cha khác mẹ của Y là Khoáng (懬)[3] lên ngôi. Vua Lê Y sai sứ đi đường tắt sang triều cống, đồng thời xin phong, nhưng bị Mạc Đăng Dung ngăn cản. Vua Minh vì lên ngôi đổi niên hiệu, sai Hàn lâm viện biên tu Tôn Thừa Ân (孫承恩), Lễ khoa hữu cấp sự trung Dư Đôn (俞敦) mang chiếu thư và gấm vóc đến ban dụ và ban thưởng cho quốc vương An Nam là Lê Trừu (黎晭)[4].
Tôn Thừa Ân và Dư Đôn nghe tin thần hạ nước này làm loạn, vua Lê bị hại, đến Long Châu (龍州) Quảng Tây, cách biên giới nước này chỉ 80 dặm. Họ dò hỏi về sự sống chết của Lê Trừu và tên húy của thế tử. Khi đến gần biên giới, các phủ vệ Lạng Sơn (諒山), Văn Uyên (文淵), Trường Khánh (長慶) của nước này sai người ra đón. Phủ Trường Khánh trình rằng nước này bị nghịch thần Trần Cảo (陳皓) và con là Trần Biện (陳昪)[5] chiếm cứ các phủ như Lạng Sơn, đường sá bị ngăn trở, phải chờ tâu lại quốc vương rồi mới đón tiếp theo nghi lễ.
Long Châu trình rằng theo lời khai của thủ lĩnh giữ ải là Đinh Nguyên (丁源), được biết Lê Trừu nước An Nam đã mất được 7 năm, nay thế tử đổi hiệu là Quang Thiệu (光紹)[6], nhưng không rõ tên húy. Lại dò được viên quan vệ sĩ Trấn Sóc (鎮朔) nước này là Bế Hiếu Trung (閉孝忠) nói rằng Quang Thiệu bị nghịch thần Mạc Đăng Dung làm loạn đuổi ra ven biển, sống chết chưa rõ. Lại có nghịch thần Trần Biện chiếm cứ các nơi như phủ Lạng Sơn, xưng là Thiên Ứng (天應), sau chết. Có con là Trần Dị (陳異) vẫn chiếm giữ như cũ, đến nay việc thù giết chưa dứt, đường sá không thông.
Năm thứ 2 (1523), Tôn Thừa Ân (孫承恩) và những người đi cùng không dám tiến vào. Dư Đôn (俞敦) lâm bệnh qua đời. Tôn Thừa Ân dâng sớ rằng:
“Tôi vốn phụng mệnh mang chiếu thư và gấm vóc, chỉ để ban dụ và ban thưởng cho Lê Trừu (黎晭). Nay Lê Trừu đã mất, người xưng là Quang Thiệu (光紹) kế vị, ban đầu không xin phong, gặp loạn cũng không cầu viện, chưa rõ có phải là dòng chính của Lê Trừu hay không. Dù đường sá không bị ngăn trở, chúng thần có thể vào được, cũng không dám tùy tiện ban phong. Huống chi theo các báo cáo, thì nước này bị nghịch thần họ Trần (陳) cha con chiếm giữ bên ngoài, họ Mạc (莫) lại ép ở bên trong, binh đao liên miên, nước không có chủ định. Chúng thần sao dám tùy tiện tiến vào, tự chuốc lấy lỗi lầm vì làm nhục mệnh vua?
Chúng thần đã gửi công văn đến các phủ vệ Lạng Sơn (諒山), Văn Uyên (文淵), Trường Khánh (長慶) của nước này. Nhưng Lạng Sơn, Văn Uyên hoàn toàn không hồi đáp, chỉ có Trường Khánh trả lời rằng phải tâu lại quốc vương rồi mới đón tiếp theo nghi lễ. Chúng thần chờ lâu ở biên giới, cũng không thấy tin tức đón tiếp. Xét tình hình, dù cho Quang Thiệu còn sống, biết được ân điển của triều đình mà muốn ra đón tiếp, nhưng quyền hành của ông ta lâu nay không đến được các nơi như Lạng Sơn, mất đường ra vào trọng yếu, thì sứ giả đón tiếp chắc chắn không thể thông hành. Họ đã không thể đến đón, chúng thần cũng không thể vào được! Huống chi theo báo cáo trước, Quang Thiệu bị đuổi ra ven biển, sống chết chưa rõ, chúng thần có chờ thêm ở đó cũng vô ích. Họa phúc được mất, với chúng thần không đáng tiếc, nhưng việc liên quan đến thể diện quốc gia, sao dám không cẩn trọng. Chúng thần xét thấy không thể tiến vào, nên quay về phủ Ngô Châu (梧州) Quảng Tây, dự định dâng biểu trình bày.
Cấp sự trung Dư Đôn vì cảm nhiễm khí độc, uống thuốc không khỏi, đã mất vào ngày mồng 4 tháng Giêng năm Gia Tĩnh thứ 2 (1523). Thần suy nghĩ: Thần vốn cùng Dư Đôn phụng mệnh làm chánh phó sứ, được sai sang nước An Nam công cán. Nay nước này loạn lạc, không thể tiến vào, mà Dư Đôn lại vừa mất, thần cũng khó thể đi một mình, nên xin dâng biểu chung, cầu xin chỉ dụ cho hai bộ Lễ và Binh bàn bạc xử lý lâu dài, để thần có căn cứ tuân theo mà hành động.”
Vua Minh ban chiếu: “Việc này hãy để quan trấn thủ và tuần tra tra xét rõ ràng. Tạm cho Tôn Thừa Ân hồi kinh.”
Tháng Chạp năm thứ 3 (12/1524), tuần án Quảng Tây là giám sát ngự sử Uông Uyên (汪淵) cùng các quan đồng trình rằng:
“Chúng thần cùng Tổng trấn Lưỡng Quảng là thái giám Trịnh Nhuận (鄭潤), Tổng đốc quân vụ Lưỡng Quảng là Hữu đô ngự sử Trương Đính (張頂), Tổng binh quan trấn thủ Lưỡng Quảng là Phù Ninh hầu Chu Kỳ (朱麒) bàn rằng: Nước An Nam tiếp giáp Lưỡng Quảng, tuy là man di xa xôi, nhưng đã lâu được giáo hóa, xin phong và nạp cống là chức phận thường lệ. Chiếu dụ ban thưởng, nên lập thành lệ thường.
Nay nước ấy loạn lạc gần 10 năm, khiến đất nước chia cắt, đến nay chưa có chủ định. Chúng thần tra xét hồ sơ nhiều năm, rộng rãi dò hỏi dân tình, cân nhắc sự việc, dường như đã nắm được đại thể. Loạn khởi đầu từ phản nghịch Trần Cảo (陳暠) và những kẻ theo hắn, khiến Lê Trừu (黎晭) bị hại; tiếp đến là gian hùng Mạc Đăng Dung (莫登庸) làm loạn, khiến Lê Trừu phải lưu vong[7]. Nay theo công văn của hai phủ Trường Khánh (長慶), Cao Bình (高平) và báo cáo của Long Châu (龍州), các tình tiết khác nhau, nhưng suy lý thì cha con Trần Cảo phản nghịch, tội trạng rõ ràng, không cần tra xét thêm.
Lê Trừu[8] bị hại, không có con. Người trong nước cùng lập con của cố trưởng huynh Lê Hạo (黎灝)[9] là Lê Huệ (黎譓)[10] làm thế tử, danh phận rất chính đáng, tạm quyền nhiếp chính, đã được 6–7 năm. Quan hệ vua tôi đã định rõ từ lâu. Cớ sao một sớm bị người ép đưa ra nước ngoài, mà không ai hay biết? Mạc Đăng Dung đã xưng trung nghĩa, có thể đánh giặc, cớ sao thấy vua bị lưu đày mà không nghênh đón phục vị? Lại tự ý thay đổi mưu tính, lập em của Lê Trừu là Lê Khoáng (黎懬)[11] làm quyền nhiếp chính, trong đó có sự cưỡng đoạt, sao tránh khỏi nghi ngờ?
Huống chi lời truyền lại rằng: có người nói Lê Khoáng còn nhỏ tuổi, sao có thể nhiếp chính? Có người nói Lê Khoáng tuy xưng là em cùng mẹ với Lê Trừu, nhưng Lê Hạo đã mất từ lâu, sao còn có con nhỏ? Lại có người nói Mạc Đăng Dung cưới mẹ của Lê Khoáng rồi mới sinh con, truyền rằng mẹ của Lê Trừu lấy Mạc Đăng Dung làm vợ, mạo xưng là Lê Khoáng, cũng chưa rõ thực hư. Dù là chuyện mờ ám nơi man di, khó đoán thật giả từ xa, nhưng dù Lê Khoáng thật là con Lê Hạo, em của Lê Trừu, thì em sao có thể đoạt ngôi anh? Lê Trừu là vua chung của cả nước, mà Mạc Đăng Dung dám tự ý thay thế, thì thần sao có thể phế vua?
Nay phủ Trường Khánh trình rằng Lê Khoáng muốn sai bồi thần vào triều xin phong; phủ Cao Bình cũng trình như vậy. Gần đây phủ Thái Bình (太平) Quảng Tây báo rằng nước An Nam gửi văn thư, sai bồi thần là Nguyễn Văn Thái (阮文泰), Phạm Đôn Lễ (范敦禮), Trịnh Cử (鄭麂) mang biểu văn và vật phẩm vào triều, xin mở cửa quan như lệ, cấp phát lương thực và phương tiện đi đường.
Nhưng chúng thần dò hỏi được rằng nước ấy vẫn loạn, chưa có chủ định, lại mập mờ sai bồi thần vào cống xin phong, không nói rõ tên người được phong là ai, rõ ràng là lập sai người, dân không phục, hoặc là gian hùng mưu đoạt, giả lập tên giả. Chắc chắn có gian tế trong nước thông đồng với ngoại di, muốn mượn ân sủng của triều đình để thu phục lòng người, thực hiện mưu phản, cũng chưa thể biết được.
Triều đình là trung tâm của muôn nước, không thể không chính danh nghĩa lớn về cương thường. Từ xưa đế vương trị di địch, cũng có khi dùng phép ‘không trị mà trị’. Vì việc này liên quan đến biên cương, xin chỉ dụ cho hai bộ Lễ và Binh bàn bạc kỹ lưỡng. Cúi xin thánh chỉ định đoạt.”
Vua Minh ban chiếu cho các quan trấn thủ và tuần tra tiếp tục điều tra, có kết quả thực tế thì tâu lên để định đoạt.
Năm thứ 6 (1527), Mạc Đăng Dung (莫登庸) dùng phe đảng là Phạm Hỉ Mô (范喜謀 Phạm Gia Mô) giả làm văn nhường ngôi của Lê Khoáng (懬), cướp ngôi, xưng đế trái phép, đổi niên hiệu là Minh Đức (明德). Giả lập con là Mạc Phương Doanh (芳瀛) làm Hoàng thái tử, rồi giết Lê Khoáng.
Năm thứ 6 (1527), cựu thần nước An Nam là Trịnh Duy Liêu (鄭惟憭 Trịnh Duy Liễu) dâng văn trình rằng:
“Nghịch thần Mạc Đăng Dung (莫登庸) vốn đỗ võ cử, làm lực sĩ giáo úy. Chú của Trịnh Duy Liêu là Trịnh Duy Thận (鄭惟慎 Trịnh Duy Thuân) nhiều lần tiến cử, nên được bổ làm Đô chỉ huy. Khi nước nhà mới loạn, ban đầu Đăng Dung theo Trần Cảo (陳嵩), sau mới hàng, tạm được bổ làm Tham tướng huyện Nghi Dương (宜陽). Hắn giỏi thủy chiến, có công đánh giặc, được chọn thăng làm Vũ Xuyên bá (武川伯), được giao quản vùng Hải Dương (海洋), dần có quyền thế.
Khi đó các thủ lĩnh trong nước là Trịnh Tuy (鄭綏), Nguyễn Hoằng Dụ (阮弘裕) tranh quyền đánh nhau, mỗi người trở về quê cũ ở Thanh Hoa (清華). Đăng Dung bèn ép thế tử[12] nước nhà, sai các thủ lĩnh thu vàng bạc, ngầm cho đảng là văn quan Phạm Gia Mô (范嘉謀) dụ dỗ các văn thần, nói rằng quyền nằm trong tay công thần cũ, chúng ta không được dùng, chi bằng ủng hộ hắn làm tiết chế, để chúng ta tha hồ tung hoành. Thế là kéo quân ủng hộ Đăng Dung làm Tiết chế mười ba đạo.
Đăng Dung được thế, nắm quyền quốc gia, ngầm nuôi chí phản nghịch, mưu đồ bất chính. Thế tử biết được, lén trốn ra ngoài. Em cùng mẹ của thế tử là Lê Lự (黎慮) và mẹ Lê Lự[13] bị Đăng Dung đuổi bắt được. Các thủ lĩnh và dân chúng nước nhà cùng theo thế tử khởi binh đánh Đăng Dung. Đăng Dung chạy về vùng Hải Dương, chỉ còn các phủ Thượng Hồng (上洪), Hạ Hồng (下洪), Kinh Môn (荊門), Nam Sách (南策), Thái Bình (太平) theo hắn.
Thế tử trở lại nước, giết hết các văn thần từng ủng hộ Đăng Dung, thúc các thủ lĩnh và dân chúng bốn mặt tấn công. Khi đó Nguyễn Hoằng Dụ đã chết, Trịnh Tuy còn ở Thanh Hoa, quân nhiều nhưng không ai thống lĩnh. Đăng Dung lại ép lập Lê Khoáng (懬)[14], đắp hào lũy, cố thủ vùng Hải Dương. Trong vòng một tháng, công phá không được. Đăng Dung bất ngờ dùng thuyền theo sông lớn, ban đêm lén đánh úp kinh đô. Thế tử trốn thoát, cờ lọng bị Đăng Dung chiếm được. Đăng Dung bèn phô trương cờ lọng, giả dọa các quân, nói đã bắt được thế tử. Quân nước nhà tan rã, tự giữ từng nơi. Sau mới biết Đăng Dung đã được thế, thế tử lui về giữ huyện Ninh Sơn (寧山). Trịnh Tuy từ Thanh Hoa tiến đến, thấy thế yếu, bèn đón thế tử về giữ vùng Thanh Hoa, kinh thành đều bị giặc chiếm.
Đăng Dung sợ Lê Khoáng trốn theo thế tử, bèn đầu độc giết chết, lại giả lập người khác, vẫn mạo danh Lê Khoáng. Vào tháng 7 năm Gia Tĩnh thứ 5 (1526), có đảng cũ của Đăng Dung là Kiều Văn Côn (喬文昆) ra đón thế tử, dẫn quân vùng Sơn Nam về hàng. Thế tử sai Trịnh Duy Tuấn (鄭惟峻 Trịnh Duy Thuân) trấn giữ Thanh Hoa, để thế tôn là Hưng (黎興)[15] ở lại cho Trịnh Duy Tuấn chăm sóc. Thế tử tiến quân đến phủ Thiên Quan (天關), đóng tại huyện Lạc Thổ (樂土), chia các thủ lĩnh tấn công đảng Đăng Dung ở Chương Đức (彰德). Kiều Văn Côn cũng theo đường thủy đánh Đăng Dung ở Mộc Hoàn Châu (木丸洲), Tam Kỳ Giang (三岐江), nơi trị sở Sơn Nam. Kiều Văn Côn thua trận, Đăng Dung truy đến phủ Lị Nhân (蒞仁), huyện Kim Bảng (金榜), thế tử chưa hay biết.
Đăng Dung dùng vàng bạc mua chuộc thổ quan huyện Lạc Thổ là Quách Liêu Hạc (郭遼鶴) dẫn đường tắt, vây đánh doanh trại thế tử. Bất ngờ, quân tan rã, chiếu thư và văn thư triều đình ban đều bị bỏ lại. Đăng Dung bắt được thế phi là mẹ của thế tôn, Trịnh Nô Bảo (鄭伮寶)[16], dìm xuống sông giết chết. Thế tử chỉ mang theo một ấn tín được ban, trốn thoát. Tùy thần chỉ còn 15–16 người, lén theo đường núi đến vùng Thanh Hoa. Các quân đi trước không hay biết, đến khi thấy nhà cháy, súng nổ, mới tan rã trở về chỗ cũ ở Ninh Sơn. Nghịch thần Mạc Đăng Dung lại càng được thế.”
Lời trình này có phần khác biệt, nhưng sự việc khá rõ ràng, nên cũng ghi lại.
Năm thứ 9 (1530), Mạc Đăng Dung (莫登庸) truyền ngôi cho con là Mạc Phương Doanh (芳瀛), giả xưng là Thái thượng hoàng (太上皇). Hắn lo trong nước không phục, bèn khởi binh đánh dẹp, rồi lui về đóng ở Đô Trai (都齋).
Năm thứ 15 (năm 1536), hoàng thượng vì thương Thái tử [太子][17] mới sinh, truyền ban chiếu dụ đến bốn phương man di. Thượng thư bộ Lễ là Hạ Ngôn (夏言) dâng sớ rằng:
"Việc cống sứ nước An Nam (安南) đã lâu không thông. Nay Hoàng thượng lên ngôi đổi niên hiệu, kính sai Biên tu Tôn Thừa Ân (孫承恩), Cấp sự trung Dư Đôn (俞敦) mang chiếu chỉ đến dụ, nhưng vì nước ấy làm loạn, đường sá ngăn trở, chưa đến nơi đã phải quay về. Nay nhân dịp hoàng tự ra đời, nếu lại ban chiếu cho nước ấy thì tất sẽ như trước, bị ngăn trở. Sai sứ không thể đến thẳng nước ấy, chỉ tổn hại quốc thể. Nên lần này chỉ nên ban chiếu dụ cho Quốc vương Triều Tiên (朝鮮國王), còn nước An Nam thì tạm miễn sai sứ.
Lại xét nước ấy có gian thần làm loạn, quốc chủ không ổn định, phân li chiếm cứ, làm hại sinh linh, theo nghĩa nên cùng họ dẹp loạn trừ giặc, đó là đạo của thiên tử Trung Quốc đối với bốn phương man di. Nhưng tra xét thấy quan trấn tuần Lưỡng Quảng (兩廣鎮巡) vâng mệnh tra xét, đến nay vẫn không báo lại, rõ là coi nhẹ tình hình biên giới, trái mệnh chỉ. Dẫn đến việc dung túng man di làm loạn, tổn hại quốc thể. Việc này các quan có liên quan cần phải tra xét rõ ràng.
Nên xin ban chỉ cho bộ Binh lập tức phái người nhanh chóng đến vùng Lưỡng Quảng, yêu cầu các quan trấn tuần lập tức tra xét việc trước kia đã vâng mệnh tra xét tình hình nước ấy ra sao, cùng với Tam ti và các quan thủ tuần địa phương bàn bạc kỹ lưỡng. Nhất định phải phân định rõ ràng, khẩn trương tâu trình thực tế. Không được giấu giếm chậm trễ, làm hỏng đại sự quốc gia. Như thế mới có thể trừng trị tội phản loạn, không bỏ lễ cống, khiến man di yên ổn, biên cương yên bình, mà thể thống Trung Quốc được tôn nghiêm vậy."
Thượng dụ: "Chiếu sứ hãy khoan đã, việc nước ấy bộ ngươi cùng bộ Binh bàn bạc rồi tâu lên, chớ xem là việc bắt buộc."
Vào thời điểm đó, đảng giặc gồm Vũ Nghiêm Uy (武嚴威), Vũ Văn Uyên (武文淵), Vũ Tử Lăng (武子陵) và những kẻ khác trốn tội bỏ chạy, xâm phạm biên cương nước ta. Phó thổ quan ty Trưởng quan Bát Trại (八寨長官司) là Long Triệt (瓏徹), thổ xá ty Trưởng quan ba bộ Giáo Hóa (教化三部長官司) là Trương Trạch (張澤), Thông bả, Lý Giả Lai (李者來), Bạch Tuấn (白俊) và những người khác có quan hệ qua lại với chúng, dẫn đường cho chúng xâm lược cướp bóc. Sau đó Long Triệt lại bị giặc bắt giữ vì một việc khác.
Tổng binh Vân Nam là Mộc Thiệu Huân (沐紹勛) tâu rằng: “Long Triệt là chức quan của Trung Quốc ta, há có thể bỏ qua không xét? Nếu muốn khởi binh tiến đánh, mà Vũ Nghiêm Uy vốn là kẻ đào tẩu từ nước ngoài, đến trú ngụ nơi đó, thì thế lực khó mà công phá. E rằng chỉ tổ hao tốn binh lương, rốt cuộc khó thành công. Lại muốn bắt Trương Trạch theo pháp luật, nhưng các tù trưởng đều có quan hệ với Vũ Nghiêm Uy và những kẻ khác, thật lo nếu xử lý quá gấp, họ sẽ sinh lòng khác, gây thành đại họa, rất không tiện. Ngoài việc nghiêm lệnh các nơi lân cận chỉnh đốn binh mã, hiệp lực phòng thủ, còn nên chọn cử quan viên thổ lưu có tài đến chiêu dụ, nhất định phải đưa Long Triệt trở về nhận chức.”
Thượng thư bộ Lễ là Hạ Ngôn (夏言) dâng sớ rằng: “Thần cùng Thượng thư bộ Binh là Trương Toản (張瓚) bàn rằng: Thái Tổ Cao Hoàng đế (Chu Nguyên Chương) ta khi khai quốc, họ Trần (Trần Dụ Tông) là nước đầu tiên dâng biểu quy phục. Vì vậy được ghi vào tổ huấn, không cho đời sau đánh nước ấy, là để khen ngợi họ Trần biết thành tâm quy thuận, trung thành thần phục trước tiên. Há ngờ đâu họ Trần (陳) lại bị kẻ cướp là Hồ Quý Ly (犛) sát hại, khiến hương hỏa bị tuyệt. Đạo trời xa vời, nhưng kẻ cướp Hồ Quý Ly vì tham lợi lại khiến tông tộc hắn bị diệt vong. May thay giành được nước, truyền lại cho con cháu. Nay lại bỏ chức không làm, bỏ dân không giữ. Từ năm Chính Đức thứ 10 (1515), Lê Trừu (黎晭) sai bề tôi Nguyễn Trọng Quỳ (阮仲逵) tiến cống, đến nay đã 21 năm không có sứ thần triều cống, bỏ cả chính sóc, không giữ đạo thần thần.
Nay theo tấu của quan thủ Lưỡng Quảng, thì Lê Huệ (黎譓), Lê Khoáng (黎懬) đều không phải là dòng chính đáng do Lê Trừu lập nên. Mạc Đăng Dung (莫登庸), Trần Cảo (陳暠), Trần Thăng (陳昇), Nguyễn Thời Ung (阮時雍), Đỗ Ôn Nhuận (杜溫潤), Trịnh Tuy (鄭綏) đều là gian thần làm loạn. Theo đại nghĩa Kinh Xuân Thu, loạn thần tặc tử ai cũng có thể giết. Huống chi nay Thánh Thiên tử ngự trị, kế thừa mệnh trời, làm chủ Hoa Di, mà nước ấy lại cố chấp làm loạn, lâu không vào triều. Xét tình hình nước ấy, tội trạng rõ ràng, không thể thoát khỏi thiên phạt.
Xin ban chỉ cho Cẩm y vệ chọn hai viên chỉ huy hoặc thiên bách hộ có dũng khí, mưu lược, giỏi ăn nói, hiểu thời cuộc, mang theo một đạo chiếu thư, đến vùng Quảng Tây, lệnh cho các quan trấn tuần nơi đó chọn thêm ba đến năm viên quan quân, thổ quan, hiểu rõ tình hình man di, thông thạo đường sá, có tài mưu lược, cùng đi theo chiếu sứ vào thẳng lãnh thổ An Nam, tra hỏi nguyên do nước ấy phản bội triều đình, lâu không tiến cống. Đồng thời ghi rõ tên tuổi những kẻ tiếm quyền đoạt nước hiện nay, điều tra cho rõ, khẩn cấp tâu báo. Lại xin triều đình hạ lệnh chọn tướng, chỉnh đốn binh mã, chờ tin rồi phát binh.
Lại xét: biên giới An Nam, phía đông giáp Khâm Châu (欽州) Quảng Đông, kéo dài về phía tây qua Tả Giang (左江) Quảng Tây, đến Lâm An (臨安), Nguyên Giang (元江) Vân Nam làm ranh giới. Nên một mặt ban chỉ cho tướng quân chinh man trấn thủ Lưỡng Quảng là An Viễn hầu Lưu Tuấn (柳珣), cùng tuần phủ Lưỡng Quảng là Đô ngự sử Tiền Như Kinh (錢如京); một mặt xin ban chỉ cho tướng quân chinh nam trấn thủ Vân Nam là Kiềm Quốc công Mộc Thiệu Huân (沐紹勛), cùng tuần phủ Vân Nam là Đô ngự sử Hồ Huấn (胡訓), Đô ngự sử Quý Châu là Uông San (汪珊), lập tức chỉnh đốn quan quân Hán, điều động tiền lương, nghiêm bị chờ lệnh.
Lại xét: nước ấy loạn thần gây họa không chỉ một người, Vũ Nghiêm Uy bỏ nước đến đây, chưa chắc là kẻ tiếm quyền, có thể là không nỡ thấy vua gặp nạn, không cam tâm theo giặc, cũng chưa thể biết rõ. Nên xin ban chỉ cho Cẩm y vệ chọn thêm hai viên quan như trước, mang chiếu thư đến Vân Nam, điều tra tình hình Vũ Nghiêm Uy. Lệnh cho các quan trấn tuần cử người đến các nơi như ty Trưởng quan Bát Trại, hoặc đến thẳng doanh trại Vũ Nghiêm Uy, bí mật dụ rằng triều đình vì An Nam lâu không triều cống, lại biết trong nước có loạn thần tiếm chủ, nên đang khởi binh hỏi tội. Nếu Vũ Nghiêm Uy quả thật vì đồng liêu tiếm nghịch mà trốn tội, thì lập tức dụ rõ họa phúc, thuận nghịch. Nếu có thể quay đầu hướng thiện, quy thuận quân ta, cùng đi đánh nước ấy, thì mọi tội lỗi trước kia như quấy nhiễu biên cương, bắt giữ thổ quan đều được tha thứ. Nếu Long Triệt bị bắt giữ ở đó, thì lệnh cho Vũ Nghiêm Uy hóa giải oán cũ, cùng lòng chinh phạt, tội thông giặc của Long Triệt cũng được tha. Nhưng tình hình làm loạn hiện nay của nước ấy, cho phép Vũ Nghiêm Uy trình bày rõ ràng, cùng với thực tình quy thuận, khẩn cấp tâu báo, để căn cứ vào đó mà ban chiếu điều động, bổ nhiệm. Nếu không quy phục, thì hãy gác sang một bên, chờ ngày đại quân đến, sẽ cùng lúc tiêu diệt.
Nhưng việc khởi binh đánh xa, sai tướng hỏi tội, là việc hệ trọng. Xin kính cẩn chờ thánh chỉ quyết đoán, ban chỉ cho bộ Binh, triệu tập các quan văn võ trong triều bàn bạc kỹ lưỡng. Cẩn thận chọn đại tướng, tuyển chọn phó tướng, bổ nhiệm quan văn lo lương thảo, thay đổi quan lại địa phương, điều động binh mã các lộ, tích trữ cỏ lương. Mọi việc phân định rõ ràng, xin thượng hoàng quyết định thi hành.”
Thượng dụ: “Nước An Nam trước đây chiếu thư không thông mà quay về, tổn hại thể diện. Lại lâu không tiến cống, chẳng phải phản nghịch thì là gì? Hai nơi phái quan đều theo như đề nghị, thực sự điều tra rõ ràng rồi tâu báo, sẽ viết chiếu cho họ mang đi. Việc khởi binh chinh phạt, tất sẽ do bộ Binh cùng bàn tâu lên.”
Vào đầu niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖初, khoảng năm 1522), ở Điền Châu (田州) có Sầm Mãnh (岑猛) làm phản. Tổng đốc Lưỡng Quảng là Diêu Mặc (姚鏌) đem quân đánh và đầu độc giết y. Cho rằng họ Sầm có thể bị diệt trừ hoàn toàn, ông dâng sớ xin đặt quan lưu trị ở Điền Châu. Nhưng Lô Tô (盧蘇), Vương Thụ (王受) và các con cháu tàn dư lại tự ý thông giao với An Nam (安南), tung tin đồn làm dao động vùng Vân Nam và Lĩnh Nam (滇、嶺). Diêu Mặc bị luận tội và cách chức.
Lúc đó Quế Ngạc (桂萼) mới được trọng dụng, tiến cử Tân Kiến bá Vương Thủ Nhân (王守仁) làm Tổng chế Lưỡng Quảng. Khi Thủ Nhân đến Lĩnh Nam, mới biết không thể đặt quan lưu, nên xin phục chức cho con Sầm Mãnh là Bang Tương (邦相), làm phán quan Điền Châu. Lô Tô cũng được giữ lại làm tuần kiểm, dùng chính sách kiềm nhiếp.
Quế Ngạc muốn lập công kỳ, mưu cầu địa vị khanh phụ, nên ngầm viết thư bày tỏ ý định, giao cho Thủ Nhân mật thám tình hình trọng yếu của An Nam. Thủ Nhân không trả lời, Quế Ngạc vì thế sinh oán hận. Gặp lúc Thủ Nhân qua đời, ông ta liền vu cáo khiến bị tước thế tước và bãi bỏ chế độ hậu đãi.
Vào thời điểm thượng hoàng đã ban chỉ cho quan Cẩm y vệ đến điều tra tình hình An Nam (安南), lại sai Thượng thư bộ Lễ là Hoàng Oản (黃綰) và Học sĩ Trương Trị (張治) làm sứ đến An Nam, thì xe giá đang tuần hành ở Thừa Thiên (承天), nên Hoàng Oản và Trương Trị cũng bị ngăn lại không đi.
Đô trai là nơi hiểm yếu của giặc, Mạc Đăng Dung (登庸) đóng ở đó làm hậu viện cho Mạc Đăng Doanh (方瀛). Ông ta lấy phủ Cửu Công (九公府) làm vệ cho đô trai, lại tự tiện ban ra đại cáo gồm 59 điều trong lãnh thổ, xưng hiệu là Đại Chính (大正), cải niên hiệu. Năm ấy, Lê Y (黎椅)[18] chết ở Thanh Hoa (清華), Lê Y là con của Lê Mỗ (某之子 Lê Sùng), chắt của Lê Tư Thành (思誠之曾孫)[19]. Ban đầu Mạc Đăng Dung ngụy phong ông làm Đà Giang Vương (沱江王), nuôi làm con mình. Khi Lê Y lên ngôi, ngụy xưng cha ruột là Triết Tông (哲宗)[20], xưng hiệu được 6 năm, cải niên hiệu là Quang Trị (光治)[21]. Sau bị đuổi, chết vì uất ức. Có người nói Mạc Đăng Dung bắt về rồi đầu độc giết. Ngụy xưng là Cung Hoàng đế (恭皇帝)[22], họ Lê truyền được 10 đời, trị vì 110 năm. Bề tôi lập con ông là Lê Sanh (檉), ngụy cải niên hiệu là Nguyên Hòa (元和), tên giả là Lê Ninh (黎寧).
Lê Ninh sai Trịnh Duy Liễu (鄭惟憭 Trịnh Duy Liêu) làm sứ, vượt biển đến kinh đô tâu về tội tiếm vị của Mạc Đăng Dung. Bộ Lễ nghi ngờ là giả, hỏi bản tấu do ai viết, ai sao chép, lại hỏi sao không đến các nha môn dọc đường để đăng ký. Trịnh Duy Liễu trình bày:
“Thế tử và các đầu mục, kỳ lão trong nước bàn rằng: nước ta nguy loạn như vậy, nghe tin Trung Hoa có vua sáng, tôi hiền, tất không bỏ rơi chúng tôi. Nước ta khốn cùng, muốn đến triều đình tâu bày, nhưng đường bộ không thông, muốn đi thuyền vượt biển lại không rành đường thủy. Suy nghĩ mãi không biết làm sao. May gặp thuyền buôn Quảng Đông trôi đến xã Vân Tế, huyện Ngọc Sơn, thế tử liền sai các đầu mục văn võ bàn bạc, gấp sai người gửi theo thuyền buôn mang đi. Các đầu mục đều không dám đi, chỉ có Trịnh Duy Liễu một là hận Mạc Đăng Dung đuổi vua tiếm ngôi, hai là hận ông ta giết mẹ ruột của Duy Liễu, thề không đội trời chung. Lại nghĩ đã ăn lộc vua thì phải chết vì vua, việc khó không từ, đó là bổn phận của thần. Liền nhận lệnh mà đi. Người cùng đi là Chu Đầu, cha là Chu Diêm đi đến Nam Ninh không tiến được, quay về rồi bệnh chết. Chu Đầu muốn nối chí cha, nên tình nguyện đi. Nước ta ở ven biển, biết việc đi biển, sống chết khó lường. Thế tử làm hai bản, phong trong hai ống, kèm theo hai tờ lệnh, sai Trịnh Duy Liễu và Chu Đầu mỗi người mang một ống, chia đi hai thuyền, phòng khi một người chết, một người sống thì vẫn có thể thông tin đến triều đình. Thế tử và các đầu mục kỳ lão đốt hương cầu trời, vận mệnh quốc gia đặt vào chuyến đi của Duy Liễu.
Duy Liễu tự mình ra đi, cả nước đều biết là mười phần chết một phần sống. Vì vượt biển là một cái chết; nếu đến Quảng Đông mà không đăng ký ở nha môn, bị tra xét bắt giữ thì là người ngoại vượt biển vượt ải, cũng là một cái chết; nếu đến nha môn mà không được cho đi, bị đưa về nước, bị giặc bắt giết, lại là một cái chết; nếu nha môn giận vì vượt ải, giết trước rồi mới tâu sau, triều đình đâu biết là ai, vì việc gì, lại là một cái chết. Nhưng bàn rằng: triều đình giáo hóa phong tục, vốn là để dạy người trong thiên hạ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Lo đường đi gian nan, sống chết là số mệnh, nếu đến được triều đình thì chắc không chết. Nên lập kế đi đường tắt bí mật. Từ qua Mê Lĩnh, vẫn lo bị lộ, kéo dài năm tháng, tiền bạc cạn kiệt, đói rét khốn khổ, chưa biết sống chết ra sao. Nay may đã đến kinh, thấy được ánh sáng, mới có hy vọng sống. Nghĩ rằng Duy Liễu nhận lệnh thế tử nước mình, không phải việc nhỏ. Đường đi cũng không phải gần. Nếu không vì nước vì vua, sao dám đến đây! Xin xét việc cũ để chứng minh lúc ấy, như Thân Bao Tư không biết con cháu nước Sở ở đâu, vẫn tự mình chạy sang Tần cầu cứu, xin binh phục quốc; Trương Lương nước Hàn đã mất, vẫn tự mình bỏ tiền thuê lực sĩ ám sát Tần Thủy Hoàng để báo thù; Dự Nhượng nước Triệu đã chết, vẫn tự mình liều chết, đổi tên nuốt than, nằm chờ dưới cầu, muốn giết Tấn Tương tử để báo thù cho Trí thị. Huống chi nay Trịnh Duy Liễu còn có thế tử nước mình sai đi, há lại không dốc lòng nhận lệnh mà đi. Đây là việc lớn của một nước, không phải việc riêng của Trịnh Duy Liễu, mong xét tình mà thương xót. Còn việc viết bản, sao bản, thì đều do các cơ quan phụ trách, không phải việc của Trịnh Duy Liễu. Nước ta theo lệ cũ: Hàn lâm khởi thảo, Đông các định bản, đưa cho vua xem, rồi giao cho Trung thư giám sao chép. Sau đó chỉ có vua và nội quan giữ ấn của Thượng bảo ty đóng ấn, quan phòng của Ty lễ giám niêm phong, sai người đến trước mặt vua nhận lệnh, chỉ biết mang đi, đâu dám hỏi ai viết, ai sao, việc giữa chừng ra sao! Nước lớn nước nhỏ khác nhau, nhưng lễ pháp vua tôi thì như nhau. Như mặt trời soi khắp muôn vật, sao có thể ngẩng nhìn được!”
Triều đình vẫn cho rằng lời tâu của Lê Ninh chưa rõ thật giả, lệnh cho Tổng chế Lưỡng Quảng điều tra. Chỉ huy vệ Lâm An là Triệu Quang Tổ (趙光祖) gửi văn thư sang nước ấy yêu cầu tra báo.
Tổng binh An Nam là Khánh Dương hầu Vũ Văn Uyên (武文淵) cùng các quan trình báo rằng:
“Ngày 28 tháng 2 năm Gia Tĩnh thứ 16 (1537), Vũ Văn Uyên và các quan nhận được hai đạo công văn do đại thần Triệu (趙大官 Triệu đại quan) được triều đình cử đến chuyển giao, để tra xét tình hình nước An Nam. Lại được đại thần Triệu rõ ràng chỉ bảo về đạo lý họa phúc, phương cách thành tâm hướng thiện, Văn Uyên vô cùng vui mừng, cảm kích khôn xiết.
Vì Hoàng đế triều đình là bậc thiên tử, ngự trị muôn nước, thể hiện lòng trời đất, chính đạo cương thường, lấy việc khuyến thiện trừng ác làm gốc, nên mới sai đại thần Triệu đến đây. Văn Uyên tuy quê mùa, há dám không hết lòng trình bày?
Văn Uyên lo rằng nước mình vì bị Mạc Đăng Dung (莫登庸) tiếm đoạt ngôi vị, gây thành loạn lạc, nên đã thất lễ với thiên triều. Mạc Đăng Dung vốn là con nhà ven biển, kẻ chài lưới. Tổ tiên đều sống bằng nghề đánh cá, nên được vua Lê Trừu (黎啁)[23] thu dụng. Sau khi vua Lê Trừu mất, các đầu mục trong nước cùng lập con cháu họ Lê là Lê Y (黎椅)[24] làm vua, lấy niên hiệu là Quang Thiệu (光紹), để thống lĩnh quốc sự, mong khôi phục việc triều cống như lệ cũ.
Nào ngờ Mạc Đăng Dung ngầm mưu bất chính, lập phe riêng, đuổi Lê Y đi lưu lạc bên ngoài, rồi đầu độc giết, khiến quốc thống rối loạn. Sau đó lại ngụy lập em Lê Y là Lê Xuân (黎椿)[25] làm vua để an dân, nhưng quyền hành đều nằm trong tay Mạc Đăng Dung, mọi chính lệnh đều do ông ta ban ra. Chỉ được 5 năm thì lại giết luôn Lê Xuân, cùng với mẹ vua, đều bị phơi xác ngoài công quán. Rồi tiếm ngôi, xưng hiệu là Minh Đức (明德). Ở ngôi được 3 năm, anh em tranh quyền, ông ta lại giết em là Mạc Quyết (莫撅)[26], rồi ngụy truyền ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh (莫登瀛), xưng hiệu là Đại Chính (大正), đến nay đã 8 năm. Từ khi (Đăng Dung) rút về nơi Cổ Trai ở Hải Dương, Mạc Đăng Doanh đóng ở thành Long Biên.
Thật rõ ràng cha con Mạc Đăng Dung là nghịch thần tiếm quốc, hại vua bạo dân, tội trạng như thế. Vì vậy, những người trung nghĩa trong nước như các đầu mục, võ tướng như Trịnh Duy Tuấn (鄭惟駿 Trịnh Duy Thuân) cùng nhau tôn lập con của Quang Thiệu (光紹 Lê Y) là Mạc Sanh (莫檉)[27] làm người nhiếp chính, đóng ở lộ Thanh Hóa. Trịnh Ngu (鄭嵎), Trịnh Nhiễu (鄭蟯) đóng ở Thái Nguyên, Nguyễn Kim (阮金) đóng ở Nghệ An, Nguyễn Nhân Liên (阮仁蓮) đóng ở Quảng Tây. Những người này đều giữ nghĩa với cố chủ, quyết chí báo thù, mỗi người nắm giữ binh mã, chiếm cứ một phương, mong cứu nước khỏi nạn, tiêu diệt kẻ thù, giữ đạo trời, nên thường đến nước An Nam. Vì vậy mà suốt 21 năm qua đã thất lễ với thiên triều, chính là vì lẽ đó.
Còn như Lê Huệ (黎譓), Lê Khoáng (黎廣) là do nghịch thần Mạc Đăng Dung sợ tội, giả mạo tên họ để mưu đồ gian trá. Con cháu họ Lê xưa nay không có ai mang tên như vậy, điều này đã rõ.
Về đường núi, đường biển, khoảng cách xa gần, đều đã ghi rõ trong bản đồ thiên triều. Dù Văn Uyên không nói, đại thần cũng đã biết. Nhưng Văn Uyên thấy rằng các đường như Lạng Sơn, Thạch Long ít có đường bằng phẳng, còn lại đều hiểm trở. Nay Văn Uyên nghĩ rằng tổ tiên nhiều đời chịu ơn nước, anh em được hưởng phúc ấm gia đình, nghĩ đến quốc thù không thể cùng tồn tại, thề không sống chung với nghịch tặc. Căm giận cha con Mạc Đăng Dung tội ác vượt cả rợ Mãng[28], khiến dân khổ hơn cả thời Tần, nên không thể khoanh tay trước giặc, không thể quên lòng báo chủ.
Vì vậy, anh em Vũ Văn Uyên vâng mệnh quốc vương, ra trấn giữ vùng Tuyên Quang, hết lòng trông mong vào đức nghĩa của thiên triều. Kính mong Hoàng đế bệ hạ đức lớn như trời, lượng rộng cứu giúp, nổi dậy như Chu hậu phạt tội, cứu dân, nghiêm trị tội vua giết vua, tiếm ngôi, lập lại danh phận, cứu dân khỏi khổ, khiến trong yên ngoài thuận. Xa gần đều ngưỡng mộ đức uy, nước lớn khiến nước nhỏ quy phục, man di cũng được hưởng giáo hóa. Vì vậy, kính cẩn trình bày sự việc, mong được soi xét.”
Ngày mồng 2 tháng 6 (âm lịch, năm 1537), Vương Thời Trung (王時中), quan thủ bị Lâm An (臨安), bắt được Tổng binh thám sự An Nam là Vương Minh Triết (王明哲), Tiến sĩ Nguyễn Cảnh (阮景) cùng 20 người khác. Vương Minh Triết cũng tự xưng nguyện làm người dẫn đường cho đại quân, từ Tùy Phụ châu (綏阜州) đến Liên Hoa Than (蓮花灘) để đến phủ Quy Hóa (歸化府), rồi từ Quy Hóa đến phủ Lâm Thao (臨洮府) để đến Đông Đô thành (東都城), trình bày rõ ràng đường thủy bộ và các nơi đóng trại phòng thủ. Nhưng các tướng lĩnh của ta vẫn chưa tin tưởng.
Trong khoảng năm thứ 12 (1533), Mạc Đăng Dung (登庸) đánh Thanh Hoa (清華), Sanh (檉) chạy sang Quảng Nam (廣南), lánh sang biên giới Chiêm Thành (占城), không có tin tức. Vì vậy, bề tôi lập em ông là Lê Mỗ (某) để chống lại Mạc Đăng Dung, ngụy cải niên hiệu là Quang Chiếu (光照)[29]. Đến năm thứ 15 (1536), dò biết nơi ở của Sanh, liền cùng nhau khởi binh đánh giặc. Tướng ngụy là Phúc Hưng hầu Trịnh Duyệt (鄭悅) cùng đón Sanh về Thanh Hoa.
Năm ấy, triều đình bàn việc An Nam không triều cống, xin hỏi tội. Thượng hoàng sai Hàm Ninh hầu Cừu Loan (仇鸞) tổng đốc quân vụ, Thượng thư bộ Binh là Mao Bá Ôn (毛伯溫) tham tán quân vụ, đem quân đi chinh phạt. Đồng thời đổi việc đề đốc quân vụ Lưỡng Quảng, giao cho Thị lang bộ Binh là Phan Đán (潘旦) kiêm lý việc bộ ở Nam Kinh, và cử Tuần phủ Sơn Đông là Thái Kinh (蔡經) thay thế.
Trước đó, Phan Đán dâng sớ nói: “Họ Mạc vốn là đầu sỏ gian hùng, nhưng giặc họ Lê cũng là dòng phản nghịch. Theo luật Trung Quốc, đều không đáng lập. Nếu lấy danh nghĩa thiên triều mà lập chủ, thì nay hai họ tranh giành, binh đao tạm ngưng, họ chưa định, ta theo ai?” Ý ông là muốn giữ yên để quan sát biến động. Mao Bá Ôn sợ ông cản trở mình, nên tâu xin thay đổi.
Sau đó, triều đình hạ chỉ cho Lưỡng Quảng, Vân Nam điều động binh lương. Thái Kinh tâu rằng đường tiến quân thủy bộ có sáu lộ, tạm lấy 300.000 quân làm chuẩn, thời hạn một năm. Tổng số lương thực cần dùng là 1.620.000 thạch, còn chi phí đóng thuyền, mua ngựa, khao thưởng, khí giới và các khoản khác, ước tính dùng khoảng hơn 730.000 lượng bạc, rất khó xoay xở.
Vào thời điểm đại quân đã xuất phát, nhưng việc nên đánh hay nên chiêu an vẫn chưa được quyết định, Thị lang bộ Hộ là Đường Trụ (唐冑) dâng sớ tâu rằng việc này hệ trọng, tuyệt đối không nên phát binh. Đại ý như sau:
“Nay việc An Nam, nếu chỉ muốn khiến họ trở lại triều cống, thì việc ấy rất dễ. Không những không cần xuất binh, mà ngay cả việc sai quan đi điều tra cũng không cần thiết. Nhưng nếu muốn nhân cớ họ không triều cống mà khởi binh đánh, thì hệ lụy rất lớn. Không chỉ việc này không thể khinh suất, mà cả những việc lớn hơn cũng chưa chắc nên làm. Thần xin trình bày bảy điều không nên đánh để Hoàng thượng xét:
1. Về đạo lý thiên địa: Tinh tú lớn nhất là Tam viên, đều nằm ở Trung thổ; núi sông lớn nhất là Ngũ Nhạc, Tứ Độc, cũng đều hội tụ ở Trung thổ. Hoa – Di là ranh giới lớn của trời đất. An Nam tuy không vào triều, nhưng tổ huấn đã định, Hoàng thượng nên tuân theo. Đây là điều không nên đánh thứ nhất.
2. Về tiền lệ lịch sử: Thái Tông Hoàng đế từng phạt Lê Quý Ly vì tội giết vua, giết sứ. Nhưng khi binh đã áp sát, vẫn sai hành nhân Chu Khuyến mang kim thân để chuộc tội, nếu không chịu mới đánh. Sau khi thắng, còn tìm người kế tự cho họ Trần, không được mới đặt làm quận huyện. Nhưng từ đó bất ổn, suốt đời Vĩnh Lạc không yên. Nhân Tông thường lấy làm hối hận. Tuyên Tông nói: “Tiên đế thường than thở việc này, trẫm nghe nhiều lần.” Rồi bỏ cả quận huyện đã lập. Đó là noi theo tổ huấn, Hoàng thượng nên noi theo. Đây là điều không nên đánh thứ hai.
3. Về đạo trị quốc: Nếu cho rằng phải hỏi tội kẻ nghịch, thì vương giả không trị Di Địch. Từ xưa Di Địch phân tranh là phúc của Trung Quốc. Như thời Hán, Hung Nô mạnh, từ Cao Tổ đến Tuyên Đế đều không thắng. Nhưng khi Hung Nô nội loạn, năm Thiên Hán, Thần Tước, năm Thiên Hán, năm đơn vu tranh ngôi, Tuyên Đế ngồi mà nhận triều cống. Dân ta là con đỏ, Di Địch là chó dê. Nếu vì chó dê mà hại con đỏ, dù có trị được, cũng không biết đâu là trọng yếu. Đây là điều không nên đánh thứ ba.
4. Về địa lý cương vực: Nếu cho rằng đó là đất cũ của Trung Quốc, nay nhân loạn mà lấy lại, thì thời Kiến Vũ, Mã Viện nam chinh, đi sâu vào Lãng Bạc rồi rút, lo rằng Giao Chỉ sẽ lại rơi vào tay Di, nên lập cột đồng làm ranh giới cuối cùng của Hán, nay thuộc Tư Minh phủ, Quảng Tây. Đến đời Minh, Trương Phụ bình định năm Vĩnh Lạc thứ 5, năm sau lại phản, bị Lê Lợi chiếm. Đó đều là những lần chiếm mà không giữ được, chẳng những vô ích mà còn hại. Đây là điều không nên đánh thứ tư.
5. Về lễ cống: Nếu cho rằng không triều cống là đáng trách, thì cuối đời Hồng Vũ, An Nam xâm phạm đất Tư Minh mấy trăm dặm, sai hành nhân sang dụ, họ cãi lý không phục, triều thần xin đánh, nhưng Thái Tổ vẫn bỏ qua. Nay An Nam không cống, cũng không hơn gì. Huống chi việc cống là lợi cho họ: một là nhận chính sóc, giữ đất, dọa lân bang; hai là buôn bán, lợi nhiều hơn thiệt. Nay tuy loạn, nhưng vẫn dâng biểu xin cống, cầu phong. Vì tên tuổi chưa rõ nên bị ngăn lại, tức là họ muốn cống mà không được, chứ không phải cố ý không cống. Nếu lấy đó làm tội, thì lấy gì để phục họ? Đây là điều không nên đánh thứ năm.
6. Về tài lực: Việc khởi binh cần có tài lực. Quân môn Lưỡng Quảng thường tích trữ vài chục vạn lượng bạc, gần đây dùng vào việc đánh Sầm Tuấn ở Điền Châu, nay chỉ còn 40.000 lượng. Bộ lại muốn mở rộng sang Giang Tây, Phúc Kiến, Hồ Quảng. Nhưng từ khi đại công khởi, các kho bạc ở Nam Kinh đều bị bộ Công lấy hết. Thần từng trông coi quân vụ Nam Cám, quân lương tích trữ hơn 400.000 lượng cũng đã dùng hết. Đây là điều không nên đánh thứ sáu.
7. Về hiểm họa bất ngờ: Đây là điều dễ thấy, nhưng còn có điều khó lường. Như thời Đường, Nam Chiếu nổi lên vì Huyền Tông khởi binh, mất mấy chục vạn quân. Đến thời Hàm Thông, phải phòng thủ biên giới, binh lính đóng đồn liên miên, họa lớn từ đó mà ra. Thời Tống Thần Tông muốn đánh Liêu lấy Yên, sai sứ khắp nơi thu thuế, dân trong nước xôn xao. Liêu nhân lúc rối loạn, đòi đất, mất 700 dặm Hà Đông, rồi đến trận Bạch Câu, Yên Sơn, Tống lâm vào đại họa. Nay Bắc Nhung ngày càng mạnh, đất Hà Sáo bị các bộ tộc chiếm, lại thêm quân phản loạn ở Đại Đồng làm nội ứng. Nay lại chia quân về nam, thần e hiểm họa khôn lường. Đây là điều không nên đánh thứ bảy.
Thần cúi xin thu hồi mệnh lệnh đã ban cho các quan sắp đi An Nam, vì nếu họ là võ tướng, đến nơi lại vì tư tình mà bóp méo sự thật, khiến họ không phục, làm tổn hại uy thiên triều. Dù có điều tra được, thì thế lực ta đã giương mà không đánh, là thất tín, không hợp đạo binh. Cả hai đều bất lợi. Chỉ cần bộ liên quan gửi công văn, hoặc sai một người, lệnh cho Lưỡng Quảng chọn một người am hiểu tình hình Di, đến thẳng An Nam, dụ rằng nay tạm dung cho họ đến triều cống, thì họ tất sẽ vui mừng, tranh nhau đến trước. Lời vua như tơ, ban ra như dây. Các phiên nghe lệnh chỉnh binh, lòng dân đã dao động. Gian hùng lợi dụng để mưu lợi, nhân việc tuyển quân mà làm bậy, nhân thu thuế mà bóc lột, gây rối loạn không kể xiết. Thế là chưa kịp động đến Di ngoài biên, mà dân trong nước đã bị động trước. Các chiếu chỉ chuẩn bị binh lương cũng nên đình chỉ. Như vậy sẽ không vì một khe hở nhỏ của nước nhỏ mà làm tổn hại đến thời thịnh trị, đức thánh được rạng rỡ, lòng dân gắn bó, trị an được lâu dài vậy.”
Năm thứ 18 (1539), Mạc Phương Doanh (莫方瀛) dâng biểu xin hàng. Thượng hoàng ban chỉ cho Mao Bá Ôn (毛伯溫) rằng:
“Trước đây, Lê Ninh (黎寧) nước An Nam tâu rằng: quốc vương Lê Trừu (黎啁) đã mất, bị nghịch thần Mạc Đăng Dung (莫登庸) làm loạn, chiếm giữ quốc đô, cắt đứt đường sá, nên việc triều cống bị gián đoạn lâu ngày. Triều đình đã sai quan đi tra xét, quả đúng sự thật, đang định khởi binh hỏi tội. Gần đây, các quan trấn thủ Lưỡng Quảng, Vân Nam tâu rằng: cha con Mạc Phương Doanh nghe tiếng thiên triều sắp chinh phạt, sợ hãi ăn năn, dâng biểu xin hàng, nguyện đem đất đai, nhân dân giao cho thiên triều xử trí. Xét lời cầu xin ấy, dường như cũng có thể thương xót.”
Vì vậy, giao cho các đại thần bàn nghị. Các quan đều cho rằng: “Lòng người Di khó lường, lời tuy khiêm nhường khẩn thiết, nhưng ý có thể trá ngụy. Pháp không thể không chính, nghĩa không thể không rõ. Nay đặc mệnh cho khanh cùng Tổng đốc quân vụ, Tổng binh quan là Hàm Ninh hầu Cừu Loan (仇鸞), đến nơi thích hợp giữa Lưỡng Quảng và Vân Nam, cùng với các quan đề đốc, tiết chế, trấn thủ, phó tướng, tam ti sở tại, bàn định việc điều động quan binh Hán từ Lưỡng Quảng, Vân Nam và kế hoạch chinh phạt, theo đúng tấu trình của bộ, tùy nghi xử lý. Nếu cha con nghịch thần thực sự hối lỗi, xin chết, tự trói chờ lệnh, thì phải cấp tốc tâu rõ tình hình thực tế về việc xin hàng. Nếu cố chấp không hối cải, tất phải tru diệt không tha. Trong lúc dùng binh, các khanh nên tùy cơ ứng biến, tính toán vẹn toàn, quyết dẹp yên loạn nghịch. Tội nhân phải bắt được, để tỏ rõ thiên phạt, khiến man di yên ổn, xứng đáng với trọng trách được giao.”
Mao Bá Ôn liền sai Tri phủ Đại Bình phủ Quảng Tây là Giang Nhất Quế (江一桂) và Chỉ huy Vương Lương Phụ (王良輔) đến đóng quân ở Bằng Tường (憑祥), thẩm tra lòng hàng của An Nam. Nếu thực sự quy phục, thì tiếp nhận; nếu lòng Di khó lường, thì tùy nghi xử lý.
Giang Nhất Quế liền phát hịch hỏi rằng:
“Xét Hoàng thượng ta nối nghiệp tổ tông, thống nhất Hoa Di, kế thừa đạo thống đế vương, mở đầu nhân luân. Xuân sinh thu sát, trời sáng phân minh. Ban đầu vì sứ thần nước các ngươi không thông, muốn hỏi nguyên do. Sau lại vì dân chúng nước các ngươi cáo biến, mới biết rõ tình hình. Nay triều đình đã sai tướng xuất quân, tuyên tội chinh phạt, cha con ngươi là Mạc Đăng Dung sợ uy phục đức, hối lỗi hướng thiện, lời lẽ cầu xin cũng có thể thương xót. Nhưng thực tình chưa rõ, tuy nói dâng bản đồ, giao phó xử lý, nhưng chưa thấy thật lòng giao quốc. Tuy nói dâng biểu xin hàng, nhưng chưa thấy tự trói chờ tội.
Trước đây dâng biểu xin hàng, có thật là lòng thành hay không? Có giả trá gì không? Nếu thật, thì biểu ấy đâu? Phải từng điều trình bày rõ ràng nguyên do thực sự. Nói rằng nguyện đem đất đai, nhân dân giao cho xử trí, nếu thực sự giao, thì xử trí thế nào? Cũng phải từng điều trình bày rõ ràng.
Hoàng thượng ta là bậc chí nhân chí thành, các quan trên dưới đều trung thuận, trên dưới một lòng, thiên hạ cùng hưởng thái bình. Đó là điều có thể chứng với quỷ thần, đâu chỉ dùng với man di. Chớ nên làm giả, chỉ chuốc lấy nhọc nhằn vô ích; nên sớm cải mới, sớm nghe mệnh trời. Nếu ngoài mặt khiêm thuận, trong lòng phản loạn, sợ chết mà giả trá để trì hoãn binh sư, nói năng quanh co, cố chấp không hối cải, tất sẽ đại khởi sư hỏi tội, rộng tuyên ý cứu dân. Khi ấy thân ngươi sẽ bị giết, trở thành tù binh bị hiến đầu.
Ta khởi binh là để phát dương uy đức của Văn hoàng. Họ Lê hiện còn mấy người, ở đâu, không được nói dối giấu giếm, phải khai thật rõ ràng. Hoàng thượng ta nhân từ như trời, chỉ sợ một vật không được đúng chỗ. Họ Lê như sợi chỉ, không thể để đứt đoạn. Việc này phải xử cho rốt ráo, lòng thành không thể che giấu.
Vì vậy đặc sai hai viên lực mục, mang theo hịch văn này đến biên giới giao nhận. Các phủ châu vệ nơi đây phải khẩn cấp chuyển đến cha con họ Mạc biết rõ, từng điều trình bày trung thực, không được giấu giếm lời lẽ, cố chấp tự hại. Phải thúc giục nhanh chóng lấy đủ ấn tín, văn thư hồi đáp, mười bản giống nhau, đúng hạn nộp lại, để chuyển báo lên quân môn, định đoạt thi hành.”
Mạc Đăng Dung (莫登庸) dâng thư hồi đáp như sau:
“Trước đây thần từng phụng sự quốc vương họ Lê, chẳng may gặp lúc quốc nạn, trong cơn cấp bách chưa kịp tâu trình. Vì thuận theo tục lệ man di, tạm thời quản lý quốc sự, rồi lại truyền cho con, phạm tội chuyên quyền, không thể chối cãi. Thần đã nhiều lần dâng biểu nhận tội, nhưng chưa thấy có chỉ dụ. Cha con thần ngày đêm lo sợ, không dám yên ổn.
Đến ngày 25 tháng Giêng năm Gia Tĩnh thứ 19 (1540), con thần là Mạc Phương Doanh (莫方瀛) chẳng may bệnh mất. Dân trong nước theo tục cũ, xin cho trưởng tử của Phương Doanh là Phúc Hải (福海) thay quyền lãnh đạo. Thần nghĩ việc trước đã không thể xử theo nghĩa, tội đã quá nặng, nay lại thuận theo dân ý, càng thêm sai trái. Thần cùng cháu đích tôn là Phúc Hải chỉ biết cùng nhau chờ mệnh triều đình.
Ngày mồng 4 tháng 7 năm nay, may được quý phủ gửi văn thư, nhờ quan phủ vệ Lạng Sơn nước thần chuyển đến. Trong thư nói việc thần trước đây dâng biểu xin hàng, có thật lòng hay không, có điều gì giả trá hay không. Thần đọc đi đọc lại, không khỏi lo sợ. Thần nghĩ sự hối lỗi ăn năn của mình đã thể hiện rõ trong biểu xin hàng trước, không hề giấu giếm. Trước đã sai Nguyễn Văn Thái (阮文泰), Nguyễn Bạt Túy (阮拔萃) đến Lưỡng Quảng dâng biểu, sau lại sai Phạm Chính Nghị (范正毅), Hứa Tam Tỉnh (許三省), Nguyễn Thiện (阮倩) đi đường Vân Nam chuyển đạt. Trải qua nhiều năm, vẫn chờ lệnh nơi biên giới, không dám rời đi, chỉ mong được lượng xét lòng thành, tha thứ tội lỗi, để có cơ hội làm lại.
Nếu đất đai, nhân dân đều thuộc thiên triều, thì trước đây thần đã khai rõ số lượng, vẽ bản đồ dâng lên, xin chờ xử trí. Ngày đêm chỉ mong được hưởng ân trời, như lúa mong mưa thuận, đâu dám có lời nào khác! Về họ Lê, quả thật không còn con cháu, thần đã tâu rõ trong bản trước. Nếu chưa tin, xin cho điều tra các bô lão trong nước để xác minh. Nếu còn ai đó, thần xin chịu tội lừa dối. Há có thể một người mà che mắt cả nước? Há dám dùng lòng thành như cá heo, lòng trung như vàng đá mà dối gạt minh công?
Về việc trước nay văn thư qua lại đều dùng ấn của các đại đầu mục, nay nhận được lệnh phải có đủ ấn của phủ vệ, thần kính cẩn tuân theo, đã làm đúng như chỉ thị. Khi thư đến, xin chuyển đạt đến các nha môn Lưỡng Quảng của thiên triều, để sự thật của thần được tỏ bày. Thật là may mắn lắm vậy!”
Giang Nhất Quế (江一桂) lại ban dụ cho các bô lão và sĩ dân người Di ở An Nam như sau:
“Xét thấy nước An Nam các ngươi xưa vốn thuộc Trung Quốc. Đến đời nhà Trần, vì ngưỡng mộ nghĩa lý mà dâng biểu quy phục, được Thái Tổ Cao Hoàng đế ta khen thưởng và ban sắc phong. Đến khi Mạc Đăng Dung (莫登庸) làm loạn, giết vua tiếm ngôi, Văn Hoàng đế ta nổi giận, sai tướng chinh phạt, đặt làm quận huyện, chính là để cứu dân Giao Chỉ khỏi cảnh nước lửa.
Nay Hoàng thượng ta trung hưng vận mệnh, thống nhất Hoa Di, các nơi xa xôi đều quy phục, chỉ riêng họ Lê lâu không vào triều. Vì vậy mới sai quân môn mang mệnh đi tra xét, mới biết nước các ngươi có cha con Mạc Đăng Dung, Mạc Phương Doanh (莫方瀛) nhân lúc nguy biến mà làm càn, tiếm ngôi đoạt vị, khơi nguồn loạn lạc, gây chiến tranh liên miên, khiến sinh linh đồ thán, làng mạc thành hoang. Tội trạng đã rõ, tình lý không thể tha thứ.
Thiên tử là chủ của Hoa Di, tất phải giữ lòng nhân nối dõi, cứu tuyệt tự; thánh nhân là gốc của cương thường, tất phải nêu rõ nghĩa trừng phạt phản nghịch. Nay con cháu họ Lê chưa tuyệt, mà tội ác họ Mạc đã đầy. Thiên lý nhân tâm, sáng tỏ không thể che giấu. Loạn thần tặc tử, ai cũng có thể giết.
Nước An Nam tuy ở nơi xa xôi nóng bức, nhưng xưa nay vẫn chịu ảnh hưởng giáo hóa của thiên triều. Trong các ngươi há lại không có người trung nghĩa, tài giỏi, có thể dấy binh nghĩa, giết kẻ đầu sỏ? Nay sẽ treo thưởng lớn để sớm thành công.
Các ngươi nên kính cẩn hiểu rõ ý trời trừng phạt kẻ dâm bạo, thể theo ý chỉ của Hoàng thượng là chính danh hỏi tội. Nghĩ đến họ Lê là chủ cũ của các ngươi, căm thù họ Mạc là kẻ thù truyền kiếp. Hãy dũng cảm thể hiện lòng trung, lập mưu bày kế, một người khởi xướng, muôn người hưởng ứng, gần xa cùng đến, không hẹn mà gặp, cùng dấy nghĩa binh đánh giặc, tiêu diệt đầu sỏ, truyền rộng tiếng nhân nghĩa, ổn định ruộng vườn.
- Ai có thể bắt giết được cha con Mạc Đăng Dung, Mạc Phương Doanh, sẽ được thưởng 20.000 lượng bạc, lại tâu lên triều đình để thăng chức lớn.
- Ai nguyện đem một phủ quy thuận, sẽ được ban cho phủ ấy.
- Ai đem một châu, một huyện quy thuận, sẽ được ban cho châu huyện đó, lại thưởng thêm 5.000 lượng bạc.
Lại nghe rằng Mạc Đăng Dung lấy Đô Trai làm nơi phòng thủ, lấy phủ Cửu Công (九公府) làm vệ. Phủ Cửu Công há lại không có người có lương tâm? Chẳng qua vì sợ thế lực mà bị ép theo. Nay nếu có người ở phủ Cửu Công bắt giết được cha con họ Mạc, cũng được thưởng 20.000 lượng bạc, tâu lên triều đình thăng chức lớn. Ai đem phủ, châu, huyện quy thuận, cũng được ban đất như trên, và thưởng như cũ.
Làm như vậy thì dân vô tội ở An Nam sẽ thoát khỏi cảnh giết chóc, người có chí ở An Nam sẽ được nêu danh trung nghĩa. Thiên đạo thuận, lòng người yên, há chẳng phải là đại phúc của An Nam sao? Nếu không, khi thiên binh bốn mặt kéo đến, khó tránh khỏi họa ngọc đá cùng tan. Khi ấy dù có người trung nghĩa, cũng không thể tự bày tỏ, sẽ cùng bị giết, hối hận cũng không kịp.
Vì vậy, đặc biệt cấp phát 14.000 bản hịch văn có đóng ấn của phủ, phân phát đến các phủ vệ như Trường Khánh (長慶), Lạng Sơn (諒山), các châu như Vĩnh An (永安), Văn Uyên (文淵), để truyền dụ đến các ngươi. Các bô lão sĩ dân, hãy mau chóng tính kế hành động.”
Năm Gia Tĩnh thứ 19 (1540), Mạc Đăng Dung lập cháu là Phúc Hải (福海) nối ngôi Mạc Phương Doanh (方瀛). Mạc Phương Doanh thuở nhỏ từng là sinh đồ huyện, biết chữ, có mưu lược. Mùa thu năm trước (1539), tự thân đi bắt phản thần Ba Quảng, giết được, nhưng sau đó trở về thì lâm bệnh qua đời. Phúc Hải lên ngôi, cải niên hiệu là Quang Hoa (光華).
Cùng năm, Cừu Loan (仇鸞) bị triệu hồi, triều đình đổi lệnh cho An Viễn hầu Lưu Tuấn (柳珣) làm Tổng binh trấn thủ Lưỡng Quảng thay thế. Đúng lúc đó, các phủ vệ Trường Khánh (長慶), Lạng Sơn (諒山) ở An Nam báo rằng: thủ lĩnh người Di là Mạc Đăng Dung xin hàng, lời lẽ tuy khiêm nhường nhưng ý tứ vẫn còn trá ngụy. Nhất định phải đem quân áp sát biên giới, tuyên dương uy đức triều đình, mới khiến lòng người Di khiếp phục, tự trói chờ lệnh.
Phó Án sát Quảng Tây là Ông Vạn Đạt (翁萬達) cũng được bổ sung vào quân vụ, tâu với Mao Bá Ôn (毛伯溫) rằng:
“Việc xử lý giặc Mạc hiện nay có ba cách:
- Một là dùng văn thư mà khiến họ quy phục, đó là thượng sách;
- Hai là dàn quân uy hiếp, không cần đổ máu mà khiến họ hàng phục, đó là trung sách;
- Ba là nhiều lần ra lệnh, quyết tiêu diệt tận gốc bè đảng, tuy có uy nhưng trái với đức hiếu sinh của Thánh thượng, đó là hạ sách.
Nay nên tập hợp các bậc trưởng lão, dùng nhiều mưu kế, giữ quyền chủ động, hành động phải vẹn toàn. Dù không đạt thượng sách, cũng nên đạt trung sách. Nếu buộc phải dùng hạ sách, cũng nên rút kinh nghiệm thất bại của quân Tống, để khỏi hối hận về sau.”
Mao Bá Ôn đồng ý. Liền triệu tập các quan tam ti Lưỡng Quảng và Vân Nam bàn định. Quân chính chia làm ba đạo:
- Trung quân: đi từ phủ Thái Bình (太平府), châu Bằng Tường (憑祥州), do Tham chính Ông Vạn Đạt giám sát, Phó Tổng binh Trương Kinh (張經) chỉ huy, Chỉ huy Vương Lương Phụ (王良輔) cùng các tướng lĩnh người Hán và thổ mục dẫn 40.000 quân.
- Tả quân: đi từ châu Long (龍州), động La Hồi (羅回峒), do Phó sứ Trịnh Tông Cổ (鄭宗古) giám sát, Tham tướng Lý Vinh (李榮) chỉ huy, Chỉ huy Chu Duy Tân (周維新) cùng các tướng lĩnh người Hán và thổ mục dẫn 14.000 quân.
- Hữu quân: đi từ phủ Tư Minh (思明府), châu Tư Ninh (思寧州), do Phó sứ Hứa Lộ (許路) giám sát, Đô chỉ huy Bạch Huyễn (白泫) chỉ huy, Chỉ huy Lại Kiệt (賴杰) cùng các tướng lĩnh người Hán và thổ mục dẫn 14.000 quân.
Quân kỳ tập kích chia làm hai đạo:
- Một đạo từ châu Quy Thuận (歸順州), do Tham chính Trương Nhạc (張岳) giám sát (Trương nguyên là Tham chính Chiết Giang, Thái Kinh tâu xin bổ sung vào Quảng Đông vì từng biết rõ Liêm Châu), Đô chỉ huy Trương Ngạc (張軏) chỉ huy, Chỉ huy Trương Nghĩa (張義) cùng các tướng lĩnh người Hán và thổ mục dẫn 14.000 quân.
- Một đạo từ Khâm Châu (欽州), Quảng Đông, do Phó sứ Trần Gia Mưu (陳嘉謀) giám sát, Tham tướng Cao Nghĩa (高誼) chỉ huy, Chỉ huy Lý Bang Tướng (李邦相) cùng các tướng lĩnh người Hán và thổ mục dẫn 14.000 quân.
Đạo quân đường biển: đi từ núi Ô Lôi (烏雷山) và các nơi khác, do Phó sứ Đồ Kiện (涂楗) giám sát, Đô chỉ huy Vũ Loan (武鸞) chỉ huy, Chỉ huy Dư Đức An (餘德安) cùng các tướng lĩnh người Hán và thổ mục dẫn 14.000 quân đánh bộ.
Trung quân doanh vụ: giao cho các quan giám sát, tổng chỉ huy 5.127 người, mang cờ lệnh, bài lệnh, chia đi giám sát các đạo quân.
Tuần phủ Vân Nam là Đô ngự sử Uông (汪), Tổng binh Kiềm Quốc công Mộc (沐), Tuần án Ngự sử Bành Thời Tế (彭時濟) bàn định chia Liên Hoa Than (蓮花灘) làm hai đạo tả hữu, mỗi đạo do các quan giám sát chỉ huy, dẫn 20.010 quân Hán và thổ, 50 con voi, hợp với quân của Vũ Văn Uyên (武文淵) khoảng 60.030 người.
Sau khi các đạo quân chia đường xuất phát, Mao Bá Ôn và các quan hôm sau cũng lên đường, đích thân đến phủ Nam Ninh (南寧府) điều động binh lương, tùy cơ hành sự.
Người Giao (tức quân An Nam) cũng đã chuẩn bị phòng bị rất nghiêm ngặt: họ tẩm thuốc độc vào vũ khí để thử lưỡi gươm, thu thập hạt ba đậu và nấm độc, tích trữ ở thượng nguồn; chặt ống tre chôn dưới đất để bẫy chân ngựa. Họ giả vờ tuyên bố sẽ đi đường biển đánh Quảng Đông, đồng thời hối lộ dân biên giới để do thám tình hình quân ta. Có một viên quan trấn ải nhận hối lộ, để mặc cho họ qua lại, không thể ngăn cấm.
Ông Vạn Đạt (翁萬達) bí mật chiêu mộ những người cảm tử, cho thâm nhập vào kinh đô giả của giặc, chỉ trong mười ngày đã nắm được toàn bộ tình hình. Sau đó ban lệnh cấm nghiêm ngặt:
- “Kẻ nào vượt ải thông đồng với giặc, sẽ bị phanh thây, tịch thu gia sản. Ai bắt được một tên giặc Mạc, thưởng 100 lạng vàng.”
Mạc Đăng Dung nghe tin càng thêm sợ hãi, không biết phải làm sao, vội xin ra khỏi biên giới đầu hàng, chờ triều đình xử trí, lời lẽ rất thống thiết.
Ngày 28 tháng 10 năm ấy (1540), Mao Bá Ôn (毛伯溫) chấp thuận cho tiểu mục nước ấy là Trần Phỉ (陳棐) cùng người khác đến doanh trại Niệm Nhai (念涯) trình bày việc xin hàng. Đến ngày mồng 3 tháng 11, chuẩn cho họ chính thức quy thuận.
Giang Nhất Quế (江一桂) cùng các quan lập sẵn đại doanh gần ải Trấn Nam (鎮南關), dựng đài tướng cao. Đến kỳ hạn, Mạc Đăng Dung mặc áo vải trắng, thắt dây lụa, đích thân dẫn tiểu mục, bô lão, sĩ dân, mỗi người đều dùng một thước lụa buộc cổ, chờ ở trên đài tại Nam Quan.
Triều đình thiết lập long đình, phủ màn vàng, các quan tam ti, phó tham, giám thống của Lưỡng Quảng đều đứng chầu. Truyền lệnh mở cửa ải. Mạc Đăng Dung cùng cháu là Mạc Văn Minh (莫文明) từ cửa ải bên trái đi ra, cởi giày, chân trần, quay mặt về phương bắc quỳ xuống. Sai sinh viên Tạ Thiên Túng (謝天縱) tháo dây lụa và tiếp nhận thư hàng. Mạc Đăng Dung phủ phục, lạy năm lạy, dập đầu ba lần. Các cháu ông cũng lần lượt quy hàng, y phục theo đúng nghi lễ.
Tuyên dụ rằng:
- “Tạm cho phép mang tội trở về nước, chờ tâu lên triều đình, ban cho không chết. Lưỡng Quảng, Vân Nam e rằng có kẻ gian ngoài pháp luật, hoặc quan lại không tuân phép, nhân cơ hội dọa nạt, bịa đặt gây chuyện, thì chớ nên nghe theo. Thể thống chính đại của thiên triều, mệnh lệnh nghiêm minh của quân môn, các ngươi nên biết rõ!”
Mạc Đăng Dung dập đầu tạ ơn xong, truyền lệnh đóng cửa ải, thu quân về doanh.
Cháu (Đăng Dung) là Mạc Văn Minh (莫文明) cùng tiểu mục tòng nhân Hứa Tam Tỉnh (許三省) và 28 người khác, do Mạc Văn Minh thay mặt mang bản hàng xin phong một bản. Bản tấu viết:
"Thần là dân man nơi biên ải, kiến thức hạn hẹp, nhưng luôn ngưỡng vọng Bắc Cực, ánh sáng chiếu rọi phương Nam. Trời yên đất lặng, biển lặng sông trong, thần ngưỡng biết Trung Quốc đã có thánh nhân từ lâu. Huống chi dưới oai trời chấn động, lại có lòng nhân như gió xuân ấm áp. Cảm kích sợ hãi xen lẫn, khó thể diễn tả.
Thần nghĩ rằng vận nước của tiên quốc chủ họ Lê (黎) gặp lúc suy vi, lần lượt mất nước. Đến khi Lê Khoáng (黎懬) tạm nắm quyền quốc gia chưa bao lâu, cũng mắc bệnh hiểm nghèo. Lúc lâm chung vội vã, tạm theo tục man, giao việc nước cho thần. Thần lại giao cho con là Phương Doanh (方瀛), chưa kịp tấu trình, đã tự ý chuyên quyền. Tuy triều đình xa vạn dặm, khó thể tâu lên, nhưng tội đã ngập trời, sao dám tự che giấu.
Năm Gia Tĩnh thứ 17 (1538), cha con thần cẩn thận sai Nguyễn Văn Thái (阮文泰) và những người khác mang biểu xin hàng, cầu xin xử trí, đều xuất phát từ lòng thành, không chút giả dối. Nhưng lòng thành chưa tới, chưa cảm động được thánh tâm. Ngày đêm lo lắng, không lúc nào yên.
Ngày 25 tháng Giêng năm Gia Tĩnh thứ 19 (1540), Phương Doanh không may mắc bệnh qua đời. Người trong nước quen theo thói cũ, muốn để trưởng tử của Phương Doanh là Phúc Hải (福海) thay cha lãnh đạo. Thần lo việc trước đã sai lầm trong việc trao quyền, nghĩa lý đã không ổn. Nay nếu lại theo lời thỉnh cầu, tội càng thêm nặng, không thể tự giải. Vì vậy thần cùng Phúc Hải chỉ biết chờ mệnh triều đình.
Gần đây, đại tướng chuyên chinh, trọng binh áp sát biên giới. Thần như heo trong chuồng, sao dám chống đỡ. May được thấy công văn của quân môn hỏi đến, được nghe lời trời, ân từ vô hạn, thần đập ngực rơi lệ. Nghĩ rằng thần có tội, dân đen vô tội, bệ hạ không nỡ vì tội của thần mà giết hại dân chúng. Thần may mắn được sống sót nhờ dân chúng, đã hướng về phương Bắc trong nước mà hô vang, cùng tiểu mục Nguyễn Như Quế (阮如桂), Đỗ Thế Khanh (杜世卿), Đặng Văn Trị (鄧文值), kỳ lão Lê Toản (黎烇), Nguyễn Tổng (阮總), Tô Văn Tốc (蘇文速), sĩ nhân Nguyễn Kinh Tế (阮經濟), Dương Duy Nhất (揚惟一), Bùi Trí Vĩnh (裴致永)v.v., vào ngày mùng 3 tháng 11 năm Gia Tĩnh thứ 19 (1540), kính cẩn chờ ở Nam Quan (南關), buộc dây ra khỏi biên giới, đến doanh trại cúi đầu, dâng lòng thành mà xin hàng.
Thần Đăng Dung (登庸) vốn muốn thân hành vào kinh, ngưỡng vọng thiên nhan xin chết, nhưng vì già yếu lại bệnh, không thể bò lết. Cháu đích tôn là Phúc Hải lại đang trong tang lễ, nên cẩn thận sai cháu ruột là Mạc Văn Minh thay mặt thần vào triều chờ tội, cũng để trình bày việc cha con thần trước đây sai Nguyễn Văn Thái mang biểu hàng, hoàn toàn là vì sợ oai, cảm đức, không dám có lòng giả dối. Cúi mong thánh ân khoan dung, cho được làm lại từ đầu.
Đất đai, nhân dân đều là sở hữu của thiên triều, chỉ xin bệ hạ thuận theo lòng man, tùy nghi xử trí. Cho thần được nội thuộc, đời đời xưng thần, mỗi năm nhận Đại Minh Nhất Thống Lịch Thư (《大明一統歷書》) để ban bố trong nước, cùng phụng chính sóc, là đại phúc của thần vậy.
Tuy các thần của tiên quốc như họ Đinh (丁), họ Trần (陳), họ Lê (黎) lần lượt kế tục, xưng hiệu lập niên, thần sau khi hối cải, tự biết là không thể. Đã nghiêm cấm người trong nước, hoàn toàn bãi bỏ, chờ mệnh mới. Há dám lại phạm sai lầm cũ, tự chuốc thiên tru.
Quan thủ thần Khâm Châu (欽州) Quảng Đông tâu rằng, hai đô Như Tích (如昔), Thiếp Lãng (貼浪), bốn động Ty Lẫm (澌凜), Kim Lặc (金勒), Cổ Lâm (古林), A Cát (丫葛) vốn thuộc đất cũ của Khâm. Nếu đúng như vậy, thì là họ Lê trước đây chiếm đoạt, nay thần xin trả lại các đất ấy nhập vào Khâm Châu.
Còn như người tên Lê Ninh (黎寧) mà Trịnh Duy Liễu (惟憭) nói đến, dân trong nước truyền rằng là con của Nguyễn Kim (阮淦). Họ Lê quả thật không còn ai, nên thần đã lập hương hỏa tại kinh đô để giữ việc thờ tự họ Lê. Nay Vân Nam (雲南) lại cho rằng Lê Ninh là hậu duệ họ Lê, hiện ở Lào (老撾), đã tâu lên thánh thính, thần đâu dám tranh biện?
Chỉ xin lấy bảy châu như Quảng Lăng (廣陵) v.v., các trại Hồng Y (紅衣) v.v., cùng các nơi gần đó, cắt giao cho Vân Nam quản lý. Lại mong được thánh ân, đặc sai sứ thần một hai người đến thẳng bản quốc, tìm hỏi dân cũ. Nếu có con cháu họ Lê, thần sẽ dẫn dân nghênh tiếp trở về. Toàn bộ đất đai xin hoàn trả, không chỉ là các nơi đã nêu. Nếu quả như lời dân, cũng xin thương xót sinh linh, cho họ được thống lĩnh bản quốc.
Các năm trước thiếu cống, xin được bổ sung. Về sau các năm có vật phẩm cống nạp, thần không dám nói đến, vì đang mang tội, cầu được miễn chết, còn sợ không được.
Thần lại muốn tra theo lệ cũ triều trước, chuẩn bị người vàng bạc thay thân, để dâng nộp. Nhưng e là đường đột, chỉ xin hàng chờ xử, thực tình hợp lý đều đã trình bày. Nay tạm dùng ấn tín mà thiên triều ban cho bản quốc trước đây, vì ấn tín cũ thần chỉ nên giữ gìn, không dám tự tiện dùng. Nhưng nếu không có thì không thể làm bằng chứng, cúi mong thánh minh xét soi."
An Nam tiểu mục Nguyễn Như Quế (阮如桂), kỳ nhân Lê Tuyên (黎烇), sĩ nhân Nguyễn Kinh Tế (阮經濟) cùng dâng sớ rằng:
“Thần đẳng là người nước tuy ở nơi biên viễn, thật nhờ che chở mà được cùng sống. Nhưng vì xa thiên triều, trong nước thường có nhiều biến loạn.
Từ niên hiệu Chính Đức (正德, 1506–1521) và Gia Tĩnh (嘉靖, 1522–1566) đến nay, nghịch thần Trần Tung (陳嵩)[30], Trần Thăng (陳昇), Trịnh Tuy (鄭綏), Đỗ Ôn Nhuận (杜溫潤) lần lượt mưu loạn, bức hiếp quốc chủ. Lê Trừu (黎晭) bị hại, Lê Huệ (黎譓) bị lưu đày, tông thất bị diệt vong. Chỉ còn Lê Khoáng (黎懬) tạm nắm quyền nước chưa lâu thì cũng đã bệnh mất. Địa phương rối loạn, dân chúng lầm than, đến mức cùng cực. Khi ấy Di mục Mạc Đăng Dung (莫登庸) dẹp yên các nghịch thần, quả có công lao.
Nhưng đất đai và dân chúng đều là do thiên triều ban cho, Lê Khoáng giao cho Đăng Dung, Đăng Dung nhận lấy. Lại tự ý truyền cho con, chưa kịp xin mệnh, tội còn gì để nói. Thần đẳng là người nước, cũng vì sau loạn lạc ly tán, lo sợ kẻ bất lương lại đi vào vết xe đổ của bọn Tung, họa hoạn không dứt. Bèn vội vàng tìm kế sinh tồn, tự chọn chủ, âm thầm tôn lập, thật là do ngu muội, tội cũng như Đăng Dung.
Sau vì đường sá cách trở, cửa ải nghiêm ngặt, dù nhiều lần trình bày, khẩn cầu cũng không thể thấu đạt, tội trạng càng sâu, khiến bị thiên uy nổi giận, ra lệnh biên tướng chinh phạt. Năm trước, quân môn gửi hịch đến bản quốc, cha con Đăng Dung sợ hãi bất an. Kính cẩn dâng biểu xin hàng, chưa được chấp thuận. Nay lại điều đại tướng nắm trọng binh, uy như sấm sét, vang động man ngạo. Tự biết chắc sẽ tan xương nát thịt, không còn sót lại. Nào ngờ được khoan dung, cho phép bày tỏ, giám thống phái quan đến biên giới tuyên dụ, toàn quốc đều cảm động rơi lệ, dìu già dắt trẻ, chỉ chờ quân môn, nguyện cùng Đăng Dung trói mình quy phục. May mắn không chết, ấy là ơn cha mẹ, lộc trời đất. Lòng cảm kích vui mừng, sao có thể kể xiết. Thần đẳng lại nghĩ dân không thể tự trị, việc phải chính danh trước. Danh không chính thì việc không đâu vào đâu, việc không đâu vào đâu thì mọi người tranh giành. Tan rã chia lìa, không ai ngăn được. Muốn tránh loạn vong, sao có thể được!
Nay bệ hạ đã ban cho Đăng Dung và người nước cơ hội sống lại, nếu để kết thúc bằng loạn vong, thì lòng bệ hạ ắt không nỡ. Vì vậy thần đẳng lại có lòng riêng, muốn làm phiền thánh đức, để làm nơi sống còn từ đầu đến cuối. Đăng Dung từ khi chấp chính đến nay, không bạo ngược, ban ơn cho dân, dân đều cảm đức. Nay lại sợ uy hối tội, cùng trưởng tôn Phúc Hải (福海) chờ mệnh triều đình. Không dám theo thói cũ tự xưng nắm nước. Đã răn dạy mục dân, không còn xưng hô bừa bãi như trước. Nghĩ rằng tổ tôn Đăng Dung tự xưng là Di mục, đều là tội nhân, đâu dám mong được đặc ân. Nhưng thường suy nghĩ đi lại, họ Mạc tuy mang trọng tội, thật là chỗ quy tụ của lòng người Di. Nhưng nếu không nhờ thánh ân, ban cho danh phận, thì lấy gì để ràng buộc người nước, khiến không làm loạn. Cúi mong bệ hạ thương xót sinh linh nơi xa, thuận theo phong tục Di, ban cho mệnh mới. Xét theo điển lệ các triều, hoặc làm Tổng quản, hoặc làm Đô hộ, để được quản lý quốc sự, đời đời xưng phiên.
Thần đẳng cũng được bảo toàn tàn sinh, mãi làm dân phiên, thì ơn tái tạo của bệ hạ, sẽ cùng trời đất vô cùng vậy.”
Mao Bá Ôn (毛伯溫) dâng sớ rằng:
“Căn cứ việc Mạc Đăng Dung (莫登庸) cùng những người khác xin nội thuộc xưng phiên, hàng năm nhận Đại Thống lịch nhật (《大統曆日》), bổ sung vật phẩm cống còn thiếu trong các năm lễ tiết, đều nên theo chỉ dụ trước mà bàn xử.
Thần đẳng tra xét thấy rằng An Nam từ sau Hán, Tấn tuy xưng nội phụ, nhưng phong tục Di lạo, khí độc lam chướng, rốt cuộc không thích hợp với Trung Quốc. Đại thể vài năm một lần loạn, mà loạn thì tất kết đảng bè. Công phá giết chóc, lại phải vài năm sau mới yên.
Xưa Trương Phụ (張輔) dùng hơn mười vạn quân, hao tổn công sức, chỉ giữ được vài năm quận huyện. Kẻ phản nghịch nối tiếp nhau, cuối cùng lại rơi vào tay Di, đó là minh chứng rõ ràng. Cân nhắc lợi hại xưa nay, không gì bằng ngoài mà không trong, dùng Di trị Di, mới là ổn thỏa.
Như Mạc Đăng Dung có tội đầu hàng, chưa nên vội ban tước đất. Cháu là Mạc Phúc Hải (莫福海) hiện đang chờ mệnh, nếu được khoan dung, có thể ban cho danh phận như Đô hộ, Tổng quản. Theo lệ Hán, Đường, mỗi năm do Bố chánh ty Quảng Tây phát Đại Thống lịch nhật, lệnh đến Trấn Nam quan nhận. Các lễ vật cống thiếu năm trước, tra xét bổ sung, các năm sau cứ theo lệ thường tiến hành. Các động Khâm Châu (欽州), Ti Lẫm (澌凜), Cổ Sâm (古森), A Cát (丫葛), Kim Lặc (金勒) vốn thuộc An Nam, chờ bổ sung quan Tham chính, Phó sứ để tra theo ngạch cũ, biên vào hộ tịch Khâm Châu, lại được ưu đãi ba năm, sau đó cùng chịu thuế khóa như thường. Các sứ Di sai đến trước sau, việc xong thì cho về. Đây chính là phép dùng Di trị Di.
Nhưng e rằng có người vẫn nghi về họ Lê (黎).Thần đẳng suy nghĩ, Lê Lợi (黎利) khởi loạn, cản binh, chiếm quận huyện, giết hại quan quân. Đại tướng như Liễu Thăng (柳升), đại thần như Thần Hiệp (臣洽 Trần Hiệp) đều chết dưới tay Lợi. Các quan lại, binh lính không thoát thân đều bị hại. Đến nay nhắc lại vẫn đau lòng. Tiên đế Tuyên Tông vì thương sinh linh nên không muốn tận dụng binh lực, tạm thời dung thứ.
Nay tội của Mạc Đăng Dung khác với sự gian xảo của Lê Lợi, vừa nghe thiên uy đã bò lạy xin chết, cũng khác với Lê Lợi nhiều lần chống lại vương sư. Lê Lợi đã được khoan thứ, thì Đăng Dung cũng không nên xử nhẹ hơn. Còn như Lê Ninh (黎寧), tuy tự xưng là hậu duệ Lê Lợi, nhưng thần đẳng tra xét các nha môn, tung tích thật khó xác định. Trịnh Duy Liễu (鄭惟憭) xưa nay ẩn cư gần động trại Lạng Thạch Lâm châu thuộc An Nam và đất thổ quan Quảng Tây, Lê Ninh diện mạo không quen biết, nên có khi gọi là Lê Ninh, có khi là Lê Hiến (黎憲), hoặc Quang Chiếu (光照), hoặc Nguyên Hòa (元和), lại có người cho là con Nguyễn Kim (阮淦), hoặc do họ Trịnh giả xưng. Gần đây theo báo cáo của Bố chánh ty Vân Nam, thẩm tra lời khai người Di là Trịnh Viên (鄭垣), nói rằng tuy động Tất Mã Giang (漆馬江) có Lê Ninh, nhưng lai lịch tông phái không rõ. Các sự việc, tuổi tác ghi chép cũng khác với báo cáo ban đầu của Trịnh Duy Liễu, đều khó làm căn cứ.
Thần đẳng cho rằng việc xử trí hiện nay là đại sách của thiên triều để yên biên cương, trị Di phương xa. Việc thao túng, ban phát không nên vì con cháu kẻ tội mà tạo mối họa trước. Nhưng họ Lê từ khi tu cống đến nay đã được các đời thánh quân khoan thứ. Nếu còn hậu duệ, nên thể tình mà xét. Giao cho quan Vân Nam tra xét, nếu có căn cứ rõ ràng, không sai khác, cho phép tiếp tục cư trú tại Tất Mã Giang, các nơi hiện có đều thuộc quản lý. Có thể ban chức vụ, trực thuộc Vân Nam. Nếu không phải hậu duệ họ Lê thì bỏ qua không bàn. Trịnh Duy Liễu thì tùy nghi an trí tại Quảng Đông, cấp ruộng nhà để không thất sở. Xử trí như vậy là chu toàn. Xin chỉ dụ bộ liên quan bàn nghị, tâu lên chờ thánh quyết. Để nghi lớn được giải, việc lớn được định, Hoa Di trong ngoài sẽ yên ổn vô sự.”
Thượng dụ tha tội cho Mạc Đăng Dung (莫登庸). Quốc hiệu An Nam bị bãi bỏ, đổi thành An Nam Đô thống sứ ty (安南都統使司). Mạc Đăng Dung được phong làm Đô thống sứ, ban phẩm hàm Tòng nhị phẩm, ấn bạc nha môn cho phép thế tập. Mười ba lộ địa phương giữ nguyên tên cũ, mỗi nơi đặt một viên Tuyên phủ đồng tri, Phó sứ, Thiêm sự, do Đô thống sứ quản lý, sai phái triều cống. Các quan lại lớn nhỏ trong toàn cõi tùy nghi thiết lập, thống thuộc dân chúng. Trước kia họ Lê mô phỏng chế độ Trung Quốc, đều phải cải chính, tránh dùng.
Bốn động hiến trả lại là đất biên dân của ta, cho nhập vào bản đồ, giao cho nha môn Tuần phủ Lưỡng Quảng ưu đãi người quy hàng. Tội đã được đại xá, Mạc Văn Minh (莫文明) được thưởng một bộ áo tơ sợi trắng, hai tấm gấm màu; Nguyễn Văn Thái (阮文泰) và những người khác mỗi người một tấm gấm màu; Hứa Tam Tỉnh (許三省) và những người khác mỗi người một tấm tơ trắng. Việc xong, lập tức sai sứ đến hỏi. Lễ vật cống nạp cho Đông cung như cũ. Hộ khẩu, tiền thuế nơi đó không cần kê khai tấu trình.
Lễ bộ sai Chủ sự Ngô Ứng Khuê (吳應奎), Trung thư xá nhân Lý Truyền (李傳) đến Lưỡng Quảng phát bạc thưởng. Ban cho Mạc Đăng Dung một đạo sắc thư Đô thống sứ An Nam, một ấn tín Đô thống sứ An Nam, giao tận tay để chuyển cho Đăng Dung nhận lãnh. Đăng Dung từ Nam Quan trở về, nhiễm bệnh do khí độc.
Ngày 22 tháng 8 năm Gia Tĩnh thứ 20 (tức 25/9/1541), Đăng Dung mất. Địa phương đồn rằng Mạc Đăng Dung bị Nguyễn Kính (阮敬) hại. Cháu là Phúc Hải (福海) xin kế thừa. Dụ rằng Đăng Dung chưa nhận chức mà mất, cũng nên thương xót. Sai Thái giám Thái Kinh (蔡經) cùng Tổng đốc và các quan tra xét việc chết không có nguyên do khác, và xác minh Phúc Hải có phải là cháu đích tôn thật sự. Tiểu mục Nguyễn Như Quế (阮如桂) cùng những người khác bảo chứng, không có giả mạo.
Năm thứ 21, tháng 3 (tức tháng 4 năm 1542), Phúc Hải (福海) đích thân dẫn Nguyễn Kính (阮敬), Nguyễn Ninh Chỉ (阮寧止) đến cửa quan nhận sắc ấn cùng 1.000 bản lịch nhật. Sắc dụ rằng:
“Trẫm nghĩ rằng đế vương lấy thiên hạ làm nhà, mong cho vạn vật đều được an vị. Một lòng đối đãi công bằng, không phân xa gần. Nước An Nam ở xa phương Nam, đời đời tuân phục triều cống. Gần đây không đến triều cống, xét nguyên do là do tội của tổ ngươi là Đăng Dung (登庸). Trẫm đã sai quan đến tra xét và chinh phạt, tổ ngươi biết hối lỗi, cung kính dâng biểu xin hàng, trình bày rõ việc tự ý truyền ngôi là sai, nguyện dâng đất dân, để triều đình xử trí. Thượng thư Mao Bá Ôn (毛伯溫) cùng các quan tâu lên Bộ Binh bàn nghị, cho rằng tổ ngươi sợ uy mà đầu hàng, thành khẩn chờ tội. Trẫm noi theo đức hiếu sinh của Thượng Đế, thuận theo lòng dân muốn yên, nên tha tội tất cả. Bãi bỏ quốc hiệu, vương tước, phong chức Đô thống sứ, ban phẩm Tòng nhị phẩm, ấn bạc nha môn, cho phép phụng chính sóc triều cống, cho con cháu kế thừa, đời đời giữ đất, thật là phúc lớn cho các ngươi.
Nay quan trấn tuần tâu rằng tổ ngươi đã mất vì bệnh. Ngươi là cháu đích, lại có thể trình bày rõ lòng thành của tổ ngươi khi quy thuận, thuật lại lời trăn trối, cũng là người kế thừa chí tổ. Đặc biệt cho kế thừa chức Đô thống sứ của tổ ngươi. Nay ban sắc dụ, ngươi hãy càng tận trung thành, chăm lo việc triều cống, vỗ về dân Di, giữ yên địa phương, để xứng với lòng khoan dung của triều đình, đáp lại lòng thành kính thuận của tổ ngươi. Được nhiều phúc lành, há chẳng phải điều tốt đẹp sao! Mọi việc đều phải theo đúng nội dung sắc dụ đã ban cho tổ ngươi mà thi hành. Khâm tai!”
Mạc Phúc Hải sai Tuyên phủ đồng tri Giao Bắc là Nguyễn Điển Kính (阮典敬), Thiêm sự Nguyễn Công Nghi (阮公儀) mang biểu vào kinh tạ ơn. Biểu viết:
“Trung Quốc có thánh minh, thời bình yên thanh tịnh, ngoại Di đến chầu, vui mừng hưởng ân lớn. Mặt trời chiếu phương Nam, sao chầu Bắc cực. Thần Phúc Hải nghĩ rằng trời đất lấy sinh vật làm tâm, sinh khí lưu chuyển không phân vinh nhục. Đế vương lấy thương dân làm đức, lòng nhân chí thiện không phân sống chết. Đó là đạo lý công bằng, nên ân trạch lan rộng. Thần Phúc Hải nhớ tổ thần là Mạc Đăng Dung sớm nhờ ơn đời, gặp lúc gian nan, vỗ về dân phiên sau loạn lạc, may mắn giữ được. Do quen tục Man, truyền nối theo lệ cũ, chuyên quyền là lỗi. Nhiều năm cách trở, không theo kịp, bỗng nghe thiên uy nổi giận, chờ tội ở Nam Quan, sợ không còn chốn dung thân, chạy lòng về Bắc Quan, may nhờ trời soi xét. Sấm sét hóa tan, mưa móc ban rải. Được thấm nhuần đại ân, mong toại nguyện chân thành; ghi nhớ lời trăn trối, không quên lòng trung với thượng quốc. Thần Phúc Hải ngu dốt, may được kế thừa chính thống. Lời dạy trung kính của tổ phụ luôn ghi nhớ, trong được triều đình thương xót, ban ân vượt mức, ban danh phận rực rỡ. Chính sóc được phép phụng hành, nghĩa lớn như Xuân Thu. Sắc ấn cho phép nhận lãnh, lễ trọng danh quý. Ân sâu rộng khắp, cao vời không thể tả. Tổ thần lâm nguy chờ mệnh, chết cũng biết vinh. Thần thân đang bệnh, cảm ơn mà rơi lệ. Toàn cõi nghe thấy đều nói đại quân trưởng dưỡng không thiên vị. Kính nghĩ Hoàng đế bệ hạ cương kiện tinh thuần, thông minh sáng suốt, khiêm cung nhường nhịn, ánh sáng lan khắp bốn phương, rực rỡ như văn của Nghiêu, mềm mỏng với xa, gần gũi với gần, yên dân khắp nơi, nối chí Chu Liệt, hòa hợp rạng rỡ theo điển xưa, vỗ yên rộng khắp bằng phong hóa hoàng gia. Cho rằng thần ở nơi xa vạn dặm, mong được giáo hóa như nước thấm dần. Xót thương tổ thần một lòng thuận phục, ân tình không dứt từ đầu đến cuối. Ban sắc rộng rãi, thể hiện lòng thành, thần Phúc Hải kính cẩn thay tổ nhận ân, tuyên dương trước chúng. Ân đức ban ra, chính lệnh thi hành, dân chúng đều cảm hóa; đất đai dâng nạp, cống phẩm tiến dâng, đều thành kính phụng hành đúng lễ.”
Một lần tiến cống vật phẩm như sau:
- Lư hương và bình hoa bằng vàng: 4 bộ, nặng 290 lượng
- Rùa vàng: 1 con, nặng 19 lượng
- Hạc bạc và đài bạc: mỗi thứ 1 món, nặng 51 lượng
- Lư hương và bình hoa bằng bạc: 2 bộ, nặng 150 lượng
- Mâm bạc: 12 chiếc, nặng 691 lượng
- Trầm hương: 60 cân
- Tốc hương: 148 cân
- Giáng chân hương: 30 cành
- Sừng tê giác: 20 chiếc
- Ngà voi: 30 nhánh
- Cùng các vật phẩm khác như hương liệu, lụa thơm v.v.
Ban đầu, dân bốn động Tư Lẫm (澌凜) v.v. lâu nay vẫn không quên Trung Quốc, đến kỳ tiết lễ đều xưng niên hiệu triều đình, báo cáo với tổ tiên, mặc y quan Trung Quốc đúng lễ, chỉ khi ra khỏi động mới thay đổi. Nhiều lần kết giao với dân biên giới nội địa, dâng đơn lên Đốc phủ xin được trở lại Trung Quốc. Đốc phủ cho rằng họ gây chuyện, thường đánh chết người dâng đơn. Đến nay mới được trở về.
Năm Gia Tĩnh thứ 25 (1546), Phúc Hải (福海) mất. Con là Mạc Hoằng Dực (莫宏瀷)[31] còn nhỏ, xin kế thừa. Trong nước không phục, xảy ra giao tranh. Năm thứ 26 (1547), Mạc Văn Minh (莫文明) cùng tông nhân là Trung Chính (中正), Phúc Sơn (福山) dẫn hơn 100 người thân chạy sang Khâm Châu lánh nạn, kêu oan với quân môn. Đề đốc quân vụ Thị lang Trương Nhạc (張岳) tâu xin cứu tế. Triều đình sai an trí tại các nơi Thiều Châu, Triệu Khánh, Thanh Viễn, cấp gạo hàng năm tùy theo mức.
Năm thứ 27 (1548), nghịch đảng là Phạm Tử Nghi (范子儀), Phạm Tử Lưu (范子流) mưu ép Trung Chính tranh quyền kế vị, xúi giục các man ven biển. Lại phản loạn, cướp phá Khâm Châu, bị quan binh bắt được và xử tử.
Năm thứ 28 (1549), Mạc Kính Điển (莫敬典) dẹp tàn đảng của Tử Nghi, hộ tống Hoằng Dực đến Trấn Nam Quan chờ tra xét. Quan Bảo Minh tâu xin cho kế vị. Năm thứ 30 (1551), Hoằng Dực được kế thừa chức Đô thống sứ An Nam. Việc triều cống không dứt.
Sau khi Hoằng Dực lên ngôi được 5–6 năm, lại xảy ra binh biến. Có sứ thần đến kinh, triều đình cho rằng là quan giả, chờ tra rõ mới cho phép tiến cống. Sau khi gửi công văn đi, không thấy hồi âm, sứ thần không dám trở về.
Đến nay là năm Long Khánh thứ 2 (1573), Đại học sĩ Lý Xuân Phương (李春芳) thương sứ thần ở lại kinh đã lâu, lại giữ đúng mệnh chủ, nên tâu xin nhận cống phẩm và cho về. Sứ thần ở Trung Quốc hơn 20 năm, khi đến tóc còn xanh, nay về tóc đã bạc trắng. Người đời ví như Tô Vũ bạc đầu trở về vậy.
Theo lời của Lễ bộ Lang trung Quách Phỉ (郭棐), thì người giữ chức Đô thống ở vùng ấy không phải là họ Mạc. Quan chức chính thức hiện chưa thể xác định rõ. Hơn nữa, tổ tiên của Mạc Đăng Dung (莫登庸) không rõ gốc tích, có người nói là dân Đản (蜑民) ở huyện Đông Quan, Quảng Châu. Cha ông lưu lạc đến xã Cổ Trai, huyện Nghi Dương, lộ Hải Dương, An Nam. Xã trưởng đặt tên là Bình (萍 cây bèo), ý là lời đùa, không có căn cứ.
Mạc Bình sinh ra Đăng Dung và em là Quyết (撅 Mạc Quyết), cha con làm nghề chài lưới. Đăng Dung có sức mạnh, được Lê Oanh (黎瀅 Lê Oánh)[34] dùng làm Đô lực sĩ, rất tin cậy. Năm Chính Đức thứ 11 (1516), theo Trần Cảo (陳暠) làm loạn, giết Oanh, rồi lại phản Cảo, giết con Cảo là Trần Bính (昺 Bỉnh). Ngầm mưu bất chính, Lê Y (黎椅) không thể chế ngự. Sau ép mẹ Lê Y giả mệnh phong mình, rồi cướp ngôi. Cuối cùng bị nghĩa tử là Nguyễn Kính (阮敬) đầu độc. Trời há lại không có mắt sao!
Mạc Văn Minh (莫文明) tố cáo, thì rõ ràng Nguyễn Kính là kẻ nghịch giết chủ. Kính đáng bị thảo phạt. Xưa Mao Bá Ôn (毛伯溫) dâng sớ cho rằng không có người tên Lê Ninh (黎寧), muốn dứt bỏ. Trong phần tựa sách Việt Kiệu (《越嶠》) có ghi Lê Sanh (黎檉) giả danh là Ninh. Sau này, kẻ ngu này (Nghiêm Tòng Giản) tìm được văn bia họ Vũ, thấy vẫn giả xưng là năm Nguyên Hòa thứ 14, hỏi ra thì biết Ninh vẫn còn ở vùng biên Quảng Nam, vậy cũng có thể là đối thủ của họ Nguyễn Kính.
Binh lực há sợ không đủ sao? Quảng Tây có thể huy động 130.000 quân, lấy thêm 60.000 thổ binh Hồ Quảng, 40.000 quân các vệ, Giang Tây, Quảng, Mân cùng tuyển 80.000, là được 300.000 quân. Vân Nam có 50.000, Vũ Văn Uyên (武文淵) cũng có thể có 50.000, tổng cộng 400.000 quân. Có thể tung hoành đất Việt Thường, Nguyễn Kính không đáng lo.
Việc họ Mạc thoát khỏi bị tru di là thất sách lớn. Nếu khi ấy chiêu dụ đúng lúc, thì Giang Nhất Quế (江一桂) cũng là người có công. Sách Lai Uy Tập Lược (《來威輯略》) có thể khảo cứu.
Cựu Cấp sự trung Nghiêm Tòng Giản (嚴從簡) trong bài tựa An Nam Lai Uy Tập Lược (《安南來威輯略序》) viết:
“Ta bị tội đày đến Tinh Nguyên, nhàn rỗi đọc Tân An Ẩn Nghiệp Truyện (《新安䆠業傳》), thấy ghi rằng khi Giang công Bạch Thạch (白石江公) trấn giữ Thái Bình, Di Giao là Mạc Đăng Dung (莫登庸) nổi loạn, Thế Tông sai Mao Bá Ôn (毛伯溫) đi chinh phạt. Bá Ôn tính trước sai sứ đến dụ, công xin đi. Đăng Dung bèn xưng thần, công xây thành Thụ Hàng, lập đài Chiêu Đức tại Trấn Nam Quan để làm nơi phòng thủ lớn. Thượng hoàng khen công lao, thăng hàm Á Trung đại phu. Khi mất, các Di lập miếu thờ cau tại nội quan để cúng tế. Ta rất khâm phục tài năng và khí tiết của công, vượt cả dấu chân Mã Viện, danh tiếng truyền đời. Nhưng vẫn chưa hiểu hết phương lược trị an của công. Sau được ba quyển "An Nam Lai Uy Tập Lược", đọc qua một lượt, thì lời văn công vụ, sách lược trấn áp, cách xử trí đều sáng tỏ, như thấy công giữa chiến lũy, đàm phán nơi tiệc rượu, chỉnh đốn xe ngựa, truyền thư dịch phẩm, không khỏi ngẩng đầu vỗ tay tán thưởng.
Sách chép rằng việc đi phủ dụ Giao Chỉ là do công tự xin, nhưng xem hai bản tấu của quân môn Quảng tỉnh thì rõ là Bá Ôn biết công tinh thông, có thể đảm đương trọng trách, nên đặc biệt ủy thác, việc ấy không ai ngoài công có thể khiến bọn giặc phục tùng. Công chưa từng cầu danh. Khi xem kỹ báo cáo, thì người Di ngưỡng mộ thanh danh công, nên tự nguyện cởi mũ, tránh trướng, cũng là vì không ai ngoài công khiến họ tâm phục. Xưa Hồi Cốt khinh thường sứ giả bốn phương, mà chỉ gặp Tử Nghi một lần đã khuất phục; người Chu không tin vào minh ước ngàn xe, mà chỉ một lời của Quý Lộ đã thành công. Nhân nghĩa có thể làm khiên chắn, trung kính có thể cảm hóa Man Di, xưa nay đều vậy, sao nghi ngờ ở công?
Trung Quốc nhờ công mà giữ được thế tôn thường, ngoại Di nhờ công mà dâng lòng quy thuận. Công lao với xã tắc sánh cùng cột đồng, ân trạch nơi man di như nước tràn biển đỏ. Việc tế tự công ngàn năm không dứt, thật là xứng đáng. Tuy vậy, ta nhân việc của công mà cảm khái về cách triều đình xử lý người Giao, không khỏi có điều tiếc nuối.
Khi Thái Tổ mới lên ngôi, sai Trương Dĩ Ninh (張以寧), Ngưu Lượng (牛諒) dụ Trần Khuể (陳煃 Trần Dụ Tông), ban ấn phong vương, đó là lúc trời đất sơ khai, không muốn dùng binh xa, tạm dùng kế kiềm chế, không cần bàn. Đến thời Vĩnh Lạc, Lê Quý Ly (黎季犛) giết vua cướp ngôi, Thành Tổ sai Trương Phụ (張輔) chinh phạt, chiếm được quận huyện, đặt tỉnh lập quan, đất ấy đã vào bản đồ nước ta, không còn là đất Giao nữa, đó là cơ hội biến Di thành Hạ. Nếu khi ấy cho Trương Phụ trấn giữ lâu dài như họ Mộc trấn Vân Nam, thì người Giao mãi hưởng hóa thánh, cùng với đất Điền thành nơi văn giáo. Nhưng lại triệu Phụ về triều, khiến ba lần phản loạn tái phát, chẳng phải là một lần sai lầm sao?
Thời Tuyên Đức, do nội quan Mã Kỳ (馬麒) tham tàn, khiến Lê Lợi (黎利) nổi loạn. Khi ấy Trương Phụ còn tại chức, nếu cho ông thêm binh, có thể một trận dẹp yên. Nhưng không nghe lời, để tướng yếu Vương Thông (王通) tự ý hòa với giặc, bỏ đất ngừng binh. Triều đình viện cớ Hán bỏ Châu Nhai, mà không nghĩ rằng núi sông, thuế má Giao Chỉ đã lâu thuộc về ta, khác xa Châu Nhai. Huống chi kẻ phản chỉ vì một lợi, dân vốn theo ta, sao nỡ để rơi vào tay giặc, chẳng khác gì nhà Đường mất Hà Bắc lần nữa, lại là một lần sai lầm!
Đến khi Đăng Dung tiếm nghịch, Lê Sanh (黎檉) chạy sang Chiêm Thành, bề tôi là Trịnh Duyệt (鄭悅) đón về Thanh Hoa, đó là kẻ thù lớn của Đăng Dung. Cựu thần họ Lê là Vũ Văn Uyên (武文淵) ở đất Quảng Nam gần bãi sen, giữ quân mạnh, chiếm thượng lưu, từng đại phá 5 vạn quân Phúc Hải, cũng là địch thủ mạnh của Đăng Dung. Nếu thiên tử sai Vân Nam xuất binh, lấy Văn Uyên làm tiên phong, xuôi dòng đến Long Biên, lại sai Trịnh Duyệt đánh sau lưng, điều thêm quân Lào đánh bên sườn, hứa sau khi bình định sẽ chia đất theo công, lập Lê Sanh làm Đô thống, giữ cố đô, như Văn Uyên sau khi thắng sẽ phong làm Tuyên phủ sứ Thanh Hóa, phần còn lại chia cho Lào v.v., người thắng lớn nhỏ đều được chia đều, cài răng cưa chế ngự lẫn nhau, triều đình không giữ riêng gì. Đô thống và Tuyên úy tri phủ không thống thuộc nhau, được tự chọn, ba năm một lần triều cống, đều cho phép trực tiếp dâng lên, thì người người sẽ tranh nhau lập công. Lễ vật không dâng, pháp không tha, loạn thần tặc tử ở đâu cũng có thể giết, huống chi là thiên triều, há sợ cánh bọ ngựa giơ lên? Quân chính nghĩa thì mạnh, được nhiều người giúp thì thịnh. Đăng Dung há đáng để phí rìu sao?
Cớ sao lại vì tình riêng mà không dứt, thả kẻ cùng đường, tha cá trong nồi? Lê Sanh đã có người kế mà lại đoạn tuyệt, Đăng Dung không vua mà tự lập. Biểu văn nhận giả, binh lương hao thật, chẳng phải ba lần sai lầm sao?
Từ đó Mạc Hoằng Dực (宏瀷) lên ngôi, Mạc Văn Minh (文明) chạy trốn, hai họ Phạm ép tông thất tranh ngôi, xúi giục man biển, quấy rối Khâm Châu, lại khiến Trung Quốc phải vì ngoại Di mà động binh. Há chẳng thà như trước, một lần vất vả mà yên lâu dài sao?
Ta cho rằng việc Lê Quý Ly và Lê Lợi là chuyện triều trước, không thể trách nay. Việc chiêu hàng Đăng Dung, Bạch Thạch công đích thân đảm nhiệm, cũng từng nói có thể diệt cá kình. Nhưng việc chủ trương là ở triều đình, không phải công có thể tự quyết. Đọc một bản công vụ của công, thấy đều là chuẩn bị chu đáo, nếu cẩn trọng về sau, ắt có thể tiến quân thắng lớn. Vậy thì tầm nhìn của công đã sớm hợp với lòng ta. Có thể lấy Cửu Kinh (九京) làm chứng, cùng công khẳng khái một lời vậy.”
Theo ghi chép trong sách sử cũ, vùng đất này nằm ở phía nam Ngũ Lĩnh, địa thế xa xôi hiểm trở, người Di Lạo sống lẫn lộn, không biết lễ nghĩa, tính tình hung hãn.
Họ lấy giàu làm mạnh, tranh đoạt lẫn nhau, kẻ nghèo yếu thì bị sai khiến, bắt làm nô lệ không kiêng dè.
Họ búi tóc, cắt tóc, xăm mình, đi chân trần, miệng đỏ răng đen, thích ăn trầu.
Một năm trồng hai vụ lúa, tám lứa tằm, dâu gai phủ khắp đồng, không biết trồng lúa mì, nhiều lợi từ nghề nuôi cá trong ao.
Trời nóng, họ thích tắm sông, giỏi chèo thuyền, thông thạo sông nước.
Thường ngày không đội mũ, đứng thì khoanh tay, ngồi thì xếp bằng. Khi yết kiến người quý thì quỳ gối ba lạy, đãi khách bằng trầu, thích vị chua mặn và hải sản.
Dân Giao Chỉ, Ái Châu tính tình phóng khoáng, giỏi mưu lược; dân Hoan Châu, Diễn Châu thì thuần hậu, hiếu học.
Thời Hán Quang Vũ trung hưng, sai Mã Viện chinh phạt Trưng nữ vương Giao Chỉ (徵交趾女主), lập cột đồng, về sau Nam Hán đặt làm Giao Châu. Khi ấy có Thứ sử tên là Sĩ Biến (仕變 Sĩ Nhiếp) mở trường dạy học, truyền dạy kinh truyện Trung Hoa, phiên âm giảng nghĩa, dạy người bản xứ, từ đó mới biết học hành. Tuy nhiên, tiếng Trung Hoa dùng âm họng, còn tiếng bản xứ dùng âm lưỡi. Chữ viết giống Trung Hoa nhưng âm đọc khác.
Thời Đường đặt làm An Nam Đô hộ, có các châu Ái, Hoan, nội thuộc Trung Quốc, văn học ngày càng phát triển.
Đến thời Tống thống nhất thiên hạ, lại muốn đặt vùng này làm quận huyện. Xét phong tục man di, địa thế hiểm trở, dễ công khó thủ, nên phong họ Lý làm An Nam quận vương. Bắt đầu dời đô về các phủ Quốc Oai, Ứng Thiên, Thường Tín, giữa các huyện Từ Liêm, Thanh Oai, Thanh Đàm, gần sông Lô, gọi là thành Long Biên. Văn học, lễ nghi bắt đầu có sáng chế.
Họ Trần lấy con gái họ Lý, truyền ngôi trong tông tộc, triều Nguyên phong làm An Nam quốc vương. Các đạo lý tam cương ngũ thường, tu thân tề gia trị quốc, lễ nhạc văn chương đều dần đầy đủ. Đặt ra chế độ khoa cử, định lập văn võ quan lại. Từ khi mở trường học, đều dùng chữ Hán Trung Hoa, không học chữ Di.
Các vua họ Lê phụng hành chính sóc thiên triều, hàng năm sai sứ sang, thường có người văn học theo học nghệ, mua kinh truyện, chép lại lễ nghi, quan chế, văn võ chức vụ, hình luật, đem về nước mô phỏng. Nhờ đó phong tục, văn chương, chữ viết, y phục, chế độ, khoa cử, trường học, triều nghi, lễ nhạc, giáo hóa đều đáng xem.
Về khoa cử: có Hương thí, Hội thí:
- Hương thí tổ chức vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, mùa thu. Đỗ ba trường là sinh đồ, bốn trường là cống sinh.
- Hội thí tổ chức vào các năm Nhâm, Tuất, Sửu, Mùi, mùa xuân. Đỗ bốn trường là đồng tiến sĩ xuất thân, năm trường là tiến sĩ cập đệ. Có ba người đứng đầu gọi là tam khôi.
- Trường 1: văn cửu kinh
- Trường 2: chiếu, chế, biểu
- Trường 3: thơ, phú
- Trường 4: đối sách
- Trường 5: vào điện thi trước vua, lại dùng đối sách
Về trường học:
- Kinh đô có Quốc tử giám, đặt các chức Tế tửu, Tư nghiệp, Ngũ kinh bác sĩ, Giáo thụ để dạy cống sĩ.
- Có Xung văn quán, Tú lâm cục, đặt Hàn lâm viện kiêm nhiệm để dạy con cháu quan lại.
- Các phủ có trường học, Văn miếu, đặt chức Huấn đạo để dạy sinh đồ.
Về văn quan:
- Sáu bộ: Thượng thư, Tả hữu Thị lang
- Sáu khoa: Đô cấp sự trung, Cấp sự trung
- Sáu tự: Tự khanh, Thiếu khanh, Tự thừa
- Thông chính ty: Thông chính sứ, Phó sứ
- Ngự sử đài: Đô ngự sử, Phó đô ngự sử, Thiêm đô ngự sử, Đề hình, Mười ba đạo giám sát
- Đông các: Đại học sĩ, Học sĩ
- Hàn lâm viện: Chưởng viện, Thừa chỉ, Thị giảng, Thị độc, Biên tu, Giáo thư, Kiểm thảo
- Trung thư giám: Trung thư xá nhân, Chính tự, Hoa văn
- Các ty thuộc lục bộ: Lang trung, Viên ngoại lang
- Ngoại ty: Thừa chính sứ, Tham chính, Tham nghị
- Hiến sát ty: Hiến sát sứ, Phó sứ
- Thủ lĩnh: Kinh lịch, Lục sự, Tri bộ, Thôi quan, Chủ sự
- Mục dân: Tri phủ, Đồng tri phủ, Tri huyện, Huyện thừa, Tri châu, Đồng tri châu
- Trực lệ phủ huyện: Phủ doãn, Thiếu doãn, Trị trung, Huyện úy, Thông phán
Về võ quan:
- Năm phủ không dám gọi như thiên triều là Đông Tây Nam Bắc Trung, đặt các chức: Chưởng phủ Đô đốc, Tả Đô đốc, Hữu Đô đốc, Đồng tri, Thiêm sự
- Kim Quang điện, Cẩm y, Kim ngô nhị vệ: Chưởng vệ Đô chỉ huy sứ, Đồng tri, Thiêm sự
- Thần vũ hiệu lập điện tiền tam ty: Đề đốc, Tham đốc, Đô kiểm điểm, Tả hữu kiểm điểm
- Phiên trấn các vệ: Tổng binh, Sử tổng binh, Đồng tri, Thiêm sự
- Nội vệ ty: Chỉ huy sứ, Đồng tri, Thiêm sự
- Ngoại vệ: Tổng binh, Tri tổng tri, Thiêm tổng tri
- Nội sở: Thiên hộ, Bách hộ, Thống chế
- Ngoại sở: Quản lĩnh Võ úy
- Biên sở: Kinh lược sứ, Kinh lược đồng tri, Thiêm sự
- Có năm tước: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam
Về nội thần và tạp lưu quan: các chức vụ rất nhiều, không cần ghi hết.
Các sách Nho học được ghi nhận gồm:
- Sử học: Thiếu Vi sử, Tư trị thông giám, Đông Lai sử, Hán thư, Đường thư, Tam quốc chí, Nhị sử cương mục
- Kinh học: Ngũ kinh, Tứ thư, Hồ thị truyền, Tả truyện, Tính lý, Thị tộc, Nguồn lưu, Cổ văn tứ trường, Tứ đạo
- Văn học: Hàn Lưu tập, Văn tuyển, Văn túy, Văn hiến, Thi học đại thành, Cổ suy, Minh tâm bảo giám, Tiễn đăng tân dư thoại
- Từ điển & ngữ âm: Vận phủ, Ngọc thiên, Tăng vận, Quảng vận, Hồng Vũ chính vận
- Quân sự: Vũ kinh, Hoàng Thạch công, Tố thư, Vũ hầu tướng uyển bách truyện, Thái công gia giáo
- Chính trị & triết học: Trinh Quán chính yếu, Bích dụng thanh tiền, Trung chu vạn tuyển
- Tôn giáo: Thiền lâm, Đạo lục, Kim cương, Ngọc khu, các kinh Phật và truyện tạp
- Thiên văn, địa lý, lịch pháp, tướng số, toán thuật, y học gia truyền: đều có sách riêng
Về chữ viết, ban đầu chỉ có Vận phủ, Ngọc thiên, Hồng Vũ chính vận làm chuẩn, sau mới có Tăng vận, Quảng vận. Tuy nhiên do nước gặp loạn, chưa kịp chỉnh lý rõ ràng, nên kiểu chữ mới dùng nhiều, cũng có lẫn lộn với kiểu cũ.
Về pháp luật, lễ nhạc, triều nghi, so với các nước Di khác thì có thể phân định rõ ràng. Tuy có phần tiếp cận sách vở của thượng quốc, nhưng vẫn chưa thể sánh với nền giáo hóa Trung Hoa.
Chế độ binh lính của quốc gia này như sau:
Trong và ngoài các vệ, ty đều có tổ chức quân đội. Mỗi vệ, ty gồm 6 sở: Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu và Sở súng nỏ (銃弩).
- Mỗi sở có 15 đội, mỗi đội gồm 25 người.
- Cứ 6 năm lại tuyển một lần, chọn trai tráng (gọi là hoàng đinh) sung quân.
- Người khỏe mạnh sung vào quân ngũ.
- Người già yếu thì trả về làm dân.
Trong số đó:
- Người khỏe nhất được chọn làm quân dũng cảm của các vệ sở, dùng làm quân chiến đấu khi quốc gia hữu sự.
- Người khá hơn thì làm quân cờ hiệu, chuyên hộ tống vận lương.
Quân nhân trong danh sách được phép về quê cày ruộng, đào giếng, làm nghề gia đình.
- Khi có lệnh triệu tập thì về vệ sở điểm danh.
- Quân dũng cảm thì ở lại vệ sở canh giữ.
- Quân cờ hiệu thì nộp tiền để được về, khi có việc thì điều động trở lại.
- Một vệ là một doanh, một sở là một kỳ, đó là chế độ binh lính cũ.
Khi quốc gia gặp loạn, quân lính phân tán khắp các làng xã, việc điều động chậm trễ, khó ứng biến, nên tạm thời đặt ra chế độ quân làng cha con:
- Mỗi nơi đặt một quan thuộc ty Thừa chính để quản lý.
- Mỗi phủ đặt một Phó đô tướng, mỗi huyện, châu đặt một Phó tướng, có đủ các cấp chỉ huy.
- Huyện lớn chọn 1.000 quân tinh nhuệ; huyện trung bình 800; huyện nhỏ 600 hoặc 500.
- Trong đó: 1 người làm chiến binh, 2 người vận lương, còn lại lo lương thảo.
- Khi có chiến sự thì điều động toàn bộ, khi yên thì cho về.
- Nếu giặc đến biên giới thì tự bảo vệ lẫn nhau.
- Huyện, châu nào ở vị trí trọng yếu thì tăng quân trấn giữ.
Quân giữ kinh đô cũng có chế độ cũ và mới:
- Quân thường trực các vệ và võ sĩ dũng cảm đều được cấp lương gạo, chuyên lo việc canh gác cung đình.
Về sau, khi đất nước chia Nam Bắc, hai bên đều theo chế độ này.
Quân đội nước này chủ yếu dựa vào sự nhanh nhẹn, ưa chiến đấu:
- Nếu thắng thì thừa thế truy kích.
- Nếu thua thì rút về giữ nơi hiểm yếu.
- Không có kế hoạch đóng quân cố định để giữ thành.
- Phật Tích Sơn (佛跡山) ở phủ Giao Châu: Trên núi có dấu chân tiên, dưới có một hồ nước, phong cảnh thanh tú, là thắng cảnh nổi tiếng một vùng.
- Câu Lậu Sơn (勾漏山) ở huyện Thạch Thất.
- Đông Nhung Sơn (東冗山) ở phủ Bắc Giang: Thời Đường, Thứ sử Cao Biền (高駢) xây tháp trên núi này.
- Tiên Du Sơn (仙遊山) ở phủ Bắc Giang, còn gọi là Loạn Kha Sơn (爛柯山): Tương truyền có tiều phu thấy hai tiên đánh cờ tại đây, không ngờ cán rìu đã mục nát.
- Kim Ngưu Sơn (金牛山) ở huyện Vũ Ninh: Cao Biền từng định đào núi, thấy trâu vàng chạy ra nên dừng lại. Trâu vàng thường hiện vào ban đêm, ánh sáng rực rỡ mười dặm.
- An Tử Sơn (安子山) ở phủ Tân An: Nơi Hán An Kỳ sinh (漢安期生) đắc đạo. Sách *Hải Nhạc Danh Sơn Đồ* thời Tống xếp đây là phúc địa thứ tư.
- Vân Đồn Sơn (雲屯山) ở giữa biển lớn phủ Tân An: Hai núi đối nhau, giữa có dòng nước thông, nơi tụ họp của nhiều thuyền buôn phiên quốc.
- Đại Viên Sơn (大圓山) ở phủ Tân An: Năm Vĩnh Lạc thứ 16 (1418), bắt được hai voi trắng tại đây đem tiến cống.
- Hí Mã Sơn (戲馬山) ở phủ Thanh Hóa: Núi cao sừng sững, nằm ngang sông Trường Giang, là nơi dân địa phương lên cao vào tiết Trùng Cửu.
- An Hoạch Sơn (安鑊山) ở phủ Thanh Hóa: Nổi tiếng với đá đẹp. Thái thú Dự Chương thời Hán là Phạm Ninh từng sai người đến đây lấy đá làm khánh.
- Thiên Cầm Sơn (天琴山) ở phủ Nghệ An: Vua họ Trần từng du ngoạn nơi này, đêm nghe tiếng gió như tiếng đàn trời nên đặt tên. Đầu thời Vĩnh Lạc, quân triều đình bắt được con của giặc Lê là Lê Tàng tại đây.
- Ngải Sơn (艾山) ở châu Gia Hưng: Trên núi có ngải tiên, mỗi xuân nở hoa, sau mưa trôi xuống nước, cá ăn vào thì vượt Long Môn hóa rồng.
- Biển (海環): Nằm ở phía đông nam các phủ Giao Châu v.v.
Bài thơ Độ Hải (渡海詩) của Thẩm Thuyên Kỳ (沈佺期) thời Đường mô tả vùng Giao Chỉ như một miền đất xa xôi, khí hậu khác biệt, thiên văn lệch hướng, phong tục dị biệt, nhưng cũng đầy kỳ thú và linh dị. Dưới đây là phần tóm lược các địa danh, sản vật và truyền thuyết được ghi chép:
- 嘗聞交趾郡,南與貫胸連。四氣分寒少,三光置日偏。越人遙捧翟,漢將下看鳶。北斗崇山掛,南風漲海牽。別離頻破月,容鬢聚催年。虛道崩城淚,明心不應天。
- Thường văn Giao Chỉ quận, nam dữ quán hung liên. Tứ khí phân hàn thiểu, tam quang trí nhật thiên. Việt nhân dao phủng địch, hán tướng hạ khán diên. Bắc đẩu sùng sơn quải, nam phong trướng hải khiên. Biệt ly tần phá nguyệt, dung mấn tụ thôi niên. Hư đạo băng thành lệ, minh tâm bất ưng thiên.
Tạm dịch:
Từng nghe quận Giao Chỉ (交趾), phía nam liền với đất Hung (貫胸).
Bốn mùa chia khí lạnh ít, ba ánh sáng đặt mặt trời nghiêng lệch.
Người Việt xa xăm nâng lễ vật lông trĩ (翟), tướng Hán cúi nhìn chim diều.
Bắc Đẩu treo trên núi cao, gió nam dâng sóng biển kéo trôi.
Biệt ly thường làm trăng vỡ, nhan sắc tụ rồi giục năm tháng trôi nhanh.
Nói hão nước mất mà lệ rơi, lòng sáng chẳng hợp ý trời.
Sông núi và truyền thuyết
- Phú Lương Giang (富良江): Tên cổ của sông Hồng.
- Long Môn Giang (龍門江) ở châu Gia Hưng: Nước chảy xiết, tiếng vang trăm dặm. Thuyền qua phải kéo lên bờ mới đi tiếp được. Có hang bên cạnh, nhiều cá "anh vũ" (鸚鵡魚) màu xanh lục, miệng đỏ như mỏ vẹt, tương truyền có thể hóa rồng.
- Long Khê (龍溪) ở hai phủ Trấn: Xưa họ Trần đi qua ban đêm không được, bỗng thấy cầu hiện ra, qua xong thì biến mất. Sau khi lập quốc, đổi tên là Long Khê.
Sản vật quý hiếm
- Vàng, trân châu: Xuất hiện ở vùng biển đất Vân, An, Tĩnh.
- Thương nhân nói: năm nào trung thu có trăng sáng thì năm đó nhiều ngọc trai.
- San hô: Có hai loại đen và đỏ. Dưới biển thì mềm, gặp nắng thì cứng. Hán Sở Triệu Đà từng dâng san hô đỏ, gọi là hỏa thụ.
- Đồi mồi: Giống rùa, mai dài, có sáu chân, hai chân sau không có móng.
- Chu sa (đan sa): Xưa Cát Hồng 葛洪 muốn luyện đan, từng xin làm lệnh Câu Lậu để tìm chu sa.
- Trầm hương: Gỗ thơm, lâu năm mục nát, chỉ còn lõi, thả nước thì chìm.
- An tức hương 安息香: Cây như cây khổ luyện 苦練, to và thẳng, lá giống dương đào 羊桃, giữa có nhựa thơm.
- Tô hợp dầu: Cây sinh ra dầu, dùng làm thuốc.
- Hồ tiêu: Dây leo như củ mài, xuân ra hoa, thu kết quả.
- Sừng linh dương 羚羊角: Xuất hiện ở núi đá cao, một sừng, rỗng ruột, rất cứng, có thể phá vỡ kim cương.
- Tê giác, voi, tê ngưu 犀象兕: Mãnh thú. Thời Nguyên, An Nam thường cống tê ngưu, hươu trắng.
- Hươu trắng 白鹿: Thời Tấn Nguyên Khang, thấy ở huyện Vũ Ninh; thời Tống Nguyên Gia, Giao Chỉ dâng hươu trắng.
Linh thú và truyền thuyết
- Tinh tinh (猩猩)
- Tinh tinh: Mặt người, giống vượn. Nếu người đặt rượu bên đường, kết cỏ làm guốc, tinh tinh thấy sẽ gọi tên tổ tiên người đặt, nói: “Ngươi muốn bắt ta!”, rồi bỏ đi.
- Nếu thử cho uống rượu, khi say sẽ mang guốc vào, bị bắt.
- Phí phí (狒狒 Khỉ đầu chó)
- Tống Kiến Vũ từng được Nam Man dâng một cặp phí phí (狒狒).
- Vua hỏi: “Nghe nói phí phí có thể vác ngàn cân, sao bắt được?”
- Đáp: “Phí phì thấy người thì cười, môi dưới che trán, nên có thể đóng đinh bắt được.”
- Lông dùng làm tua đỏ, máu nhuộm áo.
- Giống khỉ, mặt người đỏ, biết nói tiếng người và tiếng chim, biết sinh tử.
- Uống máu nó thì thấy được ma.
- Vua sai họa sĩ vẽ lại hình.
Động vật quý hiếm
- Mông quý (蒙貴): Hình như con nhím nhỏ, màu tím đen, nuôi để bắt chuột, hiệu quả hơn mèo.
- Bạch trĩ (白雉): Thời Chu Thành Vương, nước Việt Thường từng dâng loài này.
- Lông chim phỉ thúy (翡翠羽): Thời Hán Quang Vũ, quận Nhật Nam và Cửu Chân tiến cống. Dùng làm đồ trang sức.
- Con trăn (蚺蛇): To và dài, mật cực mát, trị bệnh mắt và các loại lở loét.
Ẩm thực đặc biệt
- Trứng kiến muối mắm (蟻子鹽醢): Các tù trưởng khe động ở Giao Châu thu trứng kiến làm mắm, chỉ dành cho quan lại và thân tộc.
- Chu Lễ – Hải nhân 醢人 cũng từng ghi: “Đậu có trứng kiến”, chính là loại này.
Trái cây quý
- Quả am la (庵羅果): Tục gọi là hương cái, loại quả hảo hạng, có thể có nguồn gốc Tây Vực. Giống lê phương Bắc, chín vào tháng 4–5, ăn nhiều không hại.
- Quả bồ la mật (波羅蜜, tức mít): To như quả bí đao, vỏ có gai mềm, chín vào tháng 5–6, mùi thơm, vị ngọt. Hạt nấu ăn được, rất no. Loại trồng ở châu Gia Lâm, phủ Phụng Hóa là ngon nhất.
Gỗ quý
- Gỗ mun (烏木): Gỗ đen, cứng, quý.
- Tô mộc (蘇木), còn gọi là đa bang (多邦): Gỗ đỏ, dùng nhuộm và làm thuốc.
Sinh vật kỳ lạ
- Cá đội mũ (戴帽魚): Đầu nhọn, không vảy, có xương như lưỡi kéo cắm vào. Vị giống cá nóc, nhưng không rõ độc tính.
- Sâu quế (桂蠹): Hình như chuột con mới sinh, sinh ra từ cây quế, chuyên ăn trộm mật ong. Người ta bỏ vào miệng thì hóa thành mật, ngọt thơm kỳ lạ. Tương truyền Triệu Đà từng dâng hai vật này cho Hán Văn Đế, nhưng không được ghi vào sách sử.
Di tích cổ
- Cung Lạc Vương (雒王宮) ở phủ Giao Châu:
Có Lạc điền, theo thủy triều lên xuống. Người canh tác gọi là Lạc dân, người cai quản là Lạc vương, phó là Lạc tướng. Đều dùng ấn đồng, dây xanh, xưng là nước Văn Lang 文朗國. Phong tục thuần hậu, dùng thắt nút dây làm luật, truyền được 18 đời. Bị con vua Thục 蜀王 là Phù 浮[39] diệt, cung điện vẫn còn dấu tích.
- Thiên sứ quán (天使館): Nơi tiếp sứ thần. Có bài thơ của sứ Nguyên cùng đi với quan khai thác mỏ An Nam:
- 使旌入館青雲動,仙蓋臨江白日回。諭蜀豈勞司馬檄,朝周終見越裳來
- Sứ tinh nhập quán thanh vân động, tiên cái lâm giang bạch nhật hồi. Dụ Thục khởi lao Tư Mã hịch, triều Chu chung kiến Việt Thường lai
Tạm dịch:
“Cờ sứ vào quán mây xanh động,
Ô tiên soi nước ánh dương soi.
Dụ Thục đâu cần Tư Mã hịch,
Triều Chu rốt cuộc Việt Thường sang.”
Địa danh liên quan
- Lãng Bạc (浪泊): Ở huyện Đông Quan, phủ Giao Châu, còn gọi là Tây Hồ.
- Cột đồng (銅柱): Đã được ghi chép trước.
- Trống đồng (銅鼓): Biểu tượng văn hóa cổ, không ghi rõ vị trí nhưng thường gắn với vùng Giao Chỉ.
Người Liêu, Lạo 獠 Người Liêu bay đầu (有頭飛獠子), người Liêu mặc váy đỏ (赤裩獠子), người Liêu uống rượu bằng mũi (鼻飲獠子), đều sống trong hang hốc, tổ chim, thích uống rượu, đánh trống đồng. Khi trống mới làm xong, đặt giữa sân, để triệu tập đồng loại, người đến đông nghịt. Phụ nữ giàu có dùng trâm vàng bạc gõ trống, rồi ở lại với chủ nhân. Có người nói trống đồng chính là chuông đồng Gia Cát Lượng (諸葛亮) dùng khi chinh phạt người Man.
Các danh thần:
- Mã Viện (馬援) thời Hán Quang Vũ (漢光武)
- Giả Tông (賈琮): Là Thứ sử Giao Chỉ (交趾刺史), chiêu phủ dân lưu tán, miễn giảm lao dịch.
- Dân ca rằng: “Cha Giả đến muộn, khiến ta phản trước, nay thấy thanh bình, quan lại không dám làm loạn.” (Giả phụ lai vãn, sử ngã tiên phản, kim kiến thanh bình, lại bất cảm bạn 賈父來晚,使我先反,今見清平,吏不敢叛。)
- Trị nhậm 3 năm, đứng đầu 13 châu.
- Đào Khản (陶侃) thời Tấn (晉)
- Đỗ Chính Luân (杜正倫) thời Đường (唐)
- Cao Biền (高駢) thời Đường (唐)
Các nhân vật:
- Nguyễn Ông Trọng (阮翁仲)[41]: Thân cao 2 trượng 3 thước, khí chất đoan chính, dũng cảm. Thuở nhỏ làm lại viên huyện, bị Đốc bưu đánh roi, than rằng: “Làm người sao lại để như thế này mãi được!” Bèn đi học, nghiên cứu sách sử. Khi Tần Thủy Hoàng (始皇) thống nhất thiên hạ, sai Ông Trọng đem quân giữ Lâm Thao (臨洮), thanh thế vang dội Hung Nô. Nhà Tần cho là điềm lành. Khi Ông Trọng mất, đúc tượng đồng đặt ngoài cửa Sĩ Mã ở Hàm Dương (咸陽官司馬門外). Đến nay Hung Nô thấy tượng vẫn tưởng là người thật.
- Khương Công Phụ (姜公輔) thời Tống (宋)
Triều đình (nhà Minh) quy định ba năm (An Nam) một lần tiến cống, các lần mừng khánh tiết, tạ ơn v.v. thì không có kỳ hạn cố định. Ngoài lễ vật tiến cống thường kỳ, nhất định phải dâng thêm vật phẩm đặc biệt cho Trung cung.
Ranh giới quốc gia này như sau:
- Phía Đông: Giáp Đông Hải, cách 320 dặm
- Phía Tây: Giáp Vân Nam và Lào (老撾) thuộc Tuyên úy ty, cách 567 dặm; đến biên giới Chiêm Thành (占城) là 1.900 dặm
- Phía Bắc: Giáp huyện Bằng Tường (憑祥縣), phủ Tư Minh (思明府), Quảng Tây, cách 400 dặm
- Từ đây đến Nam Kinh: 7.700 dặm
- Đến Bắc Kinh: Hơn 11.000 dặm
Người đi lại đều phải qua Trấn Nam Quan (鎮南關) thuộc châu Bằng Tường (憑祥州). Từ khi Lê Oanh (黎瀅) bị hại, xe sứ không đến đất này suốt 20 năm. Sau khi Mạc Đăng Dung (莫登庸) đầu hàng, quốc hiệu bị bãi bỏ, không còn sai sứ mang sắc phong như trước nữa.
Theo sách Cô Thụ Bao Đàm (《孤樹褒談》) chép:
Vào thời Vĩnh Lạc, Lê Quý Ly (黎季犛) nước An Nam đầu hàng, ba người con đều theo vào triều.
- Con trưởng tên Trừng (澄 Hồ Nguyên Trừng), được ban họ Trần (陳)[42], làm quan đến Hộ bộ Thượng thư. Trừng giỏi chế tạo súng, sáng tạo ra thần thương 神槍 cho triều đình. Sau bị giáng chức, con ông được cho thế tập chức Chỉ huy Cẩm y vệ. Trừng nguyện theo đường văn, nên được phép cho một người trong dòng họ làm sinh viên Quốc tử giám. Nay mỗi khi tế binh khí đều tế cả Trừng.
- Con giữa tên không rõ, được ban họ Đặng (鄧), cũng làm quan Thượng thư, sau bị giáng làm lại viên ở huyện Giang Âm. Có ba con trai, một người được cho thế tập chức Chỉ huy Cẩm y vệ, lại được ban ruộng ở Giang Âm rất nhiều, miễn thuế vĩnh viễn, đến nay vẫn giữ nghiệp nhà.
- Con thứ ba tên không rõ, làm quan Chỉ huy. Sau lâu ngày xin về tế mộ, rồi tự lập làm vua. Lê Quý Ly chết, được chôn ở kinh sư, con ông sau cải táng bên núi Chung Sơn 鍾山.
Người chép sách (Nghiêm Tòng Giản) cho rằng: Lê Quý Ly là nghịch thần, sử chép bị giết, không phải chết tự nhiên. Con út tự lập làm vua, thì An Nam còn chỗ nào dung chứa? Cũng chưa từng nghe có vị vua ấy. Lời chép này phần nhiều là hư cấu, tạm ghi lại chờ khảo chứng.
Theo Tống sử (《宋史》) chép, vào năm Thuần Hóa thứ 2 (991), sứ giả Tống là Tống Hạo (宋鎬) cùng đoàn sứ trở về, có ghi lại sự việc liên quan đến Lê Hoàn (黎桓):
Lê Hoàn bày tiệc rượu khoản đãi, lại đưa sứ đoàn ra vùng ven biển để du ngoạn làm trò vui. Ông đi chân trần, cầm cần xuống nước bắn cá, mỗi lần trúng một con thì tùy tùng đều reo hò nhảy nhót vui mừng.
Có lần, ông sai mấy chục người khiêng một con rắn lớn dài mấy trượng đến sứ quán, nói rằng: “Nếu các vị ăn được thứ này, ta sẽ chế biến làm món dâng lên.” Lại còn đưa đến hai con hổ để sứ thần xem chơi. Tất cả đều bị từ chối.
Khí hậu nơi đó ít lạnh, vào tháng mùa đông vẫn mặc áo đơn và phe phẩy quạt.
Chú thích
[sửa]
- ▲ Người dịch chia mục ra để tiện theo dõi.
- ▲ Lê Chiêu Tông, húy Lê Y 黎椅.
- ▲ Lê Cung Hoàng, húy Xuân và Khoáng.
- ▲ Lê Trừu 晭 tức Lê Tương Dực, húy Lê Oanh, bị Trịnh Duy Sản giết năm 1516. Nhà Minh không hay việc nội loạn ở An Nam lúc đó.
- ▲ Biên dịch:Minh sử/Quyển 321 ghi là Trần Cảo 陳暠 và 2 con là Bỉnh 昺 và Thăng 昇. Trần Biện 昪 hoặc Trần Thăng 昇 có lẽ là Trần Cung 陳㫒 do các chữ 昪昇㫒 dễ bị nhầm với nhau.
- ▲ Niên hiệu của vua Lê Chiêu Tông 黎昭宗, húy Lê Y (黎椅).
- ▲ Đúng ra là Lê Y, tức Lê Chiêu Tông.
- ▲ Lê Tương Dực.
- ▲ Đúng ra phải là Lê Sùng 黎漴, anh Lê Trừu và là cha của Lê Chiêu Tông. Lê Hạo là tên húy của vua Lê Thánh Tông. Lê Sùng là cháu nội Lê Thánh Tông.
- ▲ Lê Chiêu Tông, húy Lê Y 黎椅.
- ▲ Lê Cung Hoàng, húy Xuân và Khoáng. Lê Cung Hoàng là cháu Lê Trừu, em Lê Chiêu Tông. Từ đoạn này, sách bị lầm, đúng ra phải nói Lê Y chứ không phải Lê Trừu.
- ▲ Lê Chiêu Tông, húy Lê Y 黎椅.
- ▲ Đúng ra là Lê Khoáng 懬, có lẽ sách chép nhầm chữ 懬 ra 慮.
- ▲ Lê Cung Hoàng.
- ▲ Như vậy Lê Chiêu Tông có một người con trai là Lê Hưng.
- ▲ Vợ của Lê Chiêu Tông, mẹ Lê Hưng.
- ▲ Chu Tái Duệ 朱載壡
- ▲ Lê Chiêu Tông, húy Lê Y 黎椅.
- ▲ Lê Thánh Tông
- ▲ Lê Sùng, được con trai ông là Lê Chiêu Tông truy tôn là "Minh Tông Triết Hoàng Đế", nên còn được gọi là Lê Minh Tông.
- ▲ Quang Thiệu (光紹) mới đúng là niên hiệu của Lê Chiêu Tông. Chưa rõ có liên quan gì tới Lê Quang Trị, một vị vua khác cùng giai đoạn.
- ▲ Lê Cung Hoàng.
- ▲ Lê Trừu 晭 tức Lê Tương Dực.
- ▲ Lê Chiêu Tông, húy Lê Y 黎椅.
- ▲ Lê Cung Hoàng.
- ▲ Đại Việt sử ký toàn thư không nhắc tới việc Mạc Quyết bị anh giết.
- ▲ Người này rõ ràng là Lê Ninh, tức Lê Trang Tông. Chưa rõ vì sao lại có tên Mạc Sanh.
- ▲ Vương Mãng 王莽
- ▲ Theo Biên dịch:Minh sử/Quyển 321: Ban đầu, khi Lê Ninh chiếm giữ Thanh Hoa, ông vẫn tự xưng đế hiệu, đổi niên hiệu là Nguyên Hòa vào năm Gia Tĩnh thứ 9 (1530). Sau bốn năm, bị Mạc Đăng Dung tấn công, ông phải chạy sang vùng biên giới Chiêm Thành. Người trong nước lập em ông là Lê Hiến 憲 lên thay, đổi niên hiệu là Quang Chiếu 光照. Đến năm thứ 15 (1536), bề tôi dò biết nơi ở của Lê Ninh, liền đón ông về lại Thanh Hoa, sau đó chuyển đến sống ở sông Tất Mã.
- ▲ Trần Cảo.
- ▲ Mạc Tuyên Tông, húy Mạc Phúc Nguyên
- ▲ Người dịch chia mục ra để tiện theo dõi.
- ▲ Người dịch chia mục ra để tiện theo dõi.
- ▲ Lê Oánh là Lê Tương Dực. Thực tế Mạc Đăng Dung trúng tuyển võ sĩ thời Lê Uy Mục, vị vua trước Lê Tương Dực.
- ▲ Người dịch chia mục ra để tiện theo dõi.
- ▲ Người dịch chia mục ra để tiện theo dõi.
- ▲ Người dịch chia mục ra để tiện theo dõi.
- ▲ Độ An Hải nhập Long Biên 渡安海入龍編 • Vượt biển An Nam vào Long Biên. Xem chi tiết tại đây.
- ▲ Sử Việt Nam gọi là Thục Phán, An Dương Vương.
- ▲ Đề thiên sứ quán 題天使館 • Đề quán trọ cho sứ thần nhà Nguyên
- ▲ Sử Việt Nam ghi là Lý Ông Trọng
- ▲ Theo Minh thực lục là Lê Trừng.
- Nguồn bổ sung: https://ctext.org/wiki.pl?if=gb&chapter=473081
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.