Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh
Kinh Văn Thù Sư Lợi hỏi Bồ Đề (tên khác: Kinh Già Da Sơn Đỉnh)
Tam tạng Cưu Ma La Thập xứ Quy Từ nước Hậu Tần biên dịch.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, khi Đức Phật mới đắc đạo, Ngài ở tại đền thờ trên núi Già Da nước Ma Kiệt Đà. Đi cùng Ngài có nghìn vị đại Tỳ-kheo, vốn là những tiên nhân búi tóc đã đắc quả A-la-hán, việc làm đã xong, tâm được tự tại, dứt sạch phiền não, giải thoát bằng trí tuệ chính đáng. Lại có vạn vị Bồ-tát từ mười phương hội tụ, oai đức lớn lao, đủ các phép nhẫn, thần thông và định sâu. Dẫn đầu là các ngài Văn Thù Sư Lợi, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Hương Tượng, Dũng Thí, Tùy Trí Hạnh. Cùng với đó là vô lượng hàng trời, rồng, bát bộ và loài người vây quanh.
Bấy giờ, Thế Tôn vào định sâu, soi thấu thực tính của muôn pháp, liền nghĩ rằng: "Ta đã chứng đạo cả, dứt gánh nặng, vượt hiểm nghèo, diệt vô minh, đạt chân lý. Ta đã dựng phướn pháp, chuyển bánh xe sinh tử, mở lối chính, lìa nghiệp ác. Nay ta hãy quán xem: chứng đạo là do thân hay do tâm? Nếu bảo do thân, thì thân này vốn không biết, không làm, như cỏ cây gạch đá, do bốn đại tạo nên, nhờ ăn mặc tắm rửa mà tồn tại, rồi cũng tiêu tan. Đạo cả vốn chỉ là tên gọi, không hình sắc, không tướng mạo, vượt ngoài ngôn từ, chẳng thể nghe thấy hay nắm bắt. Nếu bảo do tâm, thì tâm do duyên mà sinh, vốn không như huyễn, không nơi chốn, không thực tính. Trong pháp ấy, đạo và người đắc đều trống rỗng, chỉ là tên gọi theo thế tục, đều do phân biệt mà thành, vốn không căn cứ, không thực thể. Không nhận, không dính, không bẩn, không rời, đó gọi là vô tướng. Thế nên trong pháp này, không có người đắc, cũng chẳng có pháp để đắc. Thông đạt như thế mới gọi là chứng đạo cả."
Lúc ấy, Văn Thù Sư Lợi đứng bên phải Phật, cầm lọng báu che cho Ngài. Biết rõ tâm niệm của Phật, ngài liền bạch: "Bạch Thế Tôn! Nếu đạo vốn vô tướng như thế, thì thiện nam tín nữ phải phát tâm ra sao?"
Phật bảo: "Nên thuận theo tướng của đạo mà phát tâm."
Văn Thù hỏi: "Tướng của đạo nên nói thế nào?"
Phật đáp: "Tướng của đạo vượt ngoài ba cõi, dứt lối ngôn từ. Lìa mọi sự phát tâm hay không phát tâm, đó chính là phát tâm đạo. Văn Thù này! Bồ-tát nên diệt mọi sự phát tâm để phát tâm đạo. Phát tâm ấy là thuận theo thực tính, không phân biệt, chẳng bám chấp thân tâm. Chẳng dính muôn pháp, không thêm không bớt, không khác không một. Như bóng trong gương, như ảo ảnh, như tiếng vang, như trăng dưới nước; nên phát tâm đạo như thế."
Trong hội có thiên tử Nguyệt Tịnh Quang Đức hỏi ngài Văn Thù: "Bồ-tát dựa vào đâu mà hành đạo?" Văn Thù bảo hãy hỏi Phật. Phật bảo Văn Thù hãy đáp lời thiên tử.
Văn Thù nói: "Này thiên tử, đạo Bồ-tát lấy đại bi làm gốc, lấy chúng sinh làm duyên."
Thiên tử hỏi tiếp về nguồn gốc của các pháp, Văn Thù lần lượt đáp:
- Đại bi lấy lòng thẳng làm gốc.
- Lòng thẳng lấy tâm bình đẳng làm gốc.
- Tâm bình đẳng lấy hành vi không phân biệt làm gốc.
- Hành vi không phân biệt lấy lòng trong sạch sâu xa làm gốc.
- Lòng trong sạch sâu xa lấy tâm đạo cả làm gốc.
- Tâm đạo cả lấy sáu độ (ba-la-mật) làm gốc.
- Sáu độ lấy trí tuệ phương tiện làm gốc.
- Trí tuệ phương tiện lấy sự không buông lung làm gốc.
- Không buông lung lấy ba nghiệp lành làm gốc.
- Ba nghiệp lành lấy mười nghiệp thiện làm gốc.
- Mười nghiệp thiện lấy sự giữ gìn sáu căn làm gốc.
- Giữ gìn sáu căn lấy chính niệm làm gốc.
- Chính niệm lấy sự quán xét đúng đắn làm gốc.
- Quán xét đúng đắn lấy lòng kiên định không quên làm gốc.
Văn Thù dạy thêm: Bồ-tát có bốn tâm để bao quát nhân quả: Sơ phát tâm (như gieo hạt), Hành đạo tâm (như mầm mọc), Bất thoái chuyển tâm (như hoa nở), Nhất sinh bổ xứ tâm (như quả chín). Như trăng từ mới nhú đến khi tròn đầy; như việc học từ những chữ đầu đến khi thông suốt kinh điển.
Thiên tử Định Quang Minh Chủ hỏi về con đường tóm lược để nhanh chứng đạo. Văn Thù đáp: Đó là Phương tiện và Trí tuệ. Phương tiện là gom góp pháp lành, trí tuệ là thấu suốt muôn pháp. Phương tiện là tùy thuận chúng sinh, trí tuệ là không rời thực tính. Hai nẻo này song hành: năm độ đầu là trợ đạo, độ thứ sáu (trí tuệ) là đoạn đạo. Trí tuệ soi từ địa thứ nhất đến địa thứ bảy, sự đoạn trừ thành thục từ địa thứ tám đến địa thứ mười.
Bồ-tát Tùy Trí Dũng Hạnh hỏi về "Nghĩa" và "Trí". Văn Thù đáp: Nghĩa là vô vi, không thêm bớt; Trí là sự dụng tâm để thấu hiểu năm uẩn, mười hai nhân duyên, giúp dứt trừ phiền não.
Ngài giảng tiếp về mười loại trí tuệ (nhân, quả, nghĩa, phương tiện, trí tuệ, nhiếp thụ, ba-la-mật, đại bi, thành tựu chúng sinh, không bám chấp); mười sự phát tâm (làm sạch ba nghiệp, không tham lam, cứu độ chúng sinh...); mười hành vi tu tập; mười sự suy tư để dứt sạch phiền não; mười pháp chữa trị tâm tính (trị tham, trị lười, trị giận...); và mười địa lành.
Văn Thù nhấn mạnh: Bồ-tát quý ở chỗ làm đúng theo pháp. Người làm theo pháp thì nói sao làm vậy; người không theo pháp thì chỉ có lời nói suông. Con đường theo pháp gồm tự tu thân và giáo hóa người; thấu suốt các địa và tiến bước không ngừng cho đến đạo Phật.
Bấy giờ, Đức Phật khen ngợi Văn Thù: "Lành thay! Ông đã vì các Bồ-tát mà nói về con đường tu hành đúng như thực tại."
Khi nói pháp này, mười nghìn vị Bồ-tát đắc nhẫn vô sinh. Ngài Văn Thù cùng trời, người, bát bộ nghe Phật dạy đều vui mừng tin nhận.
| ||||||||||||||||||||||
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.