Biên dịch:Việt sử lược/Quyển hạ
Thần Tông 神宗
[sửa]Tên húy là Dương Hoán (陽煥), cháu Thánh Tông (聖宗), con của Sùng Hiền hầu (崇賢侯). Mẹ là Đỗ thị (杜氏). Sinh được 3 tuổi, Nhân Tông (仁宗) nuôi trong cung, lập làm Thái tử.
Năm Thiên Phù Khánh Thọ nguyên niên (天符慶壽元年, 1127) tháng Chạp (12), lên ngôi trước linh cữu, quàn Nhân Tông tại điện Hồ Thiên (壺天殿). Ngày Quý Mùi (癸未), thành phục. Ngày Ất Dậu (乙酉), vua ngự điện Thiên An (天安殿) thiết triều, cùng ngày bỏ tang[2], nhân đó đến Na Ngạn (那岸)[3], xem cung nữ lên đàn lửa tuẫn táng theo Nhân Tông.
Năm Đại Thuận (大順) nguyên niên (1128), ngày Tân Mão (辛卯), ban chiếu để quốc tang, cấm trong nước không được cưỡi ngựa.
Ngày Canh Tý (庚子), vua lần đầu ngự giảng đường Kinh Diên.
Dùng Vũ vệ Lê Bá Ngọc (黎伯玉) làm Thái úy, nội nhân Hỏa đầu Lưu Ba Dương Nhĩ (劉波楊珥) làm Thái phó, Trung thừa Mâu Đô Du (牟都俞) làm Gián nghị đại phu.
Ngày Quý Mão (癸卯), sai sứ mang thư sang Tống, báo tang Nhân Tông và tấu việc vua mới lên ngôi. Khi ấy Tống Cao Tông (宋髙宗) tránh người Kim, đã vượt sông, đóng đô tại Lâm An (臨安).
Chân Lạp (真臘) xâm lược châu Nghệ An (乂安州).
Ngày Ất Sửu (乙丑), tôn hiệu là Thuận Thiên Quảng Vận Khâm Minh Nhân Hiếu Hoàng Đế (順天廣運欽眀仁孝皇帝). Ngày Canh Ngọ (庚午), vua ngự điện Thiên An, thề với người trong nước tại long trì.
Tháng 6, lấy ngày sinh của vua làm lễ Thụy Thiên tiết (瑞天節).
Lập 3 hoàng hậu, tôn nghĩa mẫu Thần phi (宸妃) làm Thái hậu.
Tháng 2, Chân Lạp lại xâm lược Nghệ An, sai Thái phó Nguyễn Công Bình (阮公平 Lý Công Bình) đánh dẹp. Bắt được tướng giặc rồi trở về.
Năm Đại Thuận thứ 2 (己酉大順二年, 1129), mùa xuân tháng Giêng, tổ chức hội Khánh Thành 84.000 bảo tháp tại các gác Thiên Phụ (天付閣).
Ngày Giáp Ngọ (甲午), tôn cha ruột là Sùng Hiền hầu làm Thái thượng vương, mẹ Đỗ thị làm Thái hậu, ở cung Động Nhân (洞仁宮).
Mùa thu tháng 7, linh vị Nhân Tông phát ra hai ngọn lửa.
Rắn tre xanh quấn quanh ngai báu.
Năm Đại Thuận thứ 3 (庚戌大順三年, 1130), mùa hạ tháng 5, dâng chim sẻ trắng.
Tháng 5, Thái thượng vương băng, thụy là Cung vương (恭王).
Tháng 6, hạn hán, cầu đảo thì mưa.
Chiêm Thành (占城) sang cống.
Đua thuyền.
Sai sứ sang Tống.
Năm Tân Hợi, Đại Thuận thứ 4 (1131), mùa hạ tháng 3, ban chiếu cấm gia nô lấy con gái dân thường.
Tống Cao Tông (宋髙宗) phong Vương làm quận vương.
Năm Nhâm Tý, Đại Thuận thứ 5 (1132), mùa hạ tháng 3, rồng vàng xuất hiện tại cung Lệ Quang (麗光宮).
Mùa thu tháng 8, Chân Lạp (真臘) và Chiêm Thành (占城) xâm lược châu Nghệ An (乂安州). Ban chiếu cho Thái úy Dương Anh Nhĩ (楊英珥) đánh dẹp.
Nguyễn Thừa Ân (阮承恩) đi sứ nhà Tống (宋).
Năm Quý Sửu, Thiên Chương Bảo Tự nguyên niên (1133), mùa xuân tháng Giêng, đổi niên hiệu.
Tháng 2, đèn Diên Mệnh ở điện Đại Minh (大眀殿) phát ra hoa và cờ báu múa (花寳幡舞 hoa bảo phiến vũ).
Ngựa sinh ra có sừng.
Mùa hạ tháng 6, rồng vàng xuất hiện tại điện Vĩnh Quang (永光殿).
Mùa đông tháng 10, xây quán Ngũ Nhạc Diên Sinh (延生五岳觀).
Năm Giáp Dần, Thiên Chương Bảo Tự năm thứ 2 (1134), mùa xuân tháng 2, Chân Lạp (真臘) và Chiêm Thành (占城) sang cống.
Từ mùa xuân đến mùa hạ không mưa.
Mùa đông tháng Chạp, cây khô ở cổ pháp đường nở hoa.
Năm Ất Mão, Thiên Chương Bảo Tự năm thứ 3 (1135), mùa xuân tháng Giêng, thấy chuông đồng cổ.
Thấy rùa thần, trên ngực có bốn chữ “Nhất Thiên Vĩnh Thánh” (一天永聖).
Năm Bính Thìn, Thiên Chương Bảo Tự năm thứ 4 (1136), mùa xuân tháng 2, châu Nghệ An (乂安州) động đất, nước sông đỏ như máu.
Tháng 9, ban chiếu cứ ba nhà trong kinh thành và ngoài thành hợp thành một bảo.
Tướng Chân Lạp (真臘) là Tô Phá Lăng (蘇破稜) xâm lược châu Nghệ An (乂安州), sai Thái phó Nguyễn Công Bình (阮公平) đánh bại.
Năm Đinh Tỵ, Thiên Chương Bảo Tự năm thứ 5 (1137), mùa hạ tháng 5, nội nhân Ngọ Viêm (午炎) dâng một khối vàng sống, nặng 66 lượng.
Mùa thu tháng 9, vua lâm bệnh, băng tại điện Vĩnh Quang (永光殿). Thọ 21 tuổi, ở ngôi 10 năm. Miếu hiệu Thần Tông (神宗), táng tại phủ Thiên Đức (天徳府).
Anh Tông 英宗
[sửa]Tên huý là Thiên Tộ (天祚), là con trai thứ hai của Thần Tông (神宗). Mẹ là Cảm Thánh phu nhân (感聖夫人), họ Lê (黎氏). Vương là người có dung mạo uy nghi, nhân từ khoan dung. Năm lên 3 tuổi, lên ngôi trước linh cữu. Tôn hiệu là Thể Thiên Thuận Đạo Duệ Văn Thần Vũ Thuần Nhân Hiển Nghĩa Huy Mưu Thánh Trí Ngự Dân Dục Vật Quần Linh Phi Ứng Đại Minh Chí Hiếu Hoàng Đế (體天順道睿文神武純仁顯義徽謀聖智御民育物群靈丕應大眀至孝皇帝).
Đổi niên hiệu, lấy mùa thu tháng 9 năm Thiên Chương Bảo Tự thứ 5 (1137) làm năm Thiệu Minh nguyên niên (紹眀元年). Tôn hiệu Cảm Thánh phu nhân (感聖夫人) là Thái hậu.
Rồng vàng bay vào thành.
Mùa đông tháng 10, ngày Kỷ Dậu, rồng vàng ban đêm từ cung Thái Thanh (太清宮) bay vào cấm cung.
Ngày Ất Mão, kết minh với chư quốc tại long trì.
Năm Mậu Ngọ, Thiệu Minh năm thứ 2 (1138), mùa hạ tháng 4, lấy ngày sinh của vua làm Thọ Ninh tiết.
Tống Cao Tông (宋髙宗) phong Vương làm quận vương. Lập một hoàng hậu.
Năm Kỷ Mùi, Thiệu Minh năm thứ 3 (1139), Ông Thân Lợi (翁申利) tự xưng là con Nhân Tông (仁宗), chiếm châu Thượng Nguyên (上源州) làm phản, xưng hiệu là Bình Hoàng (平皇), có hơn 1.000 người. Tháng 2, ban chiếu cho Gián nghị đại phu Lưu Dữ Xưng (劉禹偁) đánh dẹp, bị Lợi đánh bại. Lợi ra chiếm châu Tây Nùng (西儂州), đánh phá phủ Phú Lương (富良府), định tiến về kinh sư. Sai Thái úy Đỗ Anh Vũ (杜英武) đi đánh. Đến trạm Khoáng (曠驛), gặp Lợi, giao chiến lớn, quân Lợi đại bại, chết không đếm xuể. Lợi chạy sang châu Long Lệnh (隆令州). Tháng 10, Anh Vũ đánh Long Lệnh, phá được, bắt hơn 2.000 người. Lợi chạy sang Lạng Châu (諒州), bị Thái phó Tô Linh Thành (蘇靈成)[4] bắt, giải về kinh sư, chém đầu.[5]
Năm Canh Thân, Đại Định nguyên niên (大定元年, 1140), tháng Giêng, đổi niên hiệu.
Tháng 2, có người dâng con cóc trắng.
Mùa đông tháng Chạp, ban chiếu cho các điền chủ bán ruộng đã 20 năm được chuộc lại, các tranh chấp đất đai quá 50 năm không được kiện, các ruộng đất đã có khế ước thì không được chuộc.
Từ mùa xuân đến mùa hạ không mưa, vua cầu đảo, rồi có mưa.
Năm Tân Dậu, Đại Định năm thứ 2 (1141), mùa thu tháng 8, ngày Bính Dần, rồng vàng xuất hiện ban đêm sau cây quýt ở điện Vĩnh Thọ (永壽殿).
Năm Nhâm Tuất, Đại Định năm thứ 3 (1142), mùa xuân tháng 2, thủ lĩnh châu Phú Lương (富良州) là Dương Tự Minh (楊嗣眀) lấy công chúa Thiệu Dung (韶容公主).
Tháng 3, ngựa bốn chân mọc cựa.
Mùa hạ tháng 5, Thái úy Đỗ Anh Vũ (杜英武) dâng rùa trắng, Đô Dư (都俞) dâng chim sẻ trắng. Phong Đô Dư làm Thái sư.
Năm Quý Hợi, Đại Định năm thứ 4 (1143), mùa hạ tháng 4, dâng rùa sáu mắt, trên ngực có bốn chữ “Dĩ Hành Pháp Công” (以行法公).
Mùa thu tháng 8, yêu nhân nhà Tống (宋) là Đàm Hữu Lượng (譚友諒) vào châu Tư Lăng (思琅州), tự xưng Lữ tiên sinh (吕先生), dẫn quân cướp châu Quảng Nguyên (廣源州).
Xây cung Quảng Từ (廣慈宮), Thái hậu ở đó.
Mùa hạ mưa dầm, cầu đảo có hiệu nghiệm.
Rồng vàng xuất hiện tại điện Vĩnh Thọ (永壽殿).
Năm Giáp Tý, Đại Định năm thứ 5 (1144), mùa hạ tháng 4, sao chổi xuất hiện.
Mùa thu tháng 7, xây sáu kho Thiên Tư (天資庫).
Năm Ất Sửu, Đại Định năm thứ 6 (1145), mùa thu tháng 8, voi phát sáng, quần thần dâng biểu chúc mừng.
Tháng 9, dâng quạ trắng.
(Đỗ) Thái hậu[6] băng, thụy hiệu Chiêu Hiếu (昭孝).
Thư gia Nguyễn Chiêu (阮昭) dâng quạ trắng.
Năm Bính Dần, Đại Định năm thứ 7 (1146), mùa xuân tháng 2, ngự đến Bối Nhân (蓓仁), cày ruộng tịch điền.
Năm Đinh Mão, Đại Định năm thứ 8 (1147), mùa hạ tháng 4, vua ngự long trì, xem bắt voi.
Năm Mậu Thìn, Đại Định năm thứ 9 (1148), mùa xuân tháng 2, dâng ngựa đỏ sinh cựa.
Mùa thu tháng 9, Chân Lạp (真臘) xâm lược châu Nghệ An (乂安州).
Vua xét án của Thái úy Đỗ Anh Vũ (杜英武), giáng Anh Vũ làm Thăng Điền Hoằng (昇田宏). Trước đó, vua còn nhỏ, mọi việc lớn nhỏ đều giao cho Anh Vũ, lại tư thông với (Lê) Thái hậu[7] nên càng kiêu ngạo. Ở triều thì vung tay lớn tiếng, sai quan lại thì hống hách, ai cũng sợ không dám nói. Phò mã Dương Tự Minh (楊嗣眀) cùng chỉ huy tiền quân Vũ Đới (武帶 Vũ Đái) dẫn quân đến ngoài cửa Việt Thành, lớn tiếng rằng: “Anh Vũ ra vào nội cung, làm điều hung bạo, tiếng xấu lan xa, chúng thần xin trừ đi để khỏi hậu hoạn.” Bèn bắt Anh Vũ, giam ở hành lang Cụ Thánh (具聖廊). Thái hậu sai người đưa rượu và thức ăn, ngầm đặt vàng hối lộ cho Vũ Đới. Khi ấy, đô hỏa đầu Cụ Thánh là Nguyễn Dương (阮揚) nói với mọi người: “Các ngươi muốn nhận hối lộ, ta và các ngươi ắt không thoát khỏi tay Anh Vũ. Chi bằng giết hắn để trừ họa.” Cầm giáo định đâm, tả Cụ là Thanh Đàm (聲譚) giật giáo ngăn lại, nói: “Chỉ huy tiền quân bảo ta, tội Anh Vũ tuy đáng chết, nhưng phải chờ lệnh vua.” Dương giận, mắng rằng: “Chỉ huy tiền quân Vũ Cát (武吉)[8] chứ Vũ Đới (武帶) gì! Sao lại tham của mà không nghĩ đến công luận!” Nói xong, nhảy xuống giếng tự tử.
Anh Vũ bị tội, Thái hậu buồn rầu, tìm cách phục chức cho ông. Anh Vũ nhiều lần được tha, lại làm Thái úy, phụ chính như cũ, lại càng được sủng tín. Từ đó nắm quyền sinh sát, lập riêng hơn 100 người làm Vệ đô, ai có tội đều giao cho Vệ đô bắt. Anh Vũ mật tâu vua: “Trước đây Vũ Đới và bọn hắn tự ý đem quân vào cấm cung, tội không thể tha, xin trừ đi.” Vua chấp thuận, Anh Vũ sai Vệ đô bắt Đới và đồng bọn, xử án xong. Ban chiếu giáng Trí Minh vương (智眀王) làm hầu, nội thị Đỗ Ất (杜乙) và 5 người bị đóng cọc gỗ, 8 hỏa đầu Ngọc Giai bị chém ở chợ Tây, chỉ huy tiền quân Vũ Đới và 20 người bị chém ở đầu sông, phò mã Dương Tự Minh và 30 người bị đày ra Ác Thủy (惡水 nước độc), số còn lại bị đày làm lính cho Thăng Điền Hoằng, quả đúng như lời Nguyễn Dương đã nói.
Năm ấy, cấm quan viên tự tiện vào cung, triều sĩ không được lui tới nhà vương hầu; ai phạm vào đất của Vệ đô bị đánh 80 trượng; vào hành lang thì xử tử.
Trung thư hỏa đầu Nguyễn Bá (阮伯) dâng kỳ lân đỏ.
Mùa hạ hạn hán, cầu đảo thì có mưa.
Năm Kỷ Tỵ, Đại Định năm thứ 10 (1149), mùa hạ tháng 3, một cây cau sinh ra 28 chồi.
Mùa thu tháng 8, vua ngự đến cung Quảng Từ (廣慈宮), xem đua thuyền.
Năm Canh Ngọ, Đại Định năm thứ 11 (1150), mùa xuân tháng 2, dâng rùa sáu mắt, trên ngực có chữ triện “Vương Dĩ Bát Vạn Tứ” (王以八萬四). Mùng 1 tháng 4, động đất.
Tháng 5, trời mưa cát vàng.
Mùa đông tháng 10, thi đình.
Chiêm Thành (占城) sai Ung Minh Điệp (雍眀疊 Vamsaraja) sang chầu, xin phong vương. Vua sai Nguyễn Mông (阮蒙 Lý Mông) đem 5.000 quân sang Chiêm Thành, lập Ung Minh Điệp làm vua Chiêm Thành.[9][10]
Năm Tân Mùi, Đại Định năm thứ 12 (1151).
Năm Nhâm Thân, Đại Định năm thứ 13 (1152), mùa xuân tháng Giêng, người Man núi Long Sơn (龍山獠) nổi loạn.
Người Man núi Đại Hoàng (大黄山獠) là Nùng Khả Lai (儂可來) làm phản, vua thân chinh đánh dẹp.
Tháng 9, xây đàn Viên Khâu (圜丘壇) ở cửa nam thành, làm nơi tế trời.
Vua Chiêm Thành là Chế Bì La Bút (製皮囉筆 Jaya Harivarman I) sai sứ sang cống.[11]
Năm Quý Dậu, Đại Định năm thứ 14 (1153), mùa thu tháng 8, đua thuyền.
Lũ lớn, động đất.
Mùa đông tháng 10, sao Tuế phạm sao Thái Bạch.
Tháng 11, Chân Lạp (占臘) sang cống.
Tháng Chạp, động đất.
Năm Giáp Tuất, Đại Định năm thứ 15 (1154), mùa xuân tháng 3, trời mưa cát vàng.
Mùa đông tháng Chạp, kho ngự bị cháy.
Giá gạo tăng vọt.
Xây cung Ngự Thiên (御天宮), các gác Diên Phú (延富閣), đình Thưởng Hoa (賞花亭).
Năm Ất Hợi, Đại Định năm thứ 16 (1155), Tống Cao Tông (宋髙宗) phong vua làm Nam Bình vương (南平王). Lúc này lại sai ngoại lang Nguyễn Quốc Dĩ (阮國以)[12] mang lễ vật sang. Tống Cao Tông ban cho vua áo, đai, yên, ngựa.
Năm Bính Tý, Đại Định năm thứ 17 (1156), mùa thu, Đỗ Anh Vũ (杜英武) dâng công trắng.
Mùa đông tháng 10, dựng hành cung Quốc Oai (國威行宮) và miếu Khổng Tử (孔子祠).
Tháng 11, dựng hành lang dài từ cửa Thiên Thu (千秋門) đến lầu khách.
Tống Cao Tông phong vua làm Kiểm hiệu Thái sư (檢挍太師).
Năm Đinh Sửu, Đại Định năm thứ 18 (1157), mùa hạ tháng 6, ngày Ất Mùi, nhật nguyệt giao tranh.
Ban chiếu định luật lệ mới như sau:
- Các chỉ huy tiền quân và quan chức hỏa đầu không được dùng người nhà làm việc riêng, vi phạm đánh 80 trượng.
- Người các sắc dân mặc áo xanh, đánh 80 trượng, đày làm lính.
- Các nhà quyền thế không được tự ý nhận dân thường làm người hầu.
- Các vương hầu không được đi lại trong thành ban đêm.
- Gia nô các vương hầu không được xăm hình rồng trên ngực.
Mùa thu, vua ngự hành cung Thanh Hải (清海行宮).
Cá lớn xuất hiện ở Đông Bộ (東步), hình dạng như trâu.
Năm Mậu Dần, Đại Định năm thứ 19 (1158), mùa hạ tháng 5, Tả ti Nguyễn Quốc Dĩ (阮國以) sau khi đi sứ trở về tâu: “Thần đến nước Tống, thấy giữa sân có hòm đồng để nhận tấu chương từ bốn phương. Xin bệ hạ bắt chước để thông đạt lòng dân.” Vua đồng ý, đặt án tại triều đình, ban lệnh: ai muốn nói việc gì thì viết thư bỏ vào. Trong vòng một tháng, thư tấu đầy kín. Có người giấu tên ném thư nói: “Thái úy Đỗ Anh Vũ (杜英武) muốn khởi binh vào cung làm loạn.” Người nhận thư báo cho Anh Vũ, Anh Vũ nói: “Ngài thay tôi tâu xin xét.” Lâu không tìm được người, Anh Vũ vu tấu: “Chắc là người lập án làm ra.” Vua tin, sai bắt Nguyễn Quốc Dĩ (阮國以) cùng em là Nghi (儀), giao cho quan xét xử. Bị ép nhận tội, Quốc Dĩ bị đày đến trại Quy Hóa (歸化寨). Không lâu sau, vua muốn triệu Quốc Dĩ về, Anh Vũ sai người đưa thuốc độc bảo: “Uống thuốc này có thể tránh khí độc.” Quốc Dĩ biết không thoát, uống thuốc mà chết.
Mùa đông tháng 10, xây chùa Chân Giáo (真教寺).
Ban chiếu dùng vàng phủ tượng Phạm Vương 梵王[13] và Đế Thích 帝釋[14], đặt tại hai chùa Thiên Phù (天符) và Thiên Hựu (天祐).
Năm Kỷ Mão, Đại Định năm thứ 20 (1159), ban chiếu quy định cách xưng hô:
- Nội Minh tự và đại liêu ban gọi là Thái phó.
- Lang tướng, thượng chế, Sùng ban, Cung phụng, Thị cấm, Điện trực gọi là Thái bảo.
- Người không có chức gọi là Quản điền.
- Chỉ hầu, hỏa đầu gọi là Phụng ngự.
- Người quét dọn gọi là Chủ đô.
Cột chùa Thiên Phù và Thiên Hựu chảy máu.
Năm Canh Thìn, Đại Định năm thứ 21 (1160), dựng miếu Hai Bà (二女)[15] và Xuy Vưu (蚩尤祠) tại phường Bố Cái (布盖坊).
Chiêm Thành (占城) sang cống.
Năm Tân Tỵ, Đại Định năm thứ 22 (1161), mùa thu tháng 7, dựng chùa Pháp Vân (法雲寺) ở châu Cổ (古州).
(Lê) Thái hậu băng, thụy hiệu Linh Chiếu (靈照).
Loạn ở Bình Long Trường (平隆場), sai Thiếu sư Phí Công Tín (費公信) đánh dẹp.
Năm Nhâm Ngọ, Đại Định năm thứ 23 (1162), ban chiếu:
- Người từ 60 tuổi trở lên gọi là lão liệt.
- Từ 17 đến 19 tuổi gọi là hạng hai.
- Dưới 16 tuổi gọi là hoàng nam.
- Ban chiếu: ai tự thiến bị đánh 80 trượng, xăm 23 chữ lên vai trái, trả về nguyên quán.
Giữa mùa hạ, động đất.
Mùa thu, xây đài Chúng Tiên (衆仙臺), tầng trên lợp ngói vàng, tầng dưới lợp ngói bạc.
Năm Quý Mùi, Chính Long Bảo Ứng nguyên niên (政隆寳應元年, 1163), tháng Giêng, đổi niên hiệu. Cấm trong nước dùng ngọc trai giả.
Tháng 5, Tống Hiếu Tông (宋孝宗) lên ngôi, sai mang lễ vật và quốc thư đến Khâm Châu (欽州), vua sai sứ đón tiếp.
Năm Giáp Thân, Chính Long Bảo Ứng năm thứ 2 (1164), mùa xuân tháng 3, trùng tu điện Thiên An (天安殿).
Man vùng Máng Quán, Giang Lộng, Lạc nổi loạn, sai Tô Hiến Thành (蘇憲成) đánh dẹp.
Năm Ất Dậu, Chính Long Bảo Ứng năm thứ 3 (1165), mùa xuân, xây đài đèn Diên Mệnh Quảng Chiếu (廣照延命燈臺).
Mùa thu, thi học sinh. Ban chiếu dời triều đình từ cửa Đông thành Đại La (大羅城) lùi lại 75 thước, xây bằng gạch đá để tránh nước sông xói mòn.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Bính Tuất, Chính Long Bảo Ứng năm thứ 4 (1166), mùa xuân tháng 2, ngự cung Cảnh Linh (景靈宮), xem lễ dục đạo (浴道). Lễ dục đạo bắt đầu từ đây.[16]
Thấy rùa sáu mắt, chữ ngọc màu xanh. Lại dâng rùa sáu mắt đỏ, cổ có chữ đỏ, bụng có đủ năm màu, đuôi có cựa.
Dâng công trắng và công đen.
Mùa đông, đại liêu Nguyễn Ân (阮恩) dâng rùa sáu mắt, ngực có bảy chữ “Thiên Tử Vạn Thế Vạn Vạn Thế” (天子萬世萬萬世).
Dâng quạ trắng.
Năm Đinh Hợi, Chính Long Bảo Ứng năm thứ 5 (1167), trùng tu cửa Đại Hưng (大興門).
Công chúa Thiên Cực (天極公主) gả cho Mục Lạng Châu (諒州牧) là Hòai Trung hầu (懷忠侯).
Năm Mậu Tý, Chính Long Bảo Ứng năm thứ 6 (1168), dâng hoa Ưu Đàm (優曇花).
Năm Kỷ Sửu, Chính Long Bảo Ứng năm thứ 7 (1169).
Năm Canh Dần, Chính Long Bảo Ứng năm thứ 8 (1170), cuối mùa hạ, rước lửa từ cung Thường Nga (蟾宮火).
Chiêm Thành (占城) sang cống.
Năm Tân Mão, Chính Long Bảo Ứng năm thứ 9 (1171), bãi bỏ lễ dục đạo.
Điện Vĩnh Quang (永光殿) tự nhiên rung chuyển.
Đầu mùa hạ, ban chiếu tu sửa miếu Văn Tuyên Vương (文宣王廟) và miếu Hậu Thổ (后土祠).
Xây các gác Thái Bạch (太白閣).
Mùa thu tháng 7, động đất.
Năm Nhâm Thìn, Chính Long Bảo Ứng năm thứ 10 (1172), mùa đông, xây miếu Trinh Linh phu nhân (貞靈夫人祠) ngoài cầu Tây Dương (西陽橋).
Năm Quý Tỵ, Chính Long Bảo Ứng năm thứ 11 (1173), trùng tu cầu Thái Hòa (太和橋).
Nhà Tống gửi thư mua voi để dùng trong lễ Nam Giao, sai đại liêu ban là Doãn Tử Sung (尹子充) mang 10 con voi sang Tống.[17][18]
Năm Giáp Ngọ, Thiên Cảm Chí Bảo nguyên niên (天感至寳元年, 1174), tháng Giêng, đổi niên hiệu. Tống gọi nước ta là An Nam quốc (安南國), vua là quốc vương, quốc hiệu bắt đầu từ đây.[19]
Giáng Thái tử Long Xưởng (龍昶 Long Sưởng) làm Bảo Quốc vương (保國王), lập Long Trát (龍𣉙 Long Cán) làm Thái tử. Long Xưởng háo sắc, tư thông với cung nữ được sủng ái. Vua ghét vì vô lễ. Nguyên phi họ Từ (徐氏) được vua sủng, hoàng hậu[20] sai Xưởng tư thông để làm nàng xa cách vua. Từ thị tâu rõ, vua giận phế Long Xưởng.
Một hôm, vua ra triều, vú nuôi bế Cao Tông (髙宗) theo, Cao Tông khóc không ngừng. Vua cởi mũ đội cho, liền nín. Vua lấy làm lạ, nói: “Người thành nghiệp ta, ắt là đứa trẻ này.” Tháng 11, lập làm Thái tử, giáng Long Xưởng làm vương.
Năm Ất Mùi, Thiên Cảm Chí Bảo năm thứ 2 (1175), mùa thu tháng 7, vua lâm bệnh. Hoàng hậu xin lập lại Bảo Quốc vương. Vua nói: “Làm con mà không kính cha mẹ, làm vua sao yêu dân được?” Ngày Giáp Thìn, bệnh nặng, bảo Thái tử: “Nước ta núi kỳ sông đẹp, người giỏi đất thiêng, châu báu không thiếu, không nước nào sánh được. Phải giữ gìn cẩn thận.” Ngày Ất Tỵ, vua băng tại điện Thụy Quang (瑞光殿), thọ 41 tuổi. Miếu hiệu Anh Tông (英宗), ở ngôi 39 năm, đổi niên hiệu 3 lần, táng tại phủ Thiên Đức (天德府).
Cao Tông
[sửa]Tên huý là Long Trát (龍𣉙), là con trai thứ sáu của Anh Tông (英宗). Mẹ là hoàng hậu Thụy Châu (瑞珠后), họ Đỗ (杜氏). Vua lên ngôi khi mới 2 tuổi, vào tháng 7 năm Thiên Cảm Chí Bảo thứ 2 (1175), trước linh cữu. Tôn mẹ là Chiếu Thiên Chí Lý Thái hậu (照天至理太后), thượng tôn hiệu là Ứng Kiền Ngự Cực Hoằng Văn Hiến Vũ Linh Thụy Chiêu Phù Chương Đạo Chí Nhân Ái Dân Lý Vật Duệ Mưu Thần Trí Hóa Cảm Chính Thuần Phu Huệ Thị Từ Tuy Du Kiến Mỹ Công Toàn Nghiệp Thịnh Long Hiện Thần Cư Thánh Minh Quang Hiếu Hoàng Đế (應乾御極宏文憲武靈瑞昭符彰道至仁愛民理物睿謀神智化感政醇敷惠示慈綏猷建美功全業盛龍見神居聖眀光孝皇帝).
Vua còn nhỏ, mọi việc lớn nhỏ đều giao cho Thái phó Tô Hiến Thành (蘇憲成). Thái hậu[21] có ý định phế lập, chờ Hiến Thành ra ngoài, sai mang vàng bạc hối lộ vợ ông là Lữ thị (吕氏) để nói giúp. Hiến Thành nói: “Ta giữ chức tể tướng, được tiên vương ủy thác phò tá ấu chúa. Nay nhận hối lộ để mưu phế lập, thiên hạ sẽ nghĩ gì? Dù người đời không biết, ta cũng không thể đối mặt với tiên vương nơi suối vàng.” Thái hậu biết mưu không thành, nhưng vẫn không từ bỏ, bèn gọi Hiến Thành nói: “Ngài trung với nước, nhưng tuổi đã cao, phò ấu chúa ai biết công lao? Chi bằng lập trưởng quân, họ sẽ biết ơn ngài, giữ phú quý lâu dài, chẳng phải tốt sao?” Hiến Thành đáp: “Giàu sang bất nghĩa không phải điều trung thần nghĩa sĩ ham muốn. Huống chi di chiếu tiên vương còn đó, sao dám trái công luận?” Rồi vội vàng lui ra.
(Chiêu Linh) Thái hậu bèn sai gọi Bảo Quốc vương (保國王). Bảo Quốc vừa mừng vừa sợ, đi thuyền nhỏ theo đường Tô Lịch (蘇歷江) vào. Hiến Thành triệu các quan chức đến, nói: “Tiên vương giao ấu chúa cho ta và các ngươi, nay Bảo Quốc vương theo lệnh Thái hậu muốn phế lập, các ngươi nên tận trung, nghe lệnh ta. Ai theo lệnh sẽ được thưởng, ai trái lệnh sẽ bị xử nơi chợ.” Mọi người đều nghe theo.
Chẳng bao lâu, Bảo Quốc vương đến cửa Ngân Hà (銀河門), (Chiêu Linh) Thái hậu thúc giục vào. Bảo Quốc định vào, quan chức ngăn lại: “Chưa có chiếu, không dám mở cửa. Nếu vương cố vào, người ngăn không phải là ta mà là quân lính.” Bảo Quốc nghe vậy, xấu hổ sợ hãi mà lui.
Cuối mùa thu, phong em (Đỗ) Thái hậu là Đỗ An Thuận (杜安順) làm Quan Nội Hiến Quốc hầu (關内憲國侯), phong Hiến Thành làm Thái úy.
Thần quang hiện ở núi Đại Lãm (大覽山).
Đầu mùa đông, kết minh với chư quốc tại long trì.
Năm Bính Thân, Trinh Phù nguyên niên (貞符元年, 1176), Tống Hiếu Tông (宋孝宗) ban ấn “An Nam quốc vương” (安南國王) cho vua.
Thái úy Tô Hiến Thành (蘇憲成) dâng chim sẻ trắng, chỉ huy tiền quân Hoàng Cửu (黄玖) dâng hươu trắng.
Năm Đinh Dậu, Trinh Phù năm thứ 2 (1177), người Chiêm Thành (占城) vào chiếm phía đông châu Nghệ An (乂安州).
Dâng rùa sáu mắt, cổ có chữ đỏ.
Thủ lĩnh châu Thượng Nguyên (上源州) là Dương Ỷ (楊倚) làm phản.
Năm Mậu Tuất, Trinh Phù năm thứ 3 (1178), giữa mùa hạ, lấy ngày sinh làm lễ Kiền Hưng (乾興節).
Năm Kỷ Hợi, Trinh Phù năm thứ 4 (1179), đầu mùa xuân, động đất.
Giữa mùa hạ, mở rộng chùa Chân Giáo (真教寺), ban chiếu lấy chùa này làm nơi hành hương ngày giỗ Anh Tông (英宗).
Tháng 6, ngày Giáp Thìn, thấy hai mặt trời cùng xuất hiện.
Ngày Kỷ Dậu, Thái úy Tô Hiến Thành (蘇憲成) mất. Đình triều 7 ngày, ngừng món ăn tinh khiết 3 ngày. Trước đó, Hiến Thành lâm bệnh, chỉ có Tham tri chính sự Vũ Tán Đường (武贊唐) ngày đêm hầu hạ, còn Gián nghị đại phu Trần Trung Tá (陳忠佐) vì công việc bận rộn nên không đến thăm. Khi bệnh nặng, (Đỗ) Thái hậu hỏi: “Nếu chẳng may có điều bất trắc, ai thay được?” Hiến Thành đáp: “Người tôi biết rõ chỉ có Trung Tá.” Thái hậu hỏi: “Tán Đường ngày đêm hầu thuốc, sao không nhắc đến?” Hiến Thành đáp: “Bệ hạ hỏi người có thể thay, nên tôi nói đến Trung Tá. Nếu hỏi người hầu hạ, thì không ai ngoài Tán Đường.” Thái hậu tuy khen là trung, nhưng không dùng lời ấy, bèn giao chính sự cho Đỗ An Thuận (杜安順).
Ban lệnh cấm cá, muối, sắt không được đem đến đầu nguồn để buôn bán.
Vua cùng (Đỗ) Thái hậu xem con em tăng quan thi tụng kinh Bát Nhã, lại ngự điện Phụng Minh (鳳鳴殿) thi hoàng nam chép thơ cổ và làm toán. Đầu mùa đông, lại ngự điện Sùng Chương (崇章殿) thi con em tam giáo (Nho, Phật, Lão) chép thơ cổ, làm thơ, giảng nghĩa Kinh Thi và làm toán.
Ngày Mậu Tuất, dâng rùa ba chân sáu mắt.
Năm Canh Tý, Trinh Phù năm thứ 5 (1180), ban chiếu ba giáo tu soạn văn bia đại nội, định lệ vương hầu vào chầu.
Mùa hạ, sai thư gia Nguyễn Ngọ (阮午) làm phó hành khiển.
Đầu mùa thu, lũ lớn, điện Vĩnh Quang (永光殿) và Hội Tiên (會仙殿) động đất.
Mùa đông, gả công chúa Hoa Dương (華陽公主) cho thủ lĩnh châu Vị Long (渭龍州) là Hà Công Phụ (何公輔).
Năm Tân Sửu, Trinh Phù năm thứ 6 (1181), tháng 4 mùa hạ, sao Huỳnh Hoặc nhập Nam Đẩu.
Đại đói, dân chết gần một nửa.
Năm Nhâm Dần, Trinh Phù năm thứ 7 (1182), tháng 3 mùa xuân, phong viên ngoại lang Ngọc Giai (玉堦) là Tiêu Nhữ Dực (蕭汝翼) làm Bình Bộ ty.
Mùa hạ, Đỗ An Thuận (杜安順) dâng quạ trắng.
Dùng hỏa đầu Trung thư là Chu Toại Lương (朱遂良) làm lệnh thư gia Trung thư tỉnh. Phong Đỗ An Thuận làm Thái sư phụ chính, người đương thời sợ uy quyền của ông. Mỗi khi có kiện tụng, lại bộ không bắt được, An Thuận sai lính xe khăn (Cân Xa Nhi) đuổi thì lập tức bắt được. Có người diễn trò, đóng vai Thượng thư bộ Hình, sai viên tư lại đi bắt không được, nói: “Sao không xưng là lính xe khăn của Thái sư?” Nói xong thì bắt được thật.
Mùa đông tháng Chạp, ngày Nhâm Dần, vua lần đầu ngự giảng đường.
Ban lệnh cấm giết trâu bò, cấm dùng chỉ vàng may áo quần.
Năm Quý Mão, Trinh Phù năm thứ 8 (1183), mùa xuân, sâu làm tổ ở chùa Nhị Lâm (二林寺), trên cây có màu như vàng bạc.
Năm Giáp Thìn, Trinh Phù thứ 9 (1184), mùa đông, ba sách (trại) Tư Mông 司蒙栅, Trịnh 鄭栅 và Ô Mễ 烏米 栅 nổi loạn. Vua sai Thái phó Vương Nhân Từ 王仁慈 đi dẹp. Nhân Từ cho người bản châu là Phạm Phẩm 范品 đóng quân ở ải Ông Trọng 翁仲, Trương Nhan 張顔 và Phạm Đỗ 范杜 đóng ở thôn Bái 沛鄉, Đoạn Tùng 段松 đóng ở Khả Lão 可老. Nhân Từ trực tiếp đánh hai trại Đãng Bái 蕩沛 và Vạn Mễ 萬米, chiếm được. Đến trại La Tiêu 羅鑣 thì bị người Thổ 獠 tập kích, quân triều đại bại, Nhân Từ chạy đến núi An Quế 安檜 thì sa lầy, bị người Thổ đâm chết. Người Thổ trên núi nói với nhau: hôm nay có một phụ nữ bị ta đâm chết. Quân lính mất tích biết Nhân Từ đã chết, tìm khắp núi rừng, quả nhiên tìm được thi thể. Nhân Từ là hoạn quan nên giống phụ nữ.
Mưa nước đen.
Dâng lúa có bông liền nhau 穂禾, rơm dài 7 thước 5 tấc.
Năm Ất Tỵ, Trinh Phù thứ 10 (1185), mùa xuân, Kiến Ninh vương 建寧王 Long Ích 龍益 dẫn hơn 12.000 quân đánh người Thổ ở núi Linh Sách 靈栅 để báo thù trận La Tiêu. Đóng quân ở thôn Đỗ Gia 杜家村, sai người chiêu dụ. Tướng tiên phong (của người Thổ) là võ quan Đinh Vũ 丁武, tức Đinh Sáng 丁創 và những người khác đều đầu hàng. Long Ích bắt hết, Vũ và đồng bọn kêu khóc. Người tùy tùng (của Long Ích) là Nguyễn Đa Cẩm 阮多錦 cho rằng bọn Vũ đã bị bắt thì tất sợ hãi, bèn chửi mắng và đái vào miệng Vũ. Người Thổ tính hung dữ, liền cắn âm hành 陰莖[22] của hắn ta, Đa Cẩm dùng tay đánh lại, Vũ há miệng, Đa Cẩm cũng ngã xuống suýt chết. Long Ích sai quan làm mõ gỗ kẹp miệng bọn Vũ, đánh chết rồi xẻ thịt phơi khô.
Cuối hạ, bão lớn nổi lên, đất nứt ở hai cổng chùa.
Năm Bính Ngọ, Trinh Phù thứ 11 (1186), mùa hạ tháng 4, bắt được voi trắng, ban tên là Thiên Tư Tượng 天資象. Đổi niên hiệu thành Thiên Tư Gia Thụy nguyên niên 元年天資嘉瑞元年. Phò mã lang 駙馬郎, Bảo Trinh hầu 保貞侯 Đỗ Trực 杜直 dâng con nguyên lộc 元鹿 (nai sừng tấm?).
Năm Đinh Mùi, Thiên Tư Gia Thụy thứ 2 (1187), giữa mùa hạ, Thái miếu bị động.
Mùa thu, có nhà sư từ Tây Vực 西域 đến. Vua hỏi khả năng, đáp: có thể hàng phục hổ. Vua sai Chi hầu 祇侯 Phụng ngự Lê Năng Trường 黎能長 tiếp đãi, sai người bắt hổ để thử thuật. Hơn 10 ngày, sư nói với Năng Trường 能長: “Hổ có thể phục rồi.” Năng Trường tâu lên, vua sai dựng chuồng ở điện Vĩnh Bình 永平閣, cho sư vào chuồng. Sư bước theo kiểu Vũ 禹步, niệm chú, dùng gậy gõ đầu hổ, hổ giằng lấy gậy. Sư tâu: “Có kẻ ác phá chú thuật của thần, xin được trì chú lại rồi mới thi triển.” Vua chấp thuận, sư trì chú lại. Lâu sau, vua muốn thử tận thuật, một ngày sai sư vào chuồng lại, hổ liền nhảy lên vồ cắn. Sư sợ hãi, lùi lại không biết làm gì, dựa chuồng mà chết.
Giữa mùa đông, sao Huỳnh Hoặc 熒惑 xuất hiện.
Năm Mậu Thân, Thiên Tư Gia Thụy thứ 3 (1188), mùa xuân tháng 2 ngày mồng 1 (丁卯), xảy ra nhật thực.
Dâng chim á trắng 白鴉.
Mùa hạ, xây cung Thánh Nghi 聖儀宮.
Cuối hạ, động đất.
Bão lớn.
Thái sư Đỗ An Thuận 杜安順 mất, Thái phó Ngô Lý Tín 吳履信 phò chính.
Mùa thu, Cổ Hoành Giáp 古宏甲 nổi loạn.
Năm Kỷ Dậu, Thiên Tư Gia Thụy thứ 4 (1189), mùa xuân, tháng 2 ngày mồng 1, xảy ra nhật thực.
Mùa hạ, mặt trời và mặt trăng đỏ như máu.
Động đất.
Vua sai Thái phó Ngô Lý Tín 吳履信 và Đô quan lang trung 黎能長 tra xét vụ kiện của Thiếu sư Mạc Hiển Tích 莫顯績. Lê Năng Trường và những người khác sợ Hiển Tích, không dám điều tra. Người trong nước châm biếm rằng: “Ngô Phụ Quốc là Lan, Lê Đô Quan là Kích, tra một Mạc Hiển Tích, chỉ co ro mà thôi.” Khi ấy vua còn nhỏ, Hiển Tích thông dâm với (Đỗ) Thái hậu nên ai cũng sợ. Lan 蘭 và Kích 擊 là tên hai kẻ điên.
Các sứ nước Đại Lý là Huệ Minh 惠明, Giới Nhật 戒日 và những người khác đến chầu.
Năm Canh Tuất, Thiên Tư Gia Thụy thứ 5 (1190), mùa xuân tháng 2, (Đỗ) Thái hậu băng, thụy hiệu Linh Đạo 靈道.
Tháng 3, động đất. Chiếu lưu đày Mạc Hiển Tích đến trại Quy Hóa 歸化寨.
Thái phó Ngô Lý Tín mất, Thái phó Đàm Dĩ Mông 譚以蒙 phò chính.
Năm Tân Hợi, Thiên Tư Gia Thụy thứ 6 (1191), nước Chân Lạp 真臘 sang cống.
Bổ Đô quan lang trung Lê Năng Trường 黎能長 làm Tả phụ 左輔, Đặng Tú Phụ 鄧秀父 làm Tham tri chính sự 參知政事.
Mùa đông tháng 12, sao Huỳnh Hoặc 熒惑 phạm sao Thái Bạch 太白.
Năm Nhâm Tý, Thiên Tư Gia Thụy thứ 7 (1192), mùa xuân tháng Giêng, Cổ Hoành Giáp 古宏甲 ở Thanh Hóa 清化 nổi loạn. Trước đó, người của Giáp thấy dấu chân trâu bò quanh gốc cây am la 菴羅, lần theo dấu thì thấy trâu trắng trên cây, rồi theo lối khác mà xuống, đi vào sông rồi biến mất. Người trong châu đoán rằng: “Trâu là vật ở dưới, mà lại ở trên cây, là điềm dưới lên trên.” Bèn rủ nhau làm loạn. Mùa hạ, chiếu cho Đàm Dĩ Mông phát binh phủ Thanh Hóa đánh Cổ Hoành Giáp. Dĩ Mông sai đốn nhiều chuối thả xuống sông để cản thuyền giặc. Giặc không thể lập trận, Dĩ Mông thừa cơ đánh gấp, đại phá, bắt được thủ lĩnh Lê Vãn 黎晚 và những người khác, giải về kinh sư. Chiếu cho bọn Vãn cưỡi ngựa gỗ (đóng đinh, tùng xẻo).
Mùa đông tháng 12, nghênh đón sao Hỏa ở cung Thiềm 蟾宮火. Khơi thông sông Tô Lịch 蘇歷江.
Xây đê đá, người Hồ 胡 ở Diễn Châu 演州 nổi loạn, Dĩ Mông đi đánh, bắt được.
Năm Quý Sửu, Thiên Tư Gia Thụy thứ 8 (1193).
Năm Giáp Dần, Thiên Tư Gia Thụy thứ 9 (1194), mùa xuân, thủ lĩnh Chân Đăng Châu 真登州 là Hà Lê 何黎 nổi loạn, vua sai Đàm Dĩ Mông 譚以蒙 đi đánh, bắt được.
Giữa mùa hạ, đầu rồng vàng ở điện Vĩnh Thọ 永壽 phát sáng.
Mùa thu tháng 7, dùng vàng bạc tô tượng Phạm Vương 梵王 và Đế Thích 帝釋, đặt tại hai ngôi chùa.
Thiết đãi tiệc đua thuyền trong hậu cung.
Mùa đông, xem cá vào ngày cuối tháng. Hôm đó mưa đá to bằng đầu ngựa, người chết rất nhiều.
Chiêm Thành 占城 và Chân Lạp 真臘 sang cống.
Năm Ất Mão, Thiên Tư Gia Thụy thứ 10 (1195), mùa xuân tháng 2, vua ngự Đại Hưng môn 大興門, tổ chức hội đèn Quảng Chiếu 廣照燈會. Ngày Kỷ Tỵ 己巳, ngự điện Thiên An 天安殿, thiết tiệc xuân.
Động đất.
Tháng 5, lại động đất.
Chân Lạp lại sang cống.
Đại dịch.
Năm Bính Thìn, Thiên Tư Gia Thụy thứ 11 (1196), đầu mùa thu, ngày Mậu Dần 戊寅, điện Minh Ly 明離閣 bị động.
Đầu mùa đông, khảo thí con em ba giáo về các môn: chép thơ cổ, vận toán, làm phú, nghĩa Kinh Thi 詩經義. Ban cấp đỗ đạt và xuất thân theo thứ bậc.
Năm Đinh Tỵ, Thiên Tư Gia Thụy thứ 12 (1197), mùa xuân tháng 3, vua ngự cửa biển Long Thủy 龍水海口. Xây cung Thiềm 宮 và hành cung hơn 100 nơi.
Mùa thu, chiếu cho học sinh Quốc tử giám nhập học.
Thăng Đàm Dĩ Mông lên tước Liệt hầu 列侯.
Năm Mậu Ngọ, Thiên Tư Gia Thụy thứ 13 (1198), Đàm Dĩ Mông tâu với vua: “Hiện nay tăng đồ chiếm gần nửa số phu dịch. Tự kết bạn bè, lập thầy trò bừa bãi, tụ tập sống chung, nhiều kẻ làm điều ô uế. Có kẻ ở giới trường, tịnh xá công khai ăn thịt uống rượu; trong thiền phòng, tịnh viện thì tư thông dâm loạn; ngày ngủ đêm đi, như chuột cáo, làm hư phong tục, tổn hại giáo pháp, dần dần thành thói. Nếu không cấm, lâu ngày sẽ càng nghiêm trọng.” Vua chấp thuận. Dĩ Mông triệu tập tăng đồ trong nước, giữ lại ở kho thóc, chọn vài chục người có tiếng làm tăng, còn lại đều rửa tay hoàn tục.
Vua ngự Cẩm Đàm 錦潭 xem cá.
Mùa thu, hành lang Tả Vũ Thắng 左武勝 bị động.
Vua ngự điện Thiên Khánh 天慶殿, xử án viện Thượng Lâm 上林院.
Đầu mùa đông, Phụ quốc Thái phó 輔國太傅 Đàm Dĩ Mông xử án phủ Đô hộ 都護府 ngoài cửa Họa Quan 畫關外.
Châu Lạng 諒州 sản xuất thiếc trắng 白錫, đồng xanh 緑銅 và đá thanh lớn 大青.
Năm Kỷ Mùi, Thiên Tư Gia Thụy thứ 14 (1199), mùa xuân tháng 2, vua ngự phủ Thanh Hóa 清化府, xem bắt voi.
Mùa hạ, động đất.
Mùa thu, khảo thí học sinh.
Hậu cung bị cháy.
Đàm Dĩ Mông 譚以蒙 dâng chim á trắng 白鴉 và chim sẻ trắng 白雀.
Năm Canh Thân, Thiên Tư Gia Thụy thứ 15 (1200), giữa mùa xuân, vua ngự trại Ngọc Sơn 玉山寨, xem bắt voi.
Cuối hạ, động đất.
Mùa thu, tổ chức đua thuyền và yến tiệc.
Năm Tân Dậu, Thiên Tư Gia Thụy thứ 16 (1201).
Năm Nhâm Tuất, Thiên Tư Bảo Hựu 元年 天資寳祐元年 (1202), mùa xuân tháng Giêng, đổi niên hiệu. Quần thần xin tôn xưng hiệu cho vua.
Mùa hạ tháng 6, động đất.
Mùa đông tháng 10, vua ngự hành cung Hải Thanh 海清行宮. Mỗi đêm sai nhạc công khảy đàn Bà Lỗ 婆魯, hát điệu mô phỏng khúc Chiêm Thành 占城. Âm thanh trong trẻo, ai oán, thê lương, người nghe đều rơi lệ. Tăng phó Nguyễn Thường 阮常 nói: “Ta thấy trong Tựa Kinh Thi có nói, nhạc nước loạn thì ai oán, vì giận chính sự sai lạc; nhạc nước mất thì bi thương, vì nhớ dân khốn khổ. Nay thánh thượng du ngoạn không chừng, chính giáo rối loạn, dân chúng khổ sở, ngày càng trầm trọng, lại ngày ngày nghe âm thanh ai oán, chẳng phải là điềm loạn mất đó sao? Ta biết lần này xe giá trở về, sẽ không còn ngự cung ấy nữa!” Sau đó trong nước đại loạn, quả đúng như lời.
Năm Quý Hợi, Thiên Tư Bảo Hựu thứ 2 (1203), tháng Giêng, xây cung mới phía tây điện ngủ. Giữa đặt điện Thiên Thụy 天瑞殿, bên trái dựng điện Dương Minh 陽明殿, bên phải dựng điện Thiềm Quang 蟾光殿, phía trước đặt điện Chính Nghi 正儀殿, phía trên dựng điện Kính Thiên 敬天殿, bậc thềm gọi là Lệ Dao 麗瑤. Giữa mở cửa Vĩnh Nghiêm 永嚴門, bên phải mở cửa Việt Thành 越城門, bậc thềm gọi là Ngân Hồng 銀虹. Phía sau mở điện Thắng Thọ 勝壽殿, phía trên dựng các điện Thánh Thọ 聖壽閣, Nhật Kim 日金閣, Nguyệt Bảo 月寳閣. Xung quanh xây hành lang, mái hiên, bậc thềm dát kim tinh 金晶. Bên phải Nguyệt Bảo các đặt ghế đá mát, phía tây các dựng nhà tắm, phía sau dựng điện Phú Quốc 富國閣, bậc thềm gọi là Phượng Tiêu 鳳簫. Phía sau mở cửa xuyên tường, xây hồ nuôi cá. Trên hồ dựng đình Ngoạn Y 漪亭, ba mặt trồng hoa lạ cây quý, nước hồ thông ra sông. Nghệ thuật điêu khắc và vẻ đẹp kiến trúc chưa từng có xưa nay. Ban đầu, khi điện Kính Thiên xây xong, có chim khách làm tổ và sinh con trên đó. Quần thần nhân đó can gián: “Xưa Minh Đế nhà Ngụy xây điện Lăng Tiêu 凌霄閣, có chim khách làm tổ, Cao Đường Long 高堂隆 nói: Thi có câu ‘Chim khách làm tổ, chim cưu ở đó’. Nay cung điện mới xây mà chim khách làm tổ, thần ngu cho rằng sẽ có người khác họ ở đó. Xin bệ hạ soi lời Cao Đường Long, trước nên tu đức, sau mới khởi công trình.” Vua lặng thinh hồi lâu, hỏi hoạn quan Phạm Bỉnh Di 范秉彛. Bỉnh Di nói: “Điện xây xong mà chim khách làm tổ sinh con, là điềm trời ban phúc cho dòng dõi trăm đời của bệ hạ.” Vua vui, ra lệnh thúc đẩy xây dựng. Dân chúng vì thế càng khốn khổ.
Mùa thu tháng 7, Chỉ huy sứ điện tiền của châu Nghệ An 乂安州 là Đỗ Thanh 杜清 và châu mục Phạm Diên 范延 tâu rằng: “Vua nước Chiêm Thành 占城 là Bố Trì 布池[23] bị chú là Bố Do 布由[24] đuổi, đem hơn 200 thuyền, chở vợ con đến cửa biển Kỷ La 几羅 xin cứu.” Tháng 8, vua sai Phụ quốc Thái phó Đàm Dĩ Mông 譚以蒙 và Khu mật sứ 杜安 bàn việc. Dĩ Mông đến Kỷ La, Đỗ An nói: “Bố Trì có 200 thuyền, lòng lang dạ thú, không thể tin hết. Tục ngữ có câu: ‘Lỗ kiến làm vỡ đê, tấc khói cháy nhà’. Nay Bố Trì đông người, chẳng phải chỉ là lỗ kiến tấc khói.” Dĩ Mông kể lại cho Thanh và Diên, bảo họ phòng bị. Thanh và Diên nói: “Họ gặp nạn mà cầu cứu, ta nên chân thành cứu giúp, nay lại nghi ngờ, chẳng phải là sai sao?” Dĩ Mông giận, rút quân về. Thanh và Diên nói với nhau: “Ta đã làm phật lòng Phụ quốc, ắt có hậu họa, chi bằng đánh úp Bố Trì để tự bảo toàn.” Mưu bị lộ, Bố Trì biết được. Trì sợ, nói với người của mình: “Ta gặp nạn đến cầu cứu nước lớn, không những không được giúp mà còn muốn bắt làm tù, đau đớn không gì bằng.” Bèn tìm cơ hội dụ Thanh và Diên. Thanh và Diên sai người Nghệ An buộc thuyền vào thuyền Chiêm Thành để canh giữ. Người Chiêm ban đêm giấu đuốc tre và giáo trong thuyền, một đêm lính canh mệt mỏi, bỏ phòng mà ngủ. Người Chiêm đốt đuốc, ném vào thuyền, lính canh hoảng loạn, không biết làm gì, đều nhảy xuống nước, bị giết và chết đuối hơn 200 người. Quân của Thanh và Diên đại bại, Bố Trì dẫn quân về nước.
Tháng 9, người Đại Hoàng 大黄 là Phí Lang 費郎 nổi loạn. Trước đó, người Đại Hoàng xây cổng thành lớn, nghe tin các ấp Lâm Ấp 淋邑, Đà Mỗ Ấp 陀某邑 đã phản, bèn dẫn quân bỏ về rồi nổi loạn.
Thượng tướng quân Nguyễn Bảo Lương 阮保良 và Thượng thư bộ Lại Từ Anh Nhĩ 徐英珥 dâng sớ tố cáo Đàm Dĩ Mông tham nhũng hại dân, không ai bằng. Vua giáng Dĩ Mông làm Đại liêu ban 大僚班. Trước đó, Bảo Lương xây điện Thánh Nhật 聖日閣 trễ hạn, Dĩ Mông giận, sai đánh. Bảo Lương giả vờ đau không dậy nổi, Dĩ Mông quát bảo đứng lên, Bảo Lương nói: “Đánh đau thế này, sao đứng lên được?” Từ đó ôm hận trong lòng.
Ngày Ất Mùi, vua sai Chi hầu Phụng ngự Trần Hinh 陳馨 làm Nguyên soái, dẫn quân đánh Đại Hoàng 大黄. Đồng thời sai Thượng thư bộ Lại Từ Anh Nhĩ 徐英珥 dẫn quân phủ Thanh Hóa 清化府 cùng tiến. Ngày Giáp Dần, Anh Nhĩ đến cửa sông Lộ Bái 路沛江口, Trần Hinh gặp Phí Lang 費郎, hai bên giao chiến, Anh Nhĩ đến cứu, đều bị đánh bại, bị Phí Lang giết.
Năm Giáp Tý, Thiên Tư Bảo Hựu thứ 3 (1204), vua sai Phụ quốc Thái bảo Đỗ Kính Tu 杜敬修 đi đánh Đại Hoàng. Kính Tu nhút nhát, không dám tiến sâu, chỉ đóng quân ở Việt Loan 越灣, chia quân đánh các ngả, còn bản thân chỉ đi lại giữa Chương Sơn 章山 và An Lão 安老. Lại dâng sớ nói: giữa hè nóng bức, quân mệt, lương cạn. Vua bèn triệu về. Tháng 5, lại sai Quan nội hầu Đỗ Anh Doãn 杜英允 đi đánh, cũng không thắng, phải rút quân.
Rồng vàng xuất hiện ở điện Thánh Nhật 聖日閣, tháng 8 lại thấy ở điện Thánh Thọ 聖壽殿, bay quanh cửa ngự và điện Thiên Thụy 天瑞殿. Trên ngai để lại dấu móng vuốt hơn 100 chỗ, hậu cung cũng thấy 3 lần. Triệu cung nữ Lê Nương 黎娘 lên đứng đầu điện.
Tháng 10, sai Đàm Dĩ Mông 譚以蒙 dẫn quân các đạo xây lũy từ Bà Câu 婆溝 trở ra bắc, dọc theo cửa sông Lộ Bái đến trại Văn Lôi 文雷寨 để phòng Đại Hoàng.
Gió lớn.
Năm Ất Sửu, Thiên Tư Bảo Hựu thứ 4 (1205), ban đầu Đàm Dĩ Mông xây xong lũy, đóng hàng chục chiến thuyền lầu, sai cung thủ Phú Lương 富良 lên thuyền, dùng dây dài buộc đuôi thuyền, dặn rằng: giặc đến thì chèo thuyền sang sông bắn, nếu bất lợi thì kéo thuyền về. Khi Dĩ Mông bị triệu về kinh, người Đại Hoàng kéo quân đóng ở bờ bắc, lính giữ thành làm theo lời Dĩ Mông. Người Đại Hoàng trên bờ đánh trống reo hò, lính kéo thuyền thấy thế giặc mạnh, ai nấy hoảng sợ, bỏ dây chạy, thuyền trôi vào bờ giặc, cung thủ bị giết sạch, quân triều đại bại. Phí Lang và đồng bọn nhờ nhiều lần thắng trận, liền dẫn người Thổ, Man, Lạo và Quan Sản 官鏟 đánh phá các làng mạc, đốt hành cung Ứng Phong 應豐 và kho lương, nhà cửa gần như bị thiêu rụi hết. Sau đến động Hến 蜆洞, bị dân động phục kích, đại bại.
Mùa thu tháng 8, vua sai Đô hỏa đầu thị vệ Nguyễn Vị 阮謂 đi chiêu dụ người Đại Hoàng. Khi đến nơi, Phí Lang cùng hơn 170 thủ lĩnh ra hàng.
Tháng 9, ngày Nhâm Thìn 壬辰, đổi niên hiệu thành Bình Trị Long Ứng 元年 平治龍應元年. Tháng ấy, núi Lãm 崍山 sụp.
Rồng vàng lại xuất hiện ở điện Thắng Thọ 勝壽殿.
Điện Thiên Thụy 天瑞殿 xây xong, ban yến 3 ngày cho quần thần mừng khánh thành. Vua thiên về lợi lộc, lấy việc bán quan, xử án làm kế. Hai người tranh ruộng đất, một người dâng tiền, không xét đúng sai, đều bị tịch thu. Vì vậy kho tàng chất đầy, dân chúng oán than, trộm cướp nổi lên khắp nơi.
Năm Bính Dần, Trị Bình Long Ứng thứ 2 (1206), mùa xuân tháng Giêng, vua ngự điện Kính Thiên 敬天閣, xem ném cầu bay.
Tháng 2, ngày Nhâm Tý朔, xảy ra nhật thực.
Tháng 3, cung Phụng Thiên 奉天宮 bị cháy.
Mùa hạ tháng 5, xây chùa Thánh Huân 聖勲寺.
Mùa đông tháng 10, trùng tu chùa Chân Giáo 真教寺.
Năm ấy, trong nước đã loạn, mà vua vẫn ham du ngoạn. Đường sá ngăn trở, không nơi nào đi được, bèn lập hành cung Ứng Phong 應豐 và Hải Thanh 海清 tại ao Ứng Minh 應明池, ngày ngày dẫn cận thần và cung nữ du ngoạn làm vui. Lại dùng thuyền lớn làm ngự thuyền, thuyền nhỏ làm hai đội, sai cung nữ và nhạc công chèo thuyền hai bên, mô phỏng nghi lễ tuần du. Lại dùng vải vóc và hải sản niêm phong bằng sáp, thả xuống ao, sai người lặn xuống vớt lên, nói là vật tiến dâng từ Long cung. Quần thần thấy vua du đãng vô độ, ai nấy sợ hãi không dám can. Nhạc công Vũ Cao 武髙 giả vờ nói với Thượng phẩm Phụng ngự Trịnh Ninh 鄭寧 rằng: vừa rồi Cao đi ngang bờ ao, thấy một người lạ nắm tay dẫn đi dọc ao, đến gốc cây am la 菴羅 thì kéo xuống nước. Cao sợ chết đuối, không dám tiến. Một lát sau, nước tự tách ra, đi đến một nơi, thấy cung điện rộng rãi, thị vệ nghiêm ngặt. Cao hỏi: “Đây là nơi ai ở?” Người ấy đáp: “Chính là nơi ta ở, trông coi ao này.” Rồi bày rượu mời Cao uống. Uống xong, Cao xin về. Người ấy tặng trầu cau, tiễn đến gốc am la, rồi biến mất, trầu cau trong tay đã hóa thành đá. Biết trong ao có thần vật. Ninh kinh ngạc, tâu lên vua. Vua nghe mà không sợ, sai dùng sắt trấn yểm. Đến tháng Chạp, nước ao cạn, vua bảo tả hữu: “Ai có thể khiến nước sông dâng đầy ao này, ta sẽ trọng thưởng.” Nịnh thần Trần Túc 陳宿 nói: “Thần làm được.” Vua tin, sai thực hiện, nhưng không hiệu nghiệm. Một hôm, vua ngự ao này, nghe ngoài thành có người bị cướp kêu cứu, vẫn giả vờ không nghe, mải mê du ngoạn. Vua vốn sợ sấm sét, mỗi khi có động tĩnh đều kinh hoảng. Cận thần Nguyễn Dư 阮餘 tự xưng có thuật hàng sấm, gặp lúc sấm vang, vua sai Dư trấn sấm. Dư ngửa mặt niệm chú, sấm càng dữ dội. Vua hỏi, Dư đáp: “Thần đã răn từ lâu, không ngờ chúng vẫn hung bạo như vậy.”
Năm Đinh Mão, Trị Bình Long Ứng thứ 3 (1207), người Đại Hoàng 大黄 là Phí Lang 費郎 lại nổi loạn, đánh ấp Tạp Tự 雜字邑.
Tháng 3, giặc ở châu Quốc Oai 國威 là Đoàn Khả Liệt 段可列 và Vương Mãn 王滿 nổi loạn.
Mùa hạ tháng 4, Đàm Dĩ Mông 譚以蒙 lại phò chính.
Mùa thu tháng 8, Đoàn Thượng 段尚 và Đoàn Chủ 段主 nổi loạn. Vua sai phát binh lớn đánh. Đàm Dĩ Mông đi đường Đại Thông 大通道, Bảo Trinh hầu 保貞侯 đi đường Nam Sách 南册道, Thượng phẩm Phụng ngự Phạm Bỉnh Di 范秉彛 đi đường Khả Liễu 可了道, Chi hầu Hỏa đầu Trần Hinh 陳馨 đi đường Phù Đới 扶帶道, định hội quân đánh Thượng. Thượng bí mật sai người đút lót Thượng phẩm Phụng ngự Phạm Du 范猷, xin đem quân quy phục Du. Du cố xin với vua, vua sai gọi quân của Dĩ Mông và những người khác về, Thượng thoát được. Từ đó, Dĩ Mông, Bỉnh Di và Du có hiềm khích.
Năm ấy, vua thấy trộm cướp nổi lên khắp nơi, bèn hối hận việc trước, xuống chiếu rằng: Trẫm còn nhỏ đã nối nghiệp lớn, ở sâu trong cung cấm, không biết nỗi khổ của dân. Từ khi nghe lời tiểu nhân, khiến dân oán trách. Dân đã oán, trẫm biết nương vào ai? Nay nên sửa lỗi, làm lại từ đầu với dân. Những ruộng đất tài sản bị tịch thu, đều trả lại.
Năm Mậu Thìn, Trị Bình Long Ứng thứ 4 (1208), đói lớn, người chết đói nằm gối lên nhau.
Mùa đông tháng 10, lũ lớn.
Tháng Chạp, người Lộc Châu 禄州 nhà Tống là Vi Trí Cương 韋智剛 tấn công châu Lạng 諒州.
Bổ Phạm Du 范猷 làm Tri quân sự châu Nghệ An 乂安州. Du tâu vua rằng: “Nay thiên hạ loạn lạc, giặc giã nổi lên, có kẻ ghen ghét thần được sủng, ngầm gây loạn, dù là đầu thần cũng khó giữ, huống chi là ân đức của bệ hạ? Xin cho thần được chọn người khỏe mạnh để phòng thân, mong tránh họa bất ngờ.” Vua đồng ý. Du bèn chiêu nạp kẻ trốn tránh, tụ tập trộm cướp, xưng là Hầu nhân 侯人, công khai cướp bóc, không kiêng dè gì. Trộm cướp vì thế nổi lên như ong. Người châu Quốc Oai 國威 cũng dẫn quân đóng ở Tây Kết 西結, người trại Văn Lôi 文雷 đóng ở sông Đà Mặc 拖幕江. Từ đó đường sá bị cắt, thuyền bè không thông. Vua sai Thượng phẩm Phụng ngự Phạm Bỉnh Di 范秉彛 dẫn người châu Đằng 藤州 chống lại. Du lại về quê Cổ Miệt 古蔑, cùng người Hồng 烘 là Đoàn Thượng 尚 và những người khác đánh châu Đằng. Người châu Đằng xin Bỉnh Di đánh Du, không thắng, phải lui.
Năm Kỷ Tỵ, Trị Bình Long Ứng thứ 5 (1209), mùa xuân tháng Giêng, Bỉnh Di lại dẫn người châu Đằng và người châu Khoái 快州 đánh Du. Bỉnh Di nhiều lần thua, nổi giận, chém lính chạy để răn. Hôm sau lại đánh, thắng, Du chạy sang đất Hồng. Bỉnh Di tịch thu và đốt nhà Du. Du và Bỉnh Di càng thêm thù hận.
Người động Heo 猪洞 là Nguyễn Phá Lân 阮破鄰 dẫn thuộc hạ trộm tài vật của quan phủ trong đêm.
Vi Trí Cương nhà Tống lại đánh châu Lạng.
Giờ tuất (19-21 giờ), thấy mặt trời ban đêm.
Tháng 3, bóng nhật quỹ bỗng tối, một lúc sau mới sáng lại.
Ngày Đinh Mùi, Bỉnh Di lại đánh người Hồng là Đoàn Thượng 尚 ở cầu Vệ 衛橋. Người Hồng tan vỡ, Thượng sa lầy, bị Hà Văn Lôi 何文雷 đâm chết.
Vua sai Chi hầu Phụng ngự Trần Hinh 陳馨 triệu Du về kinh.
Mùa thu tháng 7 (1209), Phạm Bỉnh Di (秉彛) đến Kinh sư, định vào tâu việc. Có người ngăn lại nói: “Vua đã nghe Phạm Du (猷) nói trước, đang giận ông chưa nguôi.” Phạm Bỉnh Di nói: “Ta phụng sự vua hết lòng, lại bị người gièm pha sao? Huống chi có lệnh vua, ta sao trốn được!” Rồi vào. Vua sai bắt ông cùng con là Phụ (輔), giam ở Thủy viện. Muốn xử tử hình, tướng là Quách Bốc (郭卜) cùng người khác nghe tin, dẫn binh reo hò xông vào, đến cửa Đại Thành bị lính giữ cổng ngăn lại, Bốc cùng người cào cửa mà vào. Vua nghe việc gấp, vội gọi Phạm Bỉnh Di vào chỗ đá mát ở Kim Tinh giai. Chẳng bao lâu, Phạm Du cùng em là Kinh (京) từ ngự đường ra, dùng giáo ngự giết Phạm Bỉnh Di và Phụ. Bốc cùng người nghe Phạm Bỉnh Di chết, liền sai quân sĩ xông vào chỗ đá mát, dùng xe che vua ngự khiêng thi thể Phạm Bỉnh Di, lấy chiếu ngự bọc xác Phụ, vượt cửa thành ra, đi xuống phía đông triều đình. Sau đó lại vào Vạn Diên cung, đón Vương tử Thầm (忱), Vương tử Sảm (旵) trở về Hải Ấp.
Ngày Nhâm Dần, Nguyên tổ ta là Đại soái (Trần Lý) dẫn thủy quân đến Kinh sư, đón Vương tử Sảm cùng mẹ là Nguyên phi Đàm thị (譚氏) và hai người em gái cùng mẹ trở về nhà họ Đoàn (段氏) ở Hải Ấp, rồi tại nhà ấy tôn Vương tử Thầm lên ngôi. Khi ấy, gia thần của Sảm là Lưu Thiệu (劉紹) đến gặp Nguyên tổ và người đất Dao Hào (遙濠) là Phạm Ngu (范愚) nói rằng: “Thầm tuy là trưởng tử,[25] nhưng là con thứ; Sảm tuy nhỏ, nhưng là con đích. Xin hai ngài liệu định.” Nguyên tổ bèn cùng Ngu đón Sảm về Mang Nhân (茫仁), tôn lên ngôi, hiệu là Thắng vương (勝王), giáng Thầm làm vương.
Chẳng bao lâu, Sảm lại trở về Hải Ấp, ở tại quán làng nhà họ Lưu. Lấy con gái thứ hai của Nguyên tổ làm Nguyên phi (Trần Thị Dung), phong Đàm Dĩ Mông (譚以蒙) làm Thái úy, Nguyễn Chính Lại (阮正吏) làm Tham tri chính sự, Nguyên tổ làm Minh Tự (明字)[26], Phạm Ngu làm Thượng phẩm phụng ngự, Tô Trung Tự (蘇忠嗣) làm Điện tiền chỉ huy sứ, còn lại đều có phân bổ.
Vua (Lý Cao Tông) sai Phạm Du đi Hồng Lộ huấn luyện quân sĩ, định đánh người Thuận Lưu. Gặp lúc người Hồng đến đón đúng kỳ hẹn, nhưng Phạm Du còn tư thông với công chúa Thiên Cực, không hay đã trễ giờ, nên lỡ hẹn với người Hồng. Phạm Du bèn lên thuyền theo đường sông mà đi, đến nghỉ ở bộ Cổ Châu, rồi đi bộ đến xã Ma Lãng A Cảo, bị người Bắc Giang là Nguyễn Nậu và Nguyễn Nãi bắt, giải đến chỗ Vương tử Sảm, rồi bị giết.
Mùa thu tháng 8, người Thuận Lưu và Khoái vì cái chết của Bỉnh Di, dẫn đại quân thủy chiến đánh kinh. Quân tiên phong đậu ở Đông bộ 東步, vào thẳng cấm cung qua cửa Tả Dịch 左掖門, cướp báu vật. Đại quân đậu ở bến Thiên Hà 天河步, định vào từ cửa Thiên Thu 千秋門, đến miếu Vũ Sư 雨師觀, bị Liệt hầu 高舸 phục binh ở vườn Chẩn 軫園 bắn trúng một lính vào ngực. Giả vờ vỗ tay reo hò, quân lính hoảng loạn chạy về bắc. Người chèo thuyền tưởng có quân triều đến đánh, chèo thuyền rời bờ, gặp gió bắc thổi mạnh, thuyền trôi tán loạn. Hai đạo quân nghe thuyền đã mất, đều tan rã. Dân kinh thành truy sát, chết hơn 300 người.
Năm Canh Ngọ, Trị Bình Long Ứng thứ 6 (1210), mùa xuân tháng Giêng, đất chùa Thắng Nghiêm 勝嚴寺 bị nứt.
Tô Trung Tự 蘇忠嗣 vì tự ý nhận phong tước của vương tử Sảm 王子旵, lo sợ bị tội, bèn thúc quân đánh người Khoái 快人 (Khoái Châu). Nhân đó đến Hải Ấp bắt vương tử Sảm cùng những người khác giải về kinh sư.
Ngày Đinh Mùi, vua sai Thượng phẩm phụng ngự Đỗ Quảng 杜廣 đến nhà Trung Tự, nghênh đón vương tử Sảm. Những người được vương tử phong chức đều bỏ trốn, Dĩ Mông 以蒙 lẩn trốn ở xã An Lãng 安朗鄉, rồi cùng thuộc hạ mưu bắt những người nhận phong tước của vương tử để chuộc tội. Nhân đó phát hịch chiêu mộ binh các đạo, chia làm 5 đội để đánh. Mông chỉ huy người đất Gia 茄人 và người phủ Thanh Hóa 清化府 đánh xã Tức Mặc 即墨鄉, bị thua, các đạo binh nghe tin đều rút lui.
Mùa thu tháng 7, Mông bắt được 28 người nhận phong tước của vương tử, dâng nộp. Đỗ Anh Doãn 杜英允 đứng trước cửa trách rằng: “Ngươi là đại thần của nước, đã ôm lòng vô quân, tự ý nhận phong tước của nghịch tử, nay lại cùng ta ngang hàng, ta tuy bất tài, còn mặt mũi nào gặp ngươi nữa!” Mông xấu hổ sợ hãi mà lui.
Sao chổi xuất hiện.
Mùa đông tháng 10, vua không khỏe. Ngày Nhâm Ngọ, vua lâm bệnh, bỗng thấy hai người áo xanh cầm gậy đứng bên ngai, vua hỏi là ai, tả hữu đáp: “Không thấy ai cả.” Đêm đó, vua băng tại điện Thắng Thọ 勝夀殿, thọ 37 tuổi. Miếu hiệu Cao Tông 髙宗, ở ngôi 36 năm. An táng tại Thọ lăng 壽陵, phủ Thiên Đức 天德府, đổi niên hiệu 4 lần.
Huệ Tông
[sửa]Tên huý là Nhật Sảm 日旵, là con trai thứ ba của Cao Tông 髙宗. Mẹ là Nguyên phi họ Đàm 譚氏[27]. Tháng 10 năm Trị Bình Long Ứng thứ 6 (1210), lên ngôi trước linh cữu. Tôn hiệu là Tư Thiên Thống Ngự Khâm Nhân Hoằng Hiếu Hoàng Đế 資天統御欽仁宏孝皇帝. Tôn mẹ là Đàm thị làm Thái hậu 太后, cùng nghe chính sự. Tháng 11, quàn linh cữu Cao Tông tại điện Sùng Dương 崇陽殿, vua cùng Thái hậu và quần thần đều cởi áo tang.
Ngày Kỷ Dậu, Thuận Lưu Minh tự Trần Tự Khánh 陳嗣慶 dẫn thủy quân đến trạm Tế Giang Bộ 細江步, mời cậu là Tô Trung Tự 蘇忠嗣 cùng dự tang lễ Cao Tông. Trung Tự cũng nghi ngờ, Tự Khánh bèn rút quân.
Cùng tháng, vua sai đón con gái thứ hai của họ Trần (Trần trọng nữ 陳仲女)[28], Tự Khánh không đáp.
Phong Thái phó Đỗ Kính Tu 杜敬修 làm Thái úy 太尉.
Tháng 12, Chi hầu phụng ngự Đỗ Quảng 杜廣 cùng người khác bắt Kính Tu giao cho Trung Tự, dìm chết ở trạm Đại Thông 大通步, vì Kính Tu mưu sát Trung Tự.
Ngày Đinh Tỵ, Trung Tự nghe tin Quan nội hầu Đỗ Thế Quy 杜世規 cùng Chi hầu phụng ngự Đỗ Quảng và tiểu thị vệ nhân Hỏa Đầu Phí Lệ 費例 mưu phế lập, Trung Tự bèn dẫn quân đến hẻm Hưng Thánh 興聖巷, gặp Quảng và Lệ, định tập kích, nhưng vì quân của Quảng và Lệ đông nên Tự giả vờ nói: “Chủ thượng mới mất, lòng dân chưa yên, chi bằng mỗi bên đều lui binh giáp, cùng đến triều đình bàn mưu hợp lực, giúp đỡ vương thất, chẳng phải tốt sao?” Quảng và Lệ cho là phải, bèn đồng ý. Gặp lúc trời tối, hẹn sáng mai. Đêm đó, Trung Tự tăng thêm quân sĩ nhiều hơn hôm trước, định mưu hại Quảng và Lệ. Hôm sau, Quảng và Lệ theo hẹn, đến trước tại Bí thư các 秘書閣 chờ Trung Tự. Trung Tự đến đình Tứ Đạt 四達亭, sai phó tướng Đào Phán 陶判 dẫn quân từ cửa Hữu Dịch 右掖門 vào, đóng tại Sa Trì và Long Trì 龍墀, sai Nguyễn Tự 阮字, Nguyễn Đà La 阮陁羅 đóng tại cửa Thiên Thu 千秋門. Khi ấy Lệ đang ăn, gặp Liệt hầu Cao Khả 髙舸, mời ăn cùng, Khả nói: “Việc gấp rồi, còn ăn được sao?” Lệ hỏi lý do, Khả nói: “Quân Trung Tự đông gấp hôm qua, định hại ngươi đó!” Lệ liền bỏ đũa, cầm giáo, đến Long Môn 龍門 nhìn, thấy quân Đào Phán đánh trống reo hò tiến vào. Lệ xông ra giết một người, lui giữ trong cửa. Lại nghe cửa Thiên Thu có quân đóng, bèn theo cửa Việt 越門 ra cửa Diên Cụ 延具門, bị quân Phán đuổi. Lệ dùng giáo đánh, lại giết một người. Quân Phán tạm dừng. Lệ đến cửa Thiên Thu, thoát được. Phán dẫn quân tập kích Thế Quy, Thế Quy trốn dưới linh cữu Cao Tông, tìm không thấy. Trung Tự bắt hoạn quan giữ linh cữu tra hỏi chỗ Thế Quy, hoạn quan sợ Thế Quy, giả vờ đưa tay lên trán rồi chỉ. Theo hướng chỉ mà tìm, bắt được Thế Quy. Trung Tự sai chém ở chợ Đông 東市, trước chặt hai ống chân, sau mổ ngực thấu tới lưng, rồi chặt đến tay, Thế Quy sắc mặt vẫn bình thản. Sau cùng mổ bụng mới chết. Cùng ngày, Trung Tự bắt tiểu thị vệ nhân Đàm Nhập 譚入 giết ngoài cửa Trường Quảng 長廣門, vì Nhập theo về hoàng tử Thẩm 皇子忱. Đỗ Quảng cũng giết Ký ban Vũ Lợi 武利 ngoài cửa.
Ngày Kỷ Mùi, phong Trung Tự làm Chiêu thảo đại sứ 招討大使, Đàm Dĩ Mông 譚以蒙 làm Thái úy.
Ngày Tân Mùi, chiếu xử trảm Đỗ Anh Doãn 杜英允, Doãn Đình 尹亭, Nguyễn Nguyên 阮元, Nguyễn Nhân 阮仁 tại Phong Pha 封坡.
Thăng Dĩ Mông lên vương tước.
Năm Tân Mùi, Kiến Gia nguyên niên (1211), mùa xuân tháng Giêng, vua lại sai đón con gái thứ hai của họ Trần (Trần trọng nữ 陳仲女)[29], Trần Tự Khánh 陳嗣慶 không đáp.
Ngày Ất Sửu, tuyển văn thần làm sĩ sư tại Đô hộ phủ.
Ngày Quý Dậu, lại đón con gái thứ hai của họ Trần (Trần trọng nữ 陳仲女)[30]. Tự Khánh sai Nội điện trực Phùng Tá Chu 馮仇周 cùng phó tướng Phan Lân 潘隣, Nguyễn Ngạnh 阮硬 đưa con gái thứ hai của họ Trần về kinh sư. Gặp lúc Tô Trung Tự 蘇忠嗣 giao chiến với Đỗ Quảng 杜廣 tại cửa Đông triều đình, nên dừng lại ở trạm Đại Thông 大通步.
Ngày Kỷ Mão, Trung Tự mượn binh của Lân và Ngạnh, quân Quảng đại bại. Tháng nhuận, bắt được Quảng cùng những người khác.
Ngày Canh Dần, lập con gái thứ hai của họ Trần (Trần trọng nữ 陳仲女)[31] làm Nguyên phi 元妃.
Ngày Tân Sửu, vua cùng Thái hậu[32] ngự cửa Cảnh Diên 景延門 xét xử Đỗ Quảng. Quảng cùng sáu người khác đều bị chém.
Tháng 3, phong Chiêu thảo đại sứ Quan nội hầu Tô Trung Tự làm Thái úy.
Mùa hạ tháng 4, an táng Cao Tông 髙宗.
Nguyễn Tự không ngờ có viên phó tướng Nguyễn Giai 阮皉 tố cáo với Trung Tự rằng: “Tự muốn giết con rể của ngài là Nguyễn Ma La 阮麻邏.” Nhân đó làm phản. Trung Tự nổi giận, tước binh quyền của Tự. Tự sợ, chạy đến Quốc Oai 國威.
Tháng 6, Trung Tự ban đêm đến phủ Gia Lâm 嘉林第, tư thông với Thiên Cực công chúa 天極公主, bị chồng là Quan nội hầu Vương Thượng 王尚 giết. Khi ấy Tự nghe tin Trung Tự đã chết, bèn trở về kinh sư, ban đêm dẫn bộ đảng trộm của cải trong Ngự phủ. Vua nổi giận, ra chiếu truy bắt Tự rất gấp. Tự lẩn trốn ở núi Khô Sách 枯柵山 nơi người Man vài tháng, thiếu thốn ăn mặc, định mưu trở về theo Trần Tự Khánh. Nguyễn Tự đến ấp Than 灘邑, người già trong ấp chặn đường xin ở lại, nói: “Đất này bị người Man núi quấy nhiễu đã lâu, nếu ngài có thể ở lại ít lâu, thì cả vùng đều được yên ổn, ơn đức của ngài không nhỏ.” Tự bèn quyết định ở lại, họp dân mổ trâu thề máu, giảng giải lợi hại, mọi người đều đồng ý. Tự nhờ được lòng dân, bèn dẫn quân đánh phá người Man núi, chém đầu trở về. Lại sai hơn 10 người Mãnh 莽人, mỗi người cầm đuốc, ban đêm đặt tại trại người Man, sai người canh giữ. Dặn rằng: “Thấy lửa cháy trong nhà người Man thì lập tức đốt đuốc và reo hò.” Nửa đêm, sai Nguyễn Cục 阮局 đốt nhà người Man, người canh thấy lửa cháy cũng đốt đuốc reo hò. Người Man kinh hoảng, muốn chống cự, nghi có quân trước sau, không dám ra, đều đến trước trại bắn tên. Lại sợ Tự dẫn quân đến, nên đầu hàng. Từ đó, cả vùng quận huyện đều thuộc về Tự.
Nguyễn Ma La vì cái chết của Trung Tự, đến nói với Thái Tổ 太祖[33], xin tiến quân an định các ấp Khoái 快 (Khoái Châu). Ma La cùng vợ là Tô thị 蘇氏 lên thuyền đi về Thuận Lưu 順流, giữa đường gặp tướng của Trung Tự là Nguyễn Trinh 阮貞, bị giết, Tô thị bị bắt về. Tô thị sai người kiện lên Thái Tổ, Thái Tổ giận Trinh vô đạo, bèn mưu giết Trinh. Tự Khánh an táng Trung Tự tại làng Hoạch 穫鄉, Thái Tổ đến huyện ven biển, sai gọi Trinh, Trinh không đến, bèn sai Tô thị dụ giết.
Người vùng Hồng 烘人 đánh ải Hoàng Điểm 黄點隘, Tự Khánh sai Lại Linh 賴靈 dẫn quân cùng tướng đất Khoái là Nguyễn Đường 阮堂 chống giữ. Đường bị người giữ ải bắt, giao cho dân Hồng. Tự Khánh giận, phá nước sông tràn vào các xã rồi rút. Người Khoái thất vọng, quy phục Hồng. Đoàn Thượng và Đoàn Văn Lôi 文雷 gièm Tự Khánh với vua rằng: “Tự Khánh định phát binh về kinh, mưu đổi lập.” Vua giận, mùa thu tháng 7, ra chiếu các đạo binh đánh Tự Khánh, giáng Nguyên phi Trần thị 陳氏 làm Ngự nữ 御女.
Người đất Hồng là Đoàn Thượng 段尚, Đoàn Văn Lôi 段文雷 dẫn quân hội sư, vua ra chiếu thăng Thượng làm hầu.
Thái phó Hộ Dực 戶翊 bị bãi, ra chiếu cho Đàm Dĩ Mông 譚以蒙 lại tham gia chính sự.
Tự Khánh dẫn quân đánh người đất Ma Lôi 麻雷, bị Đinh Cảm 丁感 đánh bại, phải lui.
Mùa đông tháng 10, Tự Khánh lại đánh đất ấy, trước đánh núi Đội 隊山, giết bắt rất nhiều, Cảm chạy sang người Man núi.
Người Hồng đánh Nam Sách 南柵, Phạm Vũ 范武 đầu hàng, sai tướng là Đoàn Trì Lỗi 段持耒 giữ. Trì Lỗi không chiêu tập được dân, bị Vũ tập kích giết tại Nhụy Ấp 芮邑. Người Hồng lại dẫn quân vượt sông, đánh Nam Sách. Dân Nam Sách trốn lên núi Kỳ Đặc 竒特山, Vũ thắt cổ chết. Dân Nam Sách cầu cứu Tự Khánh. Tự Khánh sai tướng là Đinh Khôi 丁瑰 dẫn quân đánh Hồng, Hồng bại chạy. Khôi kinh lược Lạng Châu 諒州 đến núi Tam Thị 三峙山, chiếm toàn bộ đất ấy.
Tháng 12, Tự Khánh phát đại binh, đến trạm Tế Giang Bộ 細江歩. Thái hậu[34] nghe quân đến, nghi có ý phế lập, Tự Khánh bèn cắt tóc thề trời. Lại sai Thiên Trinh công chúa 天貞奏 tâu rằng mình không có ý khác. Thái hậu vẫn không tin. Đêm đó, Thái hậu sai bắt Nhân Quốc vương 仁國王 cùng vương tử Lục lang 第六郎, Thất lang 第七郎, đều dìm xuống giếng Ngự đường 御堂井 để dứt mầm đổi lập. Sau đó sai khiêng xác chất trước cửa cung Lâm Quang 琳光宮. Các thị thần đều sợ Thái hậu, không dám nhìn. Chỉ có tiểu quan Trịnh Đạo 鄭道 khóc rất thảm, nói: “Tiên quân đi đâu, để ba người con ra nông nỗi này!” Khi Cao Tông mới băng, trẻ con có bài vè rằng:
- 髙宗葬未畢,三屍積為一。
- Cao Tông táng vị tất, tam thi tích vy nhất.
- Cao Tông chôn chưa xong, ba xác một đống nằm.
Năm Nhâm Thân, Kiến Gia năm thứ 2 (1212), mùa xuân tháng Giêng, vua cùng Thái hậu ngự đến châu Lãnh Kinh 冷涇洲, bá quan đến châu nghênh giá trở về cung.
Thuận Lưu Minh tự Trần Tự Khánh 陳嗣慶 cùng Nguyễn Tự 阮字 hội tại trạm Triều Đông 朝東步, thề làm bạn sống chết, tận trung báo quốc, cùng dẹp loạn. Bèn chia hai bờ sông lớn, mỗi người tự thống lĩnh. Từ Thổ Khối 土塊 đến Na Ngạn, dọc đường Bắc Giang và các xã đường bộ thuộc về Tự Khánh; từ bờ Kinh Ngạn 京岸 đến Ô Diên 烏鳶 thuộc về Nguyễn Tự. Hẹn tháng 3 cùng đánh người Hồng 烘人.
Ngày Canh Tuất, phong Tự Khánh làm hầu, thụy là Chương Thành 彰誠.
Lấy em Thái hậu là Đàm Kinh Bang 譚經邦 nghe chính sự.
Tự Khánh trở lại trạm Tế Giang Bộ 細江步.
Đinh Khôi 丁瑰 đánh Lạng Châu 諒州, chiếm được. Cướp tài vật nhà Thiên Cực công chúa 天極公主 rồi rút.
Tháng 2, Nguyễn Tự đánh người Cát Lợi 吉利 là Ngô Thưởng 吳賞 tại Võ Cao 武髙, bị trúng tên lạc, trở về ở hẻm Tây Dương 西陽巷. Hơn mười ngày sau, lỡ gần gũi với phụ nữ, độc khí phát lại mà chết. Vua sai người chiêu dụ đám thuộc hạ, bị thuộc hạ là Nguyễn Cục 阮局 giết. Vua nổi giận, thân chinh đánh Cục. Từ ngoài thành Tây Dương đến hẻm Phổ Hỉ 普喜巷, quân triều đại bại, mất thanh bảo kiếm vua dùng. Vua thúc ngựa chạy về, đến hẻm Diêu Tác 窰作巷 mới thoát. Vua cùng Thái hậu ngự đến phủ Đỗ Thưởng 杜賞, đại liêu bên Đông ngạn. Muốn ngự đến Lạng Châu, Tự Khánh nghe tin, bèn dẫn quân đến kinh sư, sai tướng Lại Linh 賴靈, Phan Lân 潘隣 đem quân đến phủ Thưởng nghênh giá về cung. Vua kinh nghi, đêm đó ngự đến Lạng Châu, Linh và Lân cầm cương ngựa dập đầu xin ở lại, vua mới dừng. Hôm sau, Chương Thành hầu Trần Tự Khánh đến trạm Đông ngạn nghênh giá, rồi trở về, dừng xe tại trạm Từ Điều 慈調步. Tự Khánh sai người quét dọn cung Thánh Nghi 聖儀宮, xa giá ở tại cung ấy. Vua cùng Thái hậu đến trước Phật, thề rằng: “Trẫm đức mỏng, đội ngôi ngọc, khiến gặp loạn ly, sự nghiệp tổ tông sắp đổ, đến nỗi cung giá nhiều lần dời đổi. Nay muốn nhường ngôi trời, nhường cho người hiền đức.” Nói xong, rút dao định cắt tóc. Tự Khánh cùng quần thần đều dập đầu đến chảy máu, vua mới thôi.
Ngày Canh Ngọ, xa giá trở về cung.
Chương Thành hầu Tự Khánh đến trạm Hạc Kiều 鶴橋. Cùng ngày, lệnh cho văn võ bá quan đều nghe lệnh Chương Thành.
Mùa hạ tháng 4, Tự Khánh đánh người Hồng tại ấp Trì 池邑.
Mùa đông tháng 12, Đàm Kinh Bang cùng người khác dâng tội trạng của Nội Minh tự Doãn Tín Dực 尹信翊 lên Tự Khánh. Tự Khánh nổi giận, phát binh đến Long Thành 龍城, sai Chỉ huy sứ điện tiền Nguyễn Ngạnh 阮硬 dẫn quan chức vào cấm cung, lớn tiếng rằng: “Tín Dực nịnh hót ý trên, làm loạn phép nước; ra vào nơi linh cữu, không phân tôn ti; thần xin trừ đi, để khỏi làm bẩn thanh nghị!” Tín Dực sợ hãi, trốn lên gác Hương Các 香閣. Ngạnh xông vào, bắt giải đến Tự Khánh, trói bằng năm vòng xích sắt, giải đến quán Mỹ Lộc 美禄館.
Năm Quý Dậu, Kiến Gia năm thứ 3 (1213), mùa xuân tháng Giêng, Thái hậu bí mật sai tiểu thị vệ Hỏa Đầu Vương Thường 王常 triệu Phù Lạc đạo tướng Phan Thế 潘世, Bắc Giang đạo Ngô Nãi 吳乃 cùng hẹn ngày Giáp Dần trong tháng ấy phát binh tập kích Tự Khánh 嗣慶. Ngày Giáp Dần, Thường, Thế cùng tiến đánh quân Tự Khánh ngoài cửa Đại Hưng 大興門, định nhân đó xông vào hậu cung bắt mẹ ông là Tô thị 蘇氏[35]. Phạm Thị 范市 biết mưu ấy, bèn bí mật đưa Tô thị vượt thành lên thuyền trốn đi. Khi ấy trong quân không phòng bị, thấy Ngô Nãi đến, đều tan vỡ. Tự Khánh đang ở trạm Đại Thông 大通步, không hay biết.
Ngày Tân Dậu, Tự Khánh dẫn quân vào cấm cung, đốt cầu Ngoạn Thiềm 翫蟾橋, rồi quay về trạm Đại Thông.
Tự Khánh sai người đến Bắc Giang, triệu tướng là Nguyễn Nộn 阮嫩, Nộn đến, bị trói bằng năm vòng xích sắt.
Ngày Nhâm Tuất, vua ngự doanh Thổ Khối 土塊, Thái úy Đàm Dĩ Mông 譚以蒙 và Hầu tước đất Hồng là Đoàn Thượng 段尚 đều đến hội. Vua sai Thượng và Dĩ Mông đánh Tự Khánh.
Tháng 2, vua thân chinh đánh Tự Khánh tại Mễ Sở 米所.
Tự Khánh đánh Quốc Oai châu 國威州, chiếm được.
Tháng 3, vua cùng Thái hậu trở về cung Thánh Nghi 聖儀宮.
Ngày Ất Sửu, Tự Khánh thả Tín Dực 信翊 về kinh sư, lại hậu tặng và nói: “Công về hãy vì ta nói tốt với hai cung, làm rõ lòng trung từ đầu đến cuối, đừng nghe lời tiểu nhân, để ta được bảo toàn tính mạng.” Tín Dực đến kinh, vua hỏi về Tự Khánh, Tín Dực nói: “Tự Khánh có lòng soán nghịch.” Vua và Thái hậu càng thêm nghi kỵ.
Ngày Canh Ngọ, vua cùng Thái hậu trở về Đại Nội.
Mùa hạ tháng 4, vua sai Dĩ Mông đến các quân bên sông Tam Đái 三帶江 cạnh châu Tỉnh 井州 để đánh Tự Khánh.
Tháng 5, ngày Đinh Mão, cửa thành Việt 越城門 rung chuyển.
Tháng 6, điện Chính Nghi 正儀殿 rung chuyển.
Mùa thu tháng 7, phục chức Tín Dực làm Thái phó 太傅, thăng tước hầu.
Người Nam Sách 南冊 là Phạm Dĩ 范以 cùng đánh Đinh Khôi 丁瑰, khiến Khôi phải chạy.
Tháng 9, Tự Khánh tháo xích sắt của Nguyễn Nộn. Nộn là người có dung mạo khôi ngô, khí độ khác thường, phóng khoáng, dù ở trong xiềng xích vẫn thần sắc bình thản, thấy dũng sĩ nhảy vượt, mang xích sắt mà nhảy còn hơn dũng sĩ. Tự Khánh thấy vậy lấy làm lạ, lại dùng làm tướng, gả con gái dì cho, lại giao cho hai ấp Thần Khê 神溪 và Cả Lũ 个屢.
Tướng Đinh Khôi làm phản, Tự Khánh bắt và giết.
Năm Giáp Tuất, Kiến Gia năm thứ 4 (1214), tháng Giêng, Chương Thành hầu Tự Khánh 彰誠侯嗣慶 hội binh các đạo, thề tại miếu Thái úy Đỗ 杜太尉 ở Đông Phù Liệt 東扶列, định đánh kinh sư.
Tự Khánh chia quân thủy bộ hai đường, Phan Lân 潘隣 và Nguyễn Nộn 阮嫩 dẫn quân Quốc Oai 國威 theo đường Bình Lạc 平樂 đánh bộ, Tự Khánh tự lĩnh thủy quân đến sông Đà Mạc 拖幕江.
Thái Tổ của ta 我太祖[36] cùng Tự Khánh đánh bờ phải sông Lô 瀘江, Trần Thủ Đạt 陳守達[37], Trần Hiến Thâm 陳獻琛, Nguyễn Ngạnh 阮硬 đánh bờ trái, Vương Lê 王犁, Nguyễn Cải 阮改 đánh cầu phao trạm Triều Đông 朝東歩.
Vua thân chinh đánh Tự Khánh, gặp sương mù dày đặc, trời tối đen, người chèo thuyền không phân biệt được phương hướng. Đến Mễ Sở 米所 gặp quân Lê, Cải, chưa giao chiến, Lê, Cải đã đánh trống reo hò thúc quân, quân triều tự tan vỡ, binh sĩ bỏ thuyền lên bờ chạy. Lê, Cải bắt được thuyền rồng. Thái Tổ định tiến đánh bờ phải sông Lô, đến trạm An Duyên 安沿步, gặp Đàm Dĩ Mông 譚以蒙 và An Nhân vương 安仁王 dẫn quân Bắc Giang 北江 đến, đều dùng quân tinh nhuệ nghênh chiến, hai bên đều bại.
Thủ Đạt, Hiến Thâm thừa thắng tiến đến trạm Từ Điều 慈調歩, lại chiếm được. Lân và các tướng đến chợ Dừa 椰市, gặp tướng Hồng là Đoàn Cấm 武忽 cùng quân, đánh bại họ, rồi theo cầu phao Đông Bộ 東步 trở về.
Khi ấy vua ở trà đình 茶亭, nghe các đạo quân đều bại, rất sợ, lệnh xe giá vào cấm cung đón Thái hậu cùng lên thuyền, định chạy về Lạng Châu 諒州. Qua đại điện Thiên Đức 天德大室, Dĩ Mông khóc lóc can rằng: “Lạng Châu đường xa, đất nhiều khí độc, không phải nơi yên ổn. Nay bệ hạ tránh nạn mà đến đó, chẳng khác nào tránh nóng mà lao vào lửa, có ích gì? Xin hãy tạm ở lại đây, để thần cùng người Hồng đánh lại, làm kế lâu dài. Nếu chẳng may thất bại, rồi hãy đi cũng chưa muộn.” Vua nghe theo. Dĩ Mông triệu người Hồng, không đến, bèn chạy sang Hồng. Vua rất lo. Ngày Kỷ Mão, ngự đến Lạng Châu. Xe giá đến nhà Nguyễn Thuận 阮順 ở làng Nhụy Duệ 芮曳鄉 (Nhuế Duệ), nghỉ ít lâu. Đêm đó lại đi đến nhà nông dân Trịnh 多感鄉, Trịnh dâng cơm. Ăn xong, lại đến nghỉ tại nhà họ Đào ở động Chu Ma 朱麻洞.
Tự Khánh ở Hạc Kiều 鶴橋, chia lệnh cho các tướng chiêu dụ binh mới các đạo: Lại Linh 賴靈 giữ Nghĩa Trụ 義住, Phan Lân giữ Siêu Loại 超類, Thủ Đạt giữ ải Lãng 朗隘, Phạm Chà 茄 giữ ải Bần 貧隘, Nguyễn Nộn giữ Bắc Giang. Khi ấy Thủ Đạt gặp quân Hồng là Đoàn Thượng 段尚, Đoàn Văn Lôi 段文雷, Đoàn Khả Như 段可如, giao chiến, người Hồng chạy về phía bắc. Vua nghe Nộn giữ Bắc Giang, bèn sai tướng An Thiết 安鐡 là Thân Trường 申長, Thân Nhai 申荄 đến ngăn tại cánh đồng Nhụy Duệ, đều bị Nộn giết. Vua cùng Thái hậu chạy đến nhà Quan nội hầu Vương Thượng 王尚 ở Mục Ngụ 牧寓. Vài ngày sau, Tự Khánh cắt tóc sai người dâng lên vua, cùng trình bày ý mình, nói: “Thần thấy bọn tiểu nhân ở bên, ngăn trở trung lương, che lấp thánh minh, lòng dân uất ức, không thể tỏ bày, nên nhân giận dữ của quốc nhân mà khởi binh đánh bọn ấy, trừ gốc họa, để yên lòng dân. Còn như phân vua tôi, thần không dám phạm chút nào, đâu ngờ mang tội chuyên quyền, khiến xe giá phải dời. Tự xét thân thần, tội đáng muôn chết, mong bệ hạ nguôi giận, trở về kinh sư, để đáp lòng người.” Vua không nghe.
Tự Khánh lại sai Đàm Kinh Bang 譚經邦 dẫn bá quan, chuẩn bị pháp giá, nghênh vua về kinh. Vua định theo. Quần thần đều mừng. Tín Dực 信翊 tâu với Thái hậu: “Người ấy lâu nay ôm lòng khác, muốn lập mưu bắt giữ, sao gọi là nghênh? Xin bệ hạ suy nghĩ kỹ.” Thái hậu đồng ý. Hôm sau, vua lệnh xe giá trở về, vào tâu Thái hậu, Thái hậu nói: “Vua vì trọng trách quốc gia mà phải về, còn mẹ già này biết về đâu?” Vua biết Thái hậu không muốn về, bèn cùng đi. Cổ Lộng 古弄, Kinh Bang và người khác chặn đường níu cương ngựa, khóc rằng: “Kinh sư là nơi bốn phương trông đợi. Bỏ đó không về, định đi đâu?” Lại nói: “Thần thấy lòng Tự Khánh trung thành không hai, bệ hạ nghi gì?” Vua cảm động xuống ngựa, bảo quần thần: “Nước nhà bất hạnh, gặp nhiều biến cố. Nay Thái hậu vượt hiểm trở, trẫm nào dám rời việc sớm tối thăm hỏi?” Rồi thúc xe mà đi. Khi ấy người theo hộ giá phần nhiều đã tan, chỉ còn Nội thị phán thủ Trần Hân 陳欣 và 30 người cùng đi. Vua cùng Thái hậu lên thuyền đến núi Tam Thị 三峙山 ở nhờ nhà Hoàng Ngũ 黄伍. Lâu sau, vì thủy thổ không hợp, lui về trạm Thang 湯歩. Đêm đó nghỉ tại thôn Tượng Nô 象奴村. Tháng 2, ngày Tân Mùi, xe giá vào Phụng Sơn 鳳山. Hơn mười ngày sau, lại trở về Nam Sách 南册.
Ngày Mậu Thân, Chương Thành hầu Tự Khánh triệu chư vương và bá quan, bàn việc đổi lập. Sai người đón Huệ Văn vương 惠文王, con Anh Tông 英宗, đến Hạc Kiều, lập làm vua.
Cùng ngày, (Tự Khánh) bắt người trong tộc Thái hậu là bọn Đàm Kinh Bang và người nhà, đều bị trói bằng xích sắt, giam ở Mỹ Lộc 美禄.
Ngày Quý Hợi, (bọn Tự Khánh) thề với quốc nhân tại Long Trì 龍墀. Tháng 3, Huệ Văn vương lên ngôi tại điện Thiên An 天安殿, đổi niên hiệu là Càn Ninh 乾寧, xưng là Nguyên vương 元王. Cùng ngày, mưa to sấm sét.
Người Hồng là Đoàn Nhuyễn 段軟 đánh núi Đông Cứu 東究山 ở Bắc Giang, người Đông Cứu không phòng bị, thấy Nhuyễn đến, tưởng là đại quân kéo đến, nên tan vỡ. Nhuyễn vốn dũng mãnh, được thắng càng kiêu, bèn đốt nhà cửa, giết cướp gà chó gần hết. Rồi cởi giáp, lên chùa gõ chuông làm vui. Khi ấy người giữ chùa đều gõ chuông, Nộn nghe chuông, đem quân đánh, giết Nhuyễn và người khác. Nộn thừa thắng đuổi đến cầu Pháp 法橋, bị người Hồng là Đoàn Nghi 段宜 phục dưới cầu dùng giáo đâm, xuyên giáp sắt, trúng lưng, phải lui quân. Ban đầu, Nộn vì Đông Cứu giáp ranh Hồng, sợ bị tập kích không kịp cứu, nên dặn lính giữ chùa rằng: thấy người Hồng thì gõ chuông làm hiệu, để Nộn nghe mà đến cứu. Đến đây, Nhuyễn gõ chuông nhầm, nên bị thua.
Mùa hạ tháng 4, tướng quân đất Cam Giá 甘蔗[38] là Phan Cụ 潘具 làm phản. Tự Khánh 嗣慶 bắt giam tại Mỹ Lộc 美禄. Tướng quân Cam Giá là Đỗ Bị 杜備 cũng làm phản, Tự Khánh sai Phan Lân 潘隣 bắt, bị thua; lại sai Lại Linh 賴靈 đến cứu, lại bại. Thái Tổ ta 我太祖[39] vì hai quân thất bại, đích thân đi đánh, không thắng, phải lui.
Nguyễn Nộn 阮嫩 ở Bắc Giang 北江 làm phản. Tự Khánh trả vợ lại cho Nộn. Tự Khánh giết Nghĩa Tín vương 義信王 tại Diêu Đàm 窰潭 vì thông mưu với Nộn. Cùng ngày, Tự Khánh phát binh, cướp vàng bạc tài vật của quan phủ, rồi nghênh Nguyên vương 元王 đến hành cung Lợi Nhân 利仁, sai Lại Linh đốt 19 cung điện ở kinh đô.
Tự Khánh đến trạm Đại Thông 大通步, đắp lũy tại Nghĩa Trụ 義住.
Tướng Phan Lân của Tự Khánh định khởi binh ứng viện Nộn, việc lộ, Tự Khánh chém Lân tại châu Đại Thông 大通州.
Tháng 6, Tự Khánh đánh Nộn tại cung Thánh Nghi 聖儀宮, đốt cung.
Ngày Bính Ngọ, vua cùng Thái hậu từ Nam Sách 南栅 trở về, nghỉ tại Thái Thất 太室. Cùng ngày, phong Nguyễn Nộn làm hầu Bắc Giang 北江侯.
Ngày Đinh Mùi, về Đại Nội 大内. Thái hậu mật chiếu cho tướng Phù Lạc 扶樂 là Phan Thế 潘世 dụ Ô Kim hầu 烏金侯 Nguyễn Bát 阮八 giết đi. Đánh Bát, chỉ trúng má, nhờ lính cứu gấp, Bát mới thoát.
Mùa thu tháng 7, ngày Mậu Thìn, chiếu đắp lũy từ cửa thành Vạn Xuân 萬春 đến chợ Cái 盖市 để chống Tự Khánh.
Tháng 8, hầu Bắc Giang là Nộn đánh hầu Ô Kim là Bát tại cầu Tây Dương 西陽橋.
Ngày Kỷ Dậu, Tự Khánh sai Đàm Bật 譚弼 dâng sản vật địa phương.
Tháng 9, Tự Khánh sai Nguyễn Ngạnh 阮硬 đưa Đàm Kinh Bang 譚經邦 về kinh, trình bày rằng mình không có ý khác. Vua nghe Ngạnh đến, càng sợ, ngự đến nhà Doãn Bá 尹播 ở hẻm Phiên Cầm 畨琴巷. Ngạnh đi rồi, mới trở về cung.
Ngày Nhâm Dần, khảo thí con em tăng quan.
Ngày Quý Mùi, Tả phụ Nguyễn Chính Lại 阮正吏 tự ý lấy binh khí trong Vũ khố, chiếu bắt. Chính Lại sợ, chạy sang Bắc Giang.
Ngày Đinh Hợi, Tự Khánh dẫn quân phạm cửa khuyết. Vua cùng Thái hậu ngự đến nơi quân binh hội tụ (để tránh nạn). Cùng ngày, Tự Khánh thả quân cướp của cải trong Ngự phủ, rồi đốt cung điện và nhà dân trong kinh thành gần hết.
Ngày Kỷ Mùi, vua cùng Thái hậu trở về kinh, thấy cung điện đều bị thiêu rụi, bèn dừng lại bên cầu Thái Hòa 泰和橋, tại miếu Chúc Thánh 祝聖祠, sai dựng nhà tranh ở tạm.
Năm Ất Hợi, Kiến Gia năm thứ 5 (1215), mùa xuân tháng Giêng, ban chiếu rằng:
“Trần Tự Khánh 陳嗣慶 tụ đảng hung ác, cướp phá kinh sư, đánh chiếm thủy bộ, gây tổn hại đến tông miếu xã tắc. Từ mùa đông năm ngoái, lửa loạn càng dữ, dẫn quân lính tàn bạo, cướp bóc tài vật của ta, thiêu hủy cung điện, khiến phố phường kinh thành hóa thành tro bụi. Trẫm vì phẫn nộ của muôn dân, nhờ linh thiêng của một tổ sáu tông, thân chinh sáu quân, đích thân chinh phạt. Nay bảo các tướng soái, binh sĩ, đều nghe chiếu chỉ, tận tâm tận lực, để đáp lòng trẫm.”
Tự Khánh dẫn quân đóng tại Cứu Liên 究連, chia tướng sĩ đóng tại Cửu Cao 九臯, Cứu Ông 究翁 để chống Nguyễn Nộn 阮嫩. Lại sai tướng đất Khoái là Nguyễn Đường 阮堂, Nguyễn Tể 阮皉 giữ đất dân nơi ấy. Đường, Tể lại thông mưu với Nộn để đánh Tự Khánh. Tự Khánh lại sai Lại Linh 賴靈 giữ An Duyên 安沿 và Phù Liệt 扶列, còn mình đi đánh Đường, Tể và Nộn.
Vua sai người đánh An Duyên, Phù Liệt, chiếm được.
Tháng 2, phong hầu Bắc Giang là Nộn làm vương.
Người Nghĩa Trụ 義住 là Chu Đình 朱停 đem ấp quy phục Nộn.
Tháng 3, Tự Khánh đánh làng Khoái 快鄉, chiếm được. Đường cùng con là Thổ 吐 đầu hàng, Tự Khánh sai Đường, Tể đắp lũy Hoàng 黄壘, An Lệ 安唎 đắp lũy An Gia 安家壘, Dương Từ 楊慈 đắp lũy Công Chúa 公主壘. Nộn lại đánh Lệ, Đường, Tể đều chiếm được. Tự Khánh nghe Đường bại, bèn dẫn quân cứu, sai tướng Thủ Khánh 守慶, Hiến Thâm 獻琛, Đào Phán 陶判 đóng tại cầu Lan 欄橋 đánh tướng Nộn là Phí Thám 費探, đánh bại được.
Tháng 5, Tự Khánh gả em gái là Trần Tam Nương 陳三娘[40] cho Đường.
Vua bảo quần thần: “Trẫm muốn nhường ngôi, các khanh nghĩ sao?” Quần thần đều khóc can, vua không nghe. Bèn cùng Thái hậu rút dao cạo tóc. Cùng ngày, vua từ doanh Thái Hòa 泰和 đến nhà Trương Canh 張耕 và Đặng Lão 鄧老, rồi quay về nghỉ tại nhà Ký ban Đỗ An 杜安 trong hẻm Giấy 紙作巷 ở cầu Tây Dương 西陽橋.
Tự Khánh đánh Đại Hoàng 大黄, quân tan, tướng Nguyễn Đường chết đuối.
Mùa thu tháng 7, Tự Khánh đốt cung Động Nhân 洞仁宮, vua sai rước thần chủ Thái hậu Linh Nhân 靈仁太后[41] về miếu Chúc Thánh 祝聖祠.
Mùa đông tháng 10, xét án ở viện Thượng Lâm 上林院.
Tháng 11, Tự Khánh trả lại mũ Bình Thiên 平天冠.
Tháng 12, dựng điện tranh tại nhà Đỗ An.
Năm Bính Tý, Kiến Gia năm thứ 6 (1216), mùa xuân tháng Giêng, vua cùng Thái hậu ngự điện cỏ tranh xem triều. Tự Khánh 嗣慶 trả lại ngai vàng bằng vàng.
Tháng 3, mưa đá. Vua sai bắt cướp ở hẻm Cơ Xá 機舍巷, bị tướng của đất Cảo 杲 là Đỗ Ất 杜乙 đánh. Vua sai triệu Ất, Ất không tuân. Hiển Tín vương Nguyễn Bát 阮八 đánh Ất, Ất vẫn không phục.
Tháng 5, tướng của đất Cảo là Đỗ Nhuệ 杜芮 đánh lại nhà vua. Ngày Mậu Ngọ, vua ngự trại ngoài, sai sứ cầu binh Tự Khánh để đánh Nhuệ. Nhuệ chạy sang chỗ Nộn 嫩.
Ngày Kỷ Tỵ, giáng liệt hầu Đỗ Nhuệ làm người lo việc quân nhu.
Ngày Giáp Thìn, vua cùng phu nhân Trần thị 陳氏 ban đêm đến Thuận Lưu 順流, quân theo về với Tự Khánh. Trời sáng, gặp tướng Tự Khánh là Vương Lê 王犁 chèo thuyền đến đón. Khi ấy Thái hậu cùng vương tử, công chúa đều ở lại Ô Kim 烏金. Tự Khánh gặp vua, rất mừng, tướng sĩ đều vui mừng reo hò. Từ đó vua cùng Tự Khánh quyết ý đánh Bắc Giang vương Nguyễn Nộn, Hiển Tín vương Nguyễn Bát, người Hồng là Đoàn Văn Lôi 段文雷, người Quy Hóa là Hà Cao 何髙.
Ngày Giáp Thìn, Thái hậu đến An Xướng 安唱. Khi ấy Nộn và Cao nhân danh Thái hậu đánh các ấp Từ Liêm 慈亷, đều chiếm được.
Ngày Canh Tuất, Tự Khánh dựng điện tranh ở Tây Phù Liệt 西扶列, mô phỏng theo Đại Nội.
Hiển Tín vương Nguyễn Bát đầu hàng.
Chiếu phong Minh tự Phùng Tá Chu 馮佐周 làm Chiêu thảo sứ 招討使.
Ngày Giáp Thìn, vua đến Từ Liêm, lệnh Tự Khánh đánh Nộn.
Chiếu giáng Nộn làm lính.
Mùa thu tháng 8, Hiển Tín vương Bát làm phản, chiếm binh hợp ấp, tướng Đỗ Tế 杜細 chạy sang Đan Phượng 丹鳳.
Mùa đông tháng 12, phong Thái Tổ ta 我太祖[42] làm liệt hầu, Phùng Tá Chu và Lại Linh 賴靈 đều làm Quan nội hầu. Phong Tự Khánh làm Thái úy 太尉, được vào chầu không xưng tên. Trưởng tử của Thái Tổ là Liễu 桏 làm Quan nội hầu, trưởng tử của Tự Khánh là Hải 海 làm vương. Lại phong Thái Tổ làm Nội thị phán thủ, mỗi khi đại yến lễ, được ban ngồi tại cục điện Thiên An 天安殿.
Năm Đinh Sửu, Kiến Gia năm thứ 7 (1217), mùa hạ tháng 4, Thái úy Tự Khánh chia quân làm sáu đạo đánh Nộn. Nộn dẫn quân đánh bất ngờ, tập kích Phạm Ân 范恩. Quân Ân thua tại cửa đầm Lãnh Kinh 冷涇潭口, bị Nộn giết hơn 50 người. Nộn thừa thắng, lại tập kích ải đạo, gặp quân Thái úy, giao chiến, quân Nộn tan vỡ.
Vua ngự ghế đá mát, nghe quân bại của Phạm Ân kiện. Giáng Ân làm tiểu thị vệ, đánh 80 trượng.
Giữa mùa hạ, người Hồng là Đoàn Thượng 段尚 đem quân đầu hàng, phong Thượng làm vương.
Thái úy Tự Khánh dẫn quân đánh các ấp ở Phong Châu 峯州 là Chân Na 真那, đều chiếm được. Ngày Đinh Mão, các ấp thuộc Phong Châu đều ra hàng. Thái úy lại dẫn quân đánh Hiển Tín vương Bát, chiếm được, Bát chạy sang trại An Lạc 安樂栅. Từ đó các hương ấp trong vùng đều yên.
Dựng núi Vạn Tuế 万嵗山 có năm đỉnh.
Điện Vĩnh Thọ 永壽殿 bị cháy.
Đầu mùa đông, ngày Giáp Dần, đất rung ban đêm.
Vua xem cá ở núi Đội 隊山.
Năm Mậu Dần, Kiến Gia năm thứ 8 (1218), giữa mùa xuân, phong người Man núi ở trại Ma Luận 麻論栅 là Minh tự Bạch Lãng 明字白浪 làm liệt hầu.
Đầu mùa hạ, ngự đến châu Cứu Liên 究連州, xem bắt cá.
Ngày Mậu Dần, ngự đến cố đô, ăn vải.
Chiếu rằng các vụ án trong ngục, trước hết phải do quan Viện thẩm hình xét kỹ, sau mới tâu lên.
Ngày Kỷ Mùi, động đất.
Thái Tổ ta[43] dẫn quân các đạo đánh Nộn ở Bắc Giang, sai phá đê cho nước tràn vào các hương ấp. Lại Linh theo thế nước đánh, quân Nộn đại bại, bắt được vợ con Nộn. Nộn cùng hơn 100 người lui giữ Phù Ninh 扶寧.
Cùng ngày, Thái úy Tự Khánh dẫn quân đến trạm Nỗ 弩驛 nghỉ, đùa, chỉ tay vào nhánh cây nhỏ trên cây, bảo tả hữu: “Ta mà (có số) làm vua, sẽ bắn trúng nhánh này (吾為君等射中此枝).” Một phát trúng ngay, mọi người kinh phục. Ngồi chưa lâu, trạm bị sập đè lên Thái úy, mọi người rất sợ, dỡ gỗ ra cứu, Thái úy không hề hấn gì.
Phong Quan nội hầu Lại Linh làm Tri châu Nghệ An 乂安州事. Thái Tổ và Thái úy Tự Khánh gả em gái là Trần Tam Nương 陳三娘 cho Hầu Hồng là Đoàn Văn Lôi 段文雷. Văn Lôi dũng cảm, có mưu lược, được lòng người, nên người Hồng phần nhiều theo về.
Tháng 7, lũ lớn.
Năm Kỷ Mão, Kiến Gia năm thứ 9 (1219), mùa xuân tháng 2, ngày Bính Thìn, mưa đá.
Ngày Ất Sửu, vua xét kiện tại Đô hộ phủ, giáng sĩ sư Viện Thượng Lâm 上林院 là Nguyễn Tuyên 阮宣 và các con là Phân, Đặng, Thịnh 分鄧盛 làm thư gia.
Mùa hạ tháng 6, bổ Lưu Diễm 劉琰 làm sĩ sư Viện Thượng Lâm.
Ngày Ất Sửu, vua ngự cố đô, đến trạm Triều Đông 朝東步, duyệt quân, đánh Nộn 嫩 không thắng.
Người đất Nam Sách 南冊 là Phạm Dĩ 范以 mất. Trước đó, Thái úy Tự Khánh sai Vương Lê 王犁 và người khác đem quân đến Nam Sách, cùng Dĩ bàn mưu đánh Nộn. Gặp lúc Dĩ bệnh nặng, Tự Khánh 嗣慶 sai ngự y Thạch Chương 石章 đến chữa, chưa đến thì Dĩ mất. Ngày Ất Tỵ, Tự Khánh phát binh đến Nam Sách, giữa đường gặp Lê và người khác trở về, giận họ không ở lại, định trị tội, bèn sai tướng Nguyễn Cải 阮改, Nguyễn Mộc 阮木 dẫn quân đến thẳng Bình Kiều 平橋. Khi ấy Nộn đã chiếm ấp, Cải và Mộc chiến đấu quyết liệt, quân Nộn tự tan. Thái úy theo đường bộ đến cầu An Đinh 安丁橋, gặp tướng Tự Khiêu 自挑, nói quân Nộn đã đóng tại động An Đinh, Thái úy sai đánh, không thắng. Lại đánh Bình Cảo 平槁, tướng Nam Sách là Hoàng Cái 黄个 chết, Nguyễn Lợi 阮利 đầu hàng, Nam Sách yên.
Giữa mùa thu, vua ngự cửa Trường Quảng 長廣門, xem lễ Thu Xã.
Mùa đông tháng 12, Nộn bệnh nặng. Thái úy đóng quân tại trạm Triều Đông, Nộn đã mất. Ngày Canh Ngọ, tướng Nộn là Phí Thám 費探 đưa Thái hậu và vương tử, công chúa đến đầu hàng Thái úy. Đại tướng Nộn là Nguyễn Doanh 阮盈 trốn vào rừng hiểm, sau 5 ngày, biết không còn đường, dâng ngựa quý đầu hàng, Bắc Giang bình định.
Năm Canh Thìn, Kiến Gia năm thứ 10 (1220), mùa xuân tháng Giêng, phong Thượng phẩm phụng ngự Trần Báo 陳豹 làm Quan nội hầu, Trần Hiến Thâm 陳獻琛 làm liệt hầu, Nguyễn Tá Thì 阮佐時 làm Tri Viện Thẩm Hình.
Cuối xuân, mưa đá.
Tháng 3, hậu cung rung chuyển.
Mùa hạ tháng 4, Thái úy Tự Khánh cùng Thái Tổ 太祖 phát binh đánh trại Quy Hóa 歸化寨. Hà Cao 何髙 chia quân làm hai đường. Thái úy và Thái Tổ theo sông Quy Hóa, Lại Linh và Phan Cụ 潘具 theo sông Tuyên Quang 宣光江, hai đường cùng tiến. Cụ sa lầy, bị tướng Cao là Nguyễn Nãi 阮乃 chém. Cao nghe quân Thái úy vây bốn phía rất gấp, bèn cùng vợ con thắt cổ chết. Từ đó, đường Thượng Nguyên và Tam Đái đều yên. Thái úy xin truy phong Phan Cụ là Minh Tín vương 明信王 vì chết vì việc nước.
Tháng 6, ngày mồng 1, thấy hai mặt trời cùng lúc.
Giữa mùa thu, cung mới hoàn thành.
Mùa đông tháng 11, vua ngự trạm Phù Liệt 扶列步, xem đua thuyền.
Năm Tân Tỵ, Kiến Gia năm thứ 11 (1221), cuối mùa hạ, Huệ Văn vương 惠文王 băng, tức là Nguyên vương 元王. Ngừng triều 5 ngày, giảm món ăn 3 ngày.
Tháng 9, ngày Mậu Thân, ngự đến phủ Thái úy tại Mỹ Lộc 美禄.
Năm Nhâm Ngọ, Kiến Gia năm thứ 12 (1222), mùa thu tháng 8, sao chổi xuất hiện ở phương tây nam.
Đầu mùa đông, vua cùng Thái hậu ngự điện Thiên An 天安殿, xem lễ nạp hôn 納昏 của con Thái úy là Hiển Đạo vương Hải 顯道王海.
Tháng 9, lũ lớn.
Năm Quý Mùi, Kiến Gia năm thứ 13 (1223), mùa xuân tháng Giêng, Thái úy sai người bắt Bảo Tín hầu Lại Linh 賴靈. Linh thắt cổ chết.
Đầu mùa đông, Thái úy đánh người Man núi ở trại Mông 栅山獠.
Tháng 12, ngày Kỷ Mão, Phụ quốc Thái úy[44] Trần Tự Khánh 陳嗣慶 mất tại phủ Phù Liệt 扶列第. Vua cùng Thái hậu đến viếng, khóc rất thảm, truy tôn là Kiến Quốc vương 建國王.
Ngày Kỷ Sửu, động đất.
Mùa đông ấy, hổ vào các làng xã.
Năm Giáp Thân, Kiến Gia năm thứ 14 (1224), mùa xuân tháng Giêng, ngày Đinh Mùi, an táng Kiến Quốc vương tại Mỹ Lộc 美禄. Mùa xuân ấy, phong Thái Tổ (Trần Thừa) làm Phụ quốc Thái úy, Phùng Tá Chu 馮佐周 làm Nội thị phán thủ, thăng Thượng phẩm hầu Trần Báo 陳豹 làm vương, thụy là Hiển Thành 顯誠.
Cuối mùa thu, từ thượng nguồn đến kinh sư, nước sông đỏ như máu.
Mùa đông tháng 12, núi Phật Tích 佛跡山 ở trại ngoài nứt, dài 30 trượng.
Năm Ất Dậu, Kiến Gia năm thứ 15 (1225), sai Thái Tổ đánh châu Nghệ An 乂安州, chiếm được.
Vua ngự cửa Đại Hưng 大興門, xem lễ tàng câu (rút thăm cất giấu). Chiếu cho nữ nhân trong nước đến xem.
Mùa hạ, sao chổi xuất hiện.
Tháng 6, vua nhường ngôi cho công chúa thứ hai là Chiêu Thánh 昭聖公主, thụy là Chiêu vương 昭王. Tôn vua làm Thái thượng vương 太上王. Đổi niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo 天彰有道.
Ngày Kỷ Mão, thề với quốc nhân tại Long Trì 龍墀.
Mùa đông tháng 12, vua vì lo nữ chủ còn nhỏ, triệu Phùng Tá Chu bàn rằng:
“Trẫm vì bất đức, bị trời bỏ, không có con nối, truyền ngôi cho con gái. Một âm trị muôn dương[45], người đời không thuận, tất sinh hối hận. Xét kỹ, không bằng noi xa Đường Nghiêu, gần theo Nhân Tổ[46], chọn người hiền mà trao. Nay thấy con trai thứ hai[47] của Thái úy[48], tuy còn nhỏ, nhưng tướng mạo phi thường, ắt có thể cứu đời an dân. Muốn nhận làm con, trao ngôi báu, lại gả Chiêu vương cho. Khanh hãy nói với Thái úy giúp trẫm.”
Thái Tổ (Trần Thừa) chưa tin. Tả phụ Nguyễn Chính Lại 阮正吏 nói với Thái Tổ:
“Nhà Nguyễn (Lý) ta có nước, có sáu bảy vua hiền, đức để lại sâu. Một sớm trao cho người khác họ, e là thử lòng ta. Nếu nhận, thiên hạ sẽ bảo Thái úy có ý soán nghịch.”
Thái Tổ muốn theo. Thượng phẩm phụng ngự Trần Thủ Độ 陳守度 nói:
“Lời Tả phụ sai. Nếu Thượng vương có con mà nhường cho người khác, thì không hợp đạo. Nay không có con, muốn chọn người hiền trao ngôi, đó là thật lòng nhường như Nghiêu Thuấn, còn nghi gì? Huống chi ngôi trời không thể bỏ lâu, Thượng vương đã quyết ý, chọn người khác họ làm con nối, dù muốn không thần phục, cũng không được. Vả lại, Thượng vương chọn Nhị lang[49] làm con nối, là ý trời. Trời cho mà không nhận, lại mang tội. Xin Thái úy suy nghĩ kỹ.”
Vào tháng Chạp mùa đông năm ấy (1225), vua sai Nội thị phán thủ Phùng Tá Chu 馮佐周 và Nội hành khiển Tả ti lang trung Trần Trí Hoằng 陳智宏 dẫn văn võ bá quan, điều khiển thuyền rồng, chuẩn bị pháp giá, đến phủ Tinh Cương 星罡府 nghênh rước Thái Tông 太宗[50].
Ngày mồng 1 tháng Chạp, Thái Tông lên ngôi tại điện Thiên An 天安殿, tôn Thuận Trinh hoàng hậu 順貞皇后 làm Thái hậu, giáng Chiêu vương 昭王[51] làm Chiêu Thánh vương hậu 昭聖王后, đổi niên hiệu là Kiến Trung 建中.
Thái thượng vương 太上王[52] cùng mẹ là Đàm Thái hậu 譚太后 xuất gia ở chùa Phù Liệt 扶列寺, hiệu là Huệ Quang thiền sư 惠光禪師.
Đến tháng 8 năm Kiến Trung thứ 2 (1226), ngày Bính Tuất, băng tại chùa Thiện Giáo 善教寺, miếu hiệu Huệ Tông 惠宗, ở ngôi được hơn 15 năm. Chỉ đổi niên hiệu một lần là Kiến Gia 建嘉, tổng cộng 15 năm. Thọ 33 tuổi, quàn tại chùa Bảo Quang 寶光寺, phủ An Hoa 安華府.
Như vậy, triều Nguyễn (Lý) 阮朝 từ Thái Tổ 太祖 đến Huệ Tông 惠宗, tổng cộng có 8 vị vua. Bắt đầu từ năm Canh Tuất (1009), kết thúc năm Ất Dậu (1225), kéo dài 216 năm thì mất.
Chú thích
- ▲ Những chữ Lý trong sách đều bị đổi thành Nguyễn. Để tiện theo dõi, các chữ Lý sẽ được kèm theo nếu chắc chắn đó là chữ Lý bị đổi.
- ▲ Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì Lý Nhân Tông có di chiếu chỉ để tang 3 ngày nên Lý Thần Tông mới làm theo.
- ▲ Lục Ngạn, Bắc Giang
- ▲ Nguyên văn chép Tô Linh Thành, phía dưới chép Tô Hiến Thành.
- ▲ Theo Tống sử, quyển 488: Năm thứ 9 (1139), chiếu lệnh Soái phủ Quảng Tây không được nhận Triệu Trí Chi (趙智之) vào cống. Trước đó, Càn Đức có con thứ thất thân bỏ sang Đại Lý, đổi tên là Triệu Trí Chi, tự xưng Bình vương[20]. Nghe tin Dương Hoán mất, Đại Lý đưa về, tranh ngôi với Thiên Tộ, xin vào cống, muốn mượn binh đưa về, nhưng hoàng đế không cho.
- ▲ Mẹ Lý Thần Tông, bà nội Lý Anh Tông, chị Đỗ Anh Vũ.
- ▲ Mẹ Lý Anh Tông
- ▲ Đây là lời chửi Vũ Đái nên có thể dịch là: "Chỉ huy tiền quân Vũ Cứt Đái chứ Vũ Đái gì!"
- ▲ Ung là một trong bốn cự tộc: Ung, Ma, Trà, Chế của nước Chiêm Thành. "Việt sử tiêu án" của sử gia Ngô Thời Sĩ thì thấy chép rằng: Ung Minh Ta Điệp sang cầu xin vua Lý Anh Tông cứu giúp. Vua Anh Tông sai Lý Mông đem quân giúp Ta Điệp về nước. Lúc bấy giờ vua Chiêm Thành là Chế Bì La Bút đem binh chống cự, Ta Điệp và Lý Mông bị tử trận. Vua Chiêm (Chế Bì La Bút) dâng Lý Anh Tông người em gái. Vua Anh Tông nhận rồi không hỏi gì đến việc ấy nữa.
- ▲ Xem bài Battle of Mỹ Sơn
- ▲ Jaya Harivarman I (Chế Bì La Bút). Ông là hoàng tử Civanandana,con vua Rudravarman IV.
- ▲ Đại Việt sử ký toàn thư chép Nguyễn Quốc (阮國). Tống sử, quyển 488 chép 八月,天祚遣李國等以金珠 ... Năm thứ 26 (1156), lệnh cho Hữu ti Lang trung Uông Ứng Thần (汪應辰) khoản đãi sứ An Nam tại Ngọc Tân viên. Tháng 8 năm ấy, Thiên Tộ sai Lý Quốc (李國) cùng những người khác mang vàng ngọc, trầm hương, lông chim quý, ngựa tốt, voi thuần đến cống.
- ▲ Phạm Thiên là một vị thiên thần (deva) ở cõi trời Sắc Giới, Phạm Thiên Vương là vua trời tối cao và là chúa tể thiên giới từ trời Phạm thiên Sắc Giới trở xuống trong Phật giáo.
- ▲ Đế Thích Thiên, Śakra (Buddhism)
- ▲ Chưa rõ có phải đền thờ Hai Bà Trưng hay không.
- ▲ Lễ Dục Đạo: Một cuộc lễ thường do các bậc sư trưởng tổ chức tại các chùa để chọn lọc các tu sĩ mà vinh thăng cấp bậc hầu lãnh trách nhiệm mới hoặc theo học một trình độ cao hơn. Phàm các tu sĩ tòng học tại các Thiền viện sau một thời gian là hai hoặc ba năm thì được liệt vào hạng được tuyển chọn trong cuộc lễ này. Dục Đạo, nghĩa đen là tắm trong nguồn đạo.
- ▲ Việt sử tiêu án chép: Vua sai Doãn Tử Tư sang thăm nhà Tống đưa cho 15 con voi đã dạy thuần rồi. Cuối năm Đại Định, vua Cao Tôn nhà Tống đình việc cống voi, đến lúc ấy vua Hiếu Tôn mới tức vị, đưa thư sang mua những con voi đã dạy thuần rồi, để rước khi đi tế giao, vua ta đưa cho 10 con voi làm lễ mừng tức vị, 5 con voi dâng lên để dùng khi đại lễ, làm cái lầu trên lưng voi gọi là La nga (lầu trên lưng voi) và các đồ buộc ở ngà, chân và đầu voi, trang sức bằng vàng bạc, rồi mới đem cho. Tử Tư đi đến quán Hoài Dịch, vua Tống cho dẫn kiến và hỏi han úy lạo. Từ khi nhà Tống phải bỏ xứ Bắc qua sông sang miền Nam, thì khi sứ thần nước ta có sang chỉ đi đến Quảng Tây giao đồ cống, chứ chưa đến kinh đô, đến khi ấy Tử Tư làm Đại sứ chưa bao giờ có đủ 3 sứ thần, đến khi ấy cho Tử Tư làm Đại sứ, Lý Bang Chính làm Chánh sứ, Nguyễn Văn Hiến làm Phó sứ; người theo làm người giới thiệu đều đặt đủ; Vua Tống thấy ở xa mà đến, rất khen là trung thành, lễ tiếp đãi cũng khác hơn, và xuống chiếu gọi tên nước là An Nam quốc,cho ấn bằng vàng.
- ▲ Theo Tống sử, quyển 488: Năm thứ 9 (1173), Thiên Tộ lại sai Doãn Tử Tư, Lý Bang Chính (李邦正) xin vào cống, hoàng đế khen lòng thành, cho phép, chiếu lệnh đón tại trạm Hoài Viễn. Năm Thuần Hy nguyên niên, tháng 2 (1174), tiến phong Thiên Tộ làm An Nam quốc vương 安南國王, gia hiệu “Thủ khiêm công thần” 守謙功臣. Năm thứ 2 (1175), ban quốc ấn An Nam 安南國印. Năm thứ 3 (1176), ban lịch ngày cho nước An Nam 安南國曆日. Sau đó, Thiên Tộ qua đời.
- ▲ Sách Việt sử lược này, Tống sử, Việt sử tiêu án, ... đều chép sự kiện Trung Quốc chính thức phong quốc hiệu cho nước ta thành An Nam quốc là năm 1174. Chưa rõ Đại Việt sử toàn thư vì sao ghi sự kiện này năm 1164, làm cho các sách đời sau (Cương Mục, Việt Nam sử lược, ...) viết sai theo.
- ▲ Chiêu Linh Hoàng thái hậu, mẹ ruột Long Xưởng.
- ▲ Chiêu Linh Hoàng thái hậu, mẹ ruột Long Xưởng.
- ▲ Dương vật.
- ▲ Vua Chiêm Thành Vidyanandana.
- ▲ Yuvaraja Mnagahna On Dhanapati Grama.
- ▲ Chưa rõ vì sao lại nói Thẩm lớn hơn Sảm? Sảm sinh năm 1194, Thẩm sinh năm 1202.
- ▲ Căn cứ An Nam chí lược, tước "Minh tự" thời Lý-Trần xếp sau các tước: Vương, Tự vương (kế nối Vương), Thượng hầu, Liệt hầu, Tiếp hầu và Nội Minh tự, xếp trên Tiếp Minh tự cùng Đại liêu ban. Có chữ "Nội" là được vào cung hầu gần nhà vua.
- ▲ An Toàn Hoàng hậu
- ▲ Linh Từ Quốc mẫu, Trần Thị Dung.
- ▲ Linh Từ Quốc mẫu, Trần Thị Dung.
- ▲ Linh Từ Quốc mẫu, Trần Thị Dung.
- ▲ Linh Từ Quốc mẫu, Trần Thị Dung.
- ▲ An Toàn Hoàng hậu
- ▲ Trần Thừa.
- ▲ An Toàn Hoàng hậu
- ▲ Mẹ của Trần Tự Khánh là chị hoặc em của Tô Trung Từ.
- ▲ Trần Thừa.
- ▲ Trần Thủ Độ.
- ▲ Xứ Mía, Hà Tây
- ▲ Trần Thừa.
- ▲ Em gái thứ 3, sau Trần Thị Dung
- ▲ Nguyên phi Ỷ Lan, vợ Lý Thánh Tông, mẹ Lý Nhân Tông.
- ▲ Trần Thừa.
- ▲ Trần Thừa.
- ▲ Theo Lĩnh Ngoại đại đáp: Nội chức lo việc nước, đứng đầu là “Phụ quốc Thái úy 輔國太尉”, tương đương Tể tướng.
- ▲ Một người đàn bà (âm) mà cai trị muôn người đàn ông (dương).
- ▲ Lý Nhân Tông, không con, truyền ngôi cho cháu.
- ▲ Trần Cảnh
- ▲ Trần Thừa, được phong Phụ quốc Thái úy.
- ▲ Trần Cảnh.
- ▲ Trần Cảnh.
- ▲ Lý Chiêu Hoàng.
- ▲ Lý Huệ Tông.
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 4.0 Quốc tế, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc — nếu bạn thay đổi, chuyển đổi hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này, bạn chỉ có thể phân phối tác phẩm phái sinh theo cùng giấy phép với giấy phép này.
Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.