Biên dịch:Thanh thực lục/Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục/Quyển 111
Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục / quyển 111 / Gia Khánh năm 8 / tháng 4 / ngày 6 (năm 1803 dương lịch)
[sửa]Dụ các đại thần Quân cơ: Tôn Ngọc Đình (孫玉庭) tấu rằng đã nhận được thư hồi đáp của Nguyễn Phúc Ánh (阮福映), xin chỉ tuân hành. Trẫm đã xem tấu, mọi việc đều rõ.
Việc Nguyễn Phúc Ánh trước đây gửi thư xin phong quốc hiệu “Nam Việt” (南越), vốn là do ý kiến của Tôn Ngọc Đình, chưa từng tấu trình, nên lần này lại dâng biểu xin phong “Nam Việt”, tha thiết nhờ tấu giúp. Trẫm xem thư trình, lời lẽ mềm mỏng, rất mực cung thuận. Trong thư nói nước ấy vốn có đất cũ Việt Thường (越裳), nay lại có toàn cõi An Nam, không muốn quên đất tổ, nên muốn giữ tên cũ An Nam, cũng là thực tình.
Tôn Ngọc Đình liền gửi thư cho quốc trưởng nước ấy, nói rằng trước đây vì tên nước xin phong chưa hợp danh nghĩa, nên chưa dám tấu trình. Nay thư trình đã nêu rõ đầu đuôi việc lập quốc, xin ban phong mới, đã theo thực tình tấu lên Hoàng đế. Được dụ rằng: quốc trưởng nước ấy trước đây vượt biển tỏ lòng thành, kính cẩn nộp lại sắc ấn cũ của Nguyễn Quang Toản (阮光纘), lại trói giải giặc biển, cung kính xin mệnh, lòng thành rõ rệt. Nay xin ban phong đất, kính cẩn dâng biểu cống, đặc biệt ban dụ chấp thuận.
Về việc xin dùng tên “Nam Việt”, do nước ấy vốn có đất cũ Việt Thường, sau có toàn cõi An Nam, triều đình ban phong quốc hiệu, cho dùng hai chữ “Việt Nam” (越南): chữ “Việt” đặt trước, giữ đất cũ tổ tiên; chữ “Nam” đặt sau, biểu thị đất phong mới, lại ở phía nam đất Bách Việt xưa, không lẫn với “Nam Việt” cổ. Tên gọi đã chính, nghĩa chữ lại cát tường, có thể đời đời hưởng ân triều đình.
Hiện đã lệnh cho bồi giá (陪价 sứ đoàn) đến triều xin phong. Sắc ấn ban ra cũng dùng hai chữ này làm quốc hiệu. Nước ấy được tên đẹp, vào hàng phiên thuộc, càng thêm vinh hiển. Tôn Ngọc Đình nhận được dụ này, một mặt gửi thư cho Nguyễn Phúc Ánh, một mặt cử viên chức đi cùng sứ thần nước ấy, kính cẩn mang biểu cống vào kinh. Dụ rằng thời tiết sắp vào mùa nóng, có thể đi chậm để tỏ lòng thương xót, dự định cuối tháng 7 đến kinh. Khi ấy trẫm đang ngự tại sơn trang tránh nóng, đúng lúc sứ Hãn quốc Kazakhstan (哈薩克) vào triều, cũng có thể cùng dự yến. Ngày sứ thần khởi hành từ Quảng Tây, phải tấu trình trước. Truyền dụ rõ ràng.
Chú thích
Nguồn:
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.