Bước tới nội dung

Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản  (Hậu Tần
của Cưu-ma-la-thập, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bản (chữ Hán: 十誦比丘波羅提木叉戒本) là một văn bản luật tạng quan trọng của Phật giáo Bắc truyền, ghi lại danh mục các giới luật mà một vị Tỳ-kheo (tu sĩ nam) thuộc Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivada) phải tuân giữ.

Văn bản này đóng vai trò là "cẩm nang" kỷ luật, được tụng đọc định kỳ trong các buổi lễ Bố-tát (Uposatha) nhằm duy trì sự thanh tịnh và hòa hợp của tăng đoàn. Nội dung bộ giới bản thường được chia thành 8 chương (danh mục tội), bắt đầu từ các giới trọng nhất như Ba-la-di (trục xuất) đến các giới nhẹ hơn về oai nghi, phép tắc sinh hoạt hàng ngày. Bản dịch Hán văn phổ biến nhất của tác phẩm này do đại sư Cưu-ma-la-thập (Kumarajiva) thực hiện vào thời nhà Hậu Tần, giữ vị trí nền tảng trong việc nghiên cứu Luật học tại các quốc gia chịu ảnh hưởng của Hán ngữ như Trung Hoa và Việt Nam.

Tam tạng pháp sư Cưu Ma La Thập xứ Quy Từ nước Diêu Tần biên dịch.


Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bản

Bài tựa Ba-la-đề-mộc-xoa

[sửa]

Đại đức Tăng nghe cho. Mùa đông đã qua một tháng thiếu một đêm. Còn lại một đêm và ba tháng nữa. Sự già chết đã đến rất gần. Phật pháp sắp diệt tận. Chư Đại đức vì để đắc đạo, hãy nhất tâm cần cầu tinh tấn. Vì sao thế? Vì chư Phật nhờ nhất tâm cần cầu tinh tấn mà đắc quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, huống chi là các thiện đạo pháp khác. Những người chưa thụ cụ túc giới đã ra ngoài chưa? Tăng nay hòa hợp, trước tiên làm việc gì? (Một người đáp: Bố-tát thuyết giới). Chư Đại đức, những Tỳ-kheo không đến đã gửi dục và báo cáo thanh tịnh chưa?

Kệ ngôn:

Chắp tay mười ngón nghiêm trang,
Cúng dường Ngài Thích Sư Tử.
Con nay muốn tuyên thuyết giới,
Tăng chúng hãy nhất tâm nghe.
Cho đến đối với tội nhỏ,
Trong lòng nên đại bố úy.
Có tội nhất tâm sám hối,
Về sau chớ có tái phạm.
Tâm mã chạy rong đường ác,
Phóng dật khó bề ngăn giữ.
Phật dạy giới hạnh nghiêm ngặt,
Như hàm thiếc bén điều thân.
Lời Phật dạy bảo răn chừa,
Người thiện năng lòng tin nhận.
Người ấy tâm mã thuần thục,
Phá tan được quân phiền não.
Nếu không chịu nghe giáo lệnh,
Cũng chẳng yêu kính giới luật.
Người ấy tâm mã chẳng thuần,
Chìm đắm trong quân phiền não.
Nếu người giữ gìn giới luật,
Như bò đuôi dài tiếc đuôi.
Buộc tâm không cho phóng dật,
Như vượn mắc phải xích xiềng.
Ngày đêm thường hằng tinh tấn,
Vì cầu trí tuệ chân thật.
Người ấy trong hàng Phật pháp,
Sẽ được mạng sống thanh tịnh.

Diễn thơ lục bát:

Mười phương kính cẩn chắp tay,
Cúng dường Đức Phật cao dày uy nghiêm.
Giới kinh nay nguyện tuyên truyền,
Chư tăng lóng dạ giữ niềm nhất tâm.
Lỗi dù nhỏ tựa kim châm,
Cũng nên kinh sợ định tâm giữ mình.
Lỡ lầm sám hối chân tình,
Từ nay thề chẳng tái hình vết xưa.
Tâm như ngựa dữ khó đưa,
Dấn thân nẻo ác, lọc lừa buông lung.
Luật nghiêm Phật dạy khôn cùng,
Khác nào hàm thiếc kìm hung ngựa rồng.
Lời vàng ghi tạc bên lòng,
Thiện nhân tin nhận, thoát vòng trầm luân.
Ngựa lòng nay đã dẹp thuần,
Phá quân phiền não, xoay vần nghiệp duyên.
Nếu ai khinh lạt giới hiền,
Chẳng ưa giáo huấn, lụy phiền đeo đai.
Ngựa kia chưa dứt dông dài,
Trong quân phiền não biết ngày nào ra.
Giữ gìn giới luật sâu xa,
Như bò yêu đuôi, như hoa tiếc cành.
Buộc tâm thoát khỏi lợi danh,
Khác chi vượn nọ sắt hanh khóa rời.
Chí cao tinh tấn đời đời,
Tuệ đăng rạng rỡ soi nơi chân thường.
Pháp môn thấu tận ngọn nguồn,
Sống đời thanh tịnh, thoát đường tử sinh.

Đại đức Tăng nghe cho. Nay ngày rằm Bố-tát, thuyết Ba-la-đề-mộc-xoa. Nếu thời điểm của Tăng đã đến, Tăng chấp thuận nghe. Tăng nhất tâm làm lễ Bố-tát thuyết Ba-la-đề-mộc-xoa. Tác bạch như thế.

Chư Đại đức! Nay cùng nhau làm lễ Bố-tát thuyết Ba-la-đề-mộc-xoa. Tăng chúng hãy nhất tâm lắng nghe kỹ. Ai có tội thì phát lộ, người không có tội thì im lặng. Vì im lặng nên biết chư Đại đức thanh tịnh. Việc hỏi đáp từng Tỳ-kheo cũng như vậy, trong chúng Tỳ-kheo hỏi đến lần thứ ba cũng như vậy. Nếu có Tỳ-kheo nào trong khi chúng Tỳ-kheo hỏi đến lần thứ ba mà nhớ mình có tội nhưng không phát lộ, thì phạm tội cố ý vọng ngữ. Chư Đại đức! Tội cố ý vọng ngữ, Phật dạy là pháp ngăn trở đạo. Tỳ-kheo ở trong đó nếu muốn cầu thanh tịnh, nhớ mình có tội thì nên phát lộ. Phát lộ thì được an ổn, không phát lộ thì tội lỗi càng sâu.

Chư Đại đức, tôi đã thuyết xong bài tựa của Ba-la-đề-mộc-xoa. Nay hỏi chư Đại đức: Trong đây có thanh tịnh không? Lần thứ hai, lần thứ ba cũng hỏi như vậy: Trong đây có thanh tịnh không?

Chư Đại đức trong đây thanh tịnh, vì im lặng vậy. Việc này xin được giữ gìn như thế.

Bốn pháp Ba-la-di (Bốn tội trọng)

[sửa]

Chư Đại đức! Bốn pháp Ba-la-di này, mỗi nửa tháng đều tuyên thuyết trong bản giới Ba-la-đề-mộc-xoa.

  1. Nếu Tỳ-kheo nào đã cùng chư Tỳ-kheo thọ lãnh giới pháp, mà không xả giới, dù giới lực suy yếu cũng không tuyên bố ra khỏi, lại thực hiện hành vi dâm dục, cho đến cả với loài súc sinh; Tỳ-kheo ấy phạm tội Ba-la-di, không còn được cùng tăng đoàn chung sống làm việc.
  2. Nếu Tỳ-kheo nào ở nơi xóm làng hay tại chỗ trống vắng, lấy vật không được cho, gọi là trộm cắp. Vì lấy vật không được cho, nên nếu bị quốc vương hoặc những người có quyền hạn bắt bớ, giết chết, xiềng xích, xua đuổi, hoặc phạt tiền, và bị quở trách rằng: "Này kẻ kia! Ngươi là đứa trẻ con, ngươi ngu si, ngươi là kẻ trộm." Tỳ-kheo lấy vật không được cho với tính chất như thế, Tỳ-kheo ấy phạm tội Ba-la-di, không còn được cùng tăng đoàn chung sống làm việc.
  3. Nếu Tỳ-kheo nào đối với người hoặc giống như người, tự tay mình tước đoạt mạng sống, hoặc cầm dao đưa cho, hoặc dạy người cầm dao đưa cho, hoặc bảo người khác chết, hoặc khen ngợi sự chết, hay nói lời như thế này: "Này người kia! Sao lại sống khổ sở như thế này? Chết đi còn hơn sống." Rồi tùy theo tâm ý thích chết của người kia mà dùng đủ mọi nhân duyên để dạy cho chết, khen ngợi sự chết; nếu người ấy vì sự việc này mà chết, Tỳ-kheo ấy phạm tội Ba-la-di, không còn được cùng tăng đoàn chung sống làm việc.
  4. Nếu Tỳ-kheo nào bên trong rỗng không, không có gì cả, không biết không thấy mà tự xưng mình đắc pháp của bậc thượng nhân, chứng bậc thánh trí viên mãn; nếu thực sự không biết không thấy mà nói rằng: "Tôi biết như thế, tôi thấy như thế." Về sau, Tỳ-kheo ấy dù được hỏi hay không được hỏi, vì muốn thoát tội, muốn cầu thanh tịnh mà nói rằng: "Tôi thực sự không biết mà nói là biết, không thấy mà nói là thấy, chỉ là lời nói láo hư vọng." Trừ khi là người tăng thượng mạn, còn lại Tỳ-kheo ấy phạm tội Ba-la-di, không còn được cùng tăng đoàn chung sống làm việc.

Chư Đại đức! Đã thuyết xong bốn pháp Ba-la-di. Nếu Tỳ-kheo phạm vào bất kỳ một pháp nào, Tỳ-kheo ấy không được cùng ở chung, không được cùng làm việc; trước sau đều như thế. Tỳ-kheo ấy phạm tội Ba-la-di, không được cùng làm việc. Nay hỏi chư Đại đức: Trong đây có thanh tịnh không? Lần thứ hai, lần thứ ba cũng hỏi như vậy: Trong đây có thanh tịnh không?

Chư Đại đức trong đây thanh tịnh, vì im lặng vậy. Việc này xin được giữ gìn như thế.

Diễn thơ lục bát (Bốn tội trọng):

Giới răn bốn pháp trọng hình,
Nửa tháng một lượt tính tinh truyền thừa.
Đã vào pháp giới sớm trưa,
Chưa lời từ bỏ, chẳng thưa ra ngoài.
Dâm ô lạc lối bi hài,
Thân cùng cầm thú, hình hài uế vơ.
Ba-la-di tội chẳng ngờ,
Tăng đoàn từ ấy đôi bờ cách ngăn.

Lòng tham khởi sự bất bằng,
Vật không người tặng, chớ dằng lấy đi.
Dù nơi thôn xóm, rừng chi,
Trộm kia mắc tội, sầu bi pháp hình.
Vương quyền bắt bớ nhục vinh,
Kẻ gian mang tiếng, tội mình khó dung.
Trộm đồ đến mức cùng đường,
Chẳng còn tư cách chung đường tăng thân.

Sát nhân ác nghiệp xoay vần,
Tự tay kết liễu, hoặc dần bảo đi.
Đưa đao, khen chết ích gì,
Xui người liễu mạng, sầu bi chất chồng.
Dẫu là bào thái, nhi đồng,
Mạng người một dứt, sạch không đạo mầu.
Ba-la-di tội lên đầu,
Cửa thiền đóng lại, u sầu dặm khơi.

Chưa thông đạo quả ở đời,
Mà xưng chứng thánh, dối lời người tin.
Pháp cao bậc thượng giữ gìn,
Khoe khoang thần túc, mắt nhìn trống không.
Dối gian trục lợi cầu mong,
Dù sau tự hối, cũng không được cùng.
Trừ người kiêu mạn quá chừng,
Kẻ khoe chứng đắc, xin dừng tại đây.

Mười ba pháp Tăng-già-bà-thi-sa (Thập tam Tăng tàn, mười ba tội hữu dư)

[sửa]

Chư Đại đức! Mười ba pháp Tăng-già-bà-thi-sa này, mỗi nửa tháng đều tuyên thuyết trong bản giới Ba-la-đề-mộc-xoa.

1. Nếu Tỳ-kheo cố ý làm xuất tinh, trừ khi trong giấc chiêm bao, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

2. Nếu Tỳ-kheo lòng dâm loạn biến đổi, cùng người nữ tiếp xúc thân thể, hoặc nắm tay, hoặc nắm cánh tay, hoặc nắm tóc, hoặc chạm vào bất kỳ phần thân thể nào, hoặc xoa bóp phía trên phía dưới những chỗ trơn láng; phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

3. Nếu Tỳ-kheo lòng dâm loạn biến đổi, dùng những lời dâm dục, thô ác, bất thiện, gọi người nữ bằng những lời như nam nữ trẻ tuổi tán tỉnh nhau; phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

4. Nếu Tỳ-kheo lòng dâm loạn biến đổi, ở trước mặt người nữ tự khen ngợi sự cúng dường thân mình, nói với người nữ rằng: "Này cô, những Tỳ-kheo trì giới, đoạn dâm dục, tu hành thiện pháp như tôi đây, được cô cúng dường bằng dâm dục là việc cúng dường bậc nhất"; phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

5. Nếu Tỳ-kheo làm người môi giới, đem ý định của người nam đến với người nữ, đem ý định của người nữ đến với người nam, hoặc làm việc cưới hỏi, hoặc việc tư thông, cho đến chỉ trong một lần giao hội; phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

6. Nếu Tỳ-kheo không có chủ, tự vì mình muốn cất một căn phòng nhỏ, phải cất đúng hạn định. Hạn định của phòng đó: chiều dài bằng mười hai gang tay của Phật, chiều rộng bên trong bằng bảy gang tay. Tỳ-kheo đó nên đưa chư Tỳ-kheo đến xem chỗ cất phòng, nơi đó phải không có nạn, không có chướng ngại. Nếu Tỳ-kheo tự cất phòng ở nơi có nạn, có chướng ngại, lại không đưa chư Tỳ-kheo đến xem, hoặc cất quá hạn định; phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

7. Nếu Tỳ-kheo có chủ, vì mình muốn cất một căn phòng lớn, Tỳ-kheo đó nên đưa chư Tỳ-kheo đến xem chỗ cất phòng, nơi đó phải không có nạn, không có chướng ngại. Nếu ở nơi có nạn, có chướng ngại mà cất phòng lớn, lại không đưa chư Tỳ-kheo đến xem; phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

8. Nếu Tỳ-kheo vì lòng sân hận, không vui với một vị Tỳ-kheo thanh tịnh không tội, rồi đem pháp Ba-la-di không căn cứ để vu khống, ý muốn phá hoại hạnh thanh tịnh của vị kia. Sau đó, dù có thẩm tra hay không thẩm tra, biết rằng việc đó không căn cứ, vị Tỳ-kheo này vẫn giữ lòng sân hận mà nói rằng: "Vì tôi giận nên nói thế"; phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

9. Nếu Tỳ-kheo vì lòng sân hận, đem một việc nhỏ nhặt hoặc việc tương tự trong các pháp khác không phải Ba-la-di, để vu khống vị Tỳ-kheo khác phạm tội Ba-la-di, ý muốn phá hoại hạnh thanh tịnh của người kia. Sau đó, dù thẩm tra hay không, biết rằng mình đã lấy việc nhỏ nhặt khác để vu khống, nhưng vẫn giữ lòng sân hận mà nói rằng: "Vì tôi giận nên nói thế"; phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

10. Nếu Tỳ-kheo vì muốn phá hòa hợp Tăng nên ra sức dùng phương tiện, hoặc thọ lãnh các duyên phá hoại mà cùng tranh cãi. Chư Tỳ-kheo nên can gián vị ấy rằng: "Đại đức đừng vì phá hòa hợp Tăng mà dùng phương tiện, cũng đừng thọ lãnh duyên phá hoại mà tranh cãi. Đại đức nên cùng Tăng đồng sự, vì Tăng hòa hợp thì vui vẻ, không tranh cãi, nhất tâm nhất học như nước với sữa, được an lạc. Đại đức hãy từ bỏ việc phá Tăng này." Nếu vị ấy kiên trì không bỏ, chư Tỳ-kheo nên can gián đến lần thứ hai, thứ ba. Nếu đến lần thứ ba mà vẫn không bỏ; phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

11. Nếu vị Tỳ-kheo phá Tăng kia có những Tỳ-kheo khác là bè bạn thân thiết, cùng ý kiến, nói lời khác biệt (bênh vực), hoặc một, hai hay nhiều vị. Những vị này nói với chư Tỳ-kheo rằng: "Các Đại đức chớ can gián Tỳ-kheo ấy, vì vị ấy nói đúng pháp, nói đúng thiện, vị ấy thuyết pháp chứ không nói phi pháp, vị ấy biết mà nói chứ không phải không biết, những gì vị ấy nói là điều chúng tôi ưa thích." Chư Tỳ-kheo nên can gián các vị bè bạn kia rằng: "Đại đức chớ nói như vậy, vị kia nói phi pháp, phi thiện... Đại đức chớ giúp việc phá Tăng, hãy giúp việc hòa hợp Tăng." Nếu các vị ấy kiên trì không bỏ, chư Tỳ-kheo nên can gián đến lần thứ hai, thứ ba. Nếu đến lần thứ ba mà vẫn không bỏ; phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

12. Nếu các Tỳ-kheo nương tựa nơi thành thị hay xóm làng mà ở, lại làm các hành vi ác hạnh, làm ô uế nhà người, mọi người đều thấy nghe biết rõ. Chư Tỳ-kheo nên can gián rằng: "Các ông làm ác hạnh, ô uế nhà người, hãy đi khỏi nơi này, không nên ở đây nữa." Các Tỳ-kheo ấy lại nói: "Chư Tỳ-kheo thuận theo yêu, ghét, sợ, si; có Tỳ-kheo cùng tội như thế thì bị đuổi, có người không bị đuổi." Chư Tỳ-kheo nên can gián họ chớ nói lời vu khống như thế. Nếu họ kiên trì không bỏ, can gián đến lần thứ ba mà không bỏ; phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

13. Nếu có Tỳ-kheo tính tình hung ác, khó cùng nói năng, khi chư Tỳ-kheo y theo pháp, y theo điều thiện mà nhắc nhở về những sự trong giới bản, vị ấy lại tự làm cho mình trở thành người không thể nói chuyện được, nói rằng: "Các ông chớ nói tôi tốt hay xấu, tôi cũng không nói các ông tốt hay xấu, các ông không cần can gián tôi." Chư Tỳ-kheo nên can gián vị ấy rằng: "Đại đức chớ tự làm mình thành người không thể nói chuyện, hãy làm người có thể nói chuyện, hãy nói đúng pháp đúng thiện với chư Tăng, chư Tăng cũng sẽ nói đúng pháp đúng thiện với Đại đức. Vì đại chúng của Như Lai được tăng trưởng là nhờ cùng nhau nói, cùng can gián, cùng giúp nhau thoát tội." Nếu vị ấy kiên trì không bỏ, can gián đến lần thứ ba mà không bỏ; phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Chư Đại đức! Đã thuyết xong mười ba pháp Tăng-già-bà-thi-sa, chín tội đầu là phạm liền mắc tội, bốn tội sau là can gián đến lần thứ ba không bỏ mới mắc tội.

Nếu Tỳ-kheo phạm bất kỳ tội nào, biết mà cố ý che giấu trong bao lâu, thì phải cưỡng bách vị ấy thực hành phép Ba-lợi-bà-sa (ở riêng biệt) trong bấy nhiêu thời gian. Sau khi hành Ba-lợi-bà-sa xong, vị ấy phải ở trong Tăng đoàn sáu ngày sáu đêm thực hành phép Ma-na-đỏa (ý hỷ). Sau khi hành Ma-na-đỏa xong, tiếp đến cử hành lễ A-phù-ha-na (giải tội). Nếu làm đúng pháp, chư Tỳ-kheo vui lòng, phải có đủ hai mươi vị Tỳ-kheo mới được làm lễ xuất tội. Nếu thiếu một người cho đủ số hai mươi vị mà muốn xuất tội cho vị Tỳ-kheo ấy, thì tội không được sạch, và chư Tỳ-kheo cũng bị khiển trách. Đó là đúng pháp.

Nay hỏi chư Đại đức: Trong đây có thanh tịnh không? (Hỏi lần hai, lần ba). Chư Đại đức trong đây thanh tịnh, vì im lặng vậy. Việc này xin được giữ gìn như thế.

Diễn thơ lục bát (Mười ba tội hữu dư):

Tăng tàn mười một hai điều,
Nửa tháng một độ sớm chiều nhắc răn.
Ý xằng xuất uế băn khoăn,
Trừ khi mộng mị, lỗi lằn khó trôi.
Dâm tâm biến đổi mất rồi,
Chạm thân người nữ, đứng ngồi chẳng yên.
Nắm tay, vuốt tóc, đảo điên,
Xoa vần da thịt, nghiệp liên lụy mình.

Lời thô tán tỉnh hữu tình,
Gọi tên thiếu nữ, tính toan việc tà.
Khoe mình giữ giới cao xa,
Gợi người dâng hiến, thực là xót thương.
Làm người môi giới dẫn đường,
Chắp dây nam nữ, lạc đường chân tu.
Dẫu là một thoáng phù du,
Cũng thành trọng tội, mịt mù lối ra.

Tự mình cất nóc xây nhà,
Phải theo đúng lượng, chẳng thà chớ xây.
Đưa tăng đến khám nơi này,
Không nạn, không ngại, đủ đầy pháp nghiêm.
Nếu làm quá lượng, tư riêng,
Không cho tăng biết, lụy phiền bản thân.
Nhà lớn có chủ kề gần,
Cũng đưa tăng khám, nợ nần sạch trong.

Giận người thanh tịnh trong lòng,
Đem lời vu khống, buộc vòng nghiệp oan.
Nói người phạm tội chốn ngàn,
Sau dù tự hối, cũng mang tội tàn.
Lấy điều nhỏ nhặt thế gian,
Buộc thành tội trọng, hàm oan bạn hiền.
Vì giận mà chuốc ưu phiền,
Tăng tàn một bậc, khó yên lòng mình.

Muốn làm tan rã tăng minh,
Bày ra phương tiện, đấu tranh không rời.
Tăng khuyên lần một hết lời,
Lần hai, lần ba, chẳng dời ý kiêu.
Bè bạn che chở nuông chiều,
Giúp người phá đạo, bao nhiêu tội tình.
Can ngăn cũng chẳng tự mình,
Bao nhiêu bè đảng, nhục vinh cùng mang.

Ác hạnh làm uế nhà dân,
Tăng sai đi khỏi, chẳng tuân lệnh truyền.
Lại còn nói xấu chư hiền,
Rằng tăng yêu ghét, tư riêng chẳng bằng.
Ba lần can gián khăng khăng,
Tội kia phải chịu, chẳng hằng được đâu.
Tính hung khó bảo từ đầu,
Chẳng nghe nhắc nhở, lo âu cho mình.

Mười ba tội ấy phân minh,
Ai người vướng mắc, đăng trình hối tâm.
Giấu bao nhiêu nhật âm thầm,
Bấy nhiêu ngày tháng, xa xăm ở ngoài.
Sáu đêm sám hối miệt mài,
Hai mươi vị chứng, chương đài mới xong.
Hỏi trong đại chúng sạch trong,
Lặng yên chấp thuận, tạc lòng giới răn.

Hai pháp Bất định (hai tội chưa xác định tùy theo sự việc)

[sửa]

Chư Đại đức! Hai pháp Bất định này, mỗi nửa tháng đều tuyên thuyết trong bản giới Ba-la-đề-mộc-xoa.

1. Nếu Tỳ-kheo cùng một người nữ, ngồi ở nơi khuất lấp, kín đáo, là chỗ có thể hành dâm. Có người cư sĩ nữ (Ưu-bà-di) đáng tin cậy trông thấy và nói rằng vị Tỳ-kheo này phạm vào một trong ba pháp: hoặc Ba-la-di, hoặc Tăng-già-bà-thi-sa, hoặc Ba-dạ-đề. Nếu vị Tỳ-kheo ấy tự thừa nhận: "Tôi có ngồi ở nơi đó", thì tùy theo tội nào trong ba pháp đã nêu mà trị tội vị ấy: hoặc Ba-la-di, hoặc Tăng-già-bà-thi-sa, hoặc Ba-dạ-đề. Phải căn cứ vào lời nói của người cư sĩ nữ đáng tin cậy và các tình tiết liên quan mà trị tội vị Tỳ-kheo ấy. Đây là pháp Bất định thứ nhất.

2. Nếu Tỳ-kheo cùng một người nữ, ngồi ở nơi không khuất lấp, không phải chỗ có thể hành dâm, nhưng vị Tỳ-kheo ấy lại nói với người nữ những lời dâm dục thô ác. Có người cư sĩ nữ đáng tin cậy trông thấy và nói rằng vị Tỳ-kheo này phạm vào một trong hai pháp: hoặc Tăng-già-bà-thi-sa, hoặc Ba-dạ-đề. Nếu vị Tỳ-kheo ấy tự thừa nhận: "Tôi có ngồi ở nơi đó", thì tùy theo tội nào trong hai pháp đã nêu mà trị tội vị ấy: hoặc Tăng-già-bà-thi-sa, hoặc Ba-dạ-đề. Phải căn cứ vào lời nói của người cư sĩ nữ đáng tin cậy và các tình tiết liên quan mà trị tội vị Tỳ-kheo ấy. Đây là pháp Bất định thứ hai.

Chư Đại đức! Đã thuyết xong hai pháp Bất định. Nay hỏi chư Đại đức: Trong đây có thanh tịnh không? (Hỏi lần hai, lần ba). Chư Đại đức trong đây thanh tịnh, vì im lặng vậy. Việc này xin được giữ gìn như thế.

Diễn thơ lục bát (Hai pháp Bất định):

Bất định hai pháp ban truyền,
Xét soi tình tiết, nghiệp duyên luận bàn.
Cùng người phụ nữ thanh tân,
Chỗ vắng khuất nẻo, dừng chân ngồi cùng.
Ưu-bà-di thấy việc chung,
Đáng tin cậy nói, xét cùng lỗi kia.
Ba đường tội lỗi chia lìa,
Ba-la, Tăng-tàn, hay kìa Dạ-đề.
Tự thân nhận rõ lối về,
Chiếu theo sự thật, quản lề trị răn.

Dẫu nơi thanh bạch giữa đàng,
Chẳng là chỗ tối để làm việc sai.
Nhưng lời thô ác bên tai,
Nói điều dâm dục, mệt nhoài thân tâm.
Ưu-bà-di thấy lỗi lầm,
Hai đường tội định, xét thầm phân minh.
Tăng-tàn, Ba-dạ phân hình,
Lời người làm chứng, tội mình xét tra.
Lặng im đại chúng thuận hòa,
Lòng trong giữ giới, ấy là đạo cao.

Ba mươi pháp Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề (Tội xả đọa - liên quan đến việc sở hữu quá mức hoặc sai trái các vật dụng như y, bát)

[sửa]

Chư Đại đức! Ba mươi pháp Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề này, mỗi nửa tháng đều tuyên thuyết trong bản giới Ba-la-đề-mộc-xoa.

1. Khi y Ca-thi-na đã thụ xong, Tỳ-kheo có y dư chỉ được giữ tối đa mười ngày. Nếu quá mười ngày; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

2. Khi y Ca-thi-na đã thụ xong, Tỳ-kheo nếu lìa một trong ba y mà ngủ khác chỗ (quá một đêm); phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề, trừ khi được tăng tác pháp yết-ma.

3. Khi y Ca-thi-na đã thụ xong, nếu được vải không đúng thời mà cần dùng thì được tự tay nhận, mau chóng may thành y. Nếu đủ thì tốt, nếu chưa đủ mà biết có chỗ sẽ cho thêm, vì để cho đủ, Tỳ-kheo được giữ vải ấy tối đa một tháng. Nếu quá một tháng; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

4. Tỳ-kheo nhận y từ Tỳ-kheo-ni không phải hàng thân quyến; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề, trừ khi có trao đổi vật dụng.

5. Tỳ-kheo nhờ Tỳ-kheo-ni không phải hàng thân quyến giặt y cũ, nhuộm y, hoặc đập y; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

6. Tỳ-kheo xin y nơi cư sĩ nam hoặc nữ không phải hàng thân quyến; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề, trừ khi có duyên sự. Duyên sự là: bị cướp mất y, lạc mất y, cháy y, hoặc y bị trôi mất.

7. Trong trường hợp bị mất y như trên, nếu cư sĩ không thân quyến tự ý cho nhiều y, Tỳ-kheo chỉ nên nhận tối đa là một bộ y thượng và y hạ. Nếu nhận quá; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

8. Nếu cư sĩ không thân quyến muốn mua y cúng cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy khi chưa được mời mà vì muốn y tốt, đến chỗ cư sĩ bảo rằng: "Hay thay! Hãy mua loại y thế này thế kia cho tôi." Nếu được y; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

9. Nếu hai cư sĩ muốn chung tiền mua y cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo chưa được mời mà đến bảo: "Hãy chung tiền mua một cái y thật tốt cho tôi." Nếu được y; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

10. Nếu vua, quan, Bà-la-môn hay cư sĩ gửi tiền mua y qua người đưa tin đến cho Tỳ-kheo. Tỳ-kheo phải bảo: "Tăng không được nhận tiền, chỉ nhận y đúng thời." Nếu cần y, hãy chỉ người chấp sự (người giúp việc) cho người đưa tin. Tỳ-kheo đến chỗ chấp sự đòi y hai ba lần; nếu chưa được thì đến đứng trước mặt im lặng tối đa sáu lần. Nếu quá sáu lần đứng đợi mà lấy y; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề. Nếu vẫn không được y, phải báo cho chủ tiền biết để họ thu hồi tiền lại.

11. Tỳ-kheo dùng tơ tằm (kiêu-xa-da) mới để làm tọa cụ; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

12. Tỳ-kheo dùng lông dê đen nguyên chất làm tọa cụ mới; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

13. Tỳ-kheo làm tọa cụ mới, phải dùng hai phần lông dê đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu xám. Nếu không pha đúng tỉ lệ; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

14. Tọa cụ mới làm xong phải dùng đủ sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm mà đã làm cái mới (trừ khi được tăng cho phép); phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

15. Khi làm tọa cụ mới, nên lấy một miếng tọa cụ cũ vuông vức một gang tay của Phật đắp vào để làm hỏng màu mới; nếu không làm vậy; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

16. Tỳ-kheo đi đường được lông dê, nếu không có người gánh hộ, tự mang đi tối đa ba do-tuần. Nếu mang quá; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

17. Tỳ-kheo nhờ Tỳ-kheo-ni không phải thân quyến giặt, nhuộm hoặc chải lông dê; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

18. Tỳ-kheo tự tay cầm giữ vàng, bạc, tiền, hoặc bảo người cầm giữ, hoặc bảo người cất giữ; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

19. Tỳ-kheo dùng vàng bạc, tiền tệ để mua bán các vật dụng; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

20. Tỳ-kheo thực hiện các việc buôn bán trao đổi hàng hóa; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

21. Tỳ-kheo giữ bát dư quá mười ngày; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

22. Bát chưa hư cũ (chưa đủ năm chỗ nứt vá) mà đã đi xin bát mới vì muốn cái tốt hơn; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề. Tỳ-kheo phải đem bát đó xả giữa tăng, tăng sẽ đưa cái bát xấu nhất cho dùng đến khi hỏng thì thôi.

23. Tỳ-kheo tự xin sợi tơ rồi nhờ thợ dệt không phải thân quyến dệt thành vải; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

24. Cư sĩ nhờ thợ dệt vải cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo chưa được mời mà đến bảo thợ dệt rằng: "Hãy dệt cho tốt, rộng, bền, tôi sẽ hậu tạ." Rồi sau đó cho món ăn hoặc tiền công; nếu được y; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

25. Tỳ-kheo cho y cho vị khác, sau đó vì giận hờn mà tự tay đoạt lại hoặc bảo người đoạt lại: "Trả y đây, không cho nữa"; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

26. Còn mười ngày nữa là hết mùa hạ, nếu được y cúng gấp, Tỳ-kheo được nhận và giữ đến thời kỳ phát y. Nếu giữ quá; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

27. Tỳ-kheo ở nơi rừng vắng có nguy hiểm, nếu muốn, được gửi một trong ba y tại làng xóm, tối đa sáu đêm. Nếu quá sáu đêm mà không có lý do chính đáng; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

28. Còn một tháng nữa là hết xuân, Tỳ-kheo được tìm y tắm mưa, giữ và dùng trong nửa tháng. Nếu giữ quá thời hạn đó; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

29. Tỳ-kheo biết vật dụng của thí chủ muốn cúng cho tăng mà tìm cách hướng họ cúng cho riêng mình; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

30. Phật cho phép Tỳ-kheo bệnh dùng bốn loại dược phẩm: mỡ, dầu, mật, đường phèn. Được giữ tối đa bảy ngày. Nếu quá bảy ngày; phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

Chư Đại đức! Đã thuyết xong ba mươi pháp Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề. Nay hỏi chư Đại đức: Trong đây có thanh tịnh không? (Hỏi lần hai, lần ba). Chư Đại đức trong đây thanh tịnh, vì im lặng vậy. Việc này xin được giữ gìn như thế.

Diễn thơ lục bát (Ba mươi tội xả đọa):

Ba mươi tội lỗi răn mình,
Nửa tháng một lượt tính tinh truyền thừa.
Y dư mười nhật là vừa,
Quá ngày không xả, lại đưa tội vào.
Ba y chẳng được rời nhau,
Ngủ riêng một tối, lòng đau luật hình.
Vải chưa đủ mặc cho mình,
Gửi giữ một tháng, giữ gìn cho xong.

Ni-cô chẳng phải họ dòng,
Chớ nên lấy áo, chớ hòng cậy trông.
Nhờ giặt, nhờ nhuộm y hồng,
Người dưng khác họ, tội chồng khó tha.
Cư sĩ chẳng phải người nhà,
Đừng xin áo mặc, lánh xa lòng tà.
Trừ khi y cháy, trôi xa,
Hoặc bị trộm mất, mới là duyên do.

Tiền y cư sĩ dành cho,
Chớ nên đến bảo, chớ lo cầu cầu.
Chấp sự đòi áo cho mau,
Đứng chờ sáu lượt, trước sau im lìm.
Nếu còn tham vọng đi tìm,
Y kia phải xả, lòng chìm tội khiên.
Tơ tằm, lông thú chẳng yên,
Pha màu đúng luật, giữ niềm tịnh thanh.

Vàng bạc chẳng chạm tay mình,
Buôn bán đổi chác, nhục vinh mặc người.
Bát dư mười nhật lỗi rồi,
Chưa hư đã đổi, thói đời khó dung.
Dệt y, đòi lại y chung,
Vì lòng giận dữ, lỗi cùng phát sinh.
Giữ gìn dược phẩm phân minh,
Bảy ngày thời hạn, tâm linh vững vàng.

Chín mươi pháp Ba-dạ-đề (Các tội đọa lạc cần được sám hối)

[sửa]

Chư Đại đức! Chín mươi pháp Ba-dạ-đề này, mỗi nửa tháng đều tuyên thuyết trong bản giới Ba-la-đề-mộc-xoa.

1. Tỳ-kheo cố ý nói dối; phạm Ba-dạ-đề.

2. Tỳ-kheo nói lời mắng nhiếc, hủy báng; phạm Ba-dạ-đề.

3. Tỳ-kheo nói lưỡng thiệt (đâm thọc) làm chia rẽ các Tỳ-kheo; phạm Ba-dạ-đề.

4. Tỳ-kheo biết việc tranh cãi của Tăng đã được giải quyết đúng pháp, sau lại khơi dậy; phạm Ba-dạ-đề.

5. Tỳ-kheo thuyết pháp cho người nữ quá năm sáu lời; phạm Ba-dạ-đề, trừ khi có người nam trí tuệ ở bên cạnh.

6. Tỳ-kheo dạy các câu kệ cho người chưa thọ giới cụ túc; phạm Ba-dạ-đề.

7. Tỳ-kheo ở trước người chưa thọ giới cụ túc, tự nói mình đắc pháp của bậc thượng nhân, dẫu là nói thật; phạm Ba-dạ-đề.

8. Tỳ-kheo biết tội thô trọng của vị khác mà nói với người chưa thọ giới cụ túc; phạm Ba-dạ-đề, trừ khi có yết-ma của Tăng.

9. Tỳ-kheo trước đã đồng ý cho Tăng vật, sau lại nói: "Các Tỳ-kheo tùy ý thân sơ mà đem vật của Tăng cho người"; phạm Ba-dạ-đề.

10. Tỳ-kheo khi tụng giới nói rằng: "Tụng những giới vụn vặt này làm gì, chỉ khiến các Tỳ-kheo thêm lo âu, sầu muộn"; phạm Ba-dạ-đề.

11. Tỳ-kheo làm hư hại hạt giống và cây cối; phạm Ba-dạ-đề.

12. Tỳ-kheo nói lời chê bai, mắng nhiếc; phạm Ba-dạ-đề.

13. Tỳ-kheo cố ý không trả lời đúng câu hỏi để làm não loạn người khác; phạm Ba-dạ-đề.

14. Tỳ-kheo trải ngọa cụ của Tăng nơi đất trống, khi đi không tự dọn hoặc không nhờ người dọn; phạm Ba-dạ-đề.

15. Tỳ-kheo trải ngọa cụ trong phòng xá của Tăng, khi đi không tự dọn hoặc không nhờ người dọn; phạm Ba-dạ-đề.

16. Tỳ-kheo vì lòng sân hận, tự tay trục xuất hoặc bảo người trục xuất Tỳ-kheo khác ra khỏi phòng; phạm Ba-dạ-đề.

17. Tỳ-kheo ở trong phòng của Tăng, cưỡng ép trải ngọa cụ của mình trước mặt người khác để buộc họ phải đi; phạm Ba-dạ-đề.

18. Tỳ-kheo ngồi hoặc nằm mạnh trên giường ghế chân nhọn ở tầng gác phía trên; phạm Ba-dạ-đề.

19. Tỳ-kheo biết nước có trùng mà tự mình hoặc bảo người tưới lên cỏ, đất; phạm Ba-dạ-đề.

20. Tỳ-kheo xây cất phòng lớn, lợp mái quá ba lớp; phạm Ba-dạ-đề.

21. Tỳ-kheo không được Tăng cử mà tự ý đi giáo giới Tỳ-kheo-ni; phạm Ba-dạ-đề.

22. Tỳ-kheo dẫu được cử nhưng giáo giới Tỳ-kheo-ni quá lúc mặt trời lặn; phạm Ba-dạ-đề.

23. Tỳ-kheo nói lời phỉ báng rằng: "Các Tỳ-kheo giáo giới Tỳ-kheo-ni chỉ vì hy vọng được cúng dường"; phạm Ba-dạ-đề.

24. Tỳ-kheo hẹn với Tỳ-kheo-ni cùng đi một quãng đường, cho đến một xóm làng; phạm Ba-dạ-đề, trừ khi có lý do chính đáng.

25. Tỳ-kheo hẹn với Tỳ-kheo-ni cùng đi chung một chiếc thuyền; phạm Ba-dạ-đề, trừ khi qua sông trực tiếp.

26. Tỳ-kheo cho y cho Tỳ-kheo-ni không phải thân quyến; phạm Ba-dạ-đề.

27. Tỳ-kheo may y cho Tỳ-kheo-ni không phải thân quyến; phạm Ba-dạ-đề.

28. Tỳ-kheo cùng Tỳ-kheo-ni ngồi nơi khuất lấp; phạm Ba-dạ-đề.

29. Tỳ-kheo cùng người nữ ngồi nơi trống trải một mình; phạm Ba-dạ-đề.

30. Tỳ-kheo biết thức ăn do Tỳ-kheo-ni tán thán mà có được nhưng vẫn ăn; phạm Ba-dạ-đề.

31. Tỳ-kheo ăn nhiều bữa trong một ngày; phạm Ba-dạ-đề, trừ khi có duyên sự (bệnh, thời gian may y).

32. Tỳ-kheo đến nơi bố thí thức ăn, chỉ nên ăn một bữa; nếu ăn quá; phạm Ba-dạ-đề.

33. Tỳ-kheo đến nhà cư sĩ được cho nhiều bánh trái, chỉ nên nhận tối đa hai ba bát rồi đem chia cho người khác; nếu nhận quá; phạm Ba-dạ-đề.

34. Tỳ-kheo ăn xong mà chưa làm phép tàn thực (thức ăn dư), nếu ăn tiếp; phạm Ba-dạ-đề.

35. Tỳ-kheo biết người khác đã ăn xong, lại cưỡng ép họ ăn thêm để làm não loạn họ; phạm Ba-dạ-đề.

36. Tỳ-kheo ăn riêng cùng một nhóm (biệt chúng thực); phạm Ba-dạ-đề, trừ khi có duyên sự.

37. Tỳ-kheo ăn không đúng thời (ăn quá giờ ngọ); phạm Ba-dạ-đề.

38. Tỳ-kheo ăn thức ăn đã để cách đêm; phạm Ba-dạ-đề.

39. Tỳ-kheo không được người khác trao tận tay mà tự lấy thức ăn bỏ vào miệng; phạm Ba-dạ-đề, trừ nước và tăm xỉa răng.

40. Tỳ-kheo không bệnh mà tự đi xin các thức ăn ngon (sữa, dầu, cá, thịt...); phạm Ba-dạ-đề.

41. Tỳ-kheo biết nước có trùng mà vẫn dùng; phạm Ba-dạ-đề.

42. Tỳ-kheo ngồi nơi giường nằm trong nhà có thức ăn; phạm Ba-dạ-đề.

43. Tỳ-kheo cùng người nữ ngồi nơi kín đáo trong nhà cư sĩ; phạm Ba-dạ-đề.

44. Tỳ-kheo tự tay đưa thức ăn cho ngoại đạo nam hoặc nữ; phạm Ba-dạ-đề.

45. Tỳ-kheo đi xem quân đội hành quân; phạm Ba-dạ-đề, trừ khi có duyên sự.

46. Tỳ-kheo có duyên sự ở trong quân đội tối đa hai đêm; nếu quá; phạm Ba-dạ-đề.

47. Tỳ-kheo ở trong quân đội xem duyệt binh, dàn trận; phạm Ba-dạ-đề.

48. Tỳ-kheo sân hận dùng tay đánh Tỳ-kheo khác; phạm Ba-dạ-đề.

49. Tỳ-kheo sân hận dùng tay xô đẩy Tỳ-kheo khác; phạm Ba-dạ-đề.

50. Tỳ-kheo biết tội thô của vị khác mà che giấu quá một đêm; phạm Ba-dạ-đề.

51. Tỳ-kheo hứa dẫn vị khác đến nhà cư sĩ ăn rồi lại đuổi người ta đi để làm não hại; phạm Ba-dạ-đề.

52. Tỳ-kheo không bệnh mà tự mình hoặc bảo người đốt lửa sưởi ngoài trời; phạm Ba-dạ-đề.

53. Tỳ-kheo đã đồng ý việc Tăng sau lại chê bai; phạm Ba-dạ-đề.

54. Tỳ-kheo cùng người chưa thọ giới cụ túc ngủ chung một phòng quá hai đêm; phạm Ba-dạ-đề.

55. Tỳ-kheo chấp giữ tà kiến, cho rằng hành dâm không chướng đạo, dẫu đã được Tăng can gián ba lần vẫn không bỏ; phạm Ba-dạ-đề.

56. Tỳ-kheo biết người bị Tăng trục xuất vì tà kiến mà vẫn cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm việc; phạm Ba-dạ-đề.

57. Tỳ-kheo biết Sa-di bị trục xuất vì tà kiến mà vẫn cho ngủ chung; phạm Ba-dạ-đề.

58. Tỳ-kheo tự tay lấy hoặc bảo người lấy vàng bạc, đồ báu; phạm Ba-dạ-đề, trừ khi lượm được trong chùa phải cất giữ để trả lại chủ.

59. Tỳ-kheo được y mới, phải làm dấu "hoại sắc" (xanh, đen hoặc màu mộc lan); nếu không làm; phạm Ba-dạ-đề.

60. Tỳ-kheo tắm quá thường xuyên (trong nửa tháng một lần), trừ khi có duyên sự (nắng nóng, bệnh); phạm Ba-dạ-đề.

61. Tỳ-kheo cố ý giết hại mạng sống của chúng sinh (loài vật); phạm Ba-dạ-đề.

62. Tỳ-kheo cố ý làm cho vị khác nghi ngờ để gây não loạn; phạm Ba-dạ-đề.

63. Tỳ-kheo dùng ngón tay thọc léc nhau; phạm Ba-dạ-đề.

64. Tỳ-kheo đùa nghịch dưới nước; phạm Ba-dạ-đề.

65. Tỳ-kheo cùng người nữ ngủ chung một phòng; phạm Ba-dạ-đề.

66. Tỳ-kheo làm cho vị khác khiếp sợ, dẫu chỉ là đùa vui; phạm Ba-dạ-đề.

67. Tỳ-kheo giấu y, bát, vật dụng của vị khác để đùa nghịch; phạm Ba-dạ-đề.

68. Tỳ-kheo đã cho y cho vị khác rồi lại lấy lại dùng; phạm Ba-dạ-đề.

69. Tỳ-kheo dùng pháp Tăng-tàn không căn cứ để vu khống vị khác; phạm Ba-dạ-đề.

70. Tỳ-kheo hẹn với người nữ cùng đi một đoạn đường; phạm Ba-dạ-đề.

71. Tỳ-kheo hẹn với toán cướp cùng đi một đoạn đường; phạm Ba-dạ-đề.

72. Tỳ-kheo truyền giới cụ túc cho người chưa đủ hai mươi tuổi; phạm Ba-dạ-đề.

73. Tỳ-kheo tự tay đào đất hoặc bảo người đào đất; phạm Ba-dạ-đề.

74. Tỳ-kheo nhận sự thỉnh mời cúng dường quá bốn tháng; phạm Ba-dạ-đề.

75. Tỳ-kheo khi tụng giới nói: "Tôi chưa học giới này, phải hỏi người thông luật đã"; phạm Ba-dạ-đề.

76. Tỳ-kheo đứng rình nghe các vị khác tranh cãi để ghi nhớ; phạm Ba-dạ-đề.

77. Tỳ-kheo khi Tăng đang nghị sự mà im lặng bỏ đi; phạm Ba-dạ-đề.

78. Tỳ-kheo có thái độ khinh mạn vị khác; phạm Ba-dạ-đề.

79. Tỳ-kheo uống rượu; phạm Ba-dạ-đề.

80. Tỳ-kheo vào xóm làng không đúng giờ mà không báo cho vị khác biết; phạm Ba-dạ-đề.

81. Tỳ-kheo đi đến nhà cư sĩ trước hoặc sau bữa ăn mà không báo cho Tăng; phạm Ba-dạ-đề.

82. Tỳ-kheo vào cung vua khi chưa cất giữ vật quý; phạm Ba-dạ-đề.

83. Tỳ-kheo khi tụng giới nói: "Bây giờ tôi mới biết giới này"; phạm Ba-dạ-đề.

84. Tỳ-kheo làm ống đựng kim bằng xương, răng hoặc sừng; phạm Ba-dạ-đề.

85. Tỳ-kheo làm giường ghế chân quá cao (tám ngón tay của Phật); phạm Ba-dạ-đề.

86. Tỳ-kheo dùng bông gòn dồn vào đệm nằm; phạm Ba-dạ-đề.

87. Tỳ-kheo làm y tắm mưa quá kích thước quy định; phạm Ba-dạ-đề.

88. Tỳ-kheo làm y che thân quá kích thước quy định; phạm Ba-dạ-đề.

89. Tỳ-kheo làm tọa cụ quá kích thước quy định; phạm Ba-dạ-đề.

90. Tỳ-kheo làm y bằng kích thước y của Phật hoặc lớn hơn; phạm Ba-dạ-đề.

Chư Đại đức! Đã thuyết xong chín mươi pháp Ba-dạ-đề. Nay hỏi chư Đại đức: Trong đây có thanh tịnh không? (Hỏi lần hai, lần ba). Chư Đại đức trong đây thanh tịnh, vì im lặng vậy. Việc này xin được giữ gìn như thế.

Diễn thơ lục bát (Chín mươi tội đọa lạc):

Chín mươi tội nhẹ răn lòng,
Nửa tháng một lượt sạch trong tu hành.
Nói sai, mắng nhiếc, tranh giành,
Đâm thọc hai lưỡi, tội đành mang thân.
Thuyết pháp người nữ kề gần,
Phải người trí tuệ đứng chân bên mình.
Chớ khoe chứng đắc thần linh,
Chớ làm hư hại màu xanh cỏ cây.

Đồ tăng trải giữa ngàn mây,
Đi không dọn dẹp, lỗi dày khó vơi.
Đuổi người, chiếm chỗ, đứng ngồi,
Biết trùng trong nước, chớ rời tâm can.
Dạy ni đúng phép mới an,
Chớ hẹn chung đường, lỗi nàn kề bên.
Ăn uống đúng tiết đúng tên,
Quá ngọ không ăn, chẳng quên luật truyền.

Sân hận đánh đập bạn hiền,
Che giấu tội lỗi, nghiệp khiên nặng nề.
Tà kiến không chịu bỏ về,
Vàng bạc cầm giữ, lỗi lề chẳng sai.
Y mới nhuộm sắc đừng phai,
Sát sinh loài vật, mệt nhoài kiếp tu.
Giỡn đùa, khiếp sợ, oán thù,
Giấu y giấu bát, mịt mù lối ra.

Rượu nồng chớ chạm môi ta,
Đào đất, xây cất, thật thà giữ tâm.
Giới kinh học hỏi âm thầm,
Kích thước vật dụng, chẳng lầm mảy may.
Chín mươi giới luật đủ đầy,
Lặng yên đại chúng, nơi này khiết tinh.
Đạo vàng soi rọi bình minh,
Tỳ-kheo thanh tịnh, tâm hình an nhiên.

Bốn pháp Ba-la-đề-đề-xá-ni (Các tội cần hướng đối trị)

[sửa]

Chư Đại đức! Bốn pháp Ba-la-đề-đề-xá-ni này, mỗi nửa tháng đều tuyên thuyết trong bản giới Ba-la-đề-mộc-xoa.

1. Nếu Tỳ-kheo không bệnh, ở trong nhà cư sĩ, tự tay nhận thức ăn từ một Tỳ-kheo-ni không phải hàng thân quyến. Tỳ-kheo ấy nên đến trước các vị khác phát lộ rằng: "Chư Đại đức! Tôi phạm pháp đáng khiển trách, việc không nên làm. Nay tôi xin phát lộ."

2. Nếu chư Tỳ-kheo được nhà cư sĩ thỉnh ăn, trong đó có một Tỳ-kheo-ni đứng chỉ thị rằng: "Hãy cho vị này cơm, cho vị kia canh." Chư Tỳ-kheo nên bảo vị Ni ấy rằng: "Chị hãy dừng lại một lát, đợi chư Tăng ăn xong." Nếu không vị nào ngăn cản, Tỳ-kheo ấy phải phát lộ tội đáng khiển trách.

3. Trong các gia đình hữu học (đang tu tập) mà Tăng đã tác pháp yết-ma bảo vệ. Nếu Tỳ-kheo biết rõ mà không được thỉnh trước, tự đến nhận thức ăn; phải phát lộ tội đáng khiển trách.

4. Ở nơi rừng vắng (A-lan-nhã) có sự nguy hiểm, đáng sợ. Nếu Tỳ-kheo biết nơi đó nguy hiểm mà nhận thức ăn bên ngoài tinh xá (không đúng phép); phải phát lộ tội đáng khiển trách.

Các pháp Chúng học (Quy tắc oai nghi)

[sửa]

Chư Đại đức! Đây là các pháp Chúng học, mỗi nửa tháng tuyên thuyết một lần.

  • Mặc nội y không quá cao, không quá thấp, không xốc xếch, phải bằng phẳng tròn trịa quanh mình.
  • Khi vào nhà cư sĩ hoặc ngồi trong nhà cư sĩ: Phải che mình kín đáo, oai nghi tế hạnh, không liếc ngó hai bên, không ngửi thức ăn, không tự cao, tiếng nói nhỏ nhẹ.
  • Không được vừa đi vừa chống nạnh, hiện ngực, hiện hông, vén áo, vung tay, lắc mình, nắm tay nhau hay nhảy nhót trong nhà cư sĩ.
  • Cách ăn uống: Nhất tâm thọ nhận cơm canh, không ăn đầy tràn bát, không chỉ chọn món ngon, không vốc miếng quá lớn, không há miệng chờ cơm, không vừa ngậm cơm vừa nói, không nhai ra tiếng, không thè lưỡi, không liếm tay, không hất bát.
  • Cách thuyết pháp: Không thuyết pháp cho người đang cưỡi ngựa, người đi trước mình, người ngồi cao, người đang nằm, người trùm đầu (trừ khi họ có bệnh). Không thuyết pháp cho người cầm gậy, cầm lọng, cầm dao gậy vũ khí.
  • Vệ sinh: Không đại tiểu tiện hay khạc nhổ trên cỏ xanh hoặc vào nước sạch (trừ khi bệnh). Không đứng mà đại tiểu tiện.

Bảy pháp Diệt tranh (Giải quyết xung đột)

[sửa]

1. Hiện tiền tỳ-ni: Giải quyết trực tiếp tại chỗ trước mặt các bên.

2. Ức niệm tỳ-ni: Dựa trên trí nhớ xác thực của vị thánh không quên lỗi.

3. Bất si tỳ-ni: Xác nhận vị đó đã khỏi bệnh tâm thần để không truy cứu lỗi khi mê muội.

4. Tự ngôn trị: Dựa trên sự tự thú của người phạm lỗi.

5. Mịch tội tướng: Xét theo chứng cứ rõ ràng khi người đó không nhận tội.

6. Đa mịch tội tướng: Quyết định theo số đông (biểu quyết).

7. Như thảo bố địa: Bỏ qua mọi chuyện cũ như cỏ phủ trên đất để hòa hợp lại.

Phần Kết Lễ Bố-tát và Kệ Bảy Đức Phật

[sửa]

Chư Đại đức! Tôi đã thuyết xong bài tựa giới, bốn tội Ba-la-di, mười ba tội Tăng-tàn, hai tội Bất định, ba mươi tội xả đọa, chín mươi tội Ba-dạ-đề, bốn tội hướng đối trị, các pháp chúng học và bảy pháp diệt tranh. Chư Đại đức hãy nhất tâm hoan hỷ, hòa hợp như nước với sữa mà tu học.

Đức Phật Tỳ-bà-thi, bậc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chính Giác, được sáu triệu hai trăm vạn Tỳ-kheo vây quanh trước sau, đã nói bài kệ giới này:

Kệ ngôn:

Nhẫn nhục đạo bậc nhất,
Niết-bàn Phật khen trên.
Xuất gia hại người khác,
Chẳng gọi là Sa-môn.

Diễn thơ:

Nhẫn là nẻo đạo thanh cao,
Phật khen Niết-bàn tối thượng đi vào thong dong.
Xuất gia mang tiếng trong lòng,
Còn gây khổ lụy, đâu hòng Sa-môn.

Đức Phật Thi-khí, bậc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chính Giác, được tám mươi vạn Tỳ-kheo vây quanh trước sau, đã nói bài kệ giới này:

Kệ ngôn:

Ví như người mắt sáng,
Tránh được nẻo hiểm nguy.
Đời có người thông tuệ,
Lánh xa mọi điều ác.

Diễn thơ:

Ví như mắt sáng tinh anh,
Đường xưa nẻo hiểm, dặm xanh biết rời.
Bậc người trí tuệ ở đời,
Lánh xa điều ác, rạng ngời tâm can.

Đức Phật Tỳ-bát-thi, bậc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chính Giác, được mười vạn Tỳ-kheo vây quanh trước sau, đã nói bài kệ giới này:

Kệ ngôn:

Không hại không nói lỗi,
Giữ giới như pháp hành.
Ăn uống biết tiết độ,
Thường vui ở nơi vắng.
Tâm sạch ưa tinh tấn,
Ấy lời chư Phật dạy.

Diễn thơ:

Chẳng hề gây hấn hại ai,
Lỗi người chẳng nói, miệt mài giới kinh.
Ăn dùng tiết độ quang minh,
Vui nơi tịch tĩnh, giữ mình tịnh tu.
Tâm thanh tinh tấn cần cù,
Lời vàng Phật dạy, mịt mù xua tan.

Đức Phật Câu-lưu-tôn, bậc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chính Giác, được bốn vạn Tỳ-kheo vây quanh trước sau, đã nói bài kệ giới này:

Kệ ngôn:

Như ong đi hút mật,
Chẳng hại sắc và hương.
Chỉ lấy vị ngọt đi,
Tỳ-kheo vào làng thế.
Chẳng phá hỏng việc người,
Chẳng xem người có làm.
Chỉ tự xem thân mình,
Xét kỹ thiện không thiện.

Diễn thơ:

Như ong hút nhụy vườn hoa,
Sắc hương nguyên vẹn, thực là thanh tân.
Vào làng giữ đúng oai thân,
Việc người chẳng quản, chẳng phân lỗi lầm.
Soi mình trong cõi lặng câm,
Xét soi thiện ác, nẩy mầm chân như.

Đức Phật Câu-na-hàm, bậc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chính Giác, được ba vạn Tỳ-kheo vây quanh trước sau, đã nói bài kệ giới này:

Kệ ngôn:

Muốn tâm tốt chớ buông lung,
Pháp thánh bậc nhân gắng học.
Người biết vắng lặng nhất tâm,
Sẽ không còn ưu sầu khổ.

Diễn thơ:

Muốn tâm thanh bạch không rời,
Pháp môn bậc thánh, trọn đời gắng công.
Lặng yên nhất tâm sạch trong,
Sầu ưu dứt sạch, thong dong bến bờ.

Đức Phật Ca-diếp, bậc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chính Giác, được hai vạn Tỳ-kheo vây quanh trước sau, đã nói bài kệ giới này:

Kệ ngôn:

Mọi điều ác chớ làm,
Nên làm các việc lành.
Tự làm sạch ý mình,
Ấy lời chư Phật dạy.

Diễn thơ:

Ác kia nguyện chẳng dây oan,
Lành kia vẹn vẻ, vẹn toàn tu tâm.
Giữ gìn ý niệm âm thầm,
Lời chư Phật dạy, muôn năm chẳng mờ.

Tôi, Đức Thích-ca Mâu-ni, bậc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chính Giác, được một nghìn hai trăm năm mươi vị Tăng chưa từng có vây quanh trước sau, nói bài kệ giới này:

Kệ ngôn:

Giữ thân là điều tốt,
Giữ miệng cũng là hay.
Giữ ý là điều tốt,
Giữ tất cả đều hay.
Tỳ-kheo giữ tất cả,
Bèn thoát mọi điều ác.
Tỳ-kheo giữ miệng ý,
Thân chẳng phạm các ác.
Ba nghiệp đạo thanh tịnh,
Đắc đạo bậc thánh nhân.
Nếu người đánh mắng không trả thù,
Với người oán hận lòng không hận.
Trong người sân hận tâm thường sạch,
Thấy người làm ác mình không làm.

Diễn thơ:

Giữ thân tốt đẹp thay là,
Giữ lời thanh tịnh, thật thà cũng hay.
Giữ ý lại càng tốt thay,
Giữ tròn ba nghiệp, tràn đầy phước duyên.
Thoát ly ác đạo não phiền,
Thân không phạm lỗi, cửa thiền thong dong.
Thánh nhân đắc đạo sạch trong,
Mắng không đáp trả, hận không để lòng.
Giữ tâm như nước một dòng,
Người làm ác nghiệp, mình không họa vần.

Bảy đức Thế Tôn cứu giúp thế gian, đã nói giới kinh, tôi nay thuyết xong. Chư Phật và đệ tử cung kính giới kinh này. Cung kính giới kinh rồi, lại cung kính lẫn nhau. Tàm quý được đầy đủ, sẽ đắc đạo vô vi. Đã thuyết giới kinh xong, Tăng nhất tâm Bố-tát.

Diễn thơ:

Bảy đời Chư Phật Thích-ca,
Cứu đời khỏi nỗi xót xa mê lầm.
Giới kinh đã thuyết tận tâm,
Tăng ni đệ tử nhất tâm phụng thờ.
Tương cung tương kính từ giờ,
Hổ thẹn đầy đủ, bến bờ vô vi.
Bố-tát lễ tất, xin đi,
Tăng đoàn hòa hợp, chẳng gì quý hơn.


 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.