Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục/Quyển 1421
Cao Tông Thuần Hoàng Đế thực lục / quyển 1421 / Càn Long năm 58 / tháng 1 / ngày 19 (năm 1793 dương lịch)
[sửa]Năm Quý Sửu (1793). Hoàng thượng ngự núi Cao Thủy Trường. Ban yến cho các vương công đại thần, Mông Cổ vương Bối Lặc (貝勒), Bối Tử (貝子), Công (公), Ngạch Phò (額駙), Thai Cát (台吉), cùng sứ giả Hỏa Hãn Bá Khắc Na Nhĩ Bạt Đồ (霍罕伯克那爾巴圖) đến triều, niên ban Hồi bộ, sứ thần các nước Triều Tiên (朝鮮), An Nam (安南), Xiêm La (暹羅), và sứ cống nước Quách Nhĩ Khách (廓爾喀) cùng dự tiệc.
Cao Tông Thuần Hoàng Đế thực lục / quyển 1421 / Càn Long năm 58 / tháng 1 / ngày 22 (năm 1793 dương lịch)
[sửa]Dụ các đại thần Quân cơ: Theo tấu của Quách Thế Huân (郭世勳) và những người khác, vua nước An Nam là Nguyễn Quang Bình (阮光平) đã mất vào tháng Chín năm ngoái tại Nghệ An (義安). Thế tử Nguyễn Quang Toản (阮光纘), năm nay đã 15 tuổi, hiện đang tạm quyền quốc sự. Định vào tháng Giêng năm thứ năm mươi tám (năm 1793 dương lịch) sẽ sai bề tôi mang biểu cống đến kinh báo tang.
Trẫm xem tấu, vô cùng thương tiếc. Vua nước ấy mất từ tháng Chín năm ngoái[1], các viên chức trình báo hơi chậm. Nay chắc đã lo xong việc tang lễ, nhưng lễ nghi tiễn đưa chưa kịp thực hiện. Nay thân chế một bài thơ điếu, sai viên Niết ti (臬司) là Thành Lâm (成林) mang đến Nghệ An, đốt trước mộ Nguyễn Quang Bình. Ban thưởng một đại hạt đạt (大哈達), phát ba nghìn lượng bạc từ kho Quảng Tây (廣西藩庫) để làm việc thiện, đều giao cho Thành Lâm mang đi tế lễ và ban thưởng, tỏ lòng thương xót.
Con Nguyễn Quang Bình là Nguyễn Quang Toản, trước đã phong làm Thế tử, nay nên kế thừa tước vương. Sai Thành Lâm truyền chỉ, lập Nguyễn Quang Toản làm vua nước An Nam. Sắc phong kế vị sẽ đợi sứ thần là Ngô Thì Nhậm (吳時任) đến kinh, rồi theo lệ ban thưởng và giao mang về.
Về việc Nguyễn Quang Bình dựa vào uy mệnh triều đình để cai trị An Nam, vốn là nước mới lập, lòng người chưa ổn định. Hơn nữa, ông bất hòa với anh em, Nguyễn Nhạc (阮岳) còn ở Quảng Nam (廣南), khó tránh khỏi dòm ngó. Ngay cả Ngô Văn Sở (吳文楚), tuy là người cùng Nguyễn Quang Bình khởi sự, cũng chưa chắc trung thành đáng tin. Nguyễn Quang Toản tuổi còn nhỏ, mọi việc nước hiện đều do Ngô Văn Sở quản lý, e rằng vì vua nhỏ nước nghi, trong lòng có điều khó lường, có thể dẫn đến việc ép buộc chuyên quyền, chưa thể đoán định.
Sai Trần Dụng Phu (陳用敷) mật truyền chỉ này cho Thành Lâm, khi đến Nghệ An, không để lộ, âm thầm dò xét. Nếu Ngô Văn Sở thật lòng tận tụy vì Nguyễn Quang Toản mà lo việc nước, trẫm sẽ trọng thưởng. Nếu có hành vi bất thuận, sai Thành Lâm lập tức theo trạm tấu trình thực trạng, đợi trẫm xử lý. Ngoài ra, sẽ hạ dụ riêng sai Phúc Khang An (福康安) từ Tứ Xuyên (川) gấp đến Quảng Tây để hỗ trợ trấn áp. Dụ này truyền gấp sáu trăm dặm đến Trần Dụng Phu, Thành Lâm, và báo cho Quách Thế Huân biết.
Thơ điếu vua An Nam Nguyễn Quang Bình do Thánh thượng ngự chế ban rằng:
外邦例以遣陪臣
展覲從無至已身
納款最嘉來玉闕
懷疑堪笑代金人
秋中尚憶衣冠肅
膝下誠如父子親
七字不能罷哀述
憐其忠悃出衷真
Phiên âm:
Ngoại bang lệ dĩ khiển bồi thần
Triển cận tòng vô chí dĩ thân
Nạp khoản tối gia lai ngọc khuyết
Hoài nghi kham tiếu đại kim nhân
Thu trung thượng ức y quan túc
Tất hạ thành như phụ tử thân
Thất tự bất năng bãi ai thuật
Liên kỳ trung khổn xuất trung chân
Dịch thơ:
Ngoại bang thường phái kẻ theo hầu,
Triều kiến chưa từng đến chính châu.
Dâng lễ ngọc thành, lòng kính trọng,
Cười người vàng cũ[2], dạ còn sầu.
Thu sang vẫn nhớ trang nghiêm áo,
Dưới gối như cha, nghĩa đậm sâu.
Bảy chữ chẳng ngưng lời thống thiết,
Thương thay trung hậu tự tâm đầu.
Sắc phong cho Thế tử nước An Nam là Nguyễn Quang Toản kế vị vua nước An Nam, do Thánh thượng ban rằng:
Trẫm nghĩ rằng việc phân phong tước vị, chia đất lập quốc, là quy củ lâu dài của chư hầu đại bảo. Tu sửa lễ nghi để làm phên dậu, con trưởng quý ở chỗ chọn người hiền. Gánh vác cơ nghiệp tổ tiên, mở nước càng phải coi trọng việc nối dõi. Được khen ngợi nơi ánh rồng soi chiếu, làm trung phải bắt đầu từ hiếu. Nay ban sắc mệnh này, khuyến khích lấy đức hạnh mà hành xử.
Nước An Nam ở nơi xa xôi, góc nóng phương Nam. Họ Nguyễn các ngươi vốn xuất thân từ thứ dân, gặp lúc nhà Lê suy yếu, nhân đó dựng nên quốc gia. Vượt vạn dặm đến triều, thân hành dâng biểu chúc mừng. Một lòng hướng về triều đình, hằng năm dâng cống không thiếu. Tưởng rằng phúc lộc sẽ dài lâu, nào ngờ tin buồn đột ngột đến. Trẫm đã thân chế thơ bảy chữ để điếu, nay người kế vị từ phương xa đến, nên nối ngôi để giữ phúc.
Ngươi, Nguyễn Quang Toản, tư chất anh tuấn, khí chất thuần hậu. Được dạy làm con, cũng được dạy làm bề tôi, sớm được rèn luyện trong gia giáo. Gặp lúc cha mất, con kế vị, nên được thấm nhuần phong hóa hoàng triều. Trước kia đã được ban ân, ấn tín sớm soi sáng dòng dõi. Nay kế thừa cơ nghiệp, mọi trách nhiệm đều đặt lên vai người con nhỏ. Gặp thời thuận lợi, người giữ trọng trách không ai bằng trưởng tử. Ân sâu như sương móc, ban phong để giữ yên cõi ngoài. Nay phong ngươi làm vua nước An Nam, ban sắc mệnh này.
Than ôi! Sông như dải lụa, núi như dao mài. Lòng trời chỉ ban phúc lành cho người thiện để kéo dài vận nước. Cung tên thành cái đấu, lò rèn thành áo ấm, cơ nghiệp đời sau nhờ kế thừa mà càng thêm rực rỡ. Vua hãy chăm lo cai trị nơi tranh tối tranh sáng, tận tâm như hướng dương. Hãy giữ lễ nghi trong mọi hành vi, siêng năng sớm tối. Gắng sức đổi mới, lấy tín nghĩa hòa hiếu làm đầu. Hãy cẩn trọng giữ gìn cõi phong, mong đời đời trung trinh bền vững. Luôn kính cẩn tiếp nhận ân sâu, khâm mệnh chớ lơi.
Lại dụ rằng: Phúc Khang An (福康安) lần này xử lý việc Quách Nhĩ Khách (廓爾喀), đã trải qua nhiều gian khổ, công lao hiển hách. Nguyên định sau khi hoàn tất việc hậu sự sẽ vào kinh yết kiến. Nay Phúc Khang An đã vào kinh, thăm mẹ, ở lại kinh vài tháng, rồi sẽ trở lại nhiệm sở Lưỡng Quảng.
Sau đó, vì mẹ Phúc Khang An lâm bệnh, lại nghĩ ông lâu ngày vắng mặt, chưa được phụng dưỡng, mà mẹ ông đã hơn bảy mươi tuổi. Lại nữa, bên cạnh trẫm cũng cần người thân cận, nên định khi ông vào kinh sẽ lưu lại để gần gũi phụng dưỡng, tỏ lòng trẫm thương xót.
Nay theo tấu của Trần Dụng Phu (陳用敷), Nguyễn Quang Bình (阮光平) đã mất ngày 29 tháng Chín năm ngoái (Nhâm tý 1792)[3]. Nguyễn Quang Bình bất hòa với anh em, bề tôi nước ấy là Ngô Văn Sở (吳文楚) đã lâu nắm quyền quốc sự, e rằng không phải người an phận. Lòng người dao động, nếu có biến cố, sẽ khó xử lý.
Lúc này việc biên giới không chỉ Quách Thế Huân (郭世勳), Trần Dụng Phu không thể trấn an, mà dù cử đại thần khác đến, người An Nam cũng không kính sợ bằng thanh thế sẵn có của Phúc Khang An. Nhất định phải để Phúc Khang An đến, đi qua Quảng Tây, hoặc lưu lại vài ngày, mới đủ để trấn áp.
Phúc Khang An nhận được dụ này, lập tức từ Tứ Xuyên đi đường qua Hồ Nam, nhanh chóng đến Quảng Tây. Tỉnh này vốn thuộc quyền quản lý của ông, nếu có tin tức gì khác, ông có thể lưu lại vài tháng, âm thầm dò xét, tùy thời xử lý.
Việc Phúc Khang An vào kinh phục mệnh, vốn là vì tình cảm quyến luyến triều đình, nhân đó thăm mẹ. Trẫm cũng rất mong gặp ông, nhưng tình hình hiện nay, ông không thể không trở lại Lưỡng Quảng. Các việc hiện tại cũng không cần trẫm phải trực tiếp căn dặn. Mẹ ông bệnh tình đã thuyên giảm, ông được ân sủng, nên lấy việc công làm trọng, tự biết nhanh chóng đến Quảng Tây, xử lý ổn thỏa.
Ban thưởng một đôi túi lớn dùng trong nội đình, bốn túi nhỏ, để tỏ lòng ưu ái. Các tấu chương của Trần Dụng Phu, thư gửi các tổng đốc, cùng dụ chỉ đã sai Thành Lâm (成林) mang đi ban ơn, đều sao gửi để xem xét.
Lại dụ rằng: Theo lễ bộ dẫn các viên chức tháp tùng sứ thần các nước Xiêm La (暹羅), An Nam (安南) vào kinh yết kiến, trong đó có Thông phán Vĩnh Ninh (永寧) tỉnh Quảng Đông là Thái Chi Hoa (蔡枝華). Xét người này rất tầm thường, bản tấu trình về lý lịch cũng không rõ ràng. Việc tháp tùng sứ thần, lẽ ra phải tuyển chọn viên chức giỏi giang, mới đủ để chăm lo và kiêm việc trấn áp. Tỉnh Quảng Tây đã cử Tri châu Lục Thụ (陸澍), chức vụ đã thấy hơi thấp, còn Quảng Đông chỉ cử một Thông phán, lại là người tầm thường như Thái Chi Hoa, há chẳng bị ngoại phiên xem thường, thật là không phải.
Sai Quách Thế Huân (郭世勳) truyền chỉ nghiêm khắc răn bảo, đồng thời truyền dụ các Tổng đốc, Tuần phủ các tỉnh giáp giới với ngoại phiên: từ nay về sau, khi có sứ thần các nước vào kinh, nhất thiết phải tuyển chọn viên chức giỏi giang đảm nhiệm. Nếu còn sơ suất, không chú ý trong việc cử người, khiến bị ngoại phiên khinh thường, thì Tổng đốc liên quan sẽ bị nghiêm trị.
Chú thích
- ▲ Theo Tạ Chí Đại Trường thì vua Quang Trung mất ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16 tháng 9 năm 1792)
- ▲ Ý nói việc các vua Việt Nam trước kia cống người vàng (kim nhân) để khỏi phải sang chầu Trung Quốc. Nay chỉ có mỗi Quang Trung là tự sang chầu.
- ▲ Theo Tạ Chí Đại Trường thì vua Quang Trung mất ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16 tháng 9 năm 1792)
Nguồn:
- https://sillok.history.go.kr/mc/id/qsilok_007_1421_0010_0010_0040_0010
- https://sillok.history.go.kr/mc/id/qsilok_007_1421_0010_0010_0070_0020
- https://sillok.history.go.kr/mc/id/qsilok_007_1421_0010_0010_0070_0030
- https://sillok.history.go.kr/mc/id/qsilok_007_1421_0010_0010_0070_0040
- https://sillok.history.go.kr/mc/id/qsilok_007_1421_0010_0010_0070_0050
- https://sillok.history.go.kr/mc/id/qsilok_007_1421_0010_0010_0070_0060