Bước tới nội dung

Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh  (Đại Đường
của Già Phạm Đạt Ma, do Wikisource dịch từ tiếng Trung Quốc
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh (chữ Hán: 千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經; phiên âm Sanskrit: Nīlakaṇṭha Dhāraṇī Sūtra), thường được gọi tắt là Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni hoặc Kinh Đại Bi, là một bản kinh quan trọng thuộc hệ tư tưởng Phật giáo Đại thừa, đặc biệt phổ biến trong các truyền thống Mật giáo và Tịnh độ tông tại Đông Á.

Nội dung trọng tâm của bản kinh là giới thiệu về Chú Đại Bi – bài thần chú được xem là biểu tượng cho lòng từ bi vô hạn của Quán Thế Âm Bồ Tát nhằm cứu khổ ban vui cho chúng sinh. Bản kinh này được dịch từ tiếng Sanskrit sang tiếng Hán vào khoảng thế kỷ VII (thời nhà Đường) bởi thiền sư Già Phạm Đạt Ma (Bhagavad-dharma), một tăng sĩ người Tây Ấn Độ. Mặc dù có nhiều bản dịch khác nhau về các bài chú liên quan đến Quán Thế Âm, nhưng bản dịch của Già Phạm Đạt Ma là bản phổ biến nhất, được đưa vào Đại Tạng Kinh (Tập 20, Số hiệu 1060).

Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh

Tam tạng Già Phạm Đạt Ma người nước Tây Thiên Trúc vâng chiếu dịch

Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở nơi đạo tràng trang nghiêm bằng báu vật, trong cung điện của Quan Thế Âm tại núi Bổ Đà Lạc Ca. Ngài ngồi trên tòa sư tử báu, tòa ấy thuần bằng vô lượng các thứ ngọc ma ni xen kẽ để trang trí, các phướn lọng bằng trăm thứ báu treo vây quanh. Lúc bấy giờ, Đức Như Lai ở trên tòa đó, vì muốn diễn nói thần chú tổng trì.

Cùng với vô số Bồ Tát Ma Ha Tát, tên là: Bồ Tát Tổng Trì Vương, Bồ Tát Bảo Vương, Bồ Tát Dược Vương, Bồ Tát Dược Thượng, Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí, Bồ Tát Hoa Nghiêm, Bồ Tát Đại Trang Nghiêm, Bồ Tát Bảo Tạng, Bồ Tát Đức Tạng, Bồ Tát Kim Cang Tạng, Bồ Tát Hư Không Tạng, Bồ Tát Di Lặc, Bồ Tát Phổ Hiền, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Các vị Bồ Tát Ma Ha Tát như thế đều là bậc Pháp Vương Tử đã chịu phép quán đảnh. Lại cùng với vô lượng vô số chúng đại Thanh văn, đều tu hạnh A La Hán, ngài Ma Ha Ca Diếp ở ngôi thập địa làm bậc thượng thủ. Lại cùng với vô lượng Phạm Ma La Thiên, ngài Thiện Tra Phạm Ma làm bậc thượng thủ. Lại cùng với vô lượng các thiên tử cõi Dục, ngài Cù Bà Già Thiên Tử làm bậc thượng thủ. Lại cùng với vô lượng bốn vị vua hộ đời, ngài Đề Đầu Lại Tra làm bậc thượng thủ. Lại cùng với vô lượng Thiên, Long, Dạ xoa, Càn đạt bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người và chẳng phải người, ngài Thiên Đức Đại Long Vương làm bậc thượng thủ. Lại cùng với vô lượng các thiên nữ cõi Dục, Thiên nữ Đồng Mục làm bậc thượng thủ. Lại cùng với vô lượng thần hư không, thần sông biển, thần suối nguồn, thần ao lạch, thần thảo dược, thần cây rừng, thần nhà cửa, thần nước, thần lửa, thần đất, thần gió, thần thổ địa, thần núi, thần đá, các vị thần cung điện đều đến hội họp.

Bấy giờ, Bồ Tát Quan Thế Âm ở trong đại hội ngầm phóng thần thông, ánh sáng chiếu soi mười phương cõi nước và thế giới tam thiên đại thiên này đều thành màu vàng. Cung điện nhà trời, cung điện rồng, cung điện các vị thần tôn quý đều rung động. Sông ngòi, biển lớn, núi Thiết Vi, núi Tu Di, núi đất, núi đen cũng đều rung động mạnh. Ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, ngọc quý, lửa và các vì sao đều không hiện ra được. Khi ấy, Bồ Tát Tổng Trì Vương thấy tướng hiếm có này, lấy làm lạ vì chưa từng thấy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, dùng kệ hỏi Phật rằng tướng thần thông này là do ai phóng ra. Kệ hỏi rằng:

Ai ở ngày nay thành Chánh Giác
Khắp phóng ánh sáng lớn như vầy
Mười phương cõi nước đều màu vàng
Thế giới tam thiên cũng lại thế
Ai ở ngày nay được tự tại
Diễn phóng thần lực lớn hiếm có
Cõi Phật vô biên đều rung động
Cung điện rồng thần thảy chẳng yên
Nay trong đại chúng đều nghi ngờ
Chẳng lường nhân duyên là sức ai
Là Phật, Bồ Tát, đại Thanh văn
Hay Phạm, Ma, Thiên, các Đế Thích
Cúi mong Thế Tôn đại từ bi
Nói rõ nguyên do thần thông này

Phật bảo Bồ Tát Tổng Trì Vương rằng: "Này thiện nam tử, các ông nên biết, nay trong hội này có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát tên là Quan Thế Âm Tự Tại. Từ vô lượng kiếp đến nay đã thành tựu lòng đại từ đại bi, khéo tu tập vô lượng môn đà la ni. Vì muốn cho các chúng sinh được an lạc, nên ngầm phóng sức đại thần thông như thế". Phật nói lời ấy xong, lúc đó Bồ Tát Quan Thế Âm từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa sang y phục, hướng về Phật chắp tay, bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, con có thần chú Đại Bi Tâm Đà La Ni nay muốn diễn nói. Vì để các chúng sinh được an lạc, để trừ tất cả bệnh, để được sống lâu, để được giàu có, để diệt trừ tất cả ác nghiệp tội nặng, để lìa chướng nạn, để tăng trưởng tất cả công đức pháp lành, để thành tựu tất cả các căn lành, để xa lìa tất cả mọi sợ hãi, để mau chóng làm thỏa mãn tất cả những mong cầu. Cúi mong Thế Tôn từ bi thương xót nghe hứa". Phật bảo: "Này thiện nam tử, ông có lòng đại từ bi muốn nói thần chú để làm an lạc chúng sinh, nay chính là lúc, nên nói mau đi. Như Lai tùy hỷ, chư Phật cũng thế".

Bồ Tát Quán Thế Âm lại bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, con nhớ vào vô lượng ức kiếp về trước, có đức Phật ra đời tên là Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai. Đức Thế Tôn ấy vì thương tưởng đến con và vì tất cả chúng sinh, nên đã thuyết chú Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni này. Ngài dùng tay màu vàng xoa đỉnh đầu con và bảo rằng: 'Này thiện nam tử, ông nên thọ trì tâm chú này, khắp vì tất cả chúng sinh trong đời ác vị lai mà làm lợi lạc lớn'. Vào lúc đó, con mới ở bậc Sơ địa, vừa nghe chú này xong liền vượt lên Bát địa. Khi ấy lòng con vui mừng, bèn phát lời thề rằng: 'Nếu mai sau con có khả năng làm lợi ích, an lạc cho tất cả chúng sinh, thì xin cho thân con tức khắc sinh ra đầy đủ ngàn tay ngàn mắt'. Phát nguyện xong, tức thì trên thân con ngàn tay ngàn mắt thảy đều đầy đủ, đất đai mười phương rung động sáu cách, ngàn đức Phật mười phương đều phóng ánh sáng chiếu đến thân con và chiếu khắp vô biên thế giới mười phương. Từ đó về sau, con lại ở nơi vô lượng chỗ Phật, trong vô lượng hội chúng, được nghe lại và đích thân thọ trì Đà La Ni này, lại càng vui mừng, hớn hở vô cùng, liền vượt qua được sinh tử vi tế trong vô số ức kiếp. Từ đó đến nay, con thường trì tụng, chưa từng quên lãng. Nhờ trì chú này nên nơi sinh ra luôn ở trước Phật, hoa sen hóa sinh, không nhận thân trong bào thai."

Nếu có tỳ kheo, tỳ kheo ni, thiện nam, tín nữ, đồng nam, đồng nữ nào muốn tụng trì, hãy khởi lòng từ bi đối với chúng sinh, trước tiên nên theo con mà phát nguyện như vầy:

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm biết tất cả pháp.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được mắt trí tuệ.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm độ tất cả chúng.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được phương tiện khéo.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm lên thuyền Bát nhã.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được vượt biển khổ.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được đạo Giới Định.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm lên núi Niết bàn.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm về nhà vô vi.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm đồng thân Pháp tính.

Con nếu hướng về núi đao, núi đao tự gãy nát.
Con nếu hướng về nước sôi, nước sôi tự khô cạn.
Con nếu hướng về địa ngục, địa ngục tự tan biến.
Con nếu hướng về ngã quỷ, ngã quỷ tự no đủ.
Con nếu hướng về Tu la, tâm ác tự điều phục.
Con nếu hướng về súc sinh, tự được trí tuệ lớn.

Phát nguyện xong, chí tâm xưng niệm danh hiệu của con, cũng nên chuyên niệm bản sư của con là Đức Như Lai A Di Đà, sau đó liền tụng thần chú Đà La Ni này. Một đêm tụng đủ năm biến, sẽ tiêu diệt được tội nặng sinh tử trong trăm ngàn muôn ức kiếp nơi thân.

Bồ Tát Quán Thế Âm lại bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, nếu hàng người và trời nào tụng trì chương cú Đại Bi, thì lúc lâm chung mười phương chư Phật đều đến dắt tay, muốn sinh về cõi Phật nào, đều tùy theo ý nguyện mà được vãng sinh."

Lại bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, nếu chúng sinh nào tụng trì thần chú Đại Bi mà còn đọa vào ba đường ác, con thề không thành chính giác. Người tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được sinh về các cõi Phật, con thề không thành chính giác. Người tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không đạt được vô lượng tam muội và biện tài, con thề không thành chính giác. Người tụng trì thần chú Đại Bi, trong đời hiện tại nếu mọi mong cầu không được toại nguyện, thì không được gọi là Đại Bi Tâm Đà La Ni. Chỉ trừ những kẻ làm việc bất thiện, kẻ lòng chẳng chí thành. Nếu người nữ nào chán ghét thân nữ muốn thành thân nam, tụng trì chương cú Đà La Ni Đại Bi, nếu không chuyển thân nữ thành thân nam, con thề không thành chính giác. Nếu nảy sinh chút lòng nghi ngờ thì chắc chắn không toại nguyện."

"Nếu chúng sinh nào xâm tổn của thường trụ, thức ăn uống hay tài vật, dù nghìn đức Phật ra đời cũng không thông cho sám hối, dù có sám hối tội cũng không diệt mất. Nay tụng thần chú Đại Bi thì liền được tiêu diệt. Nếu xâm tổn, ăn dùng thức ăn và tài vật của thường trụ, phải đối trước mười phương thầy mà sám hối thì mới trừ diệt. Nay khi tụng Đà La Ni Đại Bi, mười phương thầy liền đến làm chứng minh, tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt. Tất cả các tội mười ác, năm nghịch, phỉ báng người, phỉ báng pháp, phá trai, phá giới, phá tháp, phá chùa, trộm đồ vật của tăng kỳ, làm ô uế hạnh thanh tịnh... tất cả ác nghiệp tội nặng như thế thảy đều diệt sạch. Chỉ trừ một việc: đối với chú mà sinh lòng nghi, thì cho đến tội nhỏ nghiệp nhẹ cũng chẳng được diệt, huống chi là tội nặng. Tuy tội nặng không diệt ngay lập tức, nhưng vẫn có thể làm nhân bồ đề về sau."

Lại bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, nếu hàng người và trời tụng trì tâm chú Đại Bi, sẽ được mười lăm loại thiện sinh, không chịu mười lăm loại ác tử. Những loại chết xấu (ác tử) đó là:

Một là, không để cho bị đói khát khốn khổ mà chết.
Hai là, không bị xiềng xích, đánh đập mà chết.
Ba là, không vì oan gia đối đầu mà chết.
Cuộc bốn là, không vì quân trận giết nhau mà chết.
Năm là, không vì sói dữ, ác thú cắn hại mà chết.
Sáu là, không bị rắn độc, bò cạp cắn mà chết.
Bảy là, không bị nước cuốn, lửa cháy mà chết.
Tám là, không bị thuốc độc mà chết.
Chín là, không bị trùng độc hại chết.
Mười là, không vì điên loạn mất trí mà chết.
Mười một là, không vì rơi từ núi cao, cây lớn, vực thẳm mà chết.
Mười hai là, không vì người ác trù ếm mà chết.
Mười ba là, không vì tà thần ác quỷ làm hại mà chết.
Mười bốn là, không vì bệnh ác hành hạ mà chết.
Mười lăm là, không vì tự hại mình mà chết."

Người trì tụng thần chú Đại Bi sẽ không bị mười lăm loại chết xấu như thế. Còn mười lăm loại sinh ra tốt lành (thiện sinh) đạt được là:

Một là, nơi sinh ra thường gặp vua hiền.
Hai là, thường sinh vào nước lành.
Ba là, thường gặp thời thế tốt.
Bốn là, thường gặp bạn lành.
Năm là, thân căn thường được đầy đủ.
Sáu là, đạo tâm thuần thục.
Bảy là, không phạm cấm giới.
Tám là, quyến thuộc có ân nghĩa và hòa thuận.
Chín là, đồ dùng, tiền bạc, thức ăn thường được sung túc.
Mười là, luôn được người khác cung kính, giúp đỡ.
Mười một là, tiền bạc của báu không bị kẻ khác cướp đoạt.
Mười hai là, những gì mong cầu đều được toại ý.
Mười ba là, rồng, trời, thiện thần thường xuyên hộ vệ.
Mười bốn là, nơi sinh ra được gặp Phật, nghe pháp.
Mười lăm là, chính pháp đã nghe hiểu được nghĩa sâu xa.

Nếu có người trì tụng Đà La Ni Đại Bi Tâm thì sẽ được mười lăm loại thiện sinh như thế. Tất cả trời người nên thường trì tụng, chớ sinh lòng lười biếng.

Bồ Tát Quán Thế Âm nói lời ấy xong, ở trước đại hội chắp tay đứng thẳng, khởi lòng đại bi đối với chúng sinh, mặt tươi cười rạng rỡ, liền nói chương cú thần diệu Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni rằng:

南無喝囉怛那哆囉夜耶。南無阿唎耶。婆盧羯帝爍缽囉耶。菩提薩埵婆耶。摩訶薩埵婆耶。摩訶迦盧尼迦耶。唵。薩皤囉罰曳。數怛那怛寫。南無悉吉栗埵伊蒙阿唎耶。婆盧吉帝室佛囉楞馱婆。南無那囉謹墀。醯唎摩訶皤哆沙咩。薩婆阿他豆輸朋。阿逝孕。薩婆薩哆那摩婆伽。摩罰特豆。怛姪他。唵阿婆盧醯。盧迦帝。迦羅帝。夷醯唎。摩訶菩提薩埵。薩婆薩婆。摩囉摩囉。摩醯摩醯唎馱孕。俱盧俱盧羯蒙。度盧度盧罰闍耶帝。摩訶罰闍耶帝。陀囉陀囉。地唎尼。室佛囉耶。遮囉遮囉。麼麼罰摩囉。穆帝隸。伊醯移醯。室那室那。阿囉參佛囉舍利。罰沙罰參。佛囉舍耶。呼盧呼盧摩囉。呼盧呼盧醯利。娑囉娑囉。悉唎悉唎。蘇嚧蘇嚧。菩提夜菩提夜。菩馱夜菩馱夜。彌帝唎夜。那囉謹墀。地利瑟尼那。婆夜摩那。娑婆訶。悉陀夜。娑婆訶。摩訶悉陀夜。娑婆訶。悉陀喻藝。室皤囉夜。娑婆訶。那囉謹墀。娑婆訶。摩囉那囉。娑婆訶。悉囉僧阿穆佉耶。娑婆訶。娑婆摩訶阿悉陀夜。娑婆訶。者吉囉阿悉陀夜。娑婆訶。波陀摩羯悉哆夜。娑婆訶。那囉謹墀皤伽囉耶。娑婆訶。摩婆利勝羯囉夜。娑婆訶。南無喝囉怛那哆囉夜耶。南無阿利耶。婆羅吉帝。爍皤囉夜。娑婆訶。唵悉殿都。漫多囉。跋陀耶。娑婆訶。

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô cát đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đa na ma bà già. Ma phạt đặc đậu. Đát điệt tha. Án a bà lô hê. Lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Cu lô cu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da. Giá ra giá ra. Mạ mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Di hê di hê. Thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi. Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê rị. Sa ra sa ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn trì. Địa rị sắc ni na. Ba dạ ma na. Ta bà ha. Tất đà dạ. Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ. Ta bà ha. Tất đà dụ nghệ. Thất bàn ra dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da. Ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Ta bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ. Ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. Ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ. Ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô cát đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha. Án tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đà dạ. Ta bà ha.

Bồ Tát Quán Thế Âm nói thần chú này xong, đất đai sáu cách rúng động, trời tuôn hoa báu rơi xuống bời bời. Mười phương chư Phật thảy đều vui mừng, thiên ma ngoại đạo khiếp sợ dựng tóc gáy. Tất cả hội chúng đều chứng được quả vị: hoặc đắc quả Tu-đà-hoàn, hoặc đắc quả Tư-đà-hàm, hoặc đắc quả A-na-hàm, hoặc đắc quả A-la-hán; hoặc đắc sơ địa, nhị địa, tam địa, tứ địa, ngũ địa cho đến thập địa; vô lượng chúng sinh phát tâm Bồ-đề.

Lúc bấy giờ, Đại Phạm Thiên Vương từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa sang y phục, chắp tay cung kính bạch Bồ Tát Quán Thế Âm rằng: "Hay thay Đại Sĩ! Con từ trước đến nay đã trải qua vô lượng hội Phật, nghe đủ thứ pháp, đủ thứ Đà-la-ni, nhưng chưa từng được nghe nói chương cú thần diệu Đại Bi Tâm Đà-la-ni vô ngại như thế này. Cúi xin Đại Sĩ vì con mà nói về hình dáng, trạng thái của Đà-la-ni này, con và đại chúng rất mong muốn được nghe."

Bồ Tát Quán Thế Âm bảo Phạm Vương rằng: "Ông vì phương tiện lợi ích tất cả chúng sinh nên mới hỏi như thế. Ông nay hãy nghe cho kỹ, ta sẽ vì các ông mà nói lược qua đôi chút."

Bồ Tát Quán Thế Âm nói:

"Tâm đại từ bi là nó.
Tâm bình đẳng là nó.
Tâm không vi (vô vi) là nó.
Tâm không nhiễm trước là nó.
Tâm quán không là nó.
Tâm cung kính là nó.
Tâm khiêm hạ là nó.
Tâm không tạp loạn là nó.
Tâm không kiến thủ (chẳng chấp giữ) là nó.
Tâm Bồ-đề vô thượng là nó.

Nên biết những tâm như thế chính là hình dáng của Đà-la-ni, ông nên nương theo đó mà tu hành."

Đại Phạm Vương nói: "Con và đại chúng nay mới biết được hình dáng của Đà-la-ni này, từ nay xin thọ trì chẳng dám quên sót."

Quán Thế Âm nói: "Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nào trì tụng thần chú này, hãy phát tâm Bồ-đề rộng lớn, thề độ tất cả chúng sinh, thân giữ trai giới, khởi tâm bình đẳng với muôn loài, thường tụng chú này chớ để gián đoạn. Ở nơi phòng sạch, tắm gội thanh khiết, mặc y phục sạch, treo phướn, thắp đèn, dùng hương hoa và thức ăn trăm vị để cúng dường. Buộc tâm vào một chỗ, đừng để duyên theo việc khác, đúng pháp mà trì tụng."

Lúc ấy, sẽ có Bồ Tát Nhật Quang, Bồ Tát Nguyệt Quang cùng vô lượng thần tiên đến làm chứng để tăng thêm hiệu nghiệm. Khi đó, ta sẽ dùng ngàn mắt chiếu soi, ngàn tay nâng đỡ. Từ đó về sau, tất cả kinh sách thế gian đều có thể thọ trì; hết thảy pháp thuật ngoại đạo, kinh điển Vệ-đà đều có thể thông suốt. Người trì tụng thần chú này, tám vạn bốn ngàn thứ bệnh trên thế gian thảy đều chữa trị, không gì không khỏi. Cũng có thể sai khiến tất cả quỷ thần, hàng phục thiên ma, chế ngự ngoại đạo. Nếu ở nơi núi rừng hoang dã tụng kinh ngồi thiền, có các thứ tinh mị, vọng lượng, quỷ thần đến quấy nhiễu khiến tâm chẳng yên, chỉ cần tụng chú này một biến, các quỷ thần ấy thảy đều bị trói buộc.

Nếu có thể đúng pháp trì tụng, đối với chúng sinh khởi lòng từ bi, ta khi ấy sẽ sắc lệnh cho tất cả thiện thần, long vương, kim cang mật tích thường theo bảo vệ, không rời bên cạnh, như bảo vệ con mắt, như bảo vệ mạng sống của chính mình. Liền nói kệ sắc lệnh rằng:

Ta sai Mật Tích Kim Cang Sĩ
Ô Sô, Quân Đồ, Ương Câu Thi
Tám bộ lực sĩ Thưởng Ca La
Thường nên ủng hộ người trì chú.

Ta sai Ma Hê, Na La Diên
Kim Cang La Đà, Ca Tỳ La
Thường nên ủng hộ người trì chú.

Ta sai Bà Táp, Sa Lâu La
Mãn Thiện, Xa Bát, Chân Đà La
Thường nên ủng hộ người trì chú.

Ta sai Tạt Già, Ma Hòa La
Câu Lan Đan Tra, Bán Kỳ La
Thường nên ủng hộ người trì chú.

Ta sai Tất Bà Già La Vương
Ứng Đức, Tỳ Đa, Tát Hòa La
Thường nên ủng hộ người trì chú.

Ta sai Phạm Ma, Tam Bát La
Năm bộ Tịnh Cư, Viêm Ma La
Thường nên ủng hộ người trì chú.

Ta sai Thích Vương ba mươi ba
Đại Biện, Công Đức, Bà Đát Na
Thường nên ủng hộ người trì chú.

Ta sai Đề Đầu Lại Tra Vương
Thần Mẫu, Thiên Nữ, chúng thần lực
Thường nên ủng hộ người trì chú.

Ta sai Tỳ Lâu Lặc Xoa Vương
Tỳ Lâu Bác Xoa, Tỳ Sa Môn
Thường nên ủng hộ người trì chú.

Ta sai Kim Sắc Khổng Tước Vương
Hai mươi tám bộ đại tiên chúng
Thường nên ủng hộ người trì chú.

Ta sai Ma Ni Bạt Đà La
Tán Chi đại tướng, Phất La Bà
Thường nên ủng hộ người trì chú.

Ta sai Nan Đà, Bạt Nan Đà
Bà Già La Rồng, Y Bát La
Thường nên ủng hộ người trì chú.

Ta sai Tu La, Càn Thát Bà
Ca Lâu, Khẩn Na, Ma Hầu La
Thường nên ủng hộ người trì chú.

Ta sai Thủy, Hỏa, Lôi, Điện thần
Câu Bàn Trà Vương, Tỳ Xá Già
Thường nên ủng hộ người trì chú.

Các vị thiện thần cùng long vương, thần mẫu, thiên nữ ấy, mỗi vị đều có năm trăm quyến thuộc và các dạ xoa có sức mạnh lớn thường đi theo ủng hộ. Nếu người trì tụng thần chú Đại Bi ngủ trọ một mình nơi núi trống đồng hoang, các thiện thần ấy sẽ thay phiên nhau canh gác, trừ đuổi tai chướng. Nếu ở núi sâu bị lạc đường, nhờ tụng chú này mà các thiện thần, long vương sẽ hóa làm người lành chỉ cho đường đúng. Nếu ở rừng núi đồng hoang mà thiếu hụt nước lửa, nhờ long vương hộ trì mà hóa ra nước lửa.

Bồ Tát Quán Thế Âm lại vì người trì tụng mà nói kệ thanh lương tiêu trừ tai họa:

Nếu đi trong đồng hoang núi đầm, gặp phải hổ lang các thú dữ, rắn độc, tinh mị, quỷ vọng lượng, nghe tụng chú này chẳng thể hại.
Nếu đi trên sông hồ biển cả, rồng độc, rồng giao, cá Ma-kiệt, Dạ-xoa, La-sát, cá rùa ba ba, nghe tụng chú này tự ẩn trốn.
Nếu gặp quân trận giặc bao vây, hoặc bị người ác đoạt của báu, chí thành xưng tụng chú Đại Bi, họ liền khởi lòng từ trả lại.
Nếu bị quan vương bắt giam thân, tù ngục tối tăm xiềng xích trói, chí thành xưng tụng chú Đại Bi, quan tự mở ơn cho về nhà.
Nếu vào nhà bùa độc đường hoang, đồ ăn thức uống có thuốc hại, chí thành xưng tụng chú Đại Bi, thuốc độc biến thành nước cam lộ.
Người nữ đến lúc khó sinh đẻ, ma quái ngăn trở khổ khó cam, chí thành xưng tụng chú Đại Bi, quỷ thần lui tán sinh an lạc.
Rồng độc quỷ dịch tỏa khí độc, bệnh nhiệt xâm chiếm mệnh sắp chung, chí tâm xưng tụng chú Đại Bi, dịch bệnh tiêu trừ sống lâu dài.
Rồng quỷ gieo rắc các độc sưng, nhọt lở mủ máu đau khó nhịn, chí tâm xưng tụng chú Đại Bi, nhổ nước bọt ba lần độc liền tan.
Chúng sinh đời đục khởi bất thiện, trù ếm nguyền rủa kết oan thù, chí tâm xưng tụng chú Đại Bi, lời nguyền trở lại nơi người đó.
Đời ác loạn lạc lúc pháp diệt, lửa dục bừng cháy tâm mê đảo, bỏ vợ lìa chồng ham bên ngoài, ngày đêm tà tư không tạm dừng, nếu năng xưng tụng chú Đại Bi, lửa dục tiêu diệt tâm tà tan.
Nếu ta khen ngợi công lực chú, một kiếp ngợi ca chẳng thể cùng.

Lúc bấy giờ, Bồ Tát Quán Thế Âm bảo Phạm Thiên rằng: "Tụng chú này năm biến. Lấy chỉ ngũ sắc làm dây, chú vào hai mươi mốt biến, thắt thành hai mươi mốt nút rồi đeo vào cổ. Đà-la-ni này là do chín mươi chín ức hằng hà sa chư Phật đời quá khứ đã nói. Các đức Phật ấy vì những người tu hành sáu độ chưa viên mãn khiến cho mau chóng viên mãn; người chưa phát tâm Bồ-đề khiến mau phát tâm; người Thanh văn chưa chứng quả khiến mau chứng quả; những thần tiên trong cõi tam thiên đại thiên chưa phát tâm Bồ-đề vô thượng khiến mau phát tâm.

Nếu chúng sinh nào chưa có căn lành tin tưởng đại thừa, nhờ uy lực thần thông của Đà-la-ni này mà mầm pháp hạt giống đại thừa được tăng trưởng. Nhờ sức từ bi phương tiện của ta mà mọi nhu cầu của họ đều được thành tựu. Trong cõi tam thiên đại thiên, những nơi tối tăm u ám, chúng sinh trong ba đường ác nghe chú của ta đều được lìa khổ. Các vị Bồ Tát chưa lên Sơ trụ khiến mau đạt được, cho đến đạt mười trụ địa, lại khiến đạt đến địa vị Phật, tự nhiên thành tựu ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp tùy hình.

Nếu người Thanh văn nghe Đà-la-ni này một lần qua tai, hoặc tu hành viết chép Đà-la-ni này, lấy tâm ngay thẳng mà ở đúng theo pháp, thì bốn quả sa môn chẳng cầu tự được. Nếu trong cõi tam thiên đại thiên, sông ngòi đá vách hay nước bốn biển lớn, chú này có thể làm cho sôi trào; núi Tu Di và núi Thiết Vi có thể làm cho rung động, lại khiến tan vụn như hạt bụi, chúng sinh trong đó thảy đều phát tâm Bồ-đề vô thượng.

Nếu chúng sinh nào đời nay có mong cầu, trong ba tuần (hai mươi mốt ngày) giữ trai giới thanh tịnh, tụng Đà-la-ni này tất sẽ toại nguyện. Từ bến bờ sinh tử này đến bến bờ sinh tử kia, mọi ác nghiệp thảy đều diệt sạch. Trong cõi tam thiên đại thiên, hết thảy chư Phật, Bồ Tát, Phạm Vương, Đế Thích, bốn vị Thiên Vương, thần tiên, long vương thảy đều chứng biết.

Nếu hàng người và trời tụng trì Đà-la-ni này, người đó nếu tắm gội trong sông ngòi biển cả, chúng sinh trong đó được nước từ thân người này chạm vào mình, thì hết thảy ác nghiệp tội nặng thảy đều tiêu diệt, liền được chuyển sinh sang tịnh độ phương khác, hoa sen hóa sinh, chẳng nhận thân thai, thấp hay trứng; huống chi là người đích thân thọ trì đọc tụng. Nếu người trì tụng đi trên đường, có luồng gió lớn thổi qua thân mình, tóc tai, quần áo của người đó, luồng gió ấy thổi tiếp đến các loài chúng sinh khác, thì những chúng sinh chạm phải luồng gió ấy hết thảy tội nặng ác nghiệp thảy đều diệt sạch, chẳng còn chịu báo ứng ba đường ác, thường sinh trước mặt Phật. Nên biết phước đức quả báo của người thọ trì là không thể nghĩ bàn.

Người trì tụng Đà-la-ni này, lời tiếng thốt ra từ miệng dù lành hay ác, hết thảy thiên ma ngoại đạo, thiên long quỷ thần nghe thấy đều là pháp âm thanh tịnh, đều đối với người đó mà khởi lòng cung kính, tôn trọng như Phật."

Người trì tụng Đà-la-ni này, nên biết người đó chính là thân tạng của Phật, vì được chín mươi chín ức hằng hà sa chư Phật yêu thương che chở. Nên biết người đó chính là thân quang minh, vì được ánh sáng của tất cả Như Lai chiếu soi. Nên biết người đó là tạng từ bi, vì thường dùng Đà-la-ni để cứu độ chúng sinh. Nên biết người đó là tạng diệu pháp, vì thu nhiếp tất cả các môn Đà-la-ni. Nên biết người đó là tạng thiền định, vì trăm ngàn tam muội thường hiện tiền. Nên biết người đó là tạng hư không, vì thường dùng trí tuệ không mà quán xét chúng sinh. Nên biết người đó là tạng vô úy, vì rồng trời thiện thần thường hộ trì. Nên biết người đó là tạng diệu ngữ, vì tiếng Đà-la-ni nơi miệng không hề dứt đoạn. Nên biết người đó là tạng thường trụ, vì ba tai nạn và kiếp ác không thể làm hại. Nên biết người đó là tạng giải thoát, vì thiên ma ngoại đạo không thể cầm giữ. Nên biết người đó là tạng dược vương, vì thường dùng Đà-la-ni chữa bệnh cho chúng sinh. Nên biết người đó là tạng thần thông, vì dạo chơi các cõi Phật được tự tại. Công đức của người ấy khen ngợi không thể hết.

Này thiện nam tử, nếu có người chán khổ thế gian, cầu vui sống lâu, thì ở nơi vắng vẻ sạch sẽ, kết giới thanh tịnh. Chú vào áo để mặc; hoặc nước, hoặc đồ ăn, hoặc hương, hoặc thuốc, đều chú một trăm lẻ tám biến, dùng vào chắc chắn được sống lâu. Nếu có thể đúng pháp kết giới, y pháp thọ trì, thì mọi việc đều thành tựu.

Cách kết giới là: lấy con dao chú hai mươi mốt biến, vạch đất làm giới hạn; hoặc lấy nước sạch chú hai mươi mốt biến, rảy ra bốn phương làm giới hạn; hoặc lấy hạt cải trắng chú hai mươi mốt biến, ném ra bốn phương làm giới hạn; hoặc dùng phép quán tưởng đến đâu làm giới hạn đến đó; hoặc lấy tro sạch chú hai mươi mốt biến làm giới hạn; hoặc chú vào chỉ ngũ sắc hai mươi mốt biến, vây quanh bốn phía làm giới hạn; thảy đều được cả. Nếu có thể đúng pháp thọ trì, tự nhiên đạt được kết quả.

Nếu người nào nghe được tên gọi của Đà-la-ni này còn diệt được vô lượng kiếp tội nặng sinh tử, huống chi là người trì tụng. Nếu người nào được trì tụng thần chú này, nên biết người đó đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, gieo trồng căn lành rộng lớn. Nếu có thể vì chúng sinh mà nhổ sạch khổ nạn, đúng pháp trì tụng, nên biết người đó chính là bậc đầy đủ tâm đại bi, thành Phật không xa. Hễ thấy chúng sinh nào, đều vì họ mà tụng, khiến tai họ nghe được để làm nhân Bồ-đề. Công đức của người này vô lượng vô biên, khen ngợi không thể hết.

Nếu có thể tinh thành dùng tâm, thân giữ trai giới, vì tất cả chúng sinh mà sám hối tội lỗi nghiệp trước, cũng tự sám tạ các thứ ác nghiệp từ vô lượng kiếp đến nay, miệng tụng Đà-la-ni này tiếng liên tiếp không dứt, thì bốn quả sa môn đời này chứng được ngay. Người căn tính lanh lợi có trí tuệ quán xét phương tiện, thì quả vị thập địa đạt được không khó, huống chi là những phước báo nhỏ nhặt ở thế gian, mọi mong cầu không gì không toại nguyện.

Nếu muốn sai khiến quỷ, hãy lấy đầu lâu nơi hoang dã rửa sạch, trước tượng Thiên Thủ lập đàn tràng, dùng các thứ hương hoa đồ ăn mà cúng tế, mỗi ngày như thế trong bảy ngày, quỷ ắt sẽ hiện thân thuận theo sai bảo. Nếu muốn sai khiến bốn vị Thiên Vương, hãy chú vào gỗ đàn hương mà đốt lên. Đó là nhờ sức thệ nguyện đại bi sâu nặng của vị Bồ Tát này, cũng nhờ uy thần của Đà-la-ni này rộng lớn vậy.

Phật bảo A-nan: "Nếu có quốc độ khi tai nạn nổi lên, vị quốc vương đó nếu dùng chính pháp trị nước, khoan hồng với nhân dân, không làm oan ức chúng sinh, xá miễn cho những kẻ có lỗi; trong bảy ngày bảy đêm thân tâm tinh tấn, tụng trì thần chú Đà La Ni Đại Bi Tâm này, thì tất cả tai nạn trong quốc độ ấy thảy đều tiêu diệt, ngũ cốc tươi tốt, muôn dân an lạc.

Lại nữa, nếu bị quân thù nước khác nhiều lần đến xâm lấn quấy nhiễu làm trăm họ chẳng yên, đại thần mưu phản, dịch bệnh hoành hành, hạn hán lụt lội không điều hòa, nhật nguyệt mất đi độ số; khi các thứ tai nạn như thế nổi lên, nên tạo tượng Đại Bi Ngàn Mắt hướng về phương Tây, dùng các thứ hương hoa, phướn lọng, hoặc thức ăn trăm vị chí tâm cúng dường. Vị vua kia lại có thể trong bảy ngày bảy đêm thân tâm tinh tấn, tụng trì chương cú thần diệu Đà La Ni này, thì quân thù nước ngoài sẽ tự hàng phục, mỗi bên tự về lo việc cai trị, không còn quấy nhiễu lẫn nhau. Trong nước thông suốt, lòng từ hướng về nhau, vương tử và bá quan đều hành xử trung chính, phi hậu và cung nữ hiếu kính với vua. Các rồng, quỷ thần ủng hộ đất nước ấy, mưa thuận gió hòa, hoa quả phong nhiêu, nhân dân vui vẻ.

Lại nữa, nếu trong nhà gặp bệnh dữ, trăm thứ quái dị cùng nổi lên, quỷ thần ma quái làm hao tán loạn lạc gia đình, người ác ngang ngược gây chuyện thị phi để mưu hại, người trong nhà lớn nhỏ trong ngoài không hòa thuận; nên hướng về trước tượng Đại Bi Ngàn Mắt lập ra đàn tràng, chí tâm niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, tụng Đà La Ni này đủ một ngàn biến, thì những việc ác như trên thảy đều tiêu diệt, mãi được yên ổn."

Ngài A-nan bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, chú này tên gọi là gì và thọ trì như thế nào?"

Phật bảo A-nan: "Thần chú này có các thứ tên:

Một là Quảng Đại Viên Mãn.
Một là Vô Ngại Đại Bi.
Một là Đà La Ni Cứu Khổ.
Một là Đà La Ni Diên Thọ.
Một là Đà La Ni Diệt Ác Thú.
Một là Đà La Ni Phá Ác Nghiệp Chướng.
Một là Đà La Ni Mãn Nguyện.
Một là Đà La Ni Tùy Tâm Tự Tại.
Một là Đà La Ni Mau Vượt Lên Các Địa Vị Cao.

Ông nên thọ trì như thế."

Ngài A-nan bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, vị Bồ Tát Ma Ha Tát này tên là gì mà khéo tuyên thuyết Đà La Ni như thế?"

Phật nói: "Vị Bồ Tát này tên là Quán Thế Âm Tự Tại, cũng tên là Niêm Sách, cũng tên là Thiên Quang Nhãn. Này thiện nam tử, vị Quán Thế Âm Bồ Tát này có uy thần lực không thể nghĩ bàn, trong vô lượng kiếp quá khứ Ngài đã thành Phật rồi, hiệu là Chính Pháp Minh Như Lai. Vì sức thệ nguyện đại bi, vì muốn phát khởi cho tất cả Bồ Tát và làm cho chúng sinh được an lạc, thành thục, nên hiện thân làm Bồ Tát. Các ông trong đại chúng, chư Bồ Tát Ma Ha Tát, Phạm Thiên, Đế Thích, Rồng, Thần đều nên cung kính, chớ sinh lòng khinh mạn. Tất cả trời người nên thường cúng dường, chuyên xưng danh hiệu, sẽ được vô lượng phước, diệt vô lượng tội, lúc mạng chung được vãng sinh về nước Phật A Di Đà."

Phật bảo A-nan: "Thần chú mà Bồ Tát Quán Thế Âm đã nói đây là chân thật không hư dối. Nếu muốn thỉnh vị Bồ Tát này đến, hãy chú vào hương Chuyết-cụ-la (tức hương An-tức) hai mươi mốt biến rồi đốt lên, Bồ Tát liền đến.

Nếu có người bị ma mèo nhập, lấy xương đầu mèo chết đốt thành tro, hòa với đất sạch nặn thành hình con mèo. Ở trước tượng Ngàn Mắt, chú vào con dao bằng sắt tinh một trăm lẻ tám biến, chặt hình mèo ấy thành một trăm lẻ tám đoạn, mỗi lần chặt một biến chú và xưng tên kẻ đó, ma sẽ khỏi hẳn không nhập nữa. Nếu bị trùng độc hại, lấy Long não hương hòa với hương Chuyết-cụ-la lượng bằng nhau, dùng một thăng nước giếng mới múc sắc còn một thăng, ở trước tượng Ngàn Mắt chú một trăm lẻ tám biến, uống vào liền khỏi. Nếu bị rắn độc, bọ cạp cắn, lấy bột gừng khô chú bảy biến, đắp vào vết thương sẽ khỏi ngay.

Nếu bị kẻ thù oán mưu hại, lấy đất sạch hoặc bột, hoặc sáp nặn thành hình kẻ đó. Ở trước tượng Ngàn Mắt, chú vào dao sắt tinh một trăm lẻ tám biến, mỗi lần chú một lần cắt và xưng tên kẻ đó, đốt hết một trăm lẻ tám đoạn, kẻ đó liền sinh lòng vui vẻ, suốt đời hậu trọng yêu kính nhau. Nếu người bị hỏng mắt, mắt mù, mắt tối, hoặc có màng trắng gân đỏ không ánh sáng; lấy quả Kha-lê-lặc, quả Am-ma-lặc và quả Bỳ-hê-lặc mỗi thứ một quả, giã nát nghiền nhỏ. Khi nghiền phải giữ sạch sẽ, chớ để sản phụ hay chó lợn nhìn thấy, miệng niệm Phật, dùng mật trắng hoặc sữa người hòa để đắp vào mắt (sữa người phải là sữa của mẹ sinh con trai, sữa mẹ sinh con gái không dùng được). Thuốc hòa xong phải ở trước tượng Ngàn Mắt chú một ngàn lẻ tám biến, đắp vào mắt đủ bảy ngày, ở trong phòng kín tránh gió, mắt sẽ sáng lại, người mù hay có màng trắng sẽ thấy ánh sáng rực rỡ.

Nếu bị bệnh sốt rét, lấy da hổ, báo, sói chú hai mươi mốt biến, đắp lên thân liền khỏi; da sư tử là tốt nhất. Nếu bị rắn cắn, lấy vật thắt nút của người bị cắn chú hai mươi mốt biến, đặt vào vết thương liền khỏi. Nếu bệnh sốt rét ác tính nhập tâm mê man sắp chết, lấy một cục nhựa đào to bằng quả đào, hòa với một thăng nước sạch sắc còn nửa thăng, chú bảy biến rồi uống hết một lần liền khỏi (thuốc này chớ để đàn bà sắc). Nếu bị bệnh truyền nhiễm do khí quỷ, lấy hương Chuyết-cụ-la chú hai mươi mốt biến, đốt xông vào lỗ mũi; lại lấy bảy viên thuốc to bằng phân thỏ chú hai mươi mốt biến rồi nuốt liền khỏi; phải kiêng rượu thịt, ngũ vị tân và chửi mắng. Nếu lấy Hùng hoàng hòa với hạt cải trắng và muối hạt, chú hai mươi mốt biến, đốt dưới giường người bệnh, quỷ ma làm bệnh sẽ chạy trốn không dám ở lại. Nếu bị điếc tai, chú vào dầu mè nhỏ vào tai liền khỏi. Nếu bị trúng phong một bên, tai mũi nghẹt, tay chân không cử động được, lấy dầu mè sắc với Thanh mộc hương, chú hai mươi mốt biến, xoa lên thân sẽ khỏi hẳn; phương pháp khác là dùng mỡ bò nguyên chất chú hai mươi mốt biến để xoa cũng khỏi.

Nếu bị khó đẻ, lấy dầu mè chú hai mươi mốt biến, xoa vào rốn và cửa mình sản phụ thì dễ đẻ. Nếu đàn bà có thai mà con chết trong bụng, lấy một lạng cỏ Ngưu-tất, dùng hai thăng nước sạch sắc còn một thăng, chú hai mươi mốt biến, uống vào thai sẽ ra mà không đau đớn; rau thai không ra uống thuốc này cũng khỏi. Nếu đột nhiên đau tim không chịu nổi (gọi là bệnh Độn thi chú), lấy một viên hương Huân-lục tròn trịa, chú hai mươi mốt biến, nhai nuốt không kể nhiều ít, khiến nôn ra được là khỏi; kiêng ngũ vị tân và rượu thịt. Nếu bị bỏng lửa, lấy phân bò đen còn nóng chú hai mươi mốt biến, bôi lên vết bỏng liền khỏi. Nếu bị giun sán cắn đau tim, lấy nửa thăng nước tiểu ngựa trắng chú hai mươi mốt biến, uống vào liền khỏi; bệnh nặng dùng một thăng, giun sẽ ra như búi dây.

Nếu bị mụn nhọt độc, lấy lá Lăng-tỏa giã lấy nước, chú hai mươi mốt biến, nhỏ lên mụn thì gốc nhọt sẽ tự ra và khỏi ngay. Nếu bị ruồi độc cắn vào mắt, lấy nước phân lừa mới lọc kỹ, chú hai mươi mốt biến, tối ngủ nhỏ vào mắt liền khỏi. Nếu đau bụng, dùng nước giếng mới múc hòa với bảy hạt muối, chú hai mươi mốt biến, uống nửa thăng liền khỏi. Nếu đau mắt đỏ, hoặc mắt có thịt dư, có màng, lấy lá Câu-kỷ giã lọc lấy nước, chú hai mươi mốt biến, ngâm đồng tiền xanh vào đó một đêm, lại chú bảy biến, nhỏ vào mắt liền khỏi. Nếu sợ hãi ban đêm, bất an khi đi đứng, lấy chỉ trắng làm dây, chú hai mươi mốt biến, thắt hai mươi mốt nút đeo vào cổ, nỗi sợ sẽ hết; chẳng những hết sợ mà còn diệt được tội.

Nếu trong nhà xảy ra tai nạn bất ngờ, lấy cành lựu chặt thành một ngàn lẻ tám đoạn ngắn một thốn, hai đầu bôi mỡ, sữa, mật, mỗi đoạn một biến chú rồi đốt hết, mọi tai nạn thảy đều tiêu diệt; việc này phải làm trước tượng Phật. Nếu lấy cây Bương trắng chú hai mươi mốt biến, buộc vào cánh tay phải, đi đến chỗ tranh đấu hay luận bàn đều thắng người. Nếu lấy cành lá Câu-kỷ chặt đoạn ngắn, hai đầu bôi mỡ bò nguyên chất và mật trắng, mỗi đoạn một biến chú rồi đốt hết một ngàn lẻ tám đoạn; mỗi ngày làm ba thời, mỗi thời một ngàn lẻ tám biến, đủ bảy ngày thì người trì chú sẽ tự thấu suốt trí tuệ. Nếu muốn hàng phục quỷ thần có sức mạnh lớn, lấy củi cây Mộc-hoạn-tử chú bốn mươi chín biến rồi đốt trong lửa, cũng cần bôi mỡ, sữa, mật; việc này phải làm trước tượng Đại Bi. Nếu lấy một lạng Ngưu hoàng cho vào lọ lưu ly, đặt trước tượng Đại Bi chú một trăm lẻ tám biến, bôi lên thân và điểm lên trán thì tất cả thiên long, quỷ thần, người và phi nhân thảy đều vui mừng.

Nếu thân bị xiềng xích, lấy phân bồ câu trắng chú một trăm lẻ tám biến, bôi lên tay rồi xoa vào xiềng xích, xiềng xích sẽ tự tháo rời. Nếu vợ chồng không hòa thuận, đối nhau như nước với lửa, lấy lông đuôi chim Uyên ương, ở trước tượng Đại Bi chú một ngàn lẻ tám biến, mang theo bên mình thì suốt đời vui vẻ yêu kính nhau. Nếu đồng ruộng hay cây trái bị sâu bọ cắn phá, lấy tro sạch, cát sạch hoặc nước sạch chú hai mươi mốt biến, rải bốn phía đồng ruộng thì sâu bọ sẽ lui tán; đối với cây trái thì dùng nước chú để phun lên cây, sâu bọ không dám ăn trái nữa."

Phật bảo A-nan:

"Nếu muốn giàu sang, có đủ các thứ trân bảo đồ dùng, nên cầu nơi Tay cầm ngọc Như Ý.
Nếu vì các thứ không yên, muốn cầu ổn định, nên cầu nơi Tay cầm dây Nhánh.
Nếu vì các bệnh trong bụng, nên cầu nơi Tay cầm bát Báu.
Nếu muốn hàng phục tất cả loài ma quỷ vọng lượng, nên cầu nơi Tay cầm kiếm Báu.
Nếu muốn hàng phục tất cả thiên ma thần, nên cầu nơi Tay cầm bạt-chiết-la (Kim Cang Tạc).
Nếu muốn tiêu diệt tất cả quân thù địch, nên cầu nơi Tay cầm chày Kim Cang.
Nếu gặp mọi nơi sợ hãi không yên, nên cầu nơi Tay Ấn Thi Vô Úy.
Nếu mắt tối tăm không ánh sáng, nên cầu nơi Tay cầm ngọc Nhật Tinh Ma Ni.
Nếu bị bệnh nhiệt độc, muốn cầu sự mát mẻ, nên cầu nơi Tay cầm ngọc Nguyệt Tinh Ma Ni.
Nếu muốn làm quan, thăng chức, nên cầu nơi Tay cầm cung Báu.
Nếu muốn sớm gặp bạn bè tốt lành, nên cầu nơi Tay cầm tên Báu.
Nếu bị các thứ bệnh trên thân, nên cầu nơi Tay cầm cành Dương Liễu.
Nếu muốn trừ các chướng nạn xấu trên thân, nên cầu nơi Tay cầm phất trần Trắng.
Nếu muốn quyến thuộc hiền hòa, hòa thuận, nên cầu nơi Tay cầm bình Hồ.
Nếu muốn xua đuổi các loài thú dữ như hổ lang, sói báo, nên cầu nơi Tay cầm khiên Khiên.
Nếu mọi lúc mọi nơi muốn tránh khỏi nạn cửa quan, nên cầu nơi Tay cầm búa Phủ Việt.
Nếu muốn có người giúp việc, tôi tớ, nên cầu nơi Tay cầm vòng Ngọc.
Nếu muốn có các thứ công đức, nên cầu nơi Tay cầm hoa sen Trắng.
Nếu muốn vãng sinh về tịnh độ mười phương, nên cầu nơi Tay cầm hoa sen Xanh.
Nếu muốn có trí tuệ lớn, nên cầu nơi Tay cầm gương Báu.
Nếu muốn mặt thấy tất cả chư Phật mười phương, nên cầu nơi Tay cầm hoa sen Tím.
Nếu muốn tìm kho báu trong đất, nên cầu nơi Tay cầm hòm Báu.
Nếu muốn đắc đạo tiên, nên cầu nơi Tay cầm mây Ngũ Sắc.
Nếu muốn sinh lên cõi Phạm Thiên, nên cầu nơi Tay cầm bình Quân Trì.
Nếu muốn vãng sinh lên các cung trời, nên cầu nơi Tay cầm hoa sen Hồng.
Nếu muốn đẩy lùi giặc nghịch phương khác, nên cầu nơi Tay cầm kích Báu.
Nếu muốn triệu gọi tất cả các thiện thần trên trời, nên cầu nơi Tay cầm ốc Loa Báu.
Nếu muốn sai khiến tất cả quỷ thần, nên cầu nơi Tay cầm gậy Đầu Lâu.
Nếu muốn mười phương chư Phật sớm đến dắt tay, nên cầu nơi Tay cầm tràng hạt.
Nếu muốn thành tựu tất cả tiếng nói Phạm âm nhiệm màu, nên cầu nơi Tay cầm chuông Báu.
Nếu muốn nghiệp miệng khéo léo, biện tài, nên cầu nơi Tay cầm ấn Báu.
Nếu muốn các thiện thần và Long vương thường đến ủng hộ, nên cầu nơi Tay cầm móc sắt Câu Thi.
Nếu vì lòng từ bi che chở tất cả chúng sinh, nên cầu nơi Tay cầm gậy Tích Trượng.
Nếu muốn tất cả chúng sinh thường kính trọng, yêu mến nhau, nên cầu nơi Tay cầm Ấn Hợp Chưởng.
Nếu muốn đời đời kiếp kiếp không rời xa chư Phật, nên cầu nơi Tay cầm Phật Hóa Thân.
Nếu muốn đời đời kiếp kiếp thường ở trong cung điện Phật, không phải chịu thân trong bào thai, nên cầu nơi Tay cầm Cung Điện Hóa Thân.
Nếu muốn nghe nhiều học rộng, nên cầu nơi Tay cầm kinh Báu.
Nếu muốn từ thân này cho đến thân Phật, tâm Bồ-đề không thối chuyển, nên cầu nơi Tay cầm bánh xe Kim Cang không thối chuyển.
Nếu muốn mười phương chư Phật sớm đến xoa đỉnh đầu thọ ký, nên cầu nơi Tay trên đỉnh đầu cầm Phật Hóa Thân.
Nếu muốn có các thứ hoa quả, ngũ cốc, nên cầu nơi Tay cầm chùm Nho.

Những pháp cầu được như vậy có đến ngàn điều, nay ta chỉ nói lược qua đôi chút."

Bồ Tát Nhật Quang vì người thọ trì Đà La Ni Đại Bi Tâm mà nói thần chú lớn để ủng hộ: "Nam mô bột đà cù na mê. Nam mô đạt ma mạc ha đê. Nam mô tăng già đa dạ ni. Đê rị bộ tất tát đốt hám nạp ma." Tụng chú này diệt được tất cả tội, cũng có thể đẩy lùi ma quỷ và trừ tai nạn từ trời. Nếu tụng một biến, lễ Phật một lạy, ngày chia làm ba thời tụng chú lễ Phật như thế, thì đời vị lai, nơi thọ thân sẽ được tướng mạo đoan chính, hưởng quả báo vui vẻ.

Bồ Tát Nguyệt Quang cũng vì các người tu hành mà nói thần chú Đà La Ni để ủng hộ: "Thâm đê đế đồ tô tra. A nhược mật đế ô đô tra. Thâm kỳ tra. Ba lại đế. Da di nhược tra ô đô tra. Câu la đế tra kỳ ma tra. Sa bà ha." Tụng chú này năm biến, lấy chỉ ngũ sắc thắt thành dây chú, buộc vào chỗ đau. Chú này do bốn mươi hằng hà sa chư Phật đời quá khứ đã nói, nay ta cũng nói, để làm sự ủng hộ cho người tu hành, trừ tất cả chướng nạn, trừ tất cả bệnh đau ác nghiệp, thành tựu tất cả pháp lành, xa lìa tất cả mọi sợ hãi.

Phật bảo A-nan: "Ông nên dùng lòng sâu xa thanh tịnh mà thọ trì Đà La Ni này, tuyên dương lưu truyền rộng rãi trong cõi Diêm Phù Đề, chớ để đứt đoạn. Đà La Ni này mang lại lợi ích lớn cho chúng sinh trong ba cõi. Tất cả những ai bị hoạn khổ, bệnh tật, dùng Đà La Ni này điều trị không ai là không khỏi. Thần chú lớn lao này, chú vào cây khô còn mọc lại cành lá hoa quả, huống chi là chúng sinh có tình, có thức; nếu thân có bệnh hoạn mà trị không khỏi thì không bao giờ có chuyện đó.

Này thiện nam tử, uy thần lực của Đà La Ni này thật không thể nghĩ bàn, không thể nghĩ bàn, khen ngợi không bao giờ hết. Nếu không phải từ đời quá khứ lâu xa đến nay đã trồng sâu căn lành rộng lớn, thì ngay cả cái tên cũng không được nghe, huống chi là được thấy. Các ông trong đại chúng, trời, người, rồng, thần, nghe ta tán thán đều nên tùy hỷ.

Nếu có kẻ phỉ báng chú này, tức là phỉ báng chín mươi chín ức hằng hà sa chư Phật kia. Nếu đối với Đà La Ni này sinh lòng nghi ngờ không tin, nên biết người đó vĩnh viễn mất đi lợi ích lớn, trăm ngàn muôn kiếp thường chìm đắm trong đường ác, không có ngày ra, thường không được thấy Phật, không được nghe pháp, không được gặp tăng."

Tất cả hội chúng, các vị Bồ Tát Ma Ha Tát, Kim Cang Mật Tích, Phạm Thiên, Đế Thích, bốn vị Thiên Vương, rồng, quỷ thần, nghe đức Như Lai tán thán Đà La Ni này, thảy đều vui mừng, vâng lời dạy bảo mà tu hành.


 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.


Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.